Valley of Chămpa kings (Thánh Địa Mỹ Sơn)

Version française ou vietnamienne

The Old Chămpa inhabitants have incarnated their soul into the soil and the stone and they have been able to take advantage of the nature for making it in a splendid, mysterious and grandiose Mỹ Sơn. It is a real architectural, sculptural and artistic museum for the outstanding value in the world that it is difficult to fully understand.


(Late architecte Kasimierz Kwakowski )

The brick buildings and  sandstone statues are the cornerstone in the Chămpa art. Contrary to the Khmer, the Chămpa people continued to build the edifices in brick, despite the perfect mastery of sandstone in decorations and statues. The Chămpa architecture is inspired by India. The works are essentially composed of a main temple (or kalan in the Cham language), some towers and some outbuildings, the whole included in the enclosure. The brick carving remains a particular and original Chămpa art rarely found among other peoples of Southeast Asia.

Mỹ Sơn could be compared with Angkor (Cambodia), Pagan  (Myamar) ,Borobudur (Indonesia) and Ayutthaya (Thaïland). Mỹ Sơn is located  in a valley located approximatively 10 km west of Trà Kiệu. This one was known as the capital of Lâm Ấp kingdom (Linyi)  from 605 to 707 with the name Simhapura and  situated 37km south of Đà Nẵng city.

Pictures gallery


A great homage to Chămpa civilization vanished in the turbulence of history.


 

 

The kingdom of Chămpa (Vương quốc Chămpa)

linyi

It is an ancient kingdom of Indochina known in the past as “Lâm Ấp” ( or Lin Yi )(192-749), then Hoàn Vương (Huanwang)  (758-859)  and finally  Chiêm Thành ( or Tchan-Tcheng in Chinese) (988-1471) and located in what is now central Vietnam, from the Anamitic cordillera   Hoành Sơn, Quãng Bình in the North to  Bình Thuân (Phan Thiết) in the south. The amazing Cham towers in red bricks and sandstone found in Ðà Nẵng and Phan Thiết are the sole silent witnesses of a civilization vanished in the turbulence of history.

The Cham were no doubts of Indonesian origin and occupied the coasts of central and south Vietnam from the neolithic time. In 2nd century, this sailors people adopted Hinduism in contact with Indian merchants, which gave birth to the Champa kingdom. A Chinese traveller of 4th century described them with a particular typical look: big straight nose, black and curly hair, practicing a funeral ritual that involves the cremation at the drum sound. The Chàm were not only excellent sailors but also formidable builders and ingenious farmers. The Chàm succeeded in achieving the unity of the country at the beginning of 5th century after having resisted several rounds of Chinese domination attempts. Their capital was located at Indrapura (Trà Kiểu), near Ðà Nẵng (former Tourane of the French ) from 7th to 9th century.

Thanks to the silk, spices, and ivory trade between China on one hand and India and the Muslim world on the other, this kingdom experienced a period of prosperity that was troubled first by the Khmers conquest in 1145-1147 then next by the expansion policy of Kubilai Khan’s Mongols. To face this domination, the Chàm sought alliance with Vietnam, which allowed the Chàm and the Vietnamese to come out victorious during this confrontation. To seal this union, a Vietnamese princess of the name Huyển Trân of the Tran dynasty, sister of king Trần Anh Tôn was proposed to become in 1306 the wife of the Champa king Chế Mẫn ( Jaya Simhavarman ) in exchange for the two Cham territories Châu Ô and Châu Rí, located at the Hai Vân Pass. These are no other than the two northern provinces Quảng Trị and Thừa Thiên of presently Vietnam (Huế). This union was of short duration. The Vietnamese continued to claim more land toward the South and the death of king Che Man a year after his marriage, without an heir, was only an additional pretext in the conquest of Champa. The king of Vietnam set up a plot by sending his general Trần Khắc Chung to rescue his sister, who had to be sacrificed according to the Cham tradition, at the funeral of her husband. The provinces of Châu Ô and Châu Ri’ became then the subject of discord between Champa and Vietnam.

The Cham had an awakening with king Chế Bồng Nga who struck the Vietnamese several times by ransacking the capital Thăng Long in 1372 and 1377. But he was assassinated in 1389 during a new invasion of Vietnam and his death marked the decline of the Cham. The Vietnamese annexed this kingdom around 1470 under the Lê dynasty with king Lê Thánh Tôn.

Today, the Cham are dispersed as a diaspora from Kampuchea to Malaysia and constitute one of the ethnic minorities of Viet-Nam. (less than 100000 Chams).

Vương Quốc Chămpa (Champa)

linyi

Đây là một vương quốc có mặt lâu đời trên bán đảo  Đông Dương, thường  được gọi buổi ban đầu   là Lâm Ấp (192-749)  rồi  sau đó lấy  tên Hoàn Vương (758-859)  và sau cùng với tên Chiêm Thành (988-1471). Cương vực của vương quốc nầy  hiện nay  thuộc về  miền trung Việt Nam từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam. Những tháp chàm  bằng gạch nung màu đỏ sẫm mà thường trông thấy ở miền trung  là tang chứng    trầm lặng duy nhất của một nền văn hóa bị  hủy diệt  qua  những dòng  xoáy của lich sữ. Dân tộc Chàm chắc chắn là thuộc nhóm chủng tộc   ngữ hệ Nam Đảo, có thể là hậu duệ của những cư dân Sa Huynh cổ và sinh cư vùng ven biển miền trung và miền nam của Việt Nam từ thời kì đồ đá. Ở vào thế kỉ thứ hai, dân tộc thủy thủ nầy  theo Ấn  Độ giáo khi họ có dịp  tiếp xúc với các thương nhân người Ấn.

Một du khách Trung Hoa ở thế kỷ thứ tư có từng mô tả loại người riêng  biệt nầy như sau: mũi thẳng to, tóc thì đen và quăn, thường thấy trong tang  lễ , có hỏa táng dẫn theo tiếng nhịp của trống. Người Chămpa không những họ là những người  thủy thủ xuất sắc mà còn là những người xây cất tuyệt vời và những nông dân khéo léo. Dân tộc Chàm đã thành công trong cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Hán, đựợc độc lập và tự chủ vào đầu thế kỷ thứ năm sau bao nhiêu lần kháng cự lại sự xâm lược của người Trung Hoa.  Thủ đô của họ ở Trà Kiệu (Indrapura), gần thành phố Đà Nẵng ( tỉnh Quảng Nam) từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9.

Nhờ buôn bán  tơ lụa, gia vị và ngà voi với Trung Hoa một mặt  và mặt khác với  Ấn Độ và thế giới Hồi giáo, vương quốc nầy được có một thời thịnh vượng nhưng không được bao lâu với cuộc xâm lấn của người  Chân Lạp (Cao Miên) từ  năm 1145 đến 1147 rồi sau đó bị nằm trong  chính sách bành trướng của giặc Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt. Để đối phó sự thôn tính nầy,  dân tộc Chàm  tìm  cách liên minh với Đại Việt để đem lại thắng lợi cuối cùng  trong cuộc tranh chấp nầy. Để tăng cường thêm mối quan hệ hòa hiếu giữa hai đất nước Đại Việt – Chăm Pa và nhận được  hai châu Ô và Châu Lý  (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên – Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm vật sính lễ ,   Huyền Trân  công chúa của nhà Trần, em của vua Trần  Anh Tôn đựợc đề cử làm vợ của vua chàm tên là Chế Mẫn (Jaya Simhavarman III). Nhưng cuộc liên minh nầy nó quá ngắn ngủi vì người dân Việt không bỏ ý đồ trong cuộc Nam Tiến và chỉ cần một năm sau sau khi hôn lễ,  vào tháng 5 năm 1307, thì quốc vương Chế Mân chết. Theo phong tục của nước Chămpa, khi vua chết thì hoàng hậu cũng bị thiêu chết theo. Vua Trần Anh Tông sợ em gái mình bị hại nên lấy cớ điếu tang   sai Thượng Thư Tả Bộc Xa Trần Khắc Chung và An Phủ sứ Đặng Vân sang Chămpa để cướp công chúa Huyền Trân đem về Đại Việt. Từ đó Châu Ô và Châu Lý trở thành một đề tài tranh luận giữa Đại Việt và Chămpa.

Vương quốc Chămpa được một lúc  hưng thịnh cuối cùng  với Chế Bồng Nga (Po Binasuor), một vị vua kiệt xuất  của dân tộc Chămpa đã  bao  lần  xua quân Bắc phạt Đại Việt và  đã vào tận  và cướp bóc  Thăng Long 2 lần (năm  1371 và 1377). Nhưng lần chót xâm lượt Việt Nam vào năm 1389 , ông bị ám sát tử trận  sau khi trúng phải đạn tại trận Hải Triều. Cái chết của ông đánh đấu sự suy vong của dân tộc Chămpa. Vương quốc Chămpa bị sáp nhập vào khoảng năm 1470 dưới triều đại nhà Lê với vua Lê Thánh Tôn.

Ngày nay , dân tộc Chàm thành cộng đồng sống rải rác từ Cao Miên đến Mã Lai và trở thành một nhóm thiểu số của Việtnam ( kém hơn 100.000 người Chàm).

 

 

 

Museum of Cham sculpture (Bảo tàng viện Điêu Khắc Cổ)

French version

phatmau_tara

It is the unique museum of Chămpa sculpture in the world where one finds the most famous pieces of statues from Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu and Po Nagar (Nha Trang) sites.

  • Mỹ Sơn E1 style (Phong cách E1)
  • Chính Lộ style (Phong cách Chính Lộ )
  • Đồng Dương style (Phong cách Đồng Dương)
  • Tháp Mắm style … (Phong cách Tháp Mắm)

Tháp Mắm style

style_thapmam

 

  • Mỹ Sơn E1 style : vivacity in ornamentation, dedicacy in the details..style_dongduong
  • Khương Mỹ style : gentleness in the faces, harmony and symmetry…
  • Trà kiệu style : beauty in the adornments, the half-smile, the development of feminine beauty ( fully developed breasts, new freedom in the hips etc ..)
  • Đồng Dương style :typical facial appearance (protruding eyebrowns, thick lips with the corners…
  • Tháp Mắm style : art reached in its limits with a lack of realism and extravagance….

© Đặng Anh Tuấn

Bouddhisme du Chămpa (3è partie)

Dynastie chame d’Indrapura

Le dessin du piédestal de Henri Parmentier à l’intérieur du sanctuaire (1)

sanctuaire_dongduong

est comparé à ce que nous voyons aujourd’hui  au musée de la sculpture du Champa à Đà Nẵng.

img_9731

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Malheureusement pour une raison inconnue, ses attributs distinctifs ont été confisqués par le bureau du comité populaire dont dépend aujourd’hui le site Đồng Dương. Ils n’ont pas été rendus jusqu’à ce jour au musée cham de Đà Nẵng malgré l’exposition de cette pièce au public depuis longtemps. C’est pourquoi la statue de bronze continue à être l’objet de diverses interprétations iconographiques. En s’appuyant sur les informations fournies (deux boutons de lotus dans ses mains) au moment où il consacra une étude approfondie en 1984, Jean Boisselier pensa à la représentation de Tara. Pour cela, il tenta de se fonder sur les idoles de Đại Hữu, la codification des gestes de la divinité (mudra), le rang dans le panthéon bouddhique, l’ornementation des parures (nànàlankàravati), l’importance du regard et l’existence du troisième oeil pour réussir à identifier la divinité. Certains chercheurs vietnamiens voient dans cette statue, l’épouse Laksmi de Vishnu car dans l’un de ses deux attributs distinctifs, on retrouve la conque (tù và ốc). Pour le chercheur vietnamien Ngô Văn Doanh, il n’y a aucun doute sur l’identité de cette divinité. Il s’agit bien de Laksmindra-Lokesvara car pour lui chaque attribut distinctif a une signification particulière. Le lotus symbolise la beauté et la pureté. Quant à la conque, elle symbolise l’expansion de l’enseignement de Bouddha et l’éveil après le sommeil de l’ignorance. C’est aussi l’hypothèse admise aujourd’hui par les chercheurs vietnamiens. Selon la spécialiste thailandaise Nanda Chutiwongs, ce magnifique bronze s’appelle Prajnàpàramità (Perfection de la Sagesse). Mais cela n’enlève pas la conviction de la plupart des spécialistes qui comme Jean Boisselier continuent à voir aujourd’hui dans cet exceptionnel bronze la séduisante déesse Tara dont la lourdeur des seins reste l’un des traits saillants trouvés dans sa prime jeunesse. Elle est toujours la parèdre du bodhisattva Avalokitesvara.

Dans la deuxième enceinte il y a une longue salle d’attente (ou mandapa) (2 )que Henri Parmentier nomma dans sa description “la salle aux fenêtres”. Puis dans la troisième enceinte (3) se trouve une grande salle à colonnes, longue d’une trentaine de mètres. Elle est probablement la salle de prière des moines (vihara) où trône majestueusement une imposante statue de bouddha auquel est consacré le deuxième autel au soubassement décoré en relief et entouré de deux acolytes nimbés. Ce site bouddhique fut reconnu par les autorités vietnamiennes comme le patrimoine national du pays en mai 2001. La destruction aveuglante provoquée par le bombardement américain durant les années de guerre a laissé pour ce site une unique tour de gopura intacte que la population locale désigne sous le nom “Tháp sáng” (ou tour de la lumière) du fait qu’elle est ouverte aux quatre orients laissant entrer la lumière. Malgré cela, ce site continue à faire revivre un passé glorieux avec son grand monastère qui fut à une certaine époque l’un des centres intellectuels religieux de renom dans l’Asie du Sud Est. C’est ici qu’après sa victoire éclatante sur le Champa en 985, le roi vietnamien Lê Đại Hành (ou Lê Hoàn) ramena au Vietnam un bonze religieux indien (Thiên Trúc) qui était en train de séjourner dans ce monastère. En 1069, le grand roi vietnamien Lý Thánh Tôn réussit à y capturer un moine célèbre chinois Thảo Đường lors de sa victoire sur le Champa. Mais c’est aussi ici qu’en 1301, le roi fondateur de l’école zen (Phái Trúc Lâm Yên Tử) du Vietnam, Trần Nhân Tôn accompagné par le bonze vietnamien Đại Việt et reçu par le roi cham talentueux Jaya Simhavarman III (Chế Mân en vietnamien), le futur époux de la princesse Huyền Trân, passa 9 mois de méditation dans ce centre religieux.

Pour le chercheur français Jean Boisselier, la sculpture chame était toujours en liaison étroite avec l’histoire. Des modifications notables ont été relevées dans le développement de la sculpture chame, en particulier la statuaire avec les évènements historiques, les changements de dynasties ou les rapports que le Champa avait eus avec ses voisins (Vietnam ou Cambodge). C’est pourquoi on ne peut pas ignorer que le changement de dynastie favorise un élan créateur dans le développement de la sculpture chame qui s’illustre par un nouveau style particulier que l’on dénomme aujourd’hui sous le vocable de “Đồng Dương”.


icones_dongduong2icones_dongduong1Phong cách  Đồng Dương


Celui-ci ne peut pas passer inaperçu à travers ses caractéristiques suivantes localisées au niveau facial: les sourcils proéminents, reliés en une ligne continue, sinueuse et remontant jusqu’aux cheveux, les lèvres épaisses avec les commissures relevées, une moustache qui est confondue parfois à la lèvre supérieure et un nez épaté, large de face et aquilin de profil, le front étroit et le menton court. L’absence de sourire est à signaler. Ce style continua à se développer en même temps que le bouddhisme mahàyàna dans d’autres régions du Champa sous les règnes des successeurs immédiats du roi bouddhiste Indravarman II. Ceux-ci persistèrent à vénérer tout particulièrement Avalokitesvara et à adopter le bouddhisme comme la religion d’état. C’est ce qu’on a appris grâce aux inscriptions royales. C’est le cas du sanctuaire de Ratna-Lokesvara auquel le roi Jaya Simhavarman Ier, le neveu du roi Indravarman II, accorda son patronage. Ce sanctuaire a été localisé à Đại Hữu dans la région de Quảng Bình. Dans ce lieu sacré, un grand nombre de sculptures bouddhiques ont été exhumées. Puis autour de Mỹ Đức dans la même province de Quảng Bình, on a découvert un complexe bouddhique ayant les mêmes similitudes que celles trouvées à Đại Hữu et à Đồng Dương au niveau architectural et décoratif. La foi bouddhique n’est pas absente non plus à Phong Nha où certaines grottes servant de lieu de culte gardent encore leur empreinte au fil des années. Enfin un temple dédié à la divinité Mahïndra-Lokesvarà fut érigé en 1914 à Kon Klor (Kontum) par un chef nommé Mahïndravarman. Même il y a deux pélérinages qui furent organisés par un haut dignitaire sur ordre du roi Yàvadvipapura (Java) dans le but d’approfondir le siddhayatra (ou le savoir mystique), ce qui a été rapporté par les inscriptions de Nhan Biểu datant de 911 après J.C. 

Dynastie chame d’Indrapura


Statue de Bouddha, Thăng Bình, Quảng Nam

icones_dongduong5

  • Indravarman II 854-898
  • Jaya Simhavarman Ier (son neveu) 898-903
  • Jaya Caktivarman (son fils)
  • Bhadravarman III 905-910
  • Indravarman III 916-960
  • Jaya Indravarman Ier 960-971
  • Parameçvaravarman I (Ba Mĩ Thuế) 971-982
  • Lưu Kế-Tông 983-986
  • Harivarman I l991-998
  • Yang Pu Ku Vijaya Srî 998-1007
  • Jaya Indravarman II 1010-1088
  • Harivarman II 1036-1114
  • Indravarman IV1085-1092

Cette foi commença à s’ébranler sérieusement face à l’invasion des gens du Nord (les Vietnamiens) qui venaient d’être libérés du joug d’oppression chinois. Ceux-ci, dirigés par le nouveau roi Lê Đại Hành n’hésitèrent pas à saccager la capitale Indrapura en 982 après que le roi des Cham Parameçvaravarman I (Ba Mĩ Thuế) eut retenu par maladresse et pour une raison inconnue deux émissaires vietnamiens Từ Mục et Ngô Tử Canh et eut soutenu ouvertement Ngô Tiên, fils du roi libérateur de la nation vietnamienne, Ngô Quyền dans la lutte du pouvoir. Le bouddhisme mahayànà ne permit pas aux rois cham de retrouver tout ce dont ils avaient besoin dans leur lutte contre les ennemis vietnamiens. Ils commencèrent à douter de la sagesse de cette religion lorsque cette dernière n’arriva pas à séduire jusqu’alors la population locale. Elle continua à rester la religion d’élection personnelle des élites et de leurs rois cham. Ceux-ci préférèrent retrouver désormais leur salut dans l’adoration de leur dieu destructeur Shiva afin de mieux protéger leurs victoires et de leur permettre de résister tant bien que mal aux envahisseurs étrangers (Chinois, Môn, Khmers et Vietnamiens) dans la création, le maintien et la survie de leur nation.

Leur belligérance sempiternelle inspirée probablement par le sivaïsme devint un argument de poids et une justification légitime d’abord pour les Chinois suivis ensuite par les Vietnamiens de mener des interventions militaires et d’annexer progressivement leur territoire dans la marche vers le Sud (Nam Tiến).

icones_dongduon4

 

Référence bibliographique


Un bronze de Tārā du Musée de Ðà-Nẵng et son importance

pour l’histoire de l’art du ChampaJean Bosselier, BEFEO, Tome 73, 1984. pp. 319-338.

Về pho tựợng đồng phát hiện năm 1978 ở Đồng Dương . Ngô Văn Doanh 11/01/2012

Glossaire


Avalokitesvara: nom d’un bodhisattva représentant l’infinie compassion du Bouddha.

Bodhisattva: être destiné à l’éveil ( Bồ tát)

Dharma: loi morale (Đạo pháp)

Lokesvara: seigneur du monde. Désignation d’un bouddha ou Avalokistesvara.

Mandapa: édifice religieux à colonnes dans l’enceinte du temple.

Tara: celle qui sauve. Contrepartie féminine d’Avalokitesvara. Très vénérée en Inde et au Tibet.

Vishnu: Dieu qui maintient le monde entre sa création par Brahma et sa destruction par Shiva.

Bouddhisme du Chămpa (2è partie)

phatgiao_champa

 

La découverte d’un grand nombre d’éléments mahàyaniques, en particulier des statues de la divinité Avalokitesvara, l’icône la plus populaire et la plus adulée du bouddhisme mahàyàna marque incontestablement l’affermissement de son implantation et de sa doctrine au Champa et témoigne de la bienveillance des souverains cham. Cet égard particulier royal lui permet de demeurer ainsi une religion de second plan vivant durant quelques siècles dans l’ombre de l’hindouisme et d’attendre patiemment son heure de gloire et de rayonnement. C’est aux VIIIè et IXè siècles qu’après avoir embrassé certains pays comme l’empire khmer et les royaumes de Crivijaya et de Cailendra, le bouddhisme mahàyanà trouva son plein épanouissement en concordance avec l’arrivée de la nouvelle lignée dirigeante Bhrgu en la personne de Indravarman II. C’est aussi dans les annales chinoises (Tân Đường Thư par exemple) que le nom “Tchan-Tcheng” (ou Campapura ( Chiêm Thành en vietnamien )) fut apparu pour la première fois et remplaça désormais Huanwang (Hoàn Vương) qui était lié jusqu’alors à la lignée royale de Prathivindravarman du Sud (Kauthara)(Nha Trang).

Ayant transféré la capitale à Indrapura (près de Hội An) (ou Faifo) dans la région d’Amaràvati (Quảng Nam et Quảng Ngãi), Indravarman II porta particulièrement une inclinaison personnelle vers le bouddhisme mahàyàna malgré le maintien du sivaïsme comme la religion d’état. On ne peut pas ignorer que le roi Indravarman II a eu l’occasion de rappeler dans ses inscriptions royales que la souveraineté sur le Champa lui a été revenue grâce à la seule faveur du destin et grâce aux mérites acquis dans de nombreuses existences antérieures. Il semble qu’à travers cet enseignement, il soit plus ou moins attaché à la doctrine du bouddhisme, en particulier à l’accomplissement de la propagation du dharma, plus que tout autre roi cham qui trouve son salut dans l’union avec Shiva. Selon Georges Coedès, il aurait été désigné par Vikrântavarman III, mort sans postérité, à la demande des grands sages du royaume. Ce qu’on retient de ce roi, c’est sa ferveur bouddhique, sa sagesse inouïe, sa foi inébranblable à l’égard de Lokesvara ( Seigneur du Monde). Il fit élever en 875 dans sa capitale d’Indrapura sur le site Đồng Dương, un temple bouddhique important non loin du sanctuaire Mỹ Sơn où réside le dieu national Siva Bhadresvara et le consacra entièrement à son dieu personnel qu’est Laksmindra-Lokesvara. vuongtrieu_indrapura

On voit aussi dans le choix du nom de ce temple un usage pratiqué désormais par les souverains cham en associant toujours le nom de la divinité protectrice à celui du donateur de l’établissement. Malgré le culte primordial de Shiva pour ses pouvoirs dévastateurs et ses victoires éclatantes dans la protection du royaume, la vénération de Lokesvara représentant un bouddha ou Avalokitesvara (un bodhisattva) symbolise non seulement la paix et la bienveillance mais aussi la protection de cette divinité sur la ville et ses habitants si bien que l’hindouisme et le bouddhisme quoique différents au niveau philosophique et religieux peuvent coexister au Champa. Selon l’archéologue français Henri Parmentier, le site bouddhique Đồng Dương semble englober également la résidence du roi située à l’emplacement qu’on désigne aujourd’hui sous le nom de “ao vuông (mare en forme de carré)”. ll paraît qu’il existe un courant d’eau secret pouvant communiquer avec un puits situé à un kilomètre dans la direction est du site. La construction de celui-ci témoigne d’une volonté d’innovation dans le regroupement de nombreux édifices isolés au sein d’une imposante réalisation architecturale où la présence des influences chinoise et indienne est indéniable.

C’est ce qu’on découvre dans le plan général de ce site. On trouve dans son architecture et sa sculpture certains aspects de l’emprunt de l’art chinois au niveau de la monumentalité et de la puissance tandis que dans la composition des scènes liturgiques et des panneaux de narration il y a une fidélité irréprochable aux conventions décoratives trouvées dans les temples de l’ouest de l’Inde.

L’édification de ce site se développe selon un axe est-ouest long de 1300m avec de nombreux bâtiments en brique répartis dans les trois enceintes successives dont chacune est commandée par un pavillon d’entrée aux redoutables et terrifiants gardiens en pierre (dvàrapàla). Selon la description de Henri Parmentier, c’est dans la moitié de la première enceinte occidentale qu’il trouva en 1905 le sanctuaire (1) le plus important abritant probablement la statue de Laksmindra-Lokesvara auquel le site fut consacré en 875 par le roi Indravarman II. Ce sanctuaire principal est précédé par une tour ouverte aux quatre orients (tháp sáng) et entourée de 9 templions répartis dans une disposition bien ordonnée. Pour la plupart des chercheurs vietnamiens, le grand chef d’oeuvre de l’art du bronze qu’un paysan trouva par hasard en 1978 en cherchant à ramasser quelques briques dans les ruines proches de la première enceinte et qu’on désigne souvent sous le nom de Tara (Phật mẫu Tara), n’est autre que la statue de Laksmindra-Lokesvara (Quan Âm chuẩn đề). Il s’agit bien de Avalokitesvara ayant une apparence féminine sous la forme sinisée du boddhisattva (Bồ tát Quan Thế Âm) car dans ses deux mains on retrouva au moment de sa découverte, un lotus et une conque.

Lire la suite (Tiếp theo)

Bouddhisme du Chămpa (1ère partie)

bouddhisme_champa_2

 

Malgré l’adoption de l’hindouisme comme la religion par les Cham au début de la création de leur nation, le bouddhisme ne manquait pas de faire preuve de son influence notable aupès de leurs élites locaux et leurs dirigeants. Ceux-ci trouvaient dans cette religion un grand nombre d’avantages leur permettant de renforcer non seulement leur légitimité et leur pouvoir mais aussi une touche de divinité indispensable dans leur gouvernance à travers les notions de dharmarajà (Roi vertueux) et de cakravartin (Monarque universel).

Étant censés d’incarner la puissance du dharma, ils étaient investis du mandat sacré de veiller au maintien de l’ordre et de la foi religieuse dans leur royaume.  Ils étaient attachés à la nature divine que la mission leur a octroyée. Analogues aux rois khmers, ils accordaient une importance particulière à leur déification de manière qu’on trouve dans leur nom posthume celui de la divinité suprême censée de veiller à leur origine. C’est le cas du roi Indravarman II avec son nom posthume “Paramabuddhaloka” ( Phật hiệu) . Ils devenaient ainsi des “supra humains” parmi les hommes même s’ils n’étaient pas issus d’origine divine. Le bouddhisme ne tarda pas à les séduire et à les faire adhérer à ses aspects fondamentaux : son esprit tolérant, son caractère libéral, son agrégation à la culture locale, son accent mis sur la moralité. Ils firent venir les missionnaires religieux via des navires de commerce car le Champa attira très tôt les commerçants indiens. Il était réputé depuis longtemps pour ses produits forestiers (bois d’aigle, ivoire, épices etc..). On ne connait pas avec exactitude la date d’introduction du bouddhisme au Champa mais on sait que selon les annales chinoises, il connut la prospérité en 605 de notre ère, date à laquelle l’armée chinoise du général Lieou Fang (Lưu Phương) de la dynastie des Sui (nhà Tùy) a pillé la capitale du Champa Điển Xung sous le règne du roi Cambhuvarman ( Phàn Chí en vietnamien ) et a emporté avec elle 1350 textes bouddhiques rassemblés en 564 volumes après avoir reconquis le Tonkin. (*)gardien

La présence du bouddhisme devrait être perceptible très tôt au Champa comme au Vietnam par voie maritime car selon l’érudit vietnamien Phan Lạc Tuyên, les bonzes indiens furent venus au Vietnam au début de l’ère chrétienne en se basant sur l’histoire du Chu Đồng Tử qui s’était initié au bouddhisme lors de sa rencontre avec un bonze indien. Les missionnaires religieux devaient débarquer au Champa avant de pouvoir rejoindre le Giao Chỉ (ou Vietnam) et la Chine. 

Sous l’égide de ses dirigeants, le Champa favorisa très tôt l’implantation du bouddhisme car il fut mentionné déjà par le moine célèbre Yijing ( Nghĩa Tịnh) lors du retour de son voyage maritime dans l’Insulinde comme l’un des pays de l’Asie du Sud Est tenant en haute estime la doctrine du Bouddha à la fin du VIIè siècle sous le règne Wu Ze Tian ( Vũ Tắc Thiên ) de la dynastie des Tang (Nhà Đường). Grâce aux vestiges archéologiques trouvés dans le centre du Vietnam, on sait maintenant que le bouddhisme mahayàna ( Phật giáo Đại Thừa ) prit pied au cours de la seconde moitié du VIIème siècle et donna naissance à des modèles inédits de Bodhisattva alliant la tradition locale et les éléments stylistiques venus de l’étranger et servant désormais de référence dans tout le pays. 

© Đặng Anh Tuấn

 

Lire la suite

Vương triều Indrapura

Sanctuaire Po Nagar (2ème partie)

ponagar1

Mandapa en face du kalan principal

Le kalan principal.

Avec ses 22,8 mètres de haut, ce kalan est l’une des plus hautes tours dans l’architecture chame. Son style est considéré comme le style intermédiaire entre le style Mỹ Sơn A-1 et celui de Bình Định (XIè-XII è siècle). Il se distingue par une base carrée et une toiture effilée à trois étages. Celle-ci est tellement ornée et conservée jusqu’à nos jours qu’il est impossible de ne pas apprécier sa beauté et sa splendeur malgré l’absence visible de la crête (kalasa, résidence de Shiva). L’une des caractéristiques de cette toiture est la présence des animaux en pierre (vahana) (des chèvres au premier étage, des oies (hamasa) au deuxième étage et des éléphants au dernier étage).

Le corps du kalan est flanqué de doubles pilastres rectangulaires sans décor dont la partie inférieure a une double voûte ornée de pétales de lotus. L’arcature des fausses portes est un modèle très orginal. Il s’agit de deux doubles de fers de lance superposés sans décor. Une figure humaine gravée et à peine visible se trouve dans chacune des fausses portes. 

Thánh Mẫu Thiên Y A Na

ponagar2

Le vestibule est encore intact. On trouve au niveau des jambages la gravure des inscriptions royales datant du XIè au XVè siècle et relatant la liste des offrandes à la déesse. Grâce aux épitaphes, on apprend qu’en 1064 le roi Rudravarman III a restauré le vestibule et le tympan où se trouve la déessse dansante Uma et ses quatre bras. A l’intérieur de la tour, outre la statue de la déesse assise sur un trône de lotus enfoui dans une estrade yoni, on trouve non seulement deux battants de porte en bois de fer intacts à l’époque chame mais aussi les deux statues de deux éléphants en bois placées au fond des encoignures. Celles-ci sont les seules sculptures chames datant de 8ème jusqu’au 9ème siècle et existant encore aujourd’hui.

Le temple du Sudponagar3

Malgré la dégradation de sa toiture au fil du temps, il continue à garder son charme et il est un modèle très original et unique dans l’art du Champa. Il fut construit par le senapati (1) du roi Harivarman dans le but de faire un temple du Sandhakalinga (un linga hermaphrodite) et de présenter ensemble Siva et Bhagavarti sous la forme d’un mukhalinga, mi-dieu, mi déesse. Afin de répondre à cette forme fusionnelle de ces deux divinités masculine et féminine, on voit apparaître une nouvelle adaptation de construction à travers ce temple. Il y a dans cet édifice deux parties: le corps carré rattaché au vestibule et la toiture bombée dont la composition rappelle celles de Hưng Thạnh et de Bằng An.

Le corps de ce temple est relativement bas et possède trois fausses portes ornées de six fers de lance superposées dont la grandeur croit vers le fond. On trouve au niveau de son piedestal des bordures en forme de fleur de lotus. Tout le socle de ce kalan est orné de pétales de lotus gravées dans des carrés.

Son vestibule est assez long et a un fronton surélevé prenant la forme d’un demi-toit scaphoïde.

Grâce aux inscriptions chames, on sait que les tours Sud-Est et Nord-Ouest ont été construites par le gouverneur de Panduraga et commandant en chef Senapati Par ou Parraun du roi Harivarman, l’une pour la divinité Sri Maladakuthara (autre forme de Bhagavati ) et l’autre pour Sri Vinayaka (Ganesa)(2). La divinité Maladakuthara appelée comme la petite déesse (yan pu aneh) était présentée comme la fille de la grande déesse de Pô Nagar.

Temple du Sud-Est

C’est aussi l’une des raisons qui ponagar4explique que la tour du Sud Est était placée à côté de Bhagavarti (kalan principal) et du Sivalinga (temple du Sud).  

Références bibliographiques.danseuse

Les ruines Cham. A la recherche d’une civilisation éteinte. Trần Kỳ Phương. Editeur Thế Giới 1993

Po Nagar de Nha Trang. Anne-Valérie Schweyer. Aséanie 14, Décembre 2004, p. 109-140

Pérégrinations culturelles au Champa. Nguyễn Văn Kự- Ngô Văn Doanh. Editeurs EFEO- Thế Giới Publishers 2005.

Văn Hóa Cổ Chămpa. Ngô Văn Doanh. Editeur Nhà Xuất Bản Văn Hóa Dân Tộc 2002.


(1) senapati: général (tướng)
(2) Ganesa: Nom du dieu à tête d’éléphant. Il est le fils de Pârvatî, la parèdre de Shiva.

Sanctuaire Po Nagar (1ere partie)

ponagar

Ce sanctuaire est un passage obligé pour ceux qui ont l’occasion de visiter Nha Trang, la station balnéaire la plus huppée du Vietnam. Situé sur une colline (Cù lao) à l’embouchure de la rivière Cái, il fut construit sans interruption du VIIIè au XIIIè siècle selon les inscriptions trouvées sur place. L’apparition de ce santuaire dans le royaume du Champa est liée aux tumultes qu’a connus le Champa au VIIIème siècle. Le royaume du Champa est en fait une fédération de plusieurs états ou plutôt ‘cité-états’ dont la plus puissante joue le rôle de “leader” (vai trò chủ đạo). À l’avènement d’une nouvelle dynastie, son pura accède au premier rang et devient ainsi la capitale du royaume. Grâce aux documents historiques chinois et aux inscriptions chames, on sait que jusqu’au début du VIIème siècle, le pura (ou cité-état) de Singhapura (citadelle du lion) à Trà Kiệu ( dans le disctrict actuel de Duy Xuyên, province de Quảng Nam ) prédomina.

A cette époque, la lignée royale du Nord était toujours protégée par la divinité masculine Bhadresvara, un linga représentant une forme bienveillante de Siva honorée dans le sanctuaire le plus sacré de Mỹ Sơn. Une nouvelle lignée royale ne tarda pas à se faire reconnaître au milieu du VIIIème siècle dans le sud du royaume du Champa (Kauthara) et eut besoin d’une autre divinité pour la protéger. La région de Trà Kiệu et de Mỹ Sơn dans la province actuelle Quảng Nam (province chame d’Amaravâti) perdit ainsi son importance au profit de Khánh Hòa (plaine de Nha Trang) et de Ninh Thuận (région de Phan Rang). Bien qu’on n’arrive pas à localiser jusqu’à aujourd’hui son centre politique du pouvoir (Virapura), on prétend qu’il est quelque part dans les environs de Phan Rang. Par contre, on est certain qu’un évènement politique majeur a eu lieu dans le sud de ce royaume car cela est en parfait accord avec la date de 758 donnée dans les annales chinoises pour marquer le début de la période Huanwang (Hoàn Vương en vietnamien) durant à peu près 100 ans. Lin Yi (ou Lâm Ấp en vietnamien), l’ancien nom donné à ce royaume, n’est plus utilisé et il est remplacé par Huanwang dans les textes chinois. Cette divinité est un linga à un visage et est honorée dans le sanctuaire sacré Pô Nagar situé en bord de mer. Elle est clairement féminine et présentée comme la sakti de Siva, Bhagavati.

Malgré la mise en parenthèse de la lignée de Prathivindravarman du Sud rapportée dans les annales chinoises en 859 et la prise du pouvoir suprême par la lignée de Bhrgu dans le nord du royaume à Indrapura (près de Hội An) en 875 avec le nouveau roi Indravarman II, la divinité de Nha Trang dans le Kauthara continuait à être honorée comme la déesse protectrice du royaume. Cela montre la volonté de la lignée de Bhrgu d’intégrer celle-ci dans un système religieux cohérent qui, basé jusqu’alors sur la vénération de Bhadresvara (santuaire de Mỹ Sơn) reconnaît une position de complémentarité à Bhagavarti. La bipolarité religieuse autour du dieu Bhadresvara à Mỹ Sơn et de la déesse Bhagavati à Nha Trang va s’imposer désormais sur l’ensemble du royaume. La vénération de Bhagavarti est conforme non seulement à l’importance accordée au système matrilinéaire adopté par les Chams mais aussi à l’unité dont les Chams avaient besoin à cette époque face à leurs ennemis (Vietnamiens, Khmers et Javanais).

Afin de s’acclimater à un milieu naturel peu familier où les stupas et les constructions religieuses des Chams portant la marque profonde de la culture indienne étaient visiblement étranges, effrayantes et mystérieuses avec les statues de Brahma, Siva, Visnu et Pô Nagar, ces nouveaux venus vietnamiens étaient obligés d’élaborer un mode de vie adapté à leur nouvel environnement culturel. Ils n’hésitaient pas à faire usage des vestiges de la culture Cham pour les transposer dans leur propre univers religieux et leurs propres lieux de culte. Ils tentaient d’établir une harmonie entre les puissances surnaturelles et temporelles des territoires qu’ils avaient réussi de conquérir. Craignant d’importuner des génies locaux capables de leur rendre une vie néfaste, ils s’étaient approprié parfois les lieux de culte des vaincus ou des gens locaux. C’est le cas du sanctuaire de Pô Nagar où la déesse du Champa Uma a été récupérée par les Vietnamiens qui n’hésitaient pas à assimiler la légende de Po Nagar dans une mythologie arrangée à leur manière sans réussir à effacer le substrat cham du mythe. La déesse du Champa devenait ainsi Thiên Y A Na (Thiên Y Thánh Mẫu) des Viêtnamiens. Cette appropriation se renouvelle à d’autres endroits du Vietnam lors de la marche vers le Sud: la dame noire à Tây Ninh ou la déesse Chúa Xứ au mont Sam (Châu Đốc).

Dans son inventaire des tours chames situées sur le site Pô Nagar, l’archéologue français Henri Parmentier a recensé une douzaine d’édifices de culte groupés dans une aire de 500 m2 au sommet d’une colline. À cause des intempéries et de la guerre, il ne reste que 5 édifices répartis sur deux niveaux de constructions. On trouve au sommet deux rangées de tours dont la première est composée de trois tours du nord au sud: la tour principale dédiée à la déesse Yan Pu Nagara (ou Thiên Y A Na en vietnamien), le temple du sud et le kalan du sud-est.

Quant à la deuxième rangée, il reste seulement une tour à toiture recourbée en forme de selle et dédiée aux enfants de Thiên Yana. En face de la tour principale de la premère rangée, au niveau inférieur, se dresse un mandapa non muré et constitué de deux rangées de dix colonnes octogonales en brique, mesurant chacune trois mètres de hauteur et plus d’un mètre de diamètre et entourées par quatorze colonnes similaires de taille moins importante. Ces colonnes étaient destinées à supporter un toit en forme de coque de bateau renversée dont la structure était en bois. Ce mandapa a été construit par Senapati Par et mentionné dans les stèles élevées par ce général du roi Harivarman en 817. Il était relié à la tour principale par un escalier en briques. Ce type d’édifice se retrouve sur d’autres sites chams: Mỹ Sơn (Đã Nẵng), Po Kloong Garai (Phan Rang) ou Bánh Ít (Bình Định). Selon Henri Parmentier, il existait à côté de ces édifices en briques, un temple en bois (ou bimong en cham) qui était en quelque sorte un reposoir pour les offrandes.

Grâce aux inscriptions chames, on apprend qu’en 774, le sanctuaire religieux de Pô Nagar construit en bois fut pillé et détruit par les Javanais (Chà Và en vietnamien). Ceux-ci désignent l’ensemble des populations des mers du Sud càd le pays de l’archipel et de la péninsule Malaise. Il fut reconstruit en 784 en briques et en pierre par le roi Satyavarman. Puis vers le milieu du Xème siècle, le site de Nha Trang fut mis à sac par les Khmers dont les inscriptions parlaient du butin (statue en or) pris à la déesse Bhagavati. Celle-ci fut réinstallée en 965 par le remplacement d’une statue en pierre par le roi Indravarman. La statue du Xème siècle sous le règne du roi Jaya Paramesvaravarman pourrait être celle que l’on peut voir encore aujourd’hui dans la tour principale mais sa la tête fut restaurée à la façon vietnamienne.

Lire la suite

À la recherche de la civilisation éteinte (3è partie)

materiau_cham

Troisième partie

Les temples et les tours Chàm sont construits avec des briques en terre cuite. Celles-ci sont associées à des ornements en grès: jambages, pilastres, linteaux, antes etc .. De dimensions variées, ces briques dont les formes sont souvent parallélépipédiques sont chauffées à petit feu. Malgré l’absence du mortier, elles continuent à rester soudées les unes des autres au fil des siècles, ce qui permet aux tours et aux temples de résister tant bien que mal aux attaques des intempéries. Cela constitue encore une énigme pour la plupart des scientifiques et cela prouve que la technique de fabrication et d’utilisation des briques a atteint chez les Chàms un très haut niveau. 

Par contre, selon un grand chercheur vietnamien, spécialiste de l’art Chàm, Trần Kỳ Phương, l’extraordinaire solidité de ces énormes blocs de briques agrégés entre eux provient de l’utilisation d’un mélange d’huile (dầu rái) (résine de Pipterocarpus Alatus Roxb) et de la chaux provenant de la cuisson des coquillages et de la poudre de brique. D’autres chercheurs n’hésitent pas à reprendre la vieille idée qui est pourtant abandonnée depuis longtemps. C’est celle d’une cuisson de l’édifice tout entier en une seule fois. C’est l’hypothèse émise par un chercheur vietnamien Ngô Văn Doanh dans son ouvrage intitulé “La culture du Champa, Editions Culture et Informations, Hanoi , 1994” (Văn Hóa Chămpa, Thông Tin , Hànội ).

kalan

En admirant ces tours, le voyageur ne peut pas retenir sa tristesse de voir disparaître l’une des civilisations brillantes d’Indochine dans les tourbillons de l’histoire. C’est à nous, les Viêtnamiens de redonner à ce peuple vaincu la place et la dignité qu’il mérite dans notre société et de lui montrer notre attachement à sa culture. C’est seulement dans cet esprit d’ouverture et de tolérance que le Việt-Nam est fier d’être une mosaïque de 54 ethnies. C’est un apport culturel inouï à notre richesse culturelle millénaire.


Références bibliographiques:
Introduction à l’étude de l’Annam et du Champa (Hanoi 1934). I.Y. Claèys
Les états hindouisés d’Indochine et d’Indonésie. (Paris 1948). G. Coedès.
Les ruines Cham. (Thế Giới, Hà Nội, 1993) (Trần Kỳ Phương).
Le royaume du Champa (Paris 1928) G. Maspéro
Indochine, carrefour des arts (Paris, 1981) B. Groslier.
Histoire du Việt-Nam (Hà Nội, 1957) Ðào Duy Anh (1)
La culture du Champa (Editions Culture et Informations, Hanoi, 1994) Ngô Văn Doanh