Valley of Chămpa kings (Thánh Địa Mỹ Sơn)

Version française ou vietnamienne

The Old Chămpa inhabitants have incarnated their soul into the soil and the stone and they have been able to take advantage of the nature for making it in a splendid, mysterious and grandiose Mỹ Sơn. It is a real architectural, sculptural and artistic museum for the outstanding value in the world that it is difficult to fully understand.


(Late architecte Kasimierz Kwakowski )

The brick buildings and  sandstone statues are the cornerstone in the Chămpa art. Contrary to the Khmer, the Chămpa people continued to build the edifices in brick, despite the perfect mastery of sandstone in decorations and statues. The Chămpa architecture is inspired by India. The works are essentially composed of a main temple (or kalan in the Cham language), some towers and some outbuildings, the whole included in the enclosure. The brick carving remains a particular and original Chămpa art rarely found among other peoples of Southeast Asia.

Mỹ Sơn could be compared with Angkor (Cambodia), Pagan  (Myamar) ,Borobudur (Indonesia) and Ayutthaya (Thaïland). Mỹ Sơn is located  in a valley located approximatively 10 km west of Trà Kiệu. This one was known as the capital of Lâm Ấp kingdom (Linyi)  from 605 to 707 with the name Simhapura and  situated 37km south of Đà Nẵng city.

Pictures gallery


A great homage to Chămpa civilization vanished in the turbulence of history.


 

 

The kingdom of Chămpa (Vương quốc Chămpa)

linyi

It is an ancient kingdom of Indochina known in the past as “Lâm Ấp” ( or Lin Yi )(192-749), then Hoàn Vương (Huanwang)  (758-859)  and finally  Chiêm Thành ( or Tchan-Tcheng in Chinese) (988-1471) and located in what is now central Vietnam, from the Anamitic cordillera   Hoành Sơn, Quãng Bình in the North to  Bình Thuân (Phan Thiết) in the south. The amazing Cham towers in red bricks and sandstone found in Ðà Nẵng and Phan Thiết are the sole silent witnesses of a civilization vanished in the turbulence of history.

The Cham were no doubts of Indonesian origin and occupied the coasts of central and south Vietnam from the neolithic time. In 2nd century, this sailors people adopted Hinduism in contact with Indian merchants, which gave birth to the Champa kingdom. A Chinese traveller of 4th century described them with a particular typical look: big straight nose, black and curly hair, practicing a funeral ritual that involves the cremation at the drum sound. The Chàm were not only excellent sailors but also formidable builders and ingenious farmers. The Chàm succeeded in achieving the unity of the country at the beginning of 5th century after having resisted several rounds of Chinese domination attempts. Their capital was located at Indrapura (Trà Kiểu), near Ðà Nẵng (former Tourane of the French ) from 7th to 9th century.

Thanks to the silk, spices, and ivory trade between China on one hand and India and the Muslim world on the other, this kingdom experienced a period of prosperity that was troubled first by the Khmers conquest in 1145-1147 then next by the expansion policy of Kubilai Khan’s Mongols. To face this domination, the Chàm sought alliance with Vietnam, which allowed the Chàm and the Vietnamese to come out victorious during this confrontation. To seal this union, a Vietnamese princess of the name Huyển Trân of the Tran dynasty, sister of king Trần Anh Tôn was proposed to become in 1306 the wife of the Champa king Chế Mẫn ( Jaya Simhavarman ) in exchange for the two Cham territories Châu Ô and Châu Rí, located at the Hai Vân Pass. These are no other than the two northern provinces Quảng Trị and Thừa Thiên of presently Vietnam (Huế). This union was of short duration. The Vietnamese continued to claim more land toward the South and the death of king Che Man a year after his marriage, without an heir, was only an additional pretext in the conquest of Champa. The king of Vietnam set up a plot by sending his general Trần Khắc Chung to rescue his sister, who had to be sacrificed according to the Cham tradition, at the funeral of her husband. The provinces of Châu Ô and Châu Ri’ became then the subject of discord between Champa and Vietnam.

The Cham had an awakening with king Chế Bồng Nga who struck the Vietnamese several times by ransacking the capital Thăng Long in 1372 and 1377. But he was assassinated in 1389 during a new invasion of Vietnam and his death marked the decline of the Cham. The Vietnamese annexed this kingdom around 1470 under the Lê dynasty with king Lê Thánh Tôn.

Today, the Cham are dispersed as a diaspora from Kampuchea to Malaysia and constitute one of the ethnic minorities of Viet-Nam. (less than 100000 Chams).

Vương Quốc Chămpa (Champa)

linyi

Đây là một vương quốc có mặt lâu đời trên bán đảo  Đông Dương, thường  được gọi buổi ban đầu   là Lâm Ấp (192-749)  rồi  sau đó lấy  tên Hoàn Vương (758-859)  và sau cùng với tên Chiêm Thành (988-1471). Cương vực của vương quốc nầy  hiện nay  thuộc về  miền trung Việt Nam từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam. Những tháp chàm  bằng gạch nung màu đỏ sẫm mà thường trông thấy ở miền trung  là tang chứng    trầm lặng duy nhất của một nền văn hóa bị  hủy diệt  qua  những dòng  xoáy của lich sữ. Dân tộc Chàm chắc chắn là thuộc nhóm chủng tộc   ngữ hệ Nam Đảo, có thể là hậu duệ của những cư dân Sa Huynh cổ và sinh cư vùng ven biển miền trung và miền nam của Việt Nam từ thời kì đồ đá. Ở vào thế kỉ thứ hai, dân tộc thủy thủ nầy  theo Ấn  Độ giáo khi họ có dịp  tiếp xúc với các thương nhân người Ấn.

Một du khách Trung Hoa ở thế kỷ thứ tư có từng mô tả loại người riêng  biệt nầy như sau: mũi thẳng to, tóc thì đen và quăn, thường thấy trong tang  lễ , có hỏa táng dẫn theo tiếng nhịp của trống. Người Chămpa không những họ là những người  thủy thủ xuất sắc mà còn là những người xây cất tuyệt vời và những nông dân khéo léo. Dân tộc Chàm đã thành công trong cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Hán, đựợc độc lập và tự chủ vào đầu thế kỷ thứ năm sau bao nhiêu lần kháng cự lại sự xâm lược của người Trung Hoa.  Thủ đô của họ ở Trà Kiệu (Indrapura), gần thành phố Đà Nẵng ( tỉnh Quảng Nam) từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9.

Nhờ buôn bán  tơ lụa, gia vị và ngà voi với Trung Hoa một mặt  và mặt khác với  Ấn Độ và thế giới Hồi giáo, vương quốc nầy được có một thời thịnh vượng nhưng không được bao lâu với cuộc xâm lấn của người  Chân Lạp (Cao Miên) từ  năm 1145 đến 1147 rồi sau đó bị nằm trong  chính sách bành trướng của giặc Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt. Để đối phó sự thôn tính nầy,  dân tộc Chàm  tìm  cách liên minh với Đại Việt để đem lại thắng lợi cuối cùng  trong cuộc tranh chấp nầy. Để tăng cường thêm mối quan hệ hòa hiếu giữa hai đất nước Đại Việt – Chăm Pa và nhận được  hai châu Ô và Châu Lý  (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên – Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm vật sính lễ ,   Huyền Trân  công chúa của nhà Trần, em của vua Trần  Anh Tôn đựợc đề cử làm vợ của vua chàm tên là Chế Mẫn (Jaya Simhavarman III). Nhưng cuộc liên minh nầy nó quá ngắn ngủi vì người dân Việt không bỏ ý đồ trong cuộc Nam Tiến và chỉ cần một năm sau sau khi hôn lễ,  vào tháng 5 năm 1307, thì quốc vương Chế Mân chết. Theo phong tục của nước Chămpa, khi vua chết thì hoàng hậu cũng bị thiêu chết theo. Vua Trần Anh Tông sợ em gái mình bị hại nên lấy cớ điếu tang   sai Thượng Thư Tả Bộc Xa Trần Khắc Chung và An Phủ sứ Đặng Vân sang Chămpa để cướp công chúa Huyền Trân đem về Đại Việt. Từ đó Châu Ô và Châu Lý trở thành một đề tài tranh luận giữa Đại Việt và Chămpa.

Vương quốc Chămpa được một lúc  hưng thịnh cuối cùng  với Chế Bồng Nga (Po Binasuor), một vị vua kiệt xuất  của dân tộc Chămpa đã  bao  lần  xua quân Bắc phạt Đại Việt và  đã vào tận  và cướp bóc  Thăng Long 2 lần (năm  1371 và 1377). Nhưng lần chót xâm lượt Việt Nam vào năm 1389 , ông bị ám sát tử trận  sau khi trúng phải đạn tại trận Hải Triều. Cái chết của ông đánh đấu sự suy vong của dân tộc Chămpa. Vương quốc Chămpa bị sáp nhập vào khoảng năm 1470 dưới triều đại nhà Lê với vua Lê Thánh Tôn.

Ngày nay , dân tộc Chàm thành cộng đồng sống rải rác từ Cao Miên đến Mã Lai và trở thành một nhóm thiểu số của Việtnam ( kém hơn 100.000 người Chàm).

 

 

 

Tôi là người Việt Nam (Être Vietnamien)

Version française

Theo các nguồn tin khảo cổ học được biết đến hôm nay, người Việt Nam có thể xuất phát từ nhóm Thái-Việt. Một số nhà sử học vẫn tiếp tục nhận thấy ở nơi những người Việt nầy, không những là những người nhập cư thuộc chủng  Nam Á đến từ miền nam Trung Quốc (dân Bách Việt) và định cư tại vùng đồng bằng sông Hồng qua nhiều thế kỷ trước công nguyên mà còn là những người báo hiệu của nền văn minh Trung Hoa. Vì tăng trưởng dân số nên trên công cuộc hành trình nam tiến, họ càn quét tất cả các nền văn minh rực rỡ mà chúng ta được biết cho đến nay trên bán đảo Đông Dương (Ðồng Sơn hay Chămpa). Còn những người khác còn lại, họ tin rằng người Việt Nam là kết quả đến từ sự hợp nhất giữa các dân tộc có mặt từ lâu  ở lưu vực sông Hồng trong đó cần phải nhắc đến là người Hmong, ngừời  Hoa, người Thái và người Đồng Sơn.

Dựa vào sữ tích dưa hấu có vào thời điểm của các vua Hùng, một bằng chứng cụ thể nói lên sự xuất hiện của người nước ngoài không cùng chũng tộc, đã có mang đến Việt Nam qua đường biển các hạt giống (thế kỷ thứ ba trước Công nguyên) và  qua các cuộc khai quật khảo cổ xác nhận sự tồn tại của vương quốc Nam Viêt (hay Nan Yue), người dân Việt tin rằng họ xuất phát từ dân Bách Việt với gốc  của chũng cổ Mã Lai (Indonésien) nhờ qua người Đồng Sơn. Một nơi biểu lộ sự sống động nhất của tâm hồn dân tộc Việt đó là ngôi đình làng, trông lại nó không khác chi hình nhà khắc ở trên trống đồng Đông Sơn. Niềm tin này có vẻ thuyết phục bởi vì  người ta đã tìm thấy được ở nơi các bộ tộc cổ Mã Lai: ăn trầu, xăm mình và nhuộm răng,  những đặc tính kinh ngạc mà người dân Việt đã có.

Làm thế nào họ có thể có một nghệ thuật phi thường và độc đáo khi họ vẫn còn vùi thân đấu tranh không ngừng với sự khắc nghiệt của thiên nhiên và khi Bắc Bộ không phải một nơi giàu có về tài nguyên. Ý là chưa nói đến việc hán hóa áp đặt trong suốt nghìn năm dưới sự thống trị của người Hoa. Mặc dù vậy, người dân Việt đã thể hiện bao nhiêu lần qua kỹ thuật, sự khéo léo và trí tưởng tượng. Chính nhờ vậy một số sản phẩm Việt (đặc biệt là gốm  sứ cổ) được chiếm một cương vị đáng kể trong nghệ thuật tỉnh của Trung Hoa vào thời đó.

Để cố gìn giữ truyền thống và duy trì văn hóa, người dân Việt tự tìm cho mình một  lối thoát  qua cuộc đấu tranh triền miên. Nhờ tín ngữơng tôn giáo và môi trường gần như khắc nghiệt ngay từ đầu, người dân Việt vốn có ở nơi họ một khả năng kháng cự đáng kể trước sự đau khổ về tinh thần và thể chất. Khả năng đó nó đã trở thành trong những năm qua, một trong những sức mạnh để họ có thể dành thắng lợi qua các cuộc xâm lược từ ngoài đến.Cũng nhờ sự vất vã, kiên trì và lòng hy sinh trong cuộc sống, người dân Việt kiềm chế được sự phẩn nộ và sự thay đổi thất thường của sông Hồng. Họ còn đẩy lui được nhiều lần người Trung Hoa ra khỏi bờ cõi và vượt được dãy núi Trường Sơn vào thế kỷ 18 trong cuộc Nam tiến. Dân tộc Chămpa là nạn nhân đầu tiên, tiếp theo đó là dân tộc Khờ Me trong cuộc xung đột lâu dài nầy. Người ta có thể trách móc sự tàn ác của người dân Việt đối với các dân tộc khác nhưng người ta không được quên rằng người dân Việt đã chiến đấu không ngừng kể từ khi lập quốc, để bảo vệ sự sống còn và bảo tồn truyền thống của dân tộc mà thôi.

Người dân Việt đã bị thiệt thòi từ thưở nào vỉ sự gần gũi địa lý với Trung Quốc. Để ngăn chặn sự di chuyển của người Mông Cổ của Hốt Tất Liệt (Kubilai Khan) trong cuộc chinh phục xứ Chămpa, người dân Việt đã bị hai lần xâm lược vào năm 1257 và 1287. Để tìm đường thương mại với Trung Quốc , chính quyền Pháp nghĩ rẳng sẽ mựợn đường lúc đầu nhờ sông Cửu Long (Mékong) rồi sau đó sông Hồng Hà để có thế đến Vân Nam. Vì vậy họ gửi sang Đông Dương ông Doudart Lagrée tiếp theo sau đó ông Francis Garnier để hoàn thành sứ mệnh. Chính vì vậy chính quyền Pháp mới quan tâm nhiều đến vùng Bắc Bộ và can thiệp quân sự vài năm sau đó.

Sau chiến tranh Triều Tiên, để chống lại sự bành trướng của Trung Cộng, người dân Việt bị cưỡng bức qua nhiều thập kỷ trong cuộc xung đột giữa hai khối Đông và Tây Âu. Cũng để ngăn trở đường lối chinh tri của Bắc Kinh ở Cao Miên, người dân Việt nhận được một hình phạt qua sự xâm lược chóp nhoán của Trung Cộng vào tháng 2 năm 1980 ở biên thùy Lạng Sơn trong vòng một tháng.

Nếu người dân Việt không có lưu giữ truyền thống độc lập, không có mãnh lực bảo tồn bản sắc dân tộc và cá tính mạnh mẽ thì họ có thể không còn có mặt ở trên bán đảo Đông Dương từ lâu vì về phương diện đia lý và văn hóa, họ rất gần gũi với người Trung Hoa nhất là các người nầy có một nền vặn minh khó so sánh và rực rở từ 4000 năm. Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành ngày nay một tỉnh lỵ  của Trung Quốc và một hiện thân tầm thường của nên văn minh Trung Hoa.

Dành cho những ai đã từng biết lịch sử Viêt Nam, đã làm người dân Việt thì không bao giờ được sống bình yên cả dù nguời dân Việt trong thâm tâm họ thèm muốn lắm. Đựợc uốn nắn lớn lên với đất phù sa của đồng bằng sông Hồng, lúc nào cũng chống chọi triền miên với các cơn thịnh nộ của sông Hồng, không ngừng dừng bước với công cuộc nam tiến qua bao nhiêu lần chinh chiến, bị đồng hóa và thống trị lâu dài nhất của người Trung Hoa, còn chưa nói đến một trăm năm đô hộ của chính quyền Pháp và 20 năm bị miễn cưởng trở thành mục tiêu của cuộc tranh chấp của hai khối Đông và Tây Âu và nạn nhân của chiến tranh lạnh, người dân Việt không bao giờ nản lòng trước những khó khăn trọng đại nầy.

Nhờ đó, người dân Việt càng thiện chiến hơn, càng thêm kiên trì, cứng rắng, giữ vững lòng tin ở quan điểm chính trị của mình và càng có khả năng để đối mặt với các cuộc chạm trán khó khăn nầy. Sự gắn bó sâu đậm và mật thiết của họ với đất nuớc và truyền thống khiến họ không nhận nhường trong cuộc đấu tranh. Đối với một số người, họ là những kẻ xâm lăng nhẫn tâm và đáng sợ nhưng cũng có một số người khác xem họ như là những kẻ bảo vệ chính đáng trong cuộc dành tự do và độc lập quốc gia.

Dù có thể nào đi nữa, người dân Việt rẩt hảnh diện trong việc thay thế ông bà để bảo vệ kiên cường đất nước của tổ tiên, sự sống còn của dân tộc và xứng đáng là con rồng cháu tiên. Chết vì đất nứớc không phải chuyện ngoài lệ với tâm tính và truyền thống của ngừời dân Việt. Đấy mới là số mệnh quá cao thượng, xứng đáng mà bao nhiêu người dân Việt tựa như Trần Bình Trong, Nguyễn Thái Học, Phó Ðức Chính, Nguyễn Trung Trực, Trần Cao Vân vân vân … can đảm lãnh  nhận trên mãnh đất huyển thoại nầy

Làm người dân Việt

thì phải có khả năng kháng cự lại trước hết việc đồng hóa hay là tư tưởng ngoại bang

và hảnh diện có mang ở trong tĩnh mạch dòng máu của con Rồng.

Gia Long ( Founder of Nguyễn dynasty)

French version

gialong

Gia Long is the imperial title prince Nguyễn Phúc Ánh took in 1802 for his reign at the time of the reunification of the Vietnam empire which extended from the border of Lạng Sơn to the point of Cà Mau on the gulf of Siam.

Gia long results from the combination of two following words: Gia and Long (Gia being a word extracted from the name Gia Định, the ancient city of Saïgon and Long that of the name Thăng Long, the ancient capital Hànội). During the 25 years of fighting against the Tây Sơn, he roamed the whole Cochinchina. He knew perfectly well all the corners of the Mekong delta. Prince Nguyễn Ánh was so attached to the people of the South and in particular to Saigon city that he was khnown at the time as “General Gia Định”.

Before the unification of Vietnam (1801), the last survivor of the Nguyen was hunted down several times by the Tây Sơn ( or the people from the West ) of Nguyễn Huệ. He owed his safe life to a French missionary Pierre Joseph Pigneaux de Behaine who shared with him his meal brought in by a confidant, P. Paul Nghi, and who did not hesitate to organize his escape in the Cancau principality of Mạc Thiên Tứ, the son of his allied Mạc Cửu Hà Tiên region) after the assassination of Nguyễn Huệ. Vương by the Tây Sơn, which is told by the British John Barrow in his book ” Voyage in Cochichina” in 1793.
The tough life he experienced during his years of vicissitude gave his partisans an occasion to interpret later his exploits and perils that he succeeded in overcoming as a sign of God’s will in helping him to regain the throne. The grotto of coins (Hang Tiên) in the region of Ha Tien, accessible nowaday by boat, evokes the souvenir of the young prince Nguyễn Ánh, who took shelter there with his troops while waiting for French reinforcements, finding coins left by pirates. Vietnamese sayings go with his exploits, such as:

Kỳ đà cản mũi”

The varanus is in front of the prow

to mean a task cannot be done because of the obstruction of someone. Thanks to the presence of a monitor that blocked his junk on its way to the sea, he was narrowly saved because his enemies were waiting for him there. Another time in the region of Ha Tien, his junk was bothered by the presence of snakes. He was forced to give order to his subordinates to row faster so as not to be pursued by the snakes. This allowed him to reach Phú Quốc island sooner and avoid the trap set by his adversaries. That is why a Vietnamese saying goes:

“Gặp rắn thì đi, gặp qui thì về”

to mean it is possible to keep going when encountering snakes and it is better to go back when encountering turtles.

Thoughout historical accounts, it is noted that Nguyen Anh was lucky during the years of fighting with the Tây Sơn. One time he was chased by the enemies. He was forced to cross a river by swimming. He was aware that the river was infested with crocodiles. He had to resort to buffaloes that splashed about the riverside to take him over. Even the perilous rescue of his boat engulfed by waves by the young intrepid Lê Vân Duyệt (15 years of age ) who later became his talented general, in a stormy night was the object of prophecy discussed for so many years by the people of Long Hưng Tây village before the event took place.

In spite of these facts having something to do with legitimizing by divine protection the struggle led by Nguyễn Ánh, it is not fair to ignore the qualities in this outstanding personage. He did not have the genius of strategy of his adversary, general Nguyễn Huệ. But he had an incommensurable patience parallel only to that of Gou Jian (or Cẩu Tiễn in Vietnamese ), the prince of Yue in the North at the episode of Spring and Autumn ( thời Xuân Thu )( 476 B.C ) who waited long years to get ready for revenge against Fu Chai ( Phù Sai ) the Wu State’s sovereign ( nuớc Ngô của Ngủ Tử Tư ).

He was gifted at being able to recruit as subordinates individuals of valor ( Võ Tánh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành etc…) and grant to frienship a particular signification during his reign, which has been noted towards French missionary Pigneaux de Behaine or his French lieutenants Jean Baptist Chaigneau ( Nguyễn Văn Thắng), Philippe Vaniera, Olivier Puymanel or Siamese king Rama I ( or Chakkri ).

In acknowledgement of the debt that Nguyễn Ánh had let him go back safe and sound with his army to rescue his imprisoned family, the latter was fast to offer many years of hospitality to prince Nguyễn Ánh and his suite when he was forced to take refuge in Bangkok after his scathing defeats against the Tây Sơn at Mỹ Tho (1785).

Nguyễn Ánh was a brave and tough man. With him it seems like there is no one in the South who dares to oppose him. To repay the debt toward his family assassinated by the Tay Son, he remained unruffled before the tortures he reserved for his adversaries. The vanquished enemies were put to death by appalling tortures. Men were torn and women and children were stamped by elephants. Their corpses were thown in the field for crows to eat. It was the fate reserved for the female general Bùi Thị Xuân, the son of emperor Nguyễn Huệ, king Nguyễn Quang Toản etc…

This pact of friendship was born in a military confrontation between his lieutenant Nguyễn Hữu Thùy and Chakkri which was still a general sent by the Siamese king Taksim (Trịnh Quốc Anh ).

Before the volte-face of Taksim imprisoning his family, Chakkri was forced to compromise with Nguyen Anh and return to Bangkok to overthrow Taksim. To recognize this debt and to assist Nguyen Anh to recover the throne, Chakkri sent an army of 50,000 men which was completely decimated in 1785 by the strategist Nguyễn Huệ in the western Mékong (Mỹ Tho).
For political reasons, he did not hesitate to kill people who had served him with devotion when he was still a young prince hunted down by the Tây Sơn. It is the case of Nguyễn Văn Thành, Ðặng Trần Thường. That is why he was ofen compared to Liu Bang (Lưu Bang), the great Han emperor having reserved the same treatment toward his comrades-in-arm. Despite that, he was also seen as a man of the heart. He was fast to render great homage to his comrade-in-arm Nguyễn Văn Thành whom he forced to commit suicide for a calomnious insinuation and burst into tear before the altar set up in honor of the latter. He ordered freedom for his family and restitution of confiscated possessions and titles. One also finds his profound attachment to his subordinates’ lives through the message addressed to his brother-in-law, general Võ Tánh in charge of defending Qui Nhơn or to Pigneaux de Behaine, his spiritual father, military advisor through the ceremony arranged at the funeral of the latter, which was reported by Father Lelabrousse at the Missions Etrangeres on April 24, 1800.

He was also a seducing warrior. His consideration toward queen Ngọc Bích, the young wife of his adversary, young king Cảnh Thịnh (son of king Quang Trung) was exemplary. She was crying out when she saw a very majestuous man standing in front of her:

-General Gia Ðịnh, what do you want of me?

He smiled and answered her with kindness:

Don’t be afraid and stop crying please. General Gia Dinh will be more gentle than a Tay Son one. This residence remains the same for you despite of the change of ownership.

Since his gentleness and his will to conquer the heart of the queen was so strong the latter could not resist. She became thus his first rank concubine and had two sons with him. She was married two times to two kings (Cảnh Thình and Gia Long) and was the last daughter of the Le kings. That is why the two implacable adversaries became “brothers-in-law” because Nguyễn Huệ was the spouse of Ngọc Hân and Gia Long that of Ngọc Bích. It is also for the latter that a Vietnamese saying goes:

Số đâu mà số lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua

What a bizarre fate she has
Daughter of a king, she got twice married to kings.

In spite of his reputation of being a warrior hardened by years of war and vicissitudes, he was also as vulnerable as any ordinary man. A great number of worries has come upon him that he did not wish to hide and reveal to his confidant, Frenchmen Jean-Baptiste Chaigneau:

Ruling country is easier than managing a harem.
This was revealed by Michel, the son of J.B. Chaigneau in his journal “Le Moniteur de la Flotte” in 1858.

Despite the treaty initialed at Versailles in 1787 by Counts de Vergennes and de Montmorin for king Louis 16th and by his son Nguyễn Phúc Cảnh witnessed by bishop of Adran, Pigneaux de Behaine, the collaboration of a great number of French subordinates in his ranks and his interest in science and Western techniques, he continued adopting a very ambiguous policy toward the Europeans, in particular the missionaries. Was this benevolent attitude due to the friendship he tried to honor toward his friend Pigneaux de Behaine or to his open mindedness like KangXi in China aiming at better utilizing the catholic missionaries’s competences?

One keeps asking these questions up to now. However, one knows that throughout the construction of the Purple City, the maintenance of the mandarinal system, the reform of the Le code based on that of the Qing in China, he appeared to be more than never an admirer of the Ming and Qing dynsties, a convinced Confucianist and a more retrograde emperor. During his last years, he began a policy of folding back by choosing as his successor prince Nguyễn Phúc Ðảm supported by most of the Confucianist mandarins in lieu of the children of prince Cảnh who deceased of an illness. The prince known under the name of Minh Mang did not hesitate to do away with the children and wife of Cảnh (Mỹ Ðường ) and gave the Europeans an opportunity, especially the French government to intervene militarily, by deliberately leading an anti-western and anti-catholic policy and thus renewing a policy in line with the Chinese policy. Nguyen Anh could have become a great emperor at the image of a Japanese “Meiji” when he had the advantage of being circled by a great number of Frenchmen including his private physician (a certain Despiaux) and he had an open mind to Western techniques and sciences.

It is a shame for Vietnam to have lost an opportunity to enter the era of modernization.

It was unfortunate for the Vietnamese people to have written later their history with blood and tears

He does not deserve being forgotten in our history because he arrived at enlarging our territory and unifying the country under his banner. But he is no longer a great emperor of Vietnam because grandeur is measured by not only the enlargement of Vietnam but also by the good deeds he brought to the Vietnamese people and by the magnanimity toward his adversaries.

It is regrettable to say so because Nguyễn Ánh with the qualities he showed us during his 25 years of vicissitude could have done better to his country and people more than any other kings of Vietnam (including king Quang Trung ).

Concubines under the Nguyễn dynasty (Cung tần mỹ nữ)

French version

 

 

Trong cunq quế âm thầm chiếc bóng
Ðêm năm canh trông ngóng lần lần
Khoảnh làm chi bầy chúa xuân
Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi.

In the royal genaeceum, I stay alone with my shadow,
All night long, I eagerly wait for his visit.
Instantly, many springs have gone by,
He ceased coming in as this flower is withering.

Ôn Như Hầu

Except Gia Long, the founder and Bảo Ðại, the last emperor of the Nguyen dynasty no emperors of this dynasty granted a title to their principal spouse during their reign. No historic documents found today show why there was that systematic refusal since the application of Minh Mang’s decree. On the contrary, only this spouse received her title after her disappearance.

First imperial concubine ( Nhất giai Phi ) ( 1st rank )
Second imperial concubine ( Nhị Giai Phi ) (  2nd rank )
Superior concubines ( from 3rd to  4th rank ) (Tam Giai Tân và Tứ Giai Tân ), simples concubines ( from 5th to 9th rank ) ( Ngũ Giai Tiếp Dư , Lục Giai Tiếp Dư, Thất Giai Quí Nhân, Bát Giai Mỹ  Nhân, Cữu Giai Tài Nhân ).

Then came the Ladies of the Court, next, the subordinate servants. It was estimated that those women along with the eunuchs, the queen mothers and the emperor made up a purple forbidden society of Huế. The status of those women (even that of the servants) no matter what it was, went up considerably when they gave birth to a son.
Speaking of those concubines, it is impossible not to evoke the love story of Nguyễn Phi, the future empress Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu with prince Nguyễn Ánh, the future emperor Gia Long. This one, beaten by the Tây Sơn (or the peasants of the West) in the Fall of 1783, had to take refuge on the Phú Quốc Island. He had to send his son Nguyễn Phúc Cảnh, 4 years old, accompanied by archbishop Pigneau de Behaine to France to ask for military aid before king Louis XVI (Treaty of Versailles 1787), and took refuge in Bangkok ( Thailand) waiting for French reinforcement. Before the time of separation, he hastened to cut a gold bar into two halves and gave one to his spouse, Nguyễn Phi telling her:

Our son has already gone. I am about to leave you to resettle in Thailand. You stay here to take care of our queen mother. I do not know the date of my return nor the place of our reunion . I leave with you this half gold bar as the token of our love. We will have the chance to see each other later if God helps us to defeat the Tây Sơn.

During Nguyễn Anh’s years of exile and setback in his reconquest of power, Nguyên Phi continued to take care her mother-in-law, queen Hiếu Khương (spouse of Nguyễn Phúc Luân ) and to make uniforms for recruits.

She arrived at overcoming all the difficulties destined to her family and showed her courage and bravery in escaping traps set up by their adversaries.

Thanks to his perseverance and stubbornness, Nguyễn Ánh succeeded in defeating the Tây Sơn in 1802 and became our emperor Gia Long. The day following their touching reunion, he asked her about the other half of the gold bar he had given her at the moment of their separation. She went looking for it and gave it back to him. Seeing the half of the bar in the state of shining, emperor Gia Long was so touched he told his spouse Nguyễn Phi:

This gold that you succeeded in keeping in its splendor during our difficult and eventful years shows well the blessings and grace of God for our reunion today. We should not forget that and should talk about it to our children.

Then he reassembled the two halves of the gold bar to make it whole again and gave it to Nguyễn Phi. This gold bar later became under the reign of Minh Mạng, not only the symbol of eternal love between Nguyễn Ánh and his spouse Nguyễn Phi but also an object of veneration found on the altar of emperor Gia Long and empress Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu in the Ðiện Phụng Thiên temple in the purple city of Huê.

No one was surprised that thanks to his daughter Ngô Thị Chánh, former Tây Sơn general Ngô Vân Sở was spared from summary execution by emperor Gia Long during the victory over the Tay Son, because his daughter was the favorite concubine of his crown prince Nguyễn Phúc Ðảm, our future emperor Minh Mang. When this one acceded to power, he did not hesitate to grant her all the favors uniquely reserved up until then for his principal spouse. This concubine, when alive, often had the chance to tell the emperor:

Even you love me as such, the day I decease, I will be alone in my tomb empty-handed.

That was why when she died a few years later, the emperor followed her to the place of burial taking with him two ounces of gold. He then asked the eunuch to open the two hands of the concubine. The emperor himself put an ounces of gold in each hand saying with emotion:

I give you two ounces of gold so that you do not go empty-handed.

One found this love fifty years later in poet emperor Tự Ðức. At the funeral of his favorite concubine, he composed a poem entitled “Khóc Bằng Phi” whose two following verses immortalized love and affection emperor Tự Ðức reserved for his concubine Bằng Phi:
Ðập cổ- kính ra, tìm lấy bóng
Xếp tàn-y lại để dành hơi

I break the old mirror to find your shadow
I fold your fading clothes to keep your warmth.

 
Under the Nguyen dysnasty, the genaeceum took an important dimension. To consolidate his authority and gain fidelity from his subordinates, emperor Gia Long himself did not hesitate to establish the politics of alliance in taking for concubines most of the daughter of the subordinates. This was revealed by his confidant, the French mandarin J.B. Chaigneau in his ” Souvenirs of Huế 1864 “. But sometimes the concubine of the emperor may be issue of a different medium. It is the case of the concubine of emperor Thành Thái, the father of Duy Tân. This concubine was the rower of a ferry boat in the region of Kim Long known for the charm and grace of its inhabitants. That is why people did not hesitate to sing the following popular song to evoke the idyllic love that emperor Thanh Thai reserved for the charming rower of the ferry and his audacity to disguise himself as a common traveler to visit Kim Long.

Kim Long có gái mỹ miều
Trẩm yêu trẩm nhớ trẩm liều trẩm đi

Kim Long is known for its charming girls
I love, I miss, I dare and I go.

One beautiful morning of our new year, Thành Thái intrigued by the charm of the Kim Long region decided to go there alone. He disguise himself as a young traveler to visit that famous region. On his way back, he had to take the ferry the rower of which was a charming girl. Seeing her timid in gait with her red cheeks under the overwhelming sun, emperor Thành Thái began to flirt with her and tease her with this idea, saying:

Miss, do you like to marry the emperor?

Stunned by this hazardous proposal, the girl looked attentively at him and replied with sincerity: Don’t you talk nonsense, they are going to cut off you head.

Seeing her in a fearful state, the emperor was determined to bother her more: That’s right, what I have proposed with you. If you agree, I will be the intermediary in the matter! Caught by a sense of decency, she hid her face behind her arm. On the ferry, among the passengers, there was an older and well dressed person. This one, having heard their conversation, did not hesitate to push on by saying to the girl:

Miss, just say “Yes” and see what happens!

Encouraged by the daring advice, the ferry rower responded promptly: Yes Happy to know the consent of the rower, Thành Thái stood up, went toward the rower and said with tenderness:

My dear concubine, you may rest. Let me take care of rowing the ferry for you.

Everyone was surprised by that statement and finally knew that they were in front of young emperor Thành Thái, known for his anti-French activities, deposed and exiled later by the French authorities to the Reunion island because of his excess in “madness”. When the ferry reached the Nghinh Lương dock, Thành Thái ordered the passengers to pay for their tickets and led the young rower into the forbidden city.

Generally speaking, the concubines lived surrounded by Ladies of the Court, eunuchs and devoted their time in embroidering and weaving. Some died without ever having received the emperor’s favor, or having got out of the palace.

A famous poet of 18th century Nguyễn Gia Thiều known under the name of Ôn Như Hầu (because of his title), had denounced the injustice inflicted upon these women, their sadness and isolation, in his work ” Cung Oán Ngâm Khúc” (or Sadness of the Palace ). Others enjoyed their status of a favorite but none was equal to Ỷ Lan, the favorite of Lý Thánh Tôn of the Lý dynasty, who had assumed brilliantly the regency of the kingdom during her husband’s campaign against Champa.

Concubines sous la dynastie des Nguyễn (Cung tần mỹ nữ)

English version

Trong cunq quế âm thầm chiếc bóng
Ðêm năm canh trông ngóng lần lần
Khoảnh làm chi bầy chúa xuân
Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi.

Dans le gynécée royal, je suis toute seule avec mon ombre
Tout le long de la nuit, j’attends avec impatience sa visite
Plusieurs printemps ont été partis instantanément
Il cessait de venir et je suis comme une fleur qui se fane.

Ôn Như Hầu

Hormis Gia Long, le fondateur et Bảo Ðại, le dernier empereur de la dynastie des Nguyễn, aucun empereur de cette dynastie n’accordait à son épouse principale le titre d’impératrice durant son règne. Aucun document historique trouvé jusqu’à nos jours ne nous permet de connaître les raisons de ce refus systématique depuis la mise en application du décret de l’empereur Minh Mạng. Par contre, celle-ci reçut seulement ce titre après sa disparition.

Malgré cela, elle était considérée toujours comme la première dame (Hoàng Qúi Phi) dans un gynécée fortement hiérarchisé dans lequel on compta neuf rangs à partir du règne de l’empereur Minh Mạng :

1ère concubine impériale ( Nhất giai Phi ) ( 1er rang )
2ème concubine impériale ( Nhị Giai Phi ) ( 2ème rang )
concubines supérieures ( de 3ème à 4ème rang ) (Tam Giai Tân và Tứ Giai Tân ) simples concubines ( de 5ème rang à 9ème rang ) ( Ngũ Giai Tiếp Dư , Lục Giai Tiếp Dư, Thất Giai Quí Nhân, Bát Giai Mỹ Nhân, Cữu Giai Tài Nhân ).

Venaient ensuite les Dames de la Cour, les suivantes, les servantes subalternes. On estime que ces femmes constituaient avec les eunuques, les reines mères et l’empereur une société minuscule dans la cité pourpre interdite de Huê’. Le statut de ces femmes (même celui des servantes), quoi qu’il fût, s’élevait considérablement lorsqu’elles donnaient naissance à un fils. En parlant de ces concubines, il est impossible de ne pas évoquer l’histoire d’amour de Nguyên Phi, la future impératrice Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu avec le prince Nguyễn Ánh, le futur empereur Gia Long. Celui-ci, vaincu par les Tây Sơn (ou les paysans de l’Ouest) en automne 1783, fut obligé de se réfugier dans l’île Poulo Condor (Phú Quốc). Il dut envoyer son fils Nguyễn Phúc Cảnh, âgé de 4 ans et accompagné par l’archevêque Pigneau de Béhaine en France pour demander l’aide militaire auprès du roi Louis XVI (traité de Versailles 1787) et se réfugier à Bangkok ( Thailande ) dans l’attente des renforts français. Avant l’heure de séparation, il s’empressa de couper en deux une barre d’or et remit à son épouse, Nguyên Phi, la moitié en lui disant:

Notre fils est déjà parti. Je suis sur le point de te quitter pour m’installer en Thaïlande. Tu restes ici pour t’occuper de notre reine mère. Je ne connais ni la date de mon retour ni le lieu de nos retrouvailles. Je te laisse la moitié de cette barre d’or comme le gage de notre amour. On aura l’occasion de se revoir plus tard si Dieu m’aura permis de vaincre les Tây Sơn.

Nguyễn Triều

Durant les années d’exil et d’échecs de Nguyễn Ánh dans la reconquête du pouvoir, Nguyên Phi continua à servir et à entretenir avec soin sa belle-mère, la reine Hiếu Khương (l’épouse de Nguyễn Phúc Luân) et à confectionner elle-même les uniformes pour les recrues. Elle arriva à surmonter toutes les difficultés réservées à sa famille et montra son courage et sa vaillance pour s’échapper des pièges tendus par ses adversaires.

Grâce à sa persévérance et à son obstination, Nguyễn Ánh arriva à vaincre les Tây Sơn en 1802 et à devenir notre empereur Gia Long. Au lendemain de ses touchantes retrouvailles, il interrogea son épouse Nguyên Phi sur la moitié de la barre d’or qu’il lui eut remise au moment de leur séparation. Celle-ci alla la chercher et lui la remit. En revoyant la moitié de cette barre dans son état luisant, l’empereur Gia Long fut tellement ému et dit à son épouse Nguyên Phi:
Cet or que tu a réussi à garder dans sa splendeur durant nos années difficiles et mouvementées montre bien que nous étions bien bénis par la grâce de Dieu pour pouvoir être ensemble aujourd’hui. Il ne faut pas oublier cela et il faut en reparler à nos rejetons.

Puis il réassembla les deux moitiés de la barre d’or et remit la barre dans son intégralité à Nguyên Phi. Cette barre d’or devint plus tard, sous le règne de Minh Mạng, non seulement le symbole de l’amour éternel du prince Nguyễn Ánh avec son épouse Nguyên Phi mais aussi un objet de vénération trouvé sur l’autel de l’empereur Gia Long et de l’impératrice Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu dans le temple Ðiện Phụng Tiên de la cité pourpre interdite de Huế.

Personne ne s’étonna que, grâce à sa fille Ngô Thị Chánh, l’ancien général des Tây Sơn, Ngô Vân Sở, ne fut pas exécuté sommairement par l’empereur Gia Long lors de sa victoire sur les Tây Sơn car sa fille était la concubine préférée du prince héritier Nguyễn Phúc Ðảm, notre futur empereur Minh Mạng. Quand celui-ci accéda au pouvoir, il n’hésita pas à accorder à cette concubine toutes les faveurs jusque-là réservées uniquement pour son épouse principale. Celle-ci, de son vivant, eut l’occasion de dire souvent à l’empereur :

Même si vous m’aimez tellement, le jour où je serai décédée, je me retrouverai toute seule dans la tombe avec les mains vides.

C’est pourquoi, lorsque celle-ci mourut quelques années plus tard, l’empereur se déplaça jusqu’au lieu de son enterrement tout en prenant avec lui deux taëls d’or. Il demanda ensuite à l’eunuque d’ouvrir les deux mains de la concubine. L’empereur déposa lui-même dans chaque paume un taël d’or et il resserra fortement les deux mains de sa concubine en disant avec émotion:
Je te donne deux taëls d’or pour que tu ne partes jamais avec les mains vides.
Cet amour, on le retrouva une cinquantaine d’années plus tard chez l’empereur poète Tự Ðức. Celui-ci composa, lors de l’obsèque de sa concubine préférée, un poème intitulé “Khóc Bằng Phi” dont les deux vers suivants immortalisaient l’amour et les sentiments que l’empereur Tự Ðức avait réservés pour sa concubine Bằng Phi:

Ðập cổ- kính ra, tìm lấy bóng
Xếp tàn-y lại để dành hơi
Je brise l’ancien miroir pour chercher ton ombre
Je serre tes habits fanés pour garder ta chaleur.

Sous la dynastie des Nguyển, le gynécée prit une dimension importante, Pour consolider son autorité et fidéliser ses subordonnés, l’empereur Gia Long lui-même n’hésita à mettre en place la politique d’alliance en prenant pour concubines la plupart des filles de ces derniers, ce qu’a révélé son confident, le mandarin français J.B. Chaigneau dans ses “Souvenirs de Huê’ 1864”. Mais quelquefois, la concubine de l’empereur peut être issue d’un milieu différent. C’est le cas d’une concubine de l’empereur Thành Thái, le père de Duy Tân. Celle-ci fut la passeuse d’un bac dans la région de Kim Long, connue pour le charme et la grâce de ses habitantes. C’est pourquoi on n’hésita pas à chanter souvent la chanson populaire suivante pour évoquer l’amour idyllique que l’empereur Thành Thái avait réservé pour la passeuse charmante du bac et son audace de se déguiser en un simple voyageur pour visiter Kim Long:

Kim Long có gái mỹ miều
Trẩm yêu trẩm nhớ trẩm liều trẩm đi

Kim Long est connue pour le charme de ses habitantes,
J’aime, je pense, j’ose et je pars.

Encouragée par ce conseil téméraire, la passeuse du bac répondit promptement: Oui Heureux de connaître le consentement de la passeuse, Thành Thái s’éleva, se dirigea vers la passeuse et lui dît avec tendresse:
Ma chère concubine, tu peux te reposer. Tu me laisses le soin de te remplacer pour conduire ce bac.
Tout le monde fut surpris par ces paroles et sut enfin qu’on fut en face du jeune empereur Thành Thái, connu pour ses activités anti-françaises, déchu et exilé plus tard par les autorités françaises à l’île de la Réunion à cause de ses excès et de sa “folie”. Une fois, le bac atteignant la Rivière des Parfums et stationnant à l’embarcadère Nghình Lương, Thành Thái demanda aux voyageurs de payer le ticket et conduisit la jeune passeuse dans sa cité interdite.

D’une manière générale, les concubines vivaient entourées de Dames de Cour, d’eunuques et consacraient leur temps à la broderie et au tissage. Certaines décédaient sans avoir jamais reçu la faveur de l’empereur, sans jamais être sorties du palais.

 

Un poète célèbre du 18ème siècle Nguyễn Gia Thiều connu souvent sous le nom Ôn Như Hầu (à cause de son titre), avait dénoncé l’injustice infligée à ces femmes, leur tristesse et leur isolement dans son oeuvre “Cung Oán Ngâm Khúc” (ou Tristesse du Palais). D’autres jouissaient du statut de favorite mais aucune ne pouvait égaler Ỷ Lan, la favorite du roi Lý Thánh Tôn de la dynastie des Lý qui avait assumé la régence du royaume avec brio durant la campagne menée contre le Champa par son mari.

 

Museum of Cham sculpture (Bảo tàng viện Điêu Khắc Cổ)

French version

phatmau_tara

It is the unique museum of Chămpa sculpture in the world where one finds the most famous pieces of statues from Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu and Po Nagar (Nha Trang) sites.

  • Mỹ Sơn E1 style (Phong cách E1)
  • Chính Lộ style (Phong cách Chính Lộ )
  • Đồng Dương style (Phong cách Đồng Dương)
  • Tháp Mắm style … (Phong cách Tháp Mắm)

Tháp Mắm style

style_thapmam

 

  • Mỹ Sơn E1 style : vivacity in ornamentation, dedicacy in the details..style_dongduong
  • Khương Mỹ style : gentleness in the faces, harmony and symmetry…
  • Trà kiệu style : beauty in the adornments, the half-smile, the development of feminine beauty ( fully developed breasts, new freedom in the hips etc ..)
  • Đồng Dương style :typical facial appearance (protruding eyebrowns, thick lips with the corners…
  • Tháp Mắm style : art reached in its limits with a lack of realism and extravagance….

© Đặng Anh Tuấn

Politique de rapprochement avec le Vietnam (Thaïlande)

Traqué comme une bête fauve et plongé dans l’abîme de tristesse, Nguyễn Ánh fut obligé de s’exiler à Bangkok, accompagné d’une trentaine de mandarins et d’environ 200 soldats pour une courte durée (de 1785 à 1787). Puis il fut rejoint plus tard par les 5000 soldats du général Nguyễn Huỳnh Đức. Selon le professeur vietnamien Bùi Quang Tùng (1), beaucoup de réfugiés préférèrent de rester en Thailande et de se marier avec les Siamoises. L’hospitalité que Rama 1er a réservée à Nguyễn Ánh servira de base plus tard au développement de la future relation entre les deux pays. Elle n’est pas étrangère à la conduite attentionnée de Nguyễn Ánh dans la recherche d’une solution adéquate pour gérer la double suzeraineté sur le Laos et sur le Cambodge avec les Thaïs. Selon le checheur vietnamien Nguyển Thế Anh, ces pays furent considérés à cette époque comme des enfants élevés ensemble par le Siam et le Vietnam, le premier s’arrogeant le titre du père et le second le titre de mère. Cette double dépendance est connue en langue thaïe sous le nom “song faifa”. Selon les sources siamoises, Nguyễn Ánh envoya 6 fois de Gia Định à Bangkok des arbres d’argent et d’or, signe d’allégeance entre 1788 et 1801. (2). Dans une lettre adressée à Rama 1er avant son retour à Gia Đinh, Nguyễn Ánh accepta d’être placé sous le protectorat du Siam au cas où il réussirait à rétablir son pouvoir. Le Đại Nam (ancien nom du Vietnam) accepta-t-il d’être un état de mandala? Il y a plusieurs raisons de réfuter cette hypothèse. D’abord le Đại Nam n’était pas sous l’influence du bouddhisme théravadà et n’avait pas non plus la culture indianisée comme cela a été avec le Cambodge et le Laos car le rôle religieux joue un rôle important dans le mandala défini par le chercheur O. Wolter. Le Siam tenta d’étendre jusqu’alors son influence et son emprise dans les régions où les Thaïs étaient plus ou moins implantés et où la culture indianisée était visible.

Ce n’est pas le cas du Vietnam. Chakri et son prédécesseur Taksin ont déjà échoué dans cette démarche en Cochinchine qui était pourtant une terre neuve car il y avait une colonnie vietnamienne importante de culture différente. La vassalité paraît improbable. On ne connait jamais la vérité mais on peut s’appuyer sur le fait que pour reconnaître les bienfaits du Ralma 1er, Nguyễn Ánh pourrait adopter ce comportement compréhensible qui n’était jamais incompatible à son tempérament et surtout à son esprit confucianiste dont l’ingratitude ne faisait pas partie. On trouve toujours en lui la reconnaissance et la gentillesse qu’on ne pourra pas réfuter plus tard avec Pigneau de Béhaine ayant consacré beaucoup d’effort pour le convaincre de se convertir au catholicisme. Sous son règne, il n’y avait pas la persécution des catholiques qu’on peut interpréter comme une reconnaissance envers Pigneau de Béhaine. De ce point de vue, on peut voir en lui le principe d’humanité (đạo làm người) en honorant à la fois la gratitude envers ceux qui l’avaient protégé durant les 25 années de vicissitudes et la vengeance envers ceux qui avaient tué tous ses proches et sa famille. (thù phải trả, nợ phải đền)

Au moment de son intronisation en 1803 à Huế, Nguyễn Ánh reçut une couronne offerte par le roi Rama 1er mais il la lui retourna tout de suite car il n’accepta pas d’être traité comme un roi vassal et de recevoir le titre que le roi siamois Rama 1er était habitué à accorder à ses vassaux. Ce comportement déjuge l’accusation qu’on a toujours sur Nguyễn Ánh.

Pour certains historiens vietnamiens, Nguyễn Ánh est un traître car il fait venir les étrangers et leur donne l’occasion d’occuper le Vietnam. On aime à coller l’expression vietnamienne “Đem rắn cắn gà nhà” (Introduire le serpent pour mordre le poulet de la maison) à Nguyễn Ánh. Il est injuste de le taxer de trahison car dans le contexte difficile où il était, il n’y a aucune raison de ne pas agir comme lui en tant que humain lorsqu’il était au gouffre du désespoir. Probablement l’expression suivante “Tương kế tựu kế ( Combiner un stratagème de circonstance) lui convient mieux bien qu’il y ait un risque de faire le jeu des étrangers. Il faut rappeler aussi que les Tây Sơn eurent l’occasion d’envoyer un émissaire auprès de Rama 1er en 1789 dans le but de neutraliser Nguyễn Ánh avec le stratagème ( Điệu hổ ly sơn ( Éloigner le tigre loin de la montagne) mais cette tentative fut vaine à cause du refus de Rama 1er. (3)

Etant intelligent, courageux et résigné à l’image du roi des Yue Gou Jian (Cẫu Tiển) de la période des Printemps et des Automnes (Xuân Thu), il devrait connaître les conséquences de son acte. Il y a non seulement Gia Long mais aussi des milliers de gens ayant accepté de le suivre et d’assumer cette lourde responsabilité de faire venir les étrangers dans le pays pour contrer les Tây Sơn. Sont-ils tous des traîtres? C’est une question épineuse à laquelle il est difficile de donner une réponse affirmative et une condamnation hâtive sans avoir au préalable le sens de l’équité et sans se laisser convaincre par des opinions partisanes lorsqu’on sait que Nguyễn Huệ reste toujours le héros le plus adulé par les Vietnamiens pour son génie militaire.

Déçu par le refus de Gia Long, Rama 1er, ne montra aucun signe de rancune mais il trouva la justification dans la différence culturelle. On trouve en Rama 1er non seulement la sagesse mais aussi la compréhension. Il voudrait traiter désormais d’égal à égal avec lui. Ce traitement égalitaire peut être interprété comme une relation bilatérale “privilégiée” entre l’aîné et le jeune dans le respect mutuel. Chacun d’eux devrait savoir qu’il avait besoin de l’autre même il s’agit d’une alliance de circonstance. Leurs pays étaient guettés respectivement par des ennemis redoutables qu’étaient la Birmanie et la Chine.

Leur relation privilégiée ne s’estompa pas au fil du temps du fait que Rama 1er tomba amoureux entre-temps de la soeur de Nguyễn Ánh. On ne sait pas ce qu’elle deviendrait (sa femme ou sa concubine). Par contre il y avait un poème d’amour que Rama 1er lui a dédié et qui continuait à se chanter encore dans les années 1970 durant la procession annuelle des barques royales.

Quant à Nguyễn Ánh ( ou Gia Long ), durant son règne, il évita d’affronter militairement la Thaïlande sur les problèmes épineux cambodgien et laotien. Avant sa mort, Gia Long ne cessa pas de rappeler à son successeur Minh Mạng de perpétuer cette relation d’amitié qu’il avait réussi à établir avec Rama 1er et de considérer le Siam comme un allié respectable dans la péninsule indochinoise (4). Cela se justifiera plus tard par le refus de Minh Mạng d’attaquer le Siam à la demande des Birmans.

Selon le chercheur Nguyễn Thế Anh, dans l’Asie du Sud Est continentale, sur une vingtaine de principautés importantes vers 1400, il ne restait que trois royaumes qui réussirent à s’imposer au début du XIXème siècle en tant que puissances régionales parmi lesquelles figuraient le Siam et le Đại Việt, l’un entamant la marche vers l’Est et l’autre vers le Sud au détriment des états hindouisés (Laos, Cambodge, Champa). Ce conflit d’intérêts s’intensifia de plus en plus à la disparition de Rama 1er et de Nguyễn Ánh.

Leurs successeurs ( Minh Mạng, Thiệu Trị du côté vietnamien et Rama III du côté siamois) furent empêtrés par le problème de succession des rois cambodgiens qui ne cessaient pas de se battre entre eux et de solliciter leur aide et leur protection. Ils furent guidés dès lors par la politique de colonialisme et d’annexion qui les amena à se confronter militairement 2 fois en 1833 et en 1841 sur les territoires cambodgien et vietnamien et à trouver à la fin de chaque confrontation un compromis d’entente en leur faveur et au détriment de leurs protégés respectifs. L’alliance de circonstance n’est plus prise en compte. La rivalité qui devenait de plus en plus visible entre les deux pays concurrents Đại Nam et Siam, éloigne désormais tout rapprochement et toute alliance possible. Même leur politique est tout à fait différente, l’un s’alignant sur le modèle chinois pour éviter tout contact avec les colonialistes occidentaux et l’autre sur le modèle japonais pour prôner l’ouverture des frontières.

La capitale khmère Phnom Penh fut occupée à une certaine époque par l’armée vietnamienne du général Trương Minh Giảng tandis que les régions de l’Ouest cambogien ( Siem Reap, Battambang, Sisophon) étaient aux mains des Thaïs. Selon l’historien français Philippe Conrad, le roi du Cambodge était considéré comme un simple gouverneur du roi de Siam. Les insignes royaux ( épée d’or, sceau de la couronne) étaient confisqués et détenus à Bangkok. L’arrivée des Français en Indochine mit fin à leur double suzeraineté sur le Cambodge et le Laos. Elle permit aux protégés cambodgien et laotien de récupérer une partie de leur territoire aux mains des Vietnamiens et des Thaïs. Le Đại Nam de l’empereur Tự Đức dut faire face aux autorités coloniales françaises qui avaient annexé les six provinces de Nam Bộ (Cochinchine). Grâce à la clairvoyance de leurs rois (en particulier celle de Chulalongkorn ou Rama V) , les Thaïs s’appuyant sur la politique de rivalité entre les Anglais et les Français, réussirent à garder leur indépendance au prix de leurs concessions territoriales (les territoires birmans et malais occupés rendus aux Anglais et les territoires laotien et khmer aux Français). Ils optèrent une politique étrangère flexible (chính sách cây sậy) comme le roseau qui s’adapte au gré du vent. Ce n’est pas un hasard de voir l’union sacrée des trois princes thaïs aux prémices de la nation thaïe en 1287 et la soumission face aux troupes sino-mongoles de Kubilai Khan.

C’est cette politique synthétique d’adaptation qui leur permet d’être à l’écart des guerres coloniales, de se ranger toujours du côté des vainqueurs et d’exister jusqu’à aujourd’hui en tant que nation florissante malgré leur émergence tardive ( datant du début du 14ème siècle ) dans l’Asie du Sud Est continentale

 


(1) Bùi Quang Tùng: Professeur, membre scientifique de EFEO. Auteur de plusieurs ouvrages sur le Vietnam.

(2) P.R.R.I, p. 113.

(3) Pool, Peter A.: The Vietnamese in Thailand, p 32, note 3.