Temple Ngọc Sơn au fil de la nuit (Về đêm)

Giữa khu phố cổ Hồ Hoàn Kiếm

au coeur du vieux quartier Hồ Hoàn kiếm

Gươm rớt khí thiên ngời tựa nước
Văn hoà trời đất thọ tây non
Reflétant l’âme sacrée de la nation, l’épée miroite comme les ondes de la rive
En accord avec le Ciel et la Terre, les lettres perdurent avec l’âge des montagnes.

Voyage 2017: Vatican (Ý Đại Lợi)

Toà thánh Vatican

 Đây là một  quốc gia nhỏ nhất thế giới với tổng diện tích 0,44km2 và  nằm giữa thủ đô Rome của Ý Đại Lợi. Tuy vậy, Vatican có tầm ảnh hưởng quan trọng trên thế giới vì đây là trung tâm công giáo đã có thời kỳ hoàng đế Constantin (thế kỷ thứ tư) với hàng tỷ tín đồ trên thế giới hiện nay. Đến đây mà không xem được nhà nguyện Sistina thì rất uổng vì nơi nầy có những kiệt tác của các nhà họa sĩ trứ danh của thời phục hưng  như Michel Ange,  Sandro Botticelli vân vân và cũng không nên quên lên chót vòm của thánh đường  Saint Pierre để nhìn xuống xem quảng trường nhưng mất ít nhất hai ngày mới xem hết vì rất mất thì giờ  trong việc  nối  đuôi và chờ đợi.


C’est l’un des plus petits états d’Europe avec une superficie de 0,44km2 au cœur de la ville de Rome en Italie. Pourtant, Vatican a une influence notable dans le monde car c’est le centre spirituel des catholiques existant à l’époque de l’empereur Constantin (4è siècle)  avec des milliards de fidèles dans le monde entier. C’est très décevant pour ceux qui ont l’occasion de venir à Vatican sans avoir le temps nécessaire pour  visiter le dôme de  la basilique de Saint Pierre et la chapelle  Sistine car c’est ici qu’on peut voir les fresques,  les chefs d’œuvre des peintres célèbres à l’époque de la Renaissance comme Michel-Ange,  Sandro Botticelli etc… mais pour  cette visite, il faut compter deux jours car il faut faire l’interminable attente  pendant des heures.

Click vào hình để xem kích thước to hơn 

Cliquez sur la photo pour voir son agrandissement.

Place Saint Pierre 

Quảng trường thánh Phê Rô

 

Voyage 2017: Pise (Ý Đại Lợi)

Versions vietnamienne et française

Place des miracles

cliquez pour voir les photos correspondantes

 Cánh đồng của những  kỳ công

 

Khi nhắc đến Pise thì ai cũng nghĩ đến ngay  tháp nghiêng.  Nhưng chúng ta  quên đi  thành phố nầy là một hải cảng quan trọng  ở thời  kỳ đế quốc La Mã và có một thời phát triển hàng hải đáng kể. Chính nhờ đó mà Pise được xem là một trong bốn  nước cộng hoà hàng hải của Ý Đại Lợi (Amalfi, Pise, Gênes và  Venise)  trong quá khứ. Pise đến tột đỉnh quyền lực vào thế kỷ  11 nhờ các cuộc chinh phục liên tiếp và đáng kể:  sự cuớp phá  Reggio de Calabre  vào năm 1005, kiểm soát hoàn toàn biển  Tyrrhénienne  vào năm  1017 sau khi thôn tính Sardaigne, xâm chiếm  Carthage ( rồi  Mahdia vào năm  1088), cướp bóc hủy phá Palerme vân vân… Nhờ vậy, Pise có tiền để khởi đầu công việc xây cất nhà thờ và các toà nhà khác ở cánh đồng của những  kỳ công  (Piazza dei Miracoli ) mà sau nầy được gọi là  Piazza del Duomo.

—  Đây là trung tâm  Bảo tồn Di sản Văn hóa Tôn giáo và nghệ thuật của thành phố cổ kính  Pise  gồm có 4 công trình mà nhà văn hào Ý, ông Gabriele D’Annunzio  xem như là những kỳ công trong một quyển sách của ông: Campanile (tháp chuông nhà thờ)(hay tháp nghiêng), nhà thờ Notre-Dame de l’Assomption, Nhà rửa tội Saint-Jean  và nghĩa trang Simone


Quand on parle de Pise, on pense tout de suite à sa célèbre  tour penchée.  Mais on oublie que  la ville fut un port important à l’époque de l’empire romain et  connut une expansion maritime considérable, ce qui fait de Pise l’une des quatre républiques maritimes d’Italie (Amalfi, Pise,  Gênes  et Venise) dans le passé. Elle atteignit son apogée au  XIe siècle par une succession de conquêtes notables:  pillage de  Reggio de Calabre  en 1005,  contrôle total de    la mer Tyrrhénienne en 1017 par la capture de Sardaigne,  occupation de  Carthage (puis Mahdia en 1088), mise à sac de Palerme etc…. Cela lui  permet avec les rentrées d’argent,   le début de la construction de la cathédrale et les autres monuments du fameux champ des miracles (Piazza dei Miracoli ) qui deviendra ensuite la Piazza del Duomo.

——C’est le centre religieux et artistique de Pise constitué de quatre monuments que l’écrivain italien  Gabriele D’Annunzio considère comme les miracles dans un de ses romans:  la célèbre tour penchée,  la cathédrale Notre-Dame de l’Assomption, le baptistère de Saint-Jean et le cloître gothique de Simone——

Style gothique et pisan (Phong cách gothique và pisan)

 

Vue panoramique à partir du baptistère de Saint-Jean

 

Voyage d’été 2017: Florence (Ý Đại Lơi)

Versions vietnamienne et française

Đây là  một thành phố có khoảng chừng 500 ngàn dân và nằm bên bờ  sông hiền hoà  Arno giữa  hai biển Tyrrhenus (Tyrrhenian Sea) và Adriatique.  Florence toạ lạc hầu như ở trung tâm của bán đảo Ý Đại Lợi. Vào thế kỷ 15, Florence  được cai trị bởi một gia tộc nổi tiếng Médicis  mà sau nầy họ được gọi là các đại  công tước của xứ Toscane.

Cũng vào thời đó  là thời điểm   rực rỡ của Florence trong các hoạt động nghệ thuật và văn học  cũng như chính trị  và kinh tế.  Florence còn có một di sản đặc biệt nói lên tính cách huy hoàng có cả hàng trăm năm của nó. Chính ở nơi nầy là quê quán của Cimabue và  Giotto, hai người cha đẻ hội họa của Ý Đại Lợi, Arnolfo  và  Andrea Pisano hai nhà canh tân về ngành  kiến trúc và điêu khắc và Michel-Ange, Léonard de Vinci  Brunelleschi, Donalto và  Massacio những tên tuổi lừng danh  khởi xướng  ở thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV và XVI).

Tuy nhỏ hơn so sánh với các thủ đô văn hóa khác, Florence nghênh đón  mỗi năm có hơn 7 triệu người du khách ngoại quốc.  Florence còn  cất giữ  riêng tư phân nửa số lượng kiệt tác mà Ý Đại Lợi có. Cũng là thành phố đầu tiên làm ra các đồng xu bằng  vàng mà thường được gọi là florins vào năm 1252.  Vài quốc gia như Hà Lan vẫn  giữ thói quen gọi đồng tiền của họ với cái tên nầy.


C’est une ville d’environ un demi-million d’habitants se trouvant  sur les rives du fleuve Arno entre les mers Tyrrhénienne et Adriatique. Elle est presque au centre de la péninsule italienne.  Au XVème siècle Florence passa sous la Seigneurie des Médicis qui devinrent  ensuite les Grands Ducs de Toscane.

Fleuve Arno avec les ponts  Vecchio  et Santa Trinita

Ce fut un moment de grandeur de Florence dans les arts et  la culture mais aussi dans la politique et  la puissance économique. Florence renferme un exceptionnel patrimoine d’art qui témoigne de sa splendeur séculaire.  C’est ici que vécurent Cimabue et Giotto, pères de la peinture italienne,  Arnolfo et Andrea Pisano, rénovateurs de l’architecture et de la sculpture et Michel-Ange, Léonard de Vinci, Brunelleschi, Donalto et Massacio,   initiateurs célèbres  de la Renaissance (du XVème au XVI ème siècle).

Plus petite que d’autres capitales culturelles, Florence accueille aujourd’hui  plus de sept millions de touristes par an.  Elle abrite en plus, à elle seule, la moitié des œuvres d’art conservées en Italie. C’est aussi la première cité à frapper ses propres pièces d’or, les florins de Florence en 1252.  Certains pays comme les Pays-Bas ont conservé jusqu’à une date récente cette appellation pour désigner leur monnaie. 

Portes du paradis de Lorenzo Ghiberti

un des plus grands maîtres de la première moitié du Quattrocento

Cửa lên thiên đường của Lorenzo Ghiberti

 

Tử Cấm Thành Bắc Kinh: phần 3 (Cité interdite Pékin)

Version française
cite_interdite_chine3

Phần 3

Đóng đinh trên các cửa, truyền thống nầy đã có từ lâu có từ thời nhà Tùy Đường (581-907). Riêng về cố cung thì trên bốn cửa chính  thì  đều có đóng đinh nhưng ngoài việc nầy,  chỉ có ngọ môn thì có thêm năm cổng còn các cửa khác thì chỉ có ba cổng.

Trừ cửa Đông Hoa Môn có 8 hàng ngang 9 hàng dọc đinh màu vàng ( 8*9=72)  với con số chẵn (số Âm) , tất cả cửa khác  đều có  9 hàng ngang và 9 hàng dọc  tức là 9*9=81, nghĩa là với con số Dương ( số lẻ). Qua việc dùng đinh đống cửa, ngoài chức năng cấu tạo và  trang trí, người ta còn nhận thấy  nó còn  thể hiện khía cạnh trang nghiêm và uy nghi của một chế độ phong kiến của thời đó.

Đinh cửa

Có rất nhiều câu hỏi về sự chọn lựa số Âm trên cửa phía Đông (hay là Đông Hoa Môn). Đây là một nghi vấn mà các sử gia chưa tìm được câu trả lời. Có người nghĩ rằng lúc an táng Gia Khánh Đế và Đạo Quang Đế thì phải  mượn cửa nầy để đem đi chôn. Vì thế cửa nầy thường được gọi là Qủi Môn. Có thể đây là sự giải thích hợp tình hợp lý vì với số Âm người qua đời mới về với Âm Phủ . Số lượng đinh đóng trên các cửa được cố định tùy theo chức vụ giai cấp của chủ nhân trong chế độ phong kiến.

Vì thiên tử là con của Thiên Đế (Trời) nên   số lượng phòng  trong cố cung  phải ít hơn số gian nhà mà Trời có trên thiên đình (10.000). 9999 là con số Dương và là con số mang tính cách vô tận ở Trung Hoa.  Theo cuộc điều tra vào năm 1973 thì  có ở cố cung tất cả 8704 phòng.

Riêng về màu vàng, trong Âm Dương Ngũ Hành, thì màu nầy thường được gán với hành  Thổ (hay đất)  được tọa lạc ở trung tâm  trong việc quản lý vạn vật và giám sát  bốn phương. Vì là màu của mặt trời ở giữa trưa, màu nầy rực rỡ chỉ thuộc về hoàng đế vì nó biểu hiệu  sự kính trọng và che chở của thiên đế. Có tục lệ không được dùng một số màu ở thời kỳ phong kiến: màu đỏ, màu vàng, màu xanh da trời v.v…

img_3307

Lư hương

Ngược lại dân chúng được dùng: màu đen, màu trắng và màu xám. Bởi vậy không có chi ngạc nhiên khi thấy lại sự trọng dụng hai màu nổi bật nầy : màu đỏ tía và màu vàng  trong việc xây cất cung đình ở cố cung. Các vách tường thì màu đỏ tím còn các ngói  lưu ly  của cung đình thì màu vàng . Nhưng cũng có ngọai lệ đều có liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ Hành.  Đó là cung Wenyuan, nơi  có  thư viện Hoàng gia. Nơi nầy có mái nhà màu đen. Lửa là một vấn đề lo ngại ở cố cung. Đã bao lần lửa đựợc phát giác ở cố cung. Lần chót có lửa là lúc hoàng đế Quang Tự sắp thành hôn  còn một tháng với cô em họ Long Dụ. Đây là điềm báo không tốt cho cuộc hôn nhân.  Dựa lấy cớ nầy, thái hậu Từ Hy hành quyết lập tức hai thái giám phụ trách trong việc bố trí các lồng đèn.  Bởi vậy   màu đen tượng trưng nước,  được dùng ở cung Wenyuan trong việc phòng tránh hỏa họan và để bảo vệ các bộ sách ở thư viện. Có những gian nhà ở gần Đông Hoa Môn thì có mái nhà sơn màu xanh vì đây là nơi  ở của các hoàng tử.  Đấy cũng là màu xanh mà được gán cho phương đông trong ngũ hành.

Tử Cấm Thành Bắc Kinh: phần 2 (Cité interdite Pékin)

Version française


Cung Càn Thanh  đã bao lần là nơi  chứng kiến các âm mưu, các cuộc ám sát hay phản trắc dưới hai triều đại Minh Thanh. Hơn nữa, sau ngai vàng,  trên tấm bình phong, luôn luôn có treo một bức hoành   mà   hoàng đế Thuận Trị đề tự như sau: Quang minh chính đại. Còn thấy luôn cả lời bình luận  tôn vinh của người kế vị của ông , đó là hoàng đế Khang Hi. Đây là một kết cấu   tuyệt  vời , vượt qua cổ kim, còn  rạng rỡ và vĩnh cửu đáng làm tấm  gương học tập  cho hậu thế. Nhưng khốn  nổi sau  bức hoành nầy có bao nhiêu chuyện xung đột tiềm tàng,   tranh dành quyền hành ở trong  cung.

Trong thời gian 500 năm ngự trị của hai triều đại Minh  Thanh,  có nhiều biến cố đã xảy ra ở trong cung nầy. Trước hết là chuyện của hoàng đế Gia Tĩnh nhà Minh (1507-1567)  nổi tiếng hoang dâm và tàn ác không tả xiết được , súyt nửa bị chết ngạt bởi các cung nữ trong cung.  Lợi dụng ông ngủ say và rửa hận bởi cử chỉ hoang tưởng của ông, các cung nữ toa rập dùng dây  thừng thắt cổ ông trên long sàng.  Nhưng vì bị tố giác bởi một cung nữ trong nhóm với hoàng hậu nên hoàng đế được cứu sống. Các cung nữ đều bị hành quyết  tức khắc  luôn cả bà vương phi sùng ái của hoàng đế.  Rồi sau đó hoàng đế Thái Xương của nhà Minh (1582-1620) được biết dưới tên Chu Thường Lạc  chết đột ngột sau một tháng đăng cơ.  Người ta nghi ông  lạm dụng tình dục hay  bị  đầu độc.   Khiến làm triều đình lâm vào cuộc tranh giành quyền lực .   Vụ nầy được biết duới tên là Án Hồng Hoàn vì trước khi chết đột ngột,  hoàng đế có uống thuốc. Sau cùng hoàng đế áp chót của nhà Minh, con của Minh Quang Tông, Chu Do Hiệu  (1605-1628)  được biết với  niên hiệu  Thiên Hỷ (Tianqi) để  vuớng víu vào vụ Án Di Cung. Lợi dùng tuổ i nhỏ của hoàng đế, một vương phi của cha ông (vua Vạn Lịch),  Lý Tuyên Th i cố tình  thống chế Chu Do Hiệu . Bà cố  tình  ở lại Cung Càn Thanh và yêu cầu hoàng đế phong bà làm thái hậu để bà  có thể  điều hành triều chính.  Trước đòi hỏi và phản đối  mạnh mẽ của các quần thần, vua Thiên Hỷ ( Chu Do Hiệu) hạ chiếu bắt bà rời khỏi cung  và sống ở cung khác bị cháy vài tuần sau. Cuối cùng bà không bị chết  cùng cô con gái. Qua việc nầy , ai cũng nhận thấy có sự nhúng tay của hoàng đế tuy rằng có sự phản đối ở nơi ông.  Các sử gia thường tập hộp lại ba án trên đây dưới cái tên là  Vãn Minh Tam Án.

Dưới triều nhà Thanh,  có hai biến cố quan trọng. Mặc dầu Khang Hi được xem là một ông vua vĩ đại trong lịch sử Trung Hoa nhưng ông cũng gặp khó khăn trong việc lập thái tử nối ngôi vì có cuộc đấu tranh giành hoàng vị giữa các con của ông. Lúc đầu , ông phong cho Yinreng làm thái tử lúc mới hai tuổi sau đó Khang Hy đổi ý và chọn hoàng tử thứ 14 Dẫn Trinh làm ngưởi thừa kế.  Ông thầm kín  cất giấu  sau lưng bức hoành có bốn chữ  Quang minh chính đại môt cái hộp trong đó có di chiếu  “Truyền vị thập tứ tử ”  có nghĩa nhường ngôi lại cho thế tử thứ 14 vì Dẫn Trinh là hoàng tử được ông yêu chuộng.   Theo  truyền thuyết nói rằng,  khi Khang Hy đau nặng  thì Dẫn Trinh lúc đó đang viễn chinh ở vùng Tân Cương (Xinjiang) thì hoàng tử  Dẫn Chân ( Yingzheng ) lợi dụng thời cơ để lấy cái hộp và sửa chữa “Truyền vị thập tứ tử”  thành ” Truyền vị dư tứ tử ” bằng cách bỏ chữ “thập”. Nhờ vậy Ung Chính trở thành hoàng đế. Theo  bàn luận của người đời, Dẫn Chân còn chạy trốn ra vườn xem bệnh tình của Khang Hy mà trước đó ông có cho Khang Hy uống một bát  canh sâm. Theo các sử gia, Ung Chính có phần  trách nhiệm  trong cái chết đột ngột của Khang Hy  và vẫn tiếp tục là môt nghi vấn, một câu chuyện bàn tán của người đời.  Vừa lên ngôi dưới tên là Ung Chính, ông  liền diệt trừ hay lưu đày tất cả những người  có tiềm năng chống đối .  Sau khi đăng quang, để tránh việc thừa kế mà ông là người  thông hiểu và gian nan  trong cuộc tranh giành quyền lực,  ông  mới thiết lập một phương pháp khéo léo bằng viết chiếu chỉ người thừa kế sau nầy thành hai bản, một bản niêm phong để trong hôp  cất sau bức hoành “Quang Minh chính đại” còn một bản ông mang trong người.  Khi ông lâm chung thì  có thể kiếm di chiếu ở trong hộp và  so sánh với bản ông có trong người thì sẻ nhận ra được người kế thừa hoàng vị .  Như vậy không có sự phản kháng nào cả. Phương pháp lập thái tử vẫn có tác dụng đến đời vua Hàm Phong nhưng vì Hàm Phong chỉ có một đứa con duy nhất  Đồng Trị với Từ Hy hoàng hậu nên phương pháp nầy hết còn hiệu lực. Để củng cố chức vụ nhiếp  chính, Từ Hy thái hậu ủy bỏ phương pháp nầy bằng cách tấn phong lần lượt  những ” hoàng đế con  nít” đó là Quang Tự và Phố Nghi.

(Tiếp theo)

 

 

 

Tử Cấm Thành Bắc Kinh (Cité interdite Pékin)

Version française

Sau khi đánh bại người cháu Chu Doãn Văn (hay là Kiến Văn Đế)  mà cái chết vẫn còn là một ẩn ngữ cho các sử gia, hoàng đế thứ ba của nhà Minh, Chu Đệ (hay  là Vĩnh Lạc Đế)  quyết định dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh  âu cũng vì lý do chiến lược. Trước mối đe dọa trầm trọng Mông Cổ cho đế chế, ông nghĩ  đây là một giải pháp mau lẹ nhất trong việc  đối phó  với các cuộc đột kích. Ông ủy thác cho  kiến trúc sư  trưởng, thái giám  Nguyễn An gốc Việt,  lo việc xây cất Tử Cấm Thành trên thành phố điêu tàn Khanbalik của nhà Nguyên được dựng bởi Hốt Tất Liệt  vào năm 1267 và được miêu tả bởi Marco Polo trong cuốn sách mang tựa đề là “Bản mô tả thế giới” vào năm 1406 theo một giao thức chỉ định. 200 ngàn công nhân được tuyển dụng trong công tác vĩ đại nầy,  nó kéo dài có 14 năm.

Cố Cung

 
Ngoài sự tham gia của  một số lớn các tỉnh trong việc cung cấp vật liệu: đá hoa của Xuzhou (Giang Tô), gạch của Linqing (Sơn Đông),  đá từ các công trường Fangshan và Panshan không cách xa bao nhiêu Bắc Kinh, gỗ làm sườn nhà (nanmu) đến từ Tứ Xuyên, các cột thì ở Qúi Châu và Vân Nam vân vân…., thì còn cần phải sùng tu con kênh lớn hay Đại Vận Hà  có từ thời nhà Tùy. Con kênh nầy rất cần thiết để chuyên chở các vật liệu và các thực phẩm đến kinh đô Bắc Kinh. Từ năm 1420 đến 1911 có tất cả 24 hoàng đế của hai triều đại Minh  Thanh cư trú ở đây.  Vị  hoàng đế cuối cùng  ở cố cung nầy đó là hoàng đế Phố Nghi (Pu Yi ) của nhà Thanh.
 

Có nhiều câu hỏi về việc giữ lại và bảo tồn kinh thành bởi  quân Thanh khi họ cướp được chính quyền ở Trung Hoa vì cho đến giờ nầy , trong truyền thống Trung Hoa thì kẻ chiến thắng thường ủy phá triệt để tất cả cung điện thuộc về các triều đại trước họ. Có thể xem gương của Chu Nguyên Chương còn được gọi là Hồng Vũ Đế.  Ông nầy  đã ra lệnh cho quân lính của ông phá ủy hoàn toàn kinh thành của đại hản ở Bắc Kinh và dời đô về quê quán của ông ở Nam kinh. Không hiểu lý do gì thúc đẩy mà nhà Thanh giữ lại vẹn toàn kinh thành của nhà Minh. Mặc dầu  các hoàng đế nhà Thanh có cố gắng trong việc canh tân  ở  cố cung, xây cất thêm không ít  các cung điện  nhưng cố cung nầy vẫn giữ mãi mãi dấu  ấn của người sáng lập ra nó, đó là hoàng đế  Vĩnh Lạc (Chu Đệ). Một trong ba hoàng đế  nổi tiếng  cùng Hán Vũ Đế và Đuờng Thái Tôn trong lịch sử Trung Hoa,  Chu Đệ phong thái giám  Trình Hoà làm đô đốc  để thống lãnh đội hải thuyền thám hiểm “Tây Dương” mà được kể lại sau nầy bởi bạn đồng hành Mã Hoàng trong quyển sách mang tên là Ying-yai Sheng-lan (Merveille des océans). Lợi dụng sự soán đoạt ngôi của Hồ Qúi Ly, Chu Đệ thôn tính Việtnam vào năm 1400. Không có 10 năm kháng cự  của người dân Việt với Lê Lợi, Việt Nam có thể chắc là một tỉnh lị của Trung Hoa ngày nay cũng như Vân Nam hay Quảng Đông.


1 Porte du Midi (Ngọ Môn)

2 Tiền Triều (Waichao)

  • Điện Thái Hoà (Taihe)
  • Điện Trung Hoà (Zhonghe) 
  • Điện Bảo Hoà  (Baohe) 

3  Hậu tẩm (Neichao)

  • Cung Càn Thanh (Qianqing)
  • Điên Giao Thái (Jiaotai)
  • Cung Khôn Ninh (Kunning)

4) Six Palais de l’Ouest (Lục viện)

5) Six Palais de l’Est (Luc viện)


Cố cung thật sự là một thành phố  trong một thành và được xây dựng trên vùng đất hình chữ nhật  có chiều dài 960 thước trên 750 thước chiều ngang, cố cung chia ra hai phần: phần phiá trước gọi Tiền triều (waichao) dành cho cuộc sống nghi lễ ( lễ đăng quang, lễ tấn phong  và lễ cưới hoàng gia) còn phần sau được gọi là hậu tẩm dành cho vua và gia đình.  Có 3 điện ở tiền triều [2]: điện Thái Hoà, điện Trung Hòa và điện Bảo Hòa  hợp thành quần thể Tiền Tam Điện án ngữ  và ở hậu tẩm [3] thì có  cung Càn Thanh, điện Giao Thái và cung Khôn Ninh được bao xung quanh mỗi bên ở phiá Đông và phía Tây bởi  6 lục viện [4] [5]. Thường nói cố cung  có Tam Cung Lục viện  là  vậy.

Khi  đến tham quan cố cung, du khách buộc lòng phải đi qua cửa Ngọ Môn. Đây là cửa chính của cố cung.  Một thời, cửa nầy đã từng chứng kiến bao nhiêu lần các nghi lễ có liên quan đến việc xuất binh  hay trở về vinh quan của quân  hoàng gia và  sự công bố một âm lịch mới. Nó là cửa duy nhất  hay nói đúng hơn là một  kiến trúc  hình   chữ U, cao 8 thước và trên đó 5 toà nhà có mái nhà đôi và  có năm cổng  nhưng cổng  giữa chỉ dành cho vua. Quần thể  kiến trúc nầy thường được gọi Lầu Ngũ Phụng vì nó có dáng hình con phụng đấy. Sau  ngọ môn thì có một sân rất rộng mà được con sông giả tạo có nước  vàng ónh ánh tên là Neijindhuihe băng qua. Con sông  nầy có 5 cầu được trang trí rất đẹp, cầu ở giữa dành cho hoàng đế. Còn  dọc theo sông,   hai bên bờ thì có  những lan can bằng đá hoa chạm khắc rồng phượng.

Tiền triều được hưởng khí Dương nên các điện nơi nầy thường được  xây cất cao hơn các cung điện ở hậu tẩm nhờ có   môt nền tảng chung khổng lồ  ba bậc  được chạm  bằng đá ngọc thạch  được  tăng cao lên khiến làm nổi bật không những vẻ lộng lẫy của các điện ở tiền triều  mà luôn cả tính chất uy phong lẫm liệt  của khí Dương.   Cũng như ở hậu tẩm thì thụ hưởng khí Âm nên các cung ở đây đều thấp cả  chỉ có  cung Càn Thanh nơi vua  làm việc  và bàn việc triều chính với các quan đại thần  được hưởng khí dương  nên cao hơn hết so với các cung kia. Ở nơi nầy  mới thấy được một  tỷ dụ điển hình đó là Dương trong Âm mà thường nghe nói. Giữa cung Càn Thanh  (Qianqing ) nơi mà vua ở  và  hưởng khí Dương và cung Khôn Ninh, nhà nghỉ của hoàng hậu thụ khí Âm thì có điện Giao Thái (Jiaotai).   Vì được xem là  gạch  nối của hai  cung Càn Thanh và Khôn Ninh , điện Giao Thái  biểu hiện  không những sự hài hòa hoàn hảo  của âm dương   mà còn thể hiện thái bình ở  trong cố cung. Tất cả cung đình ở cố cung đều hướng về phiá Nam để thụ hưởng những lợi ích của khí Dương.

Dựa trên  phong thủy truyền thống của Trung Hoa, cố cung  có ở phiá bắc một cái núi gỉả tạo  Jinshian và vạn lý trường thành để  tránh những  tác động tai hại của khí Âm đến từ phương Bắc (gió lạnh, hung nô, ma qủy vân vân ).  Còn ở phía nam thì nhờ các hố đầy nước và  con sông gỉả tạo có nước vàng óng ánh  (Neijindhuihe)   nên làm lưu thông  được khí (qi) chôn vùi  trong đất  mà  nó khó phân tán được nhờ có những cấp bậc  được tạo ra ở  trên mặt  đất. Đó là cách thức bố trí mà được trông thấy trong việc xây cất  cái nền tảng 3 bậc  cho ba điện dành cho nghi  lễ  ở tiền triều. Nhờ vậy  khí (Qi) được hướng dẫn lên xuống  qua các điện để phá vỡ đi sự đơn điệu  của mặt đất  bằng phẳng và đi đến thượng đỉnh nơi mà có ngôi vua ở Điện Thái Hoà. Vì nối gạch giữa Trời và Đất, vua ngồi  thường  ngó về  hướng nam, sau lưng là hướng  bắc, bên trái là  hướng đông và bên phải là hướng tây. Mỗi phương được bảo trợ bởi một  linh vật:  chim hồng nhạn phiá nam, rùa đen phía bắc, rồng xanh (thanh long) phiá đông và cọp trắng (bạch hổ) phía tây. Ở trần nhà,  nơi  trục đứng  của ngai vàng và trên đầu thiên tử thì có vòm trời  trang trí  vô cùng đẹp được thể hiện qua một ô lõm trong đó có  hai  rồng  vàng chạm khắc đang đùa giỡn với một ngọc trai kếch xù. Chính ở nơi nầy, khi đến tham quan, người du khách tự hỏi có bao nhiêu con rồng được dùng trong việc trang trí của điện nầy vì nơi nào cũng có con linh vật nầy cả. Theo vài tại liệu, thì có tất cả 13844 con rồng đủ loại và đủ tầm vóc khiến  làm nơi nầy có một vẻ long trọng và trang nghiêm chưa bao giờ có ở các điện khác. 

Nằm trên hướng  trục chí ( nam bắc),  cố cung  được trang trí  tuân theo  qui tắc luật  số và   màu sắc.  Việc  chọn lựa các con số Dương ( hay số lẻ)  là việc thông  thường được trông thấy  qua cách  bố  trí  các thần thú  trên các mái hiên  cung điện hoặc là  việc phô trương  hoa mỹ các cửa của cố cung với các đinh màu vàng  hay là số gian   mà  cố  cung có.  

 



Số lượng thần thú    trên  góc mái hiên  của  cung điện  có thể  gồm từ  1 đến 10 . Tùy theo vai trò  quan trọng  quy mô của cung điện  và tùy theo đẳng  cấp  của chủ nhân trong triều đình mà con số  nầy nó  có thể thay đổi. Số lượng thần thú    nầy được chỉ định trong bộ sách  ghi chép lại   tất cả  những điển pháp  dưới nhà Thanh  và được biết với cái tên là  Đại Thanh Hội Điển (Da Qing Hui Dian).  Các thần thú   nầy được sắp xếp theo số lẻ  1-3-5-7-9   trên  góc mái hiên    và theo thứ tự rõ ràng như sau:  rồng, phượng, sư tử, thiên mã, hải mã, áp ngư, đấu ngưu, toan nghê, hải trãi và khỉ. Luôn luôn dẩn đầu các thần thú  nầy bởi một vị tiên cởi gà hay phượng thường đựơc gọi là hoàng tử Min. Gần đó có thêm một con thú có sừng đó là con thứ chín của con rồng. Mỗi thần thú biểu hiện  điều lành hay đức tính nên được quý chuộng và sùng bái.    Tuy nhiên có một việc ngoài lệ đó là điện Thái Hoà có đến 10  thần thú trên  các góc mái hiên  vì ở nơi nầy hoàng đế  tổ chức các lễ hội quan trọng (như lễ tấn phong, lễ cưới, lễ  sinh nhật, lễ  tất niên vân vân….). Việc sử dụng các con thần thú  nầy cốt yếu là  để bảo vệ các cung điện chống lại ma qủy và biểu dương quyền lực và uy thế của hoàng đế. Ngược lại, cung Càn Thanh dù là nơi  hoàng đế làm việc và bàn việc triều chính với quan thần nhưng không có một vai trò quan trọng như điện Thái Hoà nên chỉ có 9 thần thú trên góc mái hiên  mà thôi. Còn cung Khôn Ninh thì tìm thấy  7 thần thú trên góc mái hiên điện vì đây là cung của hoàng hậu  lúc thời nhà Minh. Nhưng nơi nầy cũng là nơi   tế lễ quỷ thần Tát Mãn giáo  phù hợp với địa vị của Âm trong Dương dưới thời nhà Thanh nhất  là nên nhớ trước khi thôn tính Trung Hoa, nhà Thanh vẫn gốc gác người Mãn châu nên vẫn giữ tôn  giáo của họ.

 

(Tiếp theo)

 

Chronologie des Han orientaux (Niên đại nhà Đông Hán)

 

Dans les territoires conquis par les Han, notamment dans le Sud de la Chine, la sinisation continua à battre son plein. C’est pourquoi les révoltes se succédèrent d’abord dans le royaume de Dian (86, 83 av. J.C., 14 apr. J.C., de 42 à 45 ). Elles furent réprimées avec sévérité. Ces soulèvements étaient dûs en grand partie aux exactions des fonctionnaires Han et aux comportements des colons chinois de prendre possession des sols fertiles et de refouler les populations locales dans les coins perdus de leur territoire. De plus, ces dernières devaient adopter la langue, les coutumes, les croyances religieuses des fils des Han. En l’an 40, une grave rébellion éclata dans la province Jiaozhou (ou Giao Châu en vietnamien) incluant à cette époque une partie du territoire de Kouang Si (Quảng Tây) et de Kouang Tong (Quảng Đông). Elle fut menée par les filles d’un préfet local, Trưng Trắc (Zheng Cè) l’aînée et Trưng Nhị (Zheng Èr) sa cadette. Comme le mari de l’aînée Shi Suo (Thi Sách) s’opposa à la politique d’assimilation chinoise menée brutalement par le proconsul chinois Tô Định (Su Ding), ce dernier n’hésita pas à l’exécuter pour faire un exemple contre les insurgés yue, notamment les Vietnamiens. Cette exécution exemplaire révolta les soeurs Trưng et déclencha immédiatement le mouvement d’insurrection dans les territoires yue. Les deux soeurs Trung réussirent à y enlever 65 citadelles dans un laps de temps très court. Elles se proclamèrent reines sur les territoires conquis et s’établirent à Meiling (ou Mê Linh). En l’an 41, elles furent vaincues par le général Ma Yuan (Mã Viện, Phục Ba Tướng Quân) (Dompteur des flots) et préférèrent le suicide à la réddition en se jetant dans le fleuve Hát Giang. Elles devinrent ainsi le symbole de la résistance des Vietnamiens. Elles continuent à être vénérées aujourd’hui non seulement au Vietnam mais aussi dans certains endroits des territoires Yue de la Chine (Kouangsi et Kouang Tong). Ma Yuan commença à appliquer une politique de terreur et de sinisation à marche forcée en plaçant à tous les échelons de l’administration, des hommes de confiance chinois et en imposant le chinois comme langue officielle dans tout le territoire des Vietnamiens. C’est la première domination chinoise durant presque 1000 avant la guerre de libération entamée par le général Ngô Quyền. Entre-temps, Guangwudi réussit à apporter la prospérité et la stabilité dans son empire en ramenant l’impôt du dixième au trentième des récoltes et des bénéfices. Après sa mort, son fils, analogue à Wudi, l’empereur Mingdi poursuivit la politique d’expansion en lançant une offensive contre les Xiongnu septentrionaux dans le but de libérer les états d’Asie centrale de la tutelle de ces derniers et de rétablir au profit de la Chine la sécurité de la route de la Soie. Le général Ban Chao (Ban Siêu), frère de l’historien Ban Gu de cette époque, fut chargé de cette expédition militaire. Il réussit à atteindre la mer Caspienne et à soumettre les Yuezhi grâce au concours des Kusana.

À partir de l’an 91, la Chine de Mingdi contrôla les pistes caravanières de la route de la Soie dans le bassin de Tarim. Par cette route, les envoyés de Mingdi ont ramené de Tianzu (Tây Vực) les effigies de Bouddha après que l’empereur l’aurait vu dans son rêve. Le bouddhisme commença à s’introduire ainsi en Chine avec l’établissement du temple du Cheval Blanc (Chùa Bạch Mã). La Chine était séparée seulement de l’empire romain (Da Qin) par le royaume des Parthes.(Perse antique). Malgré ses exploits territoriaux, Mingdi (Minh Đế) n’a pas laissé dans l’historiographie des Han l’image d’un brillant empereur comme son père Guangwudi ou son fils Zhandi (75-88) paré de toutes les vertus car sous son règne, une révolte paysanne eut lieu en l’an 60 à cause du poids des corvées, des travaux publics pour la consolidation des digues du fleuve jaune et de la construction du nouveau palais du Nord jugée démesurée et dispendieuse. Manquant d’envergure, les successeurs de Zhandi étaient incapables de suivre la voie de leurs prédécesseurs. Ils devinrent les jouets des intrigues de cours menées par les eunuques et les fonctionnaires lettrés tandis que dans les provinces, les propriétaires fonciers commencèrent à accaparer les prérogatives gouvernementales et à monter des armées privées. La dislocation de l’empire des Han devint de plus en plus inévitable. En l’an 189, le massacre de 2000 eunuques ordonné par le militaire Yuan Shao (Viên Thiệu) illustra bien le désordre dans la cour des Han. Cette tuerie fut suivie ensuite par la destitution de l’empereur Shaodi (Hán Thiếu Đế) par le cruel général Dong Zhuo (Đổng Trác). Cela aboutit à une période de troubles et de désordres politiques où chacun des militaires tenta sa chance pour accaparer l’empire. Trois généraux, Cao Cao (Tào Tháo), Liu Bei (Lưu Bị) et Sun Quan (Tôn Kiên) sortis du lot de ces militaires et rendus célèbres par leurs victoires, se partagèrent désormais presque d’un siècle, l’empire des Han. C’est la fin de l’état centralisé et le début de la période des Trois Royaumes (Tam Quốc).

Chronologie des Han orientaux (Đông Hán)

  • 25-57: Règne de Guangwudi
  • 57-75: Règne de Mingdi
  • 75-88: Règne de Zhandi
  • 88-106: Règne de Heidi
  • 106: Règne de Shangdi
  • 106-125: Règne de Andi.
  • 125: Règne de Shaodi.
  • 125-144: Règne de Chongdi.
  • 145-146: Règne de Zhidi.
  • 146-168: Règne de Huandi.
  • 168-189: Règne de Lingdi
  • 184 Révolte des turbans jaunes
  • 189: Destitution de Shaodi
  • 189-220 Règne de Xiandi.
  • 190: Montée et puissance du général Cao Cao (Tào Tháo)
  • 220 Mort de Cao Cao et de Xiandi.
  • Fin de la dynastie des Han
  • 220-316: Période des Trois Royaumes (Tam Quốc)

C’est une dynastie qui au bout de quatre siècles (de 206 avant  J.C. à 220 après J.C.) de son existence, a ouvert la porte de son empire au confucianisme. Elle a laissé à la Chine d’aujourd’hui un héritage spirituel qui ne cesse pas d’inspirer des millions d’Asiatiques. C’est aussi une époque riche en événements et en innovations artistiques et scientifiques dans une Chine à la fois rayonnante et conquérante. C’est pour cela que les Chinois se sentent plus que jamais, être les Fils des Han car ces derniers leur donnent un moment essentiel de la formation et du rayonnement de leur identité.

 

Chronologie des Han occidentaux ( Niên đại nhà Tây Hán)

Chronologie


  • 202 av. J.C.: Liu Bang se proclame empeureur. (Gaozu)
  • 195 av. J.C.: Mort de Gaozu.
  • 198-188 av. J.C. : règne de Huidi. (Hán Huệ Đế)
  • 188-180 av.J.C.: régence de Lu Hou (Lữ Hậu)
  • 180-157 av. J.C.: règne de Wendi. (Hán Văn Đế)
  • 157-141 av.J.C.: règne de Jindi. (Hán Cảnh Đế)
  • 154 av. J.C.: rébellion des Sept Royaumes.
  • 141-87 av. J.C. : règne de Wudi. (Hán Vũ Đế)
  • 87-74 av. J.C.: règne de Zhaodi. (Hán Chiêu Đế)
  • 80-68 av. J.C.: régence du général Huo Guang
  • 74 av. J.C.: règne de 27 jours de Liu He, empereur destitué.
  • 74-48 av. J.C.: règne de Xuandi. (Hán Tuyên  Đế) 
  • 48-33 av. J.C.: règne de Yuandi. (Hán Nguyên Đế) 
  • 33-7 av. J.C.: règne de Chengdi (Hán Thành Đế) 
  • 7-1 av. J.C.: règne de Aidi. (Hán Ai Đế)
  •  1 av.J.C.-5 apr.J.C. : règne du jeune empereur Pingdi, empoisonné par Wang Mang. (Hậu Phế Đế)

 Une fois au pouvoir, Wang Mang (Vương Mãng) entama une série de réformes monétaires (3 fois en 9, 10 et 14 après .J.C.) et économiques du pays. Les classes les plus touchées étaient les nobles et les commerçants car à chaque changement de la monnaie, les pièces anciennes étaient échangées pour les neuves à un taux moins avantageux, ce qui incita les gens à fabriquer des fausses pièces au lieu de perdre leur valeur au change. Le faux-monnayage était sévèrement puni. Par contre, les paysans n’étaient pas touchés par cette réforme car ils vendaient leurs céréales en faible quantité pour l’achat des denrées nécessaires sur le marché et ils n’avaient aucun souci concernant le numéraire. Dès lors, Wang Mang s’attira la haine des nobles et des commerçants riches mais selon le sinologue suédois H. Bielenstein, au moment de la mise en place des réformes économiques, la véritable cause de sa chute était la série de calamités naturelles (sécheresse, inondation, sauterelles ) entraînant d’abord la famine, puis le banditisme, la révolte et enfin la guerre civile. L’inondation provoqua une vaste immigration des populations vivant dans les zones sinistrées. Ce désastre amena les réfugiés affamés à se regrouper en bandes pillant les régions qu’ils traversaient et à se soulever contre les troupes gouvernementales censées de les réprimer. Connues sous le nom de Sourcils Rouges (Xích Mi) du fait qu’elles se teignaient en rouge les sourcils, ces hordes ne tardèrent à obtenir la première victoire en l’an 22 et commencèrent à envahir les autres régions de l’ouest. Entre-temps, il y avait des révoltes menées par l’aristocratie Han mais elles avaient toutes été étouffées et matées sévèrement car elles manquaient le soutien populaire. Il faut attendre treize années de guerre civile pour que le clan Liu retrouva confiance en Liu Xiu (ou Lưu Tú), un personnage talentueux et magnanime connu plus tard sous le nom Guangwu (Hán Quang Vũ Đế) pour restaurer l’empire et la dynastie des Han. 

C’est le début de la période des Han orientaux. (Đông Hán). Lors de son avènement au pouvoir, il ne cessa pas d’agir en faveur des pauvres et des esclaves. Contrairement à Wudi, il pratiqua la politique de non-intervention dans les pays vassaux. Pourtant c’est lui qui envoya plus tard Ma Yuan (Mã Viên) pour mater la révolte des soeurs Trưng Trắc Trưng Nhị dans le territoire des Yue. Il était considéré comme l’un des grands empereurs de la dynastie des Han avec Wudi par les historiens. 

Lors des fouilles archéologiques, on sait que les fils des Han furent en avance sur les Romains dans plusieurs domaines à cette époque. Ils furent les premiers à inventer un produit permettant de véhiculer leur pensée et leur savoir. Ils l’appelaient souvent sous le nom “zhi” ou (giấy ou papier en français). En 105 de notre ère, un eunuque de nom Cai Lun (Thái Luân) de la cour impériale observant la façon dont les guêpes se servaient pour mastiquer les fibres de bois dans la construction de leur nid cartonné, eût l’idée de les imiter et inventa ainsi le papier qui sera présenté plus tard à l’empereur Hedi (Hán Hòa Đế) de la dynastie des Han orientaux. (Đông Hán). L’archéologie a contredit récemment cette version car on a retrouvé des fragments de papiers issus des fibres végétales nettement antérieurs à l’époque de Cai Lun, certains datant du règne de Wudi et d’autres exhumés des tombes de la fin des Han occidentaux et du début des Han orientaux. Il est très fréquent de relever les incohérences chronologiques que les Chinois ont voulu introduire délibérément dans leur histoire traditionnelle établie jusque-là par les dynasties, en particulier celle des Qin et de Han, dans l’orthodoxie confucéenne et dans la période de conquête et d’annexion de nouveaux territoires si on continue à avoir un esprit cartésien.

Les démiurges chinois tels que Fuxi (Phục Hi) , Nuwa (Nữ Oa), Pangu (Bàn Cổ), Shennong (Thần Nông) ont été empruntés aux populations méridionales. C’est le cas du grand érudit chinois Ruey Yih-Fu qui voit en Fuxi et Nuwa un trait culturel spécifique des Nan Man (Man Di) (Barbares du Sud) ou celui de Le Blanc, le traducteur de Huainanzi (Hoài Nam Tử). Pour ce dernier, le cycle de Fuxi-Nuwa est une tradition du royaume de Chu (Sỡ Quốc). Les fils des Han introduisaient même dans leur littérature un mythe de création Pangu recueilli chez les ancêtres de Yao (Baptandier). L’archéologue chinois Yan Wenming décrit cela comme le produit unique d’une multiplicité d’origines ou il faut être comme le sinologue célèbre Chang Kwang-Chih pour parler d’un phénomène au sein d’une sphère d’interaction culturelle. 

Jusqu’alors, les fils des Han écrivaient au pinceau ou à l’encre à base de noir de fumée sur des tablettes de bois, des planchettes de la soie ou de bambou. Il semble que selon certains archéologues, la méthode de fabrication que Cai Lun présenta à l’empereur Heidi en l’an 105 n’était que la synthèse et l’amélioration des expériences antérieures dans le but de faciliter le remplacement progressif de la soie et du bambou par le papier qui était moins onéreux face à l’accroissement des demandes de cette époque.

Structure des tombes

Au début de la période des Hans occidentaux, les tombes à fosse verticale étaient encore nombreuses. Cette tradition architecturale est illustrée par les tombes de la marquise Dai à Mawangdui, près de Changsha (Hunan), de Dabaotai près de Pékin et de Fenghuangshan près de Jiangling (Hebei). Puis celles-ci sont remplacées au fil des années par le modèle de la tombe horizontale qui se répandait dans tout l’empire des Han.

De nombreux facteurs contribuèrent à ce changement et donnèrent à l’art funéraire un nouvel éclat. Outre les dimensions imposantes des sépultures, on constate la richesse de leur mobilier funéraire et les croyances religieuses liées à la mutation vers l’au-delà des Han. C’est pour cette raison que les princes, les nobles, les grands propriétaires terriens, les officiers de l’armée, les riches commerçants n’hésitaient pas à afficher les privilèges de leur position sociale et de leur fonction qu’ils espéraient maintenir dans la vie de l’au-delà (renxun) et à montrer leur ardeur de piété et de dévotion vis à vis du défunt en tentant de lui donner tout ce dont il avait besoin à travers les objets funéraires (ou mingqi) (objets de l’esprit)(Minh Khí). Ceux-ci exécutés sous le règne des Han étaient particulièrement raffinés. Dotés d’une signification symbolique, ils comprenaient des modèles réduits de vases rituels et d’instruments de musique destinés aux rites et aux cérémonies, de bâtiments agricoles ou d’habitations.

Techniques et inventions sous les Han

Sous les Han, les Chinois écrivaient beaucoup: des rapports gouvernementaux, des poèmes, des récits historiques, un gigantesque dictionnaire et un recensement à l’échelle nationale en l’an 2 après J.C. avec 57.671.400 habitants. Au début des Han orientaux, le papier en chanvre, de piètre qualité, était utilisé pour emballer les poissons. À partir du IIIè siècle, le papier devint le support d’écriture principal en Chine. Lorsque l’empereur se déplaçait sur son char, il était protégé contre le soleil et la pluie par un dais circulaire pouvant se refermer grâce à un système de baleines métalliques coulissantes.

On sait que les fils des Han se servaient de la brouette et la poulie pour déplacer les marchandises tandis que dans l’agriculture, ils recouraient au marteau à bascule pour broyer des céréales et des minerais. C’est sous le règne des Han que les Chinois se servaient des roues à aubes pour divers usages. Grâce au contact avec les barbares du Nord, les Xiongnu, les artisans chinois empruntaient à ces derniers les techniques qu’ils réussiraient à maîtriser et à produire des objets d’une qualité exceptionnelle. C’est ce qu’on a découvert lors des fouilles dans les tombes princières avec les ornements de char, la vaisselle, les bijoux, les boucles des ceintures etc… Pour parer aux calamités telles que les séismes, l’érudit chinois Zhang Heng inventa en 132 après J.C. le premier sismomètre au monde pour pouvoir alerter la cour des Han et indiquer la direction de l’épicentre du séisme. L’invention de l’odomètre lui revint aussi en même temps le premier globe céleste rotatif. C’est en Chine qu’est née la porcelaine dont la pureté et la blancheur permettent de justifier le nom avec lequel les Italiens la nommèrent “la coquille nacrée (porcellana)” au XVème siècle. L’élément principal entrant dans la composition de la porcelaine est le kaolin connu à l’époque des Han orientaux. Sous le règne de ces derniers, la porcelaine commença à connaître un véritable essor. À l’époque des Hans occidentaux et antérieurement (les Royaumes Combattants), les Chinois surent établir des cartes géographiques qui étaient peintes sur soie et conservées dans des boîtes. Envoyé par le prince Dan de Yan à l’époque Printemps et Automnes (Xuân Thu), le héros Jing Ke (Kinh Kha) compta se servir d’une carte pliée pour dissimuler un poignard et pour assassiner Qin Shi Huang Di. C’est seulement en 1973 qu’on découvre l’existence de ces cartes dans la tombe n°3 de Mawangdui (168 av.J.C.). Celles-ci (2 cartes et un plan de ville) constituent ainsi les plus anciennes cartes en Chine et dans le monde. Dans le domaine astronomique, la Chine des Han connut un développement remarquable. Le texte d’astronomie découvert dans la tombe 3 de Mawangdui (168 av. J.C.) rapporte avec précision les observations liées au mouvement des cinq planètes durant la période 246-177 av. J.C. Le voyage complet de Saturne dans le ciel est compté pour 30 ans, un chiffre qui n’est pas loin de 29,46 années données par les astronomes d’aujourd’hui.

Le jade est l’une des pierres les plus difficiles à travailler. Pourtant depuis la période Néolithique, les lapidaires chinois réussirent à sculpter habilement le jade en se servant probablement des pâtes de quartzite ou des grenats, ce qui lui confère une valeur artistique exceptionnelle avec les anneaux, des cercles, des représentations de dragons etc..Durant la période des Shang (Triều đại Thương Ân), le jade fut destiné pour la fonction purement ornementale. C’est ce que les archéologues ont découvert dans la tombe de la reine Fu Hao (Phụ Hảo)(755 jades retrouvés). Puis pendant la période des Zhou occidentaux, on prit l’habitude de couvrir les défunts de masques et de pectoraux composés de plusieurs pièces. C’est un signe de distinction ou de noblesse en posant des pectoraux sur le corps du défunt vêtu de soie décorée. Les masques et les linceuls n’étaient pas destinés à la fonction décorative mais ils avaient une fonction religieuse en quête d’immortalité sous les Han. Les petites amulettes en jade étaient utilisées pour sceller les 9 orifices du corps du défunt afin de permettre à son esprit de vivre dans l’au-delà. Par contre on ne connait pas le rôle du bi en jade, placé sur le front du roi de Nanyue, Zhao Mo (Triệu Muội). Les linceuls de Liu Shen, frère de l’empereur Wudi et de la princesse Dou Wan, retrouvés à Mancheng, qui se composent de 2498 et 2160 plaquettes de jades de différentes tailles cousues avec du fil d’or, témoignent de la parfaite maîtrise des lapidaires chinois dans la création des suaires de ce type et de luxueux objets ornementaux à partir des Han.

Les Chinois avaient l’habitude de laquer les supports les plus divers. Certains objets laqués, notamment une tasse en bois rouge trouvée dans une tombe du Zheijang (Chiết Giang) révèlent leur savoir-faire extraordinaire dès le Néolithique (Vè-IVè millénaires avant notre ère). Il faut rappeler que cette région appartenait au royaume de Wu (Ngô Việt) faisant partie de l’ancien territoire des Baiyue avant d’être annexé par le royaume de Chu qui sera conquis plus tard par Qin Shi Houang Di lors de l’unification de l’empire. S’agit-il de leur savoir-faire ou celui des Bai Yue? En tout cas, à l’imitation du royaume de Chu, les fils des Han font preuve de la parfaite maîtrise dans l’art d’incurver le bois en créant des oeuvres originales et stylisées de grande qualité qui rendent les archéologues muets d’admiration lors de leurs fouilles archéologiques. Ces laques rappelent les motifs et les dessins compliqués trouvés sur des vases en bronze. Ils réussirent à faire le laque comme le produit phare sous le règne des Han. On sait que les objets laqués enfouis dans les tombes peuvent se conserver pendant des dizaines de siècles grâce à la présence d’une enzyme agissant comme catalyseur-protéique (urushiol) sur la fine pellicule des objets, insensible à la chaleur et imperméable à l’eau et aux acides corrosifs. Plus d’une centaine des objets laqués ( plateaux, tasses à poignées en oreillettes (erbei), des vases etc…) ont été exhumés à Mawangdui près de Changsha (Hunan). D’autres oeuvres originales en très bon état ont été récupérées dans la tombe du marquis Yi de Zeng à Leigudun (Hubei).

Références bibliographiques:

  • La Chine des Han. Histoire et civilisation. Office du Livre. 1982
  • Splendeur des Han. Essor de l’empire céleste. Editeur Flammarion. 2014
  • Chine ancienne. Des origines à la dynastie des Tang. Maurio Scarpari. Gründ.
  • Trésors de Chine millénaires mais intacts. National Geographic. Octobre 2001
  • La dynastie des Han. Vingt siècles d’influence sur la société chinoise. National Geographic. Février 2004.
  • Chine. La gloire des empereurs. Paris Musées. Editions Findakly.
  • La Chine des premiers empereurs. Editions Atlas. 1991
  • Splendeurs des Han. Essor de l’empire céleste. Editions des Beaux Arts. 2014.

 

(SUITE: Chronologie des Han orientaux)