The dragon (Con Rồng)

img_2250

Version française

There are neither Vietnamese tales nor legends without this fabulous and mythical animal that is commonly called Con Rồng or more literary Con Long (or the Dragon in English). It makes part of the four animals with supernatural power (Tứ Linh) and occupies the top place. It is frequently used in Vietnamese art. It is not only seen in pagodas, but also on the ridges of roofs, the beams of frames, furnitures, the pieces of dishes and fabrics. It is also the emblematic animal traditionally chosen by the emperor for his clothes.

All Vietnamese firmly believe they are descendents of the Dragon king Lạc Long Quân coming from the Waters and of the fairy Âu Cơ of terrestrial origins. From this union, the fairy laid one hundred eggs that gave birth to one hundred robust sons. Later, at the separation of the couple, fifty of them followed their father Dragon toward the lower coastal regions and founded the first Vietnamese nation named Văn Lang while the other fifty followed their terrestrial mother toward the high plains to give birth later to an ethnic microcosm the most complex in the world ( about fifty groups ). Although this version of the Seven Tribes of Israel is unbridled and poetic, it nevertheless allows the Vietnamese and other minority groups to live together somewhat peacefully in this country of the form of the dragon, and to unite as a sole person to overcome foreign aggressors in difficult moments of their history.

According to a Vietnamese legend, it was thanks to the return of a benefactor dragon that barbarous hordes coming from the North were routed. Its fire spitting tongues on contact with the sea turned into a multitude of small islands and reefs with extravagant forms. That is why this bay is known in Vietnamese as “Hạ Long” or ( Descending Dragon ). It becomes thus the eighth marvel of the world and a natural site the most visited by foreign tourists when they land in Vietnam.

Hạ Long Bay

The dragon is also the symbol of the King. That is why its feet must have five claws. If one sees a dragon with five claws on a furniture, a box or a china, this object is meant for the service of the emperor. Otherwise the dragon generally has only four claws.
It is also the symbol of the husband, the fiance and more generally the man. As for the woman, she is represented by the phenix. That is why when we want to make allusion to a marriage, we often associate a dragon with a phenix on a piece of embroidery or a sculpted panel. It is also this association that poets evoke in their poems to talk about marital happiness and shared joy.

The dragon is seen everywhere even in the Mekong delta. This river born in the foothills of the Himalayas ( Tibet ) divides into nine branches or nine dragons to throw itself in the golf of Cochinchina ( or Nam Bộ ). That is why this region is called Cửu Long ( or Nine Dragons in English).

If this marine monster is rebutted by the majority of the peoples, it is on the contrary, a part of the Vietnamese daily life. It is assigned to keep an watchful eye, at the imperial city of Huế, on the tombs of the Nguyễn emperors with all its body made of multicolored ceramic pieces. Golden, it coils around the carmine lacquered pillars of imperial palaces. It is one of the twelve astrological signs of the lunar calendar. It becomes not only the embroided silk clothes for tourists but also a front part sign with gaudy colors on the junks of the Hạ Long bay.

In the cradle of legends that is our Vietnam, we have the feeling of being better protected by this marine monster because we are convinced that  we are the descendents of king Dragon.

 

Di chỉ Tam Tinh Đôi phần 2 (Les bronzes de Sanxingdui: 2ème partie)


version française

Có những nét đặc trưng khác  tìm thấy ở di chỉ Tam Tinh Đôi  mà  không có nét tương đương như vậy ở trong nghệ thuật của triều đại Thương. Đó là việc trang trí thực vật được biểu lộ qua các lá bằng vàng hay đồng và các hình dáng cây  cỏ hoặc các đọt bông.  Một nguồn cảm hứng khác trọng đại được gặp gỡ lại ở trong đề tài  chim. Dù  hiện vật là người hay thú, nghệ nhân cũng đạt được kết quả  mỹ mãn với sự khéo léo trong việc tạo  ra  một phong cách khá tiên tiến mà còn có những biểu hiện rất tự nhiên.  Ngược lại trong nghệ  thuật của nhà  Thương thì nghệ nhân thường có khuynh hướng biến đổi   một cách quá đáng hình dáng con vật khiến  trông thấy  không có thực tế.
 


 

Thứ tự thời gian

Từ 1900-1500:  Văn hóa Erlitou. Khởi đầu thời kỳ đồ đồng . Nhà Hạ?

Từ 1500-1300: Giai đọan  Erligang của nhà Thương.

Từ 1300-1050:  Giai đọan  An Dương (Nhà Ân-Thương)

Từ 1200 TCN: Hầm  số 1  và 2 của Tam Tinh Đôi . Tứ Xuyên

Từ 1200-1000 TCN: Giai đọan  định cư ở di chỉ  Jinsha (Thành Đô, Tứ Xuyên)

Từ 1050-256  TCN : Triều đại Nhà Châu.

316  TCN:  Thôn tính Tứ Xuyên  bởi  quân nhà Tần.


Lúc khai  quật các hầm số 1 và 2 thì các nhà khảo cổ mới nhận thấy dù cùng thời với nhà Thương, truyền thống ở di chỉ Tam Tinh Đôi hoàn toàn khác hẳn vì nó có nhiều nét độc đáo và cá biệt.  Trước hết các dòng qúi tộc ở Tam Tinh Đôi không dùng các chậu zun tựa như triều đại nhà Thương.  Họ chỉ dùng các chậu nầy để trữ các vật có giá trị hay có mang tính cách quyền lực và uy tín chẳng  hạn võ óc, một thứ  tiền để trao đổi vì hiếm có. Cụ thể là pho tượng đội một  cái chậu “zun” tìm thấy  khi lúc khai quật hầm số 2. Ngược lại với triều đại nhà Thương thì các chậu zun dù  có  nhiều hình dáng  không giống nhau nhưng mỗi chậu có vai trò rõ ràng trong việc cúng tế tổ tiên:  dùng và uống rượu,  trưng bày các thức ăn,  nấu các đồ cúng vân vân …  Mặt con người được thể hiện không ít trong nghệ thuật của Tam Tinh Đôi.  Số lượng tượng đầu người  và mặt nạ rất đáng kể và không thể nào  không làm các  du khách và các nhà khảo cổ không để ý  khi đến  khám phá lần đầu nghệ thuật nầy.  Ngược lại trong nghệ thuật của nhà Thương, con người hầu như không có được sự tượng trưng  nào cả. 
 

Cổ vật nhà Thương

 Bảo tàng viện Cernuschi (Paris)

© Đặng Anh Tuấn
  
Ngược lại các nghệ nhân của nhà Thương biết đến qua sự sáng tạo các chậu nghi lễ mà có cái có thể cao đến 1 thước , các thợ đồng của Tam Tinh Đôi thường  liều lĩnh chọn làm các tác phẩm điêu khắc theo sự đòi hỏi của tầng lớp ưu tú nội địa.  Họ buộc lòng phải làm thích hợp các kỷ thuật du nhập và sáng tạo các phương pháp mới đặc biệt là việc hàn nối để thực hiện các công trình riêng tư.

Khi khám nghiệm các cổ vật tìm thấy trong các hố của di chỉ Tam Tinh Đôi, các nhà khảo cổ  đi đến kết luận  rằng các phong tục có ở Tam Tinh Đôi và An Dương  rất tương khắc rõ ràng trong việc tế lễ.  Ngược lại các lãnh đạo ở An Dương chỉ có lòng tôn kính tổ tiên thì các tầng lớp chính trị ở Tam Tinh Đôi rất sùng kính tổ tiên lẫn mặt trời.  Việc khám phá sau nầy  Jinsha được các nhà khảo cổ xem là di chỉ có nhiệm vụ đảm nhận việc tiếp tục văn hóa Tam Tinh Đôi và việc tập hợp lại 4 con chim xung quanh mặt trời trên một cổ vật trang trí bằng vàng hay là pho tượng đứng thẳng bằng đồng có cái mũ hình dáng mặt trời , minh chứng không phủ nhận được việc sùng kính tôn thờ mặt trời. Đây là một thói quen được  phổ biến trong các nền văn minh cổ đại ở trên thế giới.  Theo nhà nghiên cứu Trung Hoa Shi Jingsong, tất  cả hiện vật tìm thấy trong hố số 2 được chia ra thành hai loại:  loại thứ nhất có liên quan đến các hiện vật mà các mô típ tựa như các mẫu hình đựợc trông thấy trên các đồ đựng bằng đồng thuộc về vùng trung nguyên  của nhà Thương còn loại thứ nhì được nhận dạng nhờ các tượng nhỏ hay các mô típ trang trí liên quan mặt trời.  Theo ông , không có sự nghi vấn   trên  sự phân chia quyền lực giữa vua và thầy tế lễ nhất là thể hiện việc cùng tồn tại các đền thờ tôn giáo và tổ tiên trong văn hóa Tam Tinh Đôi. Chắc chắn đây là một vương quốc văn minh có một chế độ thần quyền vì vậy có thể giả  định một hệ thống tôn giáo và xã hội có nhiều bậc cấp qua các cổ vật được khám phá.
 

 

Tài liệu tham khảo

Les bronzes du Sichuan. Chine

Connaissance des Arts

Alain Thote.

Trở lại phần đầu

Những cuộc xung đột tiềm tàng với Việtnam ( Conflits larvés avec le Việtnam)

Version française

Mỗi bên đều có thắng lợi cũng như có  thất bại. Cầm đầu một đạo binh có 20 vạn binh và một đội tàu chiến, sau mười ngày vây hãm, Taksin dành thắng lợi trong việc đánh đuổi được Mạc Tiên Tứ, con của Mạc Cửu ra khỏi Hà Tiên vì Mạc Thiên Tứ không những là đồng minh của các chúa Nguyễn mà còn là người bảo vệ con trai của vua cuối cùng của triều đại Ayutthaya đó là hoàng tử Chiêu Thúy (Chao Chuy). Đối với Taksin, Chiêu Thủy vẫn là mối lo ngại trọng đại vì vẫn tiếp tục được xem là một trong những người tranh đua kế vị ngôi vua Thái Lan. Qua những cuộc thất bại quân sự ở Châu Đốc và trong vùng Sa Đéc, Taksin buộc lòng chấp nhận một thỏa ước hoà bình mà Mạc Thiên Tứ đề nghị và từ bỏ Hà Tiên hoang tàn để đổi lại sư giao trả hoàng tử Chiêu Thúy cùng việc trả tự do cho cô con gái của Mạc Thiên Tứ bị bắt lúc Hà Tiên bị thất thủ và sự giữ lại trên ngôi vua của Cao Miên một vua thân Thái tên là Ang Non. Khi trở về Thái Lan, Chiêu Thúy cùng người em bị bắt ở Cao Miên, bị hành quyết. Còn chúa Nguyễn Phúc Thuần (sau nầy lấy tên là Duệ Tông) gặp nhiều trở ngại với việc nổi dậy của anh em nhà Tây Sơn, đành buộc lòng bảo chứng thỏa ước và tạm thời để người Thái thao túng chính sách bành trướng lãnh thổ ở Lào và Cao Miên. Nhưng cuôc hưu chiến rất ngắn ngủi nhất là với Mạc Thiên Tứ vì trong thời gian nầy ông bi đeo đuổi bởi quân Tây Sơn nhất là họ dành thắng lợi trong việc chiếm thành Gia Định (hay Saïgon) vào năm 1776 và bắt được Nguyễn Phúc Thuần ở Cà Mau. Mạc Thiên Tứ buộc lòng cùng bộ hạ và gia đình sang xin tá túc ở Thái Lan với Taksin. Lúc nào cũng ám ảnh nghi ngờ và đố kỵ, Taksin ra tay hành quyết gia dình của Mạc Thiên Tứ và tùy tùng trong đó có hoàng tử Tôn Thất Xuân. Để bảo tồn danh dự và phẩm cách, Mạc Thiên Tứ tự sát bằng cách nuốt một thỏi vàng. Bệnh đa nghi của Taksin càng ngày cảng lộ liễu cho đên nó trở thành một bệnh thần kinh tạo ra một hành vi khó hiểu, bạo ngược và hoang tưởng.

Rạch Gầm- Xoài Mút

Tranh ở bảo tàng lịch sử ở Saïgon


Đây là một trong những điểm chung thường thấy ở những vĩ nhân chính trị (Tào Tháo thời Tam Quốc, Tần Thủy Hoàng chẳng hạn) . Chính tính đa nghi thúc đẩy Taksin đến chổ nhốt tù các thân nhân của ông nhất là gia đình của con rể của ông, tướng Chakri đang dấn thân trong cuộc việc viễn chinh quân sự ở Cao Miên để chống chọi lại đoàn quân Việt của hoàng tử trẻ Nguyễn Ánh. Tứớng Chakri ( tức là vua Rama I trong tương lai) buộc lòng chịu thỏa hiệp với các phó tướng của Nguyễn Ánh đó là Nguyễn Hữu Thùy và Hồ văn Lân và nhận được lại một cây gươm và một lá cờ để tỏ lòng sự ủng hộ của nhà Nguyễn chống lại Taksin. Được về kịp lúc cuộc đảo chính chống Taksin và có công trong việc dẹp phiến loạn, tướng Thái Chaophraya Mahakasatsuk (hay Chakri) trở thành từ đó là vua Rama I và người lập triều đại Chakri. Việc đăng quang của Chakri kết thúc triều đại Thonburi và thay thế từ nay bởi một triều đại mới với việc dời đô về Vọng Các (Bangkok).Chính ở nơi nầy vua Rama I cố gắng phục hồi lại phong cách Ayutthaya qua hoàng cung của ông ở Bangkok. Sự dời đô không có mang lại sự đổi mới trong nghệ thuật của người dân Thái. Rama I chỉ quan tâm đến công trình dở dang của Taksin Đại Đế trong việc bành trướng ảnh hướng về phía đông. Ông không ngần ngại trợ tiếp hoàng tử Nguyễn Ánh trong cuộc chống chọi lại nhà Tây Sơn qua một cuộc viễn chinh quân sự ở trên sông Rạch Gầm- Xoài Mút trong tỉnh Tiền Giang ngày nay nhưng hoàn toàn thất bại và bị tiêu diệt bởi chiến lược thần tốc của người anh hùng áo vải Việtnam Nguyễn Huệ. Từ 50 vạn binh Xiêm La phối hợp với quân của nhà Nguyễn và 300 thuyền khởi đầu, chỉ còn lại có 2000 quân Xiêm La tẩu thoát mượn đường Cao Miên để trở về Thái Lan.

Thái Lan

Lợi dụng sự thiếu hiểu biết về địa thế và sự đánh giá thấp của quân địch, Nguyễn Huệ tránh  va chạm trực diện ở Sa Đéc và thành công trong việc làm thất bại sự xâm lấn của người Xiêm La trên kênh Rạch Gầm- Xoài Mút gần ở Mỹ Tho. Nguyễn Huệ cần một cuộc chiến thắng thần tốc vì  ông dư biết chúa Trịnh ở Bắc Việt có thể lợi dụng thời cơ để xâm chiếm Qui Nhơn ở miền trung Việtnam.

Bị săn đuổi như con thú và chìm trong vực thẳm của  sự phiền muộn, Nguyễn Ánh buộc lòng phải lưu vong một thời gian ngắn  (từ  năm  1785  đến  1787) ở Bangkok   cùng các cận thần   thân tín và 200 quân lính. Sau đó có 5000 vệ binh của Nguyễn Huỳnh Đức sang Thái Lan theo ông.  Theo giáo sư người Việt  Bùi Quang Tùng (1)  thì  có rất nhiều người tỵ nạn chọn  ở lại Xiêm La về sau  và kết hôn cùng  người  dân Thái.

 


(1) Bùi Quang Tùng: Giáo sư,  thành viên khoa học của viện EFEO.  Tác giả  của nhiều quyển sách về Vietnam.

Vương quốc Ayutthaya ( Royaume d’Ayutthaya)

Version française

Vương quốc Sukhothaï suy  yếu  và không còn tồn tại được bao lâu sau khi Rama Khamheng đại đế qua đời vì các vua thừa kế Lo Tai (1318-1347) và Lu Tai (1347-1368) vùi mình trong việc mộ đạo mà quên để ý đến  các chư hầu mà trong đó có một vị hoàng tử rất dũng cảm và đầy nghị lực ở huyện U Thong (*), nổi tiếng có nhiều tham vọng về đất đai. Ông nầy không ngần ngại chinh phục vua Lu Tai và trở thành vua đầu tiên cùa một triều đại mới lấy Ayutthaya nằm ở thung lũng Ménam Chao Praya làm thủ đô. Ông lấy  vương hiệu Ramathibodi I (hay là  Ramadhipati). Vuơng quốc của ông không được  thống nhất theo cái nghĩa hẹp  mà thông thường dùng  mà nó chỉ giống một phần nào  một hệ thống Mạn Đà Là (mandala)(**). Vua ngự trị và   ở vị trí  trung tâm của nhiều vòng đai đất  của mô hình Mạn Đà Là thường thấy ở Đông Nam Á. Vòng đai đất  xa nhất thường gồm có những vùng độc lập (hay muờng) thường được cai trị mỗi vùng bởi một hoàng tộc thân thích của vua còn  vòng đai kế cạnh gần bên vua  thì được các tổng đốc cai  quản và được vua bổ nhiệm. Một chiếu chỉ đề từ năm 1468 hay 1469 mách lại có đến  20 chư hầu  đến  ăn mừng và tỏ lòng qui phục vua Ayutthaya. 

พระนครศรีอยุธยา


(*) U Thong: huyện toạ lạc trong tỉnh  Suphanburi. Đây là vương quốc Dvaravati mà người Trung Hoa thường nói đến  thưở xưa với tên là  T’o Lo po ti.  Chính ở nơi nầy  nhà sư nổi tiếng Trung Hoa tên là Huyền Trang (hay Tam Tạng)  được ghé sang đây  lúc ông đi thỉnh kinh Phật ở Ấn  Độ. 

(**)  Mandala được dùng bởi  học gỉả  WOLTERS,O.W. 1999. History, Culture and Religion in Southeast Asian Perspectives. Revised Edition, Ithaca, Cornell university and the Institute of Southeast Asian Studies. pp 16-28.


Tuy nhiên thống trị và quyền lực của vua cũng có giới hạn nhất là đối với những vùng xa  xôi mà  ở các nơi nầy , các lãnh tụ có uy thế  có thể bất cứ lúc nào đòi độc lập khi họ có tham vọng. Với vai trò một lãnh tụ tôn giáo (dharmarâja), vua có thể tạo thế cân bằng để làm giảm đi  sự tranh đua tiềm lực của các chư hầu. Chính vì vậy vương quốc Ayutthaya thường có   các  cuộc chiến tranh kế vị và đấu tranh nội bộ trong suốt thời gian của triều đại.

Trong thời kỳ hùng mạnh, vương quốc Ayutthaya chiếm cứ  đất đai khoảng  chừng như lãnh thổ mà Thái Lan hiện nay  có trừ bỏ đi vương quốc Lanna ( mà thủ đô là Chiang Mai) và một phần đất phía đông của Miến Điện. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thế Anh thì loại hình thể chính trị nầy cũng có một thời ở đầu thế kỷ thứ 11 ở Việtnam nhưng sau  đó bị  mất  đi nhường lại cho  hình thể  chính trị  mà quyền lực nằm  trong tay chính quyền trung ương lúc dời đôi về Thăng Long (Hànôi) dưới triều đại  Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn). Theo nhà sử gia Thái  Charnvit Kasetsiri, hoàng tử U Thong nầy xuất  thân từ một gia đình người Trung Hoa.  Nhờ quan hệ hôn nhân với vua của vương quốc Lopbury,  ông được chọn trong việc thừa kế ông nầy. Từ đó, Ayutthaya trở thành trung tâm quyền lực chính trị của người dân Thái  cho đến  khi Ayutthaya bị tàn phá bởi quân Miến Điện của vua Hsinbyushin   vào năm 1767. Với chủ nghĩa bành trướng, Ramathibodi không ngần ngại xâm chiếm  Angkor năm 1353.  Cuộc xâm lược  nầy được tái diễn  lại 2 lần  sau nầy với Ramesuen (con trai của vua Ramathibodi) vào năm 1393 và với vua Borommaracha II  năm 1431. Người Khơ Me buộc lòng dời đô về Nam Vang với Ponheat Yat. Mặc dầu như thế, các vua của triều đai Ayutthaya vẫn tiếp tục tự hào họ là những người thừa kế của đế quốc Angkor. Họ không ngầ n ngại lấy lại cho họ  cách tổ chức của triều đình  và các quan  chức của kẻ thất bại mà luôn cả các  đội vũ công và đồ trang sức. Sự trở lại với  nghi lễ  và truyền thống của chế độ quân chủ  Angkor  càng rất rõ rệt. Vua trở thành một phần nào một ông Phật sống mà sự xuất hiện trước quần chúng càng hiếm có. Các bề tôi không được nhìn thẳng vào mặt vua ngoài trừ những người thân thích. Họ phải dùng một ngôn ngữ đặc biệt khi nói  chuyện với vua. Vì có quyền lực thiêng liêng , vua có thể định đoạt số mệnh của bề tôi. Dưới triều đại của Ramathibodi một loạt cải cách được tiến hành.  Ông mời các thành viên của một tăng đoàn từ Tích Lan đến Thái Lan  để thiết lập các trật tự tôn giáo mới. Vào năm 1360 Phật giáo nguyên thủy được công bố  là quốc giáo của  vương quốc Ayutthaya. Một  đạo luật gồm  có  các luật tục Thái và dựa trên Dharmashastra của Ấn Độ được áp dụng. Còn nghệ thuật Ayutthaya thì nó có tiến triển  buổi đầu dưới ảnh hưởng của nghệ  thuật Sukhothaï nhưng rồi nó tiếp tục tìm cảm hứng trong lãnh vực điêu khắc trước khi nó quay trở về với các  mô hình Khơ Me từ lúc vua  Trailokanatha kế vị vua cha lên ngôi  vào năm 1448. Nói tóm lại, trong phong cách Ayutthaya, có sự hỗn hợp của phong cách Sukhothaï và phong cách Khơ Me.

Kinh thành Ayutthaya được mô tả bởi ông thầy tu  François-Timoléon  de  Choisy,  một thành viên của phái đoàn Pháp được vua Louis XIV gởi sang Thái Lan để  viếng thăm vua Narai  vào năm 1685 là một thành phố đa ngôn ngữ và tuyệt vời. Kinh thành  Ayutthaya trở thành không bao lâu là con mồi  được   người Miến Điện dòm ngó nhất là kinh thành  Ayutthaya nổi tiếng giàu có về của cải và sang trọng. Mặc dầu Ayutthaya mang  tên là đồn lũy không thể thất thủ bằng tiếng phạn  thế mà  kinh thành Ayutthaya bị  cướp bóc và tiêu hủy vào năm 1569 bởi đoàn quân xâm lược Miến Điên của vua Toungoo Bayinnaung.  Rồi sau nầy kinh thành lại bị tiêu hủy một lần nửa  với vua Miến Điện   Hsinbyushin  vào năm 1767. Đoàn quân Miến Điện thừa dịp cơ hội nầy  nấu  chảy vàng mà họ tìm được qua các pho tượng phật nhưng họ bỏ lại một pho tượng trét bằng vữa  trong một ngôi chùa ở thủ đô.  Tuy nhiên dưới chất vữa nầy lại là một pho tượng bằng vàng ròng. Đây là một mẹo mà các nhà sư Thái dùng để che giấu vật báu trong lúc kinh thành bị vây hãm bởi đoàn quân Miên Điện. Chính pho tượng phật vàng nầy hiện nay được giữ ở chùa  Wat Traimit tọa lạc ở khu tàu của thủ đô Bangkok.

Sau khi hủy phá  kinh thành Ayutthaya, đoàn quân Miến Điện trong lúc rút lui họ  mang trở về không những tất cả những chiến lợi phẩm mà họ thu thập được và 60.000 tù binh mà luôn cả vua của vương quố c Ayutthaya và gia đình cua ông. Từ đó vương quốc Ayutthaya bị chia cắt hoàn toàn với sự xuất hiện nhiều lãnh tụ đia phương. Kinh thành Ayutthaya không còn là trung tâm quyền lực chính trị nửa. Theo nhà nhân loại học người Mỹ Charles Keyes, Ayutthaya không còn được  các ảnh hưởng vũ trụ để có thể bền vững lâu dài.  Lý do tồn tại nó không còn biện bạch được nửa. Ayutthaya sẽ thay thế bởi một thủ đô mới Thonburi , ở cận bên Bangkok có thể đến đường biển ( để phòng ngừa  trong trường hợp bị xâm lược bởi quân Miến Điện) và được thành lập  lên bởi tổng đốc của tỉnh Tak tên Sin.  Chính vì vậy mà thường gọi là Taksin (Trịnh Quốc Anh bằng tiếng Việt ) hay Taksin Đại Đế trong lịch sữ của Thái Lan.

Taksin, người Trung Hoa gốc Tiều Châu, được xem như là người có công giải phóng và thống nhất đất nước Thái Lan sau khi loại trừ tất cả đich thủ của ông và đánh bại đoàn quân Miến Điện ở Ayutthaya sau hai ngày chiến đấu mãnh liệt. Ông ngự trị được 15 năm (1767-1782). Nhờ ông mà Thái Lan có lại không những nền đôc lập vững chắc  mà còn thêm sự thịnh vượng. Thái Lan trở thành từ đó  một  trong những cường quốc ở Đông Nam Á nhất là người dân Thái giải phóng được vương quốc Lanna ra khỏi ách thống trị của Miến Điện vào năm 1774 và bành trướng ảnh hưởng và tùng phục  được Ai Lao và Cao Miên qua các cuộc viễn chinh quân sự. Thái Lan bất đầu dòm ngó vị trí quan trọng  ở  lãnh địa Hà Tiên mà một người  Minh Hương  gốc Quãng Đông, Mạc Cửu đang quản trị ở đầu thế kỷ 18 trong vịnh Xiêm La. Thái Lan thường ôm ấp cái mộng được độc chiếm và kiểm soát thương mại trong vịnh Xiêm La.

Chính ở Lào mà đoàn quân viễn chinh Thái của tướng Chakri ( vua Rama I về sau) lấy được Phật ngọc của người dân Lào  và  mang về ở Thonburi vào năm 1779 trước khi để vĩnh viễn ở hoàng cung ở Bangkok.  Phật ngọc trở thành từ đó là thần bảo hộ của triều đại Chakri và có nhiệm vụ bảo đảm sự thịnh vượng của đất nước Thái Lan.

Sau cái chết của vua Ai Lao  Surinyavongsa,  nước Lào bị chia ra thành ba vương quốc: Vạn Tương, Luông Pha Băng và Champassak và bị thống trị tạm thời bởi người Thái. Ngược lại ở Cao Miên, lợi dụng sự chia rẻ nội bộ  trong việc thừa kế của các  vua chúa và thường có chánh sách bành trướng về phía  đông để kiểm soát vịnh Xiêm La, người  dân Thái không ngần ngại gây sự để xung đột vũ trang với các chúa Nguyễn nhất là cho đến giờ phút nầy  các chúa Nguyễn có thẩm quyền dòm ngó  nước Cao Miên nhất là nước nầy đã đồng ý cho người dân Việt định cư ở trên lãnh thổ của họ  (Cochinchine ) với vua Prea Chey Chetta II  vào năm  1618.

The bamboo (Cây Tre)

French version

bambou

It is a plant with multiple use in Vietnam. Thanks to this plant, everything is possible in a country where nothing is easy, and where the people will not let any obstacles reject or stop them. It is the plant that lulls the life of a Vietnamese from the cradle to the tomb. Once deceased, the body of the dead person rests upon a tray made of bamboo. In a somewhat humoristic manner, J.C. Pomonti, a specialist in matters on Asia, has often labeled our civilization in his index of Le Monde newspaper as “the bamboo civilization” or “the chopsticks civilization”. It is true that there are only four countries in Asia that make up this civilization ( China, Japan, Korea, and Vietnam ). But in Vietnam, the culture of the bamboo is very significant. The bamboo is quoted in poetry, as well as in proverbs and folks songs.

Friend, enjoy your life now before you become too old
The bamboo has only one growth and man has only one life
Let’s enjoy springtime before it goes away
Otherwise old age will catch us on its way

It is also said in Vietnamese:
Tre già làm sao uốn

Difficult to bend a bamboo when it is old

to remind parents that it is easier to educate their children in their tender age as it is harder to do it when they grow older.

In the old days, Vietnamese people used this hollow, lightweight, and sturdy wood to build partitions, fences several meters high to protect their village against robbers. In the village, bamboo gives you everything. It provides the whole house; timber for walls, partitions and floors are made of slats of bamboo. Everything in the house is made with this hollow wood (furniture, beds, tables, various accessories, etc…) even drinking glass. Split into thin strips, it is used to weave ropes and strings. One makes use of the filament of bamboo called kelates to make baskets of any kind for transport as well as the conic hat to provide shelter from rain and the sun. One knows how to make good use of this wood to create usual tools ( the water bucket, the smoking pipe etc…). Bamboo also provides food for animals and even to the villagers, who eat as asparagus, the most tender bamboo shoots.
Even the roots of this hollow wood, unearthed and dried in the sun for entire weeks, would be used at the approach of Tet as firewood to cook sweet rice cakes, or to provide heat during the cold winter months in north and central Vietnam. The bamboo becomes thus something “sacred”, intimate, and peculiar to the village. It is thanks to the hedges made with this plant that the Vietnamese village finds its tranquility and intimacy as well as its traditions and virtues. Bamboo thus becomes the guardian angel of the villagers. That is why it is said in a Vietnamese proverb that:

Phép vua thua lệ làng

The King’s authority stops at the gate of the village’s bamboo hedge.

It is also why nowadays this incomparable plant that facilitated our lives for so long can only be found in the village. The bamboo and the village are so closely dependent that a comparison is made of a man followed by his shadow. That is why one finds this evocation every now and then in the Vietnamese poetry. Every Vietnamese probably has that feeling on his or her passage to his or her native village through the following four verses:

Thì bao nhiêu cảnh mơ màng
Hiện ra khi thoàng cỗng làng tre xanh.

One’s dream becomes reality
Upon seeing the village’s gate among the bamboo trees

Dừng bước nơi đây lòng ngỗn ngang
Ngùi trông về Bắc nhớ tre làng

As I stop here, a feeling of disorientation falls upon my heart
Forlornly looking north, I begin to miss the bamboo hedge of my village.

To find the bamboo is to find the village.

That is why

the bamboo becomes the representative symbol of Vietnam.

Gia Long ( Founder of Nguyễn dynasty)

French version

gialong

Gia Long is the imperial title prince Nguyễn Phúc Ánh took in 1802 for his reign at the time of the reunification of the Vietnam empire which extended from the border of Lạng Sơn to the point of Cà Mau on the gulf of Siam.

Gia long results from the combination of two following words: Gia and Long (Gia being a word extracted from the name Gia Định, the ancient city of Saïgon and Long that of the name Thăng Long, the ancient capital Hànội). During the 25 years of fighting against the Tây Sơn, he roamed the whole Cochinchina. He knew perfectly well all the corners of the Mekong delta. Prince Nguyễn Ánh was so attached to the people of the South and in particular to Saigon city that he was khnown at the time as “General Gia Định”.

Before the unification of Vietnam (1801), the last survivor of the Nguyen was hunted down several times by the Tây Sơn ( or the people from the West ) of Nguyễn Huệ. He owed his safe life to a French missionary Pierre Joseph Pigneaux de Behaine who shared with him his meal brought in by a confidant, P. Paul Nghi, and who did not hesitate to organize his escape in the Cancau principality of Mạc Thiên Tứ, the son of his allied Mạc Cửu Hà Tiên region) after the assassination of Nguyễn Huệ. Vương by the Tây Sơn, which is told by the British John Barrow in his book ” Voyage in Cochichina” in 1793.
The tough life he experienced during his years of vicissitude gave his partisans an occasion to interpret later his exploits and perils that he succeeded in overcoming as a sign of God’s will in helping him to regain the throne. The grotto of coins (Hang Tiên) in the region of Ha Tien, accessible nowaday by boat, evokes the souvenir of the young prince Nguyễn Ánh, who took shelter there with his troops while waiting for French reinforcements, finding coins left by pirates. Vietnamese sayings go with his exploits, such as:

Kỳ đà cản mũi”

The varanus is in front of the prow

to mean a task cannot be done because of the obstruction of someone. Thanks to the presence of a monitor that blocked his junk on its way to the sea, he was narrowly saved because his enemies were waiting for him there. Another time in the region of Ha Tien, his junk was bothered by the presence of snakes. He was forced to give order to his subordinates to row faster so as not to be pursued by the snakes. This allowed him to reach Phú Quốc island sooner and avoid the trap set by his adversaries. That is why a Vietnamese saying goes:

“Gặp rắn thì đi, gặp qui thì về”

to mean it is possible to keep going when encountering snakes and it is better to go back when encountering turtles.

Thoughout historical accounts, it is noted that Nguyen Anh was lucky during the years of fighting with the Tây Sơn. One time he was chased by the enemies. He was forced to cross a river by swimming. He was aware that the river was infested with crocodiles. He had to resort to buffaloes that splashed about the riverside to take him over. Even the perilous rescue of his boat engulfed by waves by the young intrepid Lê Vân Duyệt (15 years of age ) who later became his talented general, in a stormy night was the object of prophecy discussed for so many years by the people of Long Hưng Tây village before the event took place.

In spite of these facts having something to do with legitimizing by divine protection the struggle led by Nguyễn Ánh, it is not fair to ignore the qualities in this outstanding personage. He did not have the genius of strategy of his adversary, general Nguyễn Huệ. But he had an incommensurable patience parallel only to that of Gou Jian (or Cẩu Tiễn in Vietnamese ), the prince of Yue in the North at the episode of Spring and Autumn ( thời Xuân Thu )( 476 B.C ) who waited long years to get ready for revenge against Fu Chai ( Phù Sai ) the Wu State’s sovereign ( nuớc Ngô của Ngủ Tử Tư ).

He was gifted at being able to recruit as subordinates individuals of valor ( Võ Tánh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành etc…) and grant to frienship a particular signification during his reign, which has been noted towards French missionary Pigneaux de Behaine or his French lieutenants Jean Baptist Chaigneau ( Nguyễn Văn Thắng), Philippe Vaniera, Olivier Puymanel or Siamese king Rama I ( or Chakkri ).

In acknowledgement of the debt that Nguyễn Ánh had let him go back safe and sound with his army to rescue his imprisoned family, the latter was fast to offer many years of hospitality to prince Nguyễn Ánh and his suite when he was forced to take refuge in Bangkok after his scathing defeats against the Tây Sơn at Mỹ Tho (1785).

Nguyễn Ánh was a brave and tough man. With him it seems like there is no one in the South who dares to oppose him. To repay the debt toward his family assassinated by the Tay Son, he remained unruffled before the tortures he reserved for his adversaries. The vanquished enemies were put to death by appalling tortures. Men were torn and women and children were stamped by elephants. Their corpses were thown in the field for crows to eat. It was the fate reserved for the female general Bùi Thị Xuân, the son of emperor Nguyễn Huệ, king Nguyễn Quang Toản etc…

This pact of friendship was born in a military confrontation between his lieutenant Nguyễn Hữu Thùy and Chakkri which was still a general sent by the Siamese king Taksim (Trịnh Quốc Anh ).

Before the volte-face of Taksim imprisoning his family, Chakkri was forced to compromise with Nguyen Anh and return to Bangkok to overthrow Taksim. To recognize this debt and to assist Nguyen Anh to recover the throne, Chakkri sent an army of 50,000 men which was completely decimated in 1785 by the strategist Nguyễn Huệ in the western Mékong (Mỹ Tho).
For political reasons, he did not hesitate to kill people who had served him with devotion when he was still a young prince hunted down by the Tây Sơn. It is the case of Nguyễn Văn Thành, Ðặng Trần Thường. That is why he was ofen compared to Liu Bang (Lưu Bang), the great Han emperor having reserved the same treatment toward his comrades-in-arm. Despite that, he was also seen as a man of the heart. He was fast to render great homage to his comrade-in-arm Nguyễn Văn Thành whom he forced to commit suicide for a calomnious insinuation and burst into tear before the altar set up in honor of the latter. He ordered freedom for his family and restitution of confiscated possessions and titles. One also finds his profound attachment to his subordinates’ lives through the message addressed to his brother-in-law, general Võ Tánh in charge of defending Qui Nhơn or to Pigneaux de Behaine, his spiritual father, military advisor through the ceremony arranged at the funeral of the latter, which was reported by Father Lelabrousse at the Missions Etrangeres on April 24, 1800.

He was also a seducing warrior. His consideration toward queen Ngọc Bích, the young wife of his adversary, young king Cảnh Thịnh (son of king Quang Trung) was exemplary. She was crying out when she saw a very majestuous man standing in front of her:

-General Gia Ðịnh, what do you want of me?

He smiled and answered her with kindness:

Don’t be afraid and stop crying please. General Gia Dinh will be more gentle than a Tay Son one. This residence remains the same for you despite of the change of ownership.

Since his gentleness and his will to conquer the heart of the queen was so strong the latter could not resist. She became thus his first rank concubine and had two sons with him. She was married two times to two kings (Cảnh Thình and Gia Long) and was the last daughter of the Le kings. That is why the two implacable adversaries became “brothers-in-law” because Nguyễn Huệ was the spouse of Ngọc Hân and Gia Long that of Ngọc Bích. It is also for the latter that a Vietnamese saying goes:

Số đâu mà số lạ lùng
Con vua mà lấy hai chồng làm vua

What a bizarre fate she has
Daughter of a king, she got twice married to kings.

In spite of his reputation of being a warrior hardened by years of war and vicissitudes, he was also as vulnerable as any ordinary man. A great number of worries has come upon him that he did not wish to hide and reveal to his confidant, Frenchmen Jean-Baptiste Chaigneau:

Ruling country is easier than managing a harem.
This was revealed by Michel, the son of J.B. Chaigneau in his journal “Le Moniteur de la Flotte” in 1858.

Despite the treaty initialed at Versailles in 1787 by Counts de Vergennes and de Montmorin for king Louis 16th and by his son Nguyễn Phúc Cảnh witnessed by bishop of Adran, Pigneaux de Behaine, the collaboration of a great number of French subordinates in his ranks and his interest in science and Western techniques, he continued adopting a very ambiguous policy toward the Europeans, in particular the missionaries. Was this benevolent attitude due to the friendship he tried to honor toward his friend Pigneaux de Behaine or to his open mindedness like KangXi in China aiming at better utilizing the catholic missionaries’s competences?

One keeps asking these questions up to now. However, one knows that throughout the construction of the Purple City, the maintenance of the mandarinal system, the reform of the Le code based on that of the Qing in China, he appeared to be more than never an admirer of the Ming and Qing dynsties, a convinced Confucianist and a more retrograde emperor. During his last years, he began a policy of folding back by choosing as his successor prince Nguyễn Phúc Ðảm supported by most of the Confucianist mandarins in lieu of the children of prince Cảnh who deceased of an illness. The prince known under the name of Minh Mang did not hesitate to do away with the children and wife of Cảnh (Mỹ Ðường ) and gave the Europeans an opportunity, especially the French government to intervene militarily, by deliberately leading an anti-western and anti-catholic policy and thus renewing a policy in line with the Chinese policy. Nguyen Anh could have become a great emperor at the image of a Japanese “Meiji” when he had the advantage of being circled by a great number of Frenchmen including his private physician (a certain Despiaux) and he had an open mind to Western techniques and sciences.

It is a shame for Vietnam to have lost an opportunity to enter the era of modernization.

It was unfortunate for the Vietnamese people to have written later their history with blood and tears

He does not deserve being forgotten in our history because he arrived at enlarging our territory and unifying the country under his banner. But he is no longer a great emperor of Vietnam because grandeur is measured by not only the enlargement of Vietnam but also by the good deeds he brought to the Vietnamese people and by the magnanimity toward his adversaries.

It is regrettable to say so because Nguyễn Ánh with the qualities he showed us during his 25 years of vicissitude could have done better to his country and people more than any other kings of Vietnam (including king Quang Trung ).

Concubines under the Nguyễn dynasty (Cung tần mỹ nữ)

French version

 

 

Trong cunq quế âm thầm chiếc bóng
Ðêm năm canh trông ngóng lần lần
Khoảnh làm chi bầy chúa xuân
Chơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi.

In the royal genaeceum, I stay alone with my shadow,
All night long, I eagerly wait for his visit.
Instantly, many springs have gone by,
He ceased coming in as this flower is withering.

Ôn Như Hầu

Except Gia Long, the founder and Bảo Ðại, the last emperor of the Nguyen dynasty no emperors of this dynasty granted a title to their principal spouse during their reign. No historic documents found today show why there was that systematic refusal since the application of Minh Mang’s decree. On the contrary, only this spouse received her title after her disappearance.

First imperial concubine ( Nhất giai Phi ) ( 1st rank )
Second imperial concubine ( Nhị Giai Phi ) (  2nd rank )
Superior concubines ( from 3rd to  4th rank ) (Tam Giai Tân và Tứ Giai Tân ), simples concubines ( from 5th to 9th rank ) ( Ngũ Giai Tiếp Dư , Lục Giai Tiếp Dư, Thất Giai Quí Nhân, Bát Giai Mỹ  Nhân, Cữu Giai Tài Nhân ).

Then came the Ladies of the Court, next, the subordinate servants. It was estimated that those women along with the eunuchs, the queen mothers and the emperor made up a purple forbidden society of Huế. The status of those women (even that of the servants) no matter what it was, went up considerably when they gave birth to a son.
Speaking of those concubines, it is impossible not to evoke the love story of Nguyễn Phi, the future empress Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu with prince Nguyễn Ánh, the future emperor Gia Long. This one, beaten by the Tây Sơn (or the peasants of the West) in the Fall of 1783, had to take refuge on the Phú Quốc Island. He had to send his son Nguyễn Phúc Cảnh, 4 years old, accompanied by archbishop Pigneau de Behaine to France to ask for military aid before king Louis XVI (Treaty of Versailles 1787), and took refuge in Bangkok ( Thailand) waiting for French reinforcement. Before the time of separation, he hastened to cut a gold bar into two halves and gave one to his spouse, Nguyễn Phi telling her:

Our son has already gone. I am about to leave you to resettle in Thailand. You stay here to take care of our queen mother. I do not know the date of my return nor the place of our reunion . I leave with you this half gold bar as the token of our love. We will have the chance to see each other later if God helps us to defeat the Tây Sơn.

During Nguyễn Anh’s years of exile and setback in his reconquest of power, Nguyên Phi continued to take care her mother-in-law, queen Hiếu Khương (spouse of Nguyễn Phúc Luân ) and to make uniforms for recruits.

She arrived at overcoming all the difficulties destined to her family and showed her courage and bravery in escaping traps set up by their adversaries.

Thanks to his perseverance and stubbornness, Nguyễn Ánh succeeded in defeating the Tây Sơn in 1802 and became our emperor Gia Long. The day following their touching reunion, he asked her about the other half of the gold bar he had given her at the moment of their separation. She went looking for it and gave it back to him. Seeing the half of the bar in the state of shining, emperor Gia Long was so touched he told his spouse Nguyễn Phi:

This gold that you succeeded in keeping in its splendor during our difficult and eventful years shows well the blessings and grace of God for our reunion today. We should not forget that and should talk about it to our children.

Then he reassembled the two halves of the gold bar to make it whole again and gave it to Nguyễn Phi. This gold bar later became under the reign of Minh Mạng, not only the symbol of eternal love between Nguyễn Ánh and his spouse Nguyễn Phi but also an object of veneration found on the altar of emperor Gia Long and empress Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu in the Ðiện Phụng Thiên temple in the purple city of Huê.

No one was surprised that thanks to his daughter Ngô Thị Chánh, former Tây Sơn general Ngô Vân Sở was spared from summary execution by emperor Gia Long during the victory over the Tay Son, because his daughter was the favorite concubine of his crown prince Nguyễn Phúc Ðảm, our future emperor Minh Mang. When this one acceded to power, he did not hesitate to grant her all the favors uniquely reserved up until then for his principal spouse. This concubine, when alive, often had the chance to tell the emperor:

Even you love me as such, the day I decease, I will be alone in my tomb empty-handed.

That was why when she died a few years later, the emperor followed her to the place of burial taking with him two ounces of gold. He then asked the eunuch to open the two hands of the concubine. The emperor himself put an ounces of gold in each hand saying with emotion:

I give you two ounces of gold so that you do not go empty-handed.

One found this love fifty years later in poet emperor Tự Ðức. At the funeral of his favorite concubine, he composed a poem entitled “Khóc Bằng Phi” whose two following verses immortalized love and affection emperor Tự Ðức reserved for his concubine Bằng Phi:
Ðập cổ- kính ra, tìm lấy bóng
Xếp tàn-y lại để dành hơi

I break the old mirror to find your shadow
I fold your fading clothes to keep your warmth.

 
Under the Nguyen dysnasty, the genaeceum took an important dimension. To consolidate his authority and gain fidelity from his subordinates, emperor Gia Long himself did not hesitate to establish the politics of alliance in taking for concubines most of the daughter of the subordinates. This was revealed by his confidant, the French mandarin J.B. Chaigneau in his ” Souvenirs of Huế 1864 “. But sometimes the concubine of the emperor may be issue of a different medium. It is the case of the concubine of emperor Thành Thái, the father of Duy Tân. This concubine was the rower of a ferry boat in the region of Kim Long known for the charm and grace of its inhabitants. That is why people did not hesitate to sing the following popular song to evoke the idyllic love that emperor Thanh Thai reserved for the charming rower of the ferry and his audacity to disguise himself as a common traveler to visit Kim Long.

Kim Long có gái mỹ miều
Trẩm yêu trẩm nhớ trẩm liều trẩm đi

Kim Long is known for its charming girls
I love, I miss, I dare and I go.

One beautiful morning of our new year, Thành Thái intrigued by the charm of the Kim Long region decided to go there alone. He disguise himself as a young traveler to visit that famous region. On his way back, he had to take the ferry the rower of which was a charming girl. Seeing her timid in gait with her red cheeks under the overwhelming sun, emperor Thành Thái began to flirt with her and tease her with this idea, saying:

Miss, do you like to marry the emperor?

Stunned by this hazardous proposal, the girl looked attentively at him and replied with sincerity: Don’t you talk nonsense, they are going to cut off you head.

Seeing her in a fearful state, the emperor was determined to bother her more: That’s right, what I have proposed with you. If you agree, I will be the intermediary in the matter! Caught by a sense of decency, she hid her face behind her arm. On the ferry, among the passengers, there was an older and well dressed person. This one, having heard their conversation, did not hesitate to push on by saying to the girl:

Miss, just say “Yes” and see what happens!

Encouraged by the daring advice, the ferry rower responded promptly: Yes Happy to know the consent of the rower, Thành Thái stood up, went toward the rower and said with tenderness:

My dear concubine, you may rest. Let me take care of rowing the ferry for you.

Everyone was surprised by that statement and finally knew that they were in front of young emperor Thành Thái, known for his anti-French activities, deposed and exiled later by the French authorities to the Reunion island because of his excess in “madness”. When the ferry reached the Nghinh Lương dock, Thành Thái ordered the passengers to pay for their tickets and led the young rower into the forbidden city.

Generally speaking, the concubines lived surrounded by Ladies of the Court, eunuchs and devoted their time in embroidering and weaving. Some died without ever having received the emperor’s favor, or having got out of the palace.

A famous poet of 18th century Nguyễn Gia Thiều known under the name of Ôn Như Hầu (because of his title), had denounced the injustice inflicted upon these women, their sadness and isolation, in his work ” Cung Oán Ngâm Khúc” (or Sadness of the Palace ). Others enjoyed their status of a favorite but none was equal to Ỷ Lan, the favorite of Lý Thánh Tôn of the Lý dynasty, who had assumed brilliantly the regency of the kingdom during her husband’s campaign against Champa.

Yếm (The bra)

French version

yem_dao
Being an integral part of four -paneled gown, Yếm is the most popular bra worn by Vietnamese women in the past. One finds in its manufacture a silk or cotton fabric square whose the ends are fixed by the strings tied behind the back and at the level of the neck. This is intended to cover and to support the chest and to leave naked the rest of the upper part of the body. Yêm causes not only lure of seduction but also pleasant freshness during the summer days.

However in winter, it becomes a kind of the underwear to which is added the four-paneled dress that allows the Vietnamese women to protect themselves against the cold.

In the Vietnamese tradition, the wasp’s waist is one of the characteristic features of female beauty. That is perhaps why the birth of this bra is related to this design to highlight the women’s line by showing the segmented body of the wasp with the association of “halter-neck” and tie on the back of this undershirt ( camisole in French ).

It was worn by all sections of the population without exception. But the notion of color which differentiate between the categories of people who wear it. The brown colour is intended for the farmers while the educated girls prefer the harmonious, elegant and discrete colors. For the elderly, the dark remains the most widely used. Despite this observation, it is possible to see Yếm with eccentric colours.

One does not known its origin but there Yếm was appeared for the first time in the 11th century under the Ly dynasty. It undergoes many changes over time before being again recently an glamourous fashion article, competitor of “Áo dài”. In the old days, it was accompanied by wearing a skirt and a turban cloth (black or brown) or purple gauze or a scarf that ends with a “Crow beak” at the top of the front. (khăn vuôn mõ quạ ). It is only during the Emperor Minh Mạng’s reign that the black pants was imposed instead of the skirt.

Yếm is an inexhaustible source for Vietnamese poets among which is the famous Hồ Xuân Hương. She has had the opportunity to describe not only the romantic and glamourous picture of this Vietnamese undershirt but also the innocence of a young girl living in a society ruled by Confucian immutable ethic, in his poem entitled “the girl asleep in the daytime” (Thiếu nữ ngủ ngày).

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Ðôi gò Bông đảo sương còn ngậm
Môt lạch đào nguyên suối chưa thông
Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Ði thì cũng dở ở không xong.

Summer breeze is sporadically blowing,
Lying down the young girl slides into sleeping.
Her bamboo comb loosely attached to her hair,
Her pink bra below her waist dropped down fair.
On these two Elysian mounds, the nectar is still remaining,
In that one Fairy rivulet, the current seems to stop flowing.
At such a view, the gentleman hesitated,
Odd to leave, yet inconvenient if he stayed.

Yếm is mentioned so many times in the popular poems. It reflects the strength and intensity of the love through these two following verses:

Trời mưa trời gió kìn kìn.
Đắp đôi dải yếm hơn nghìn chăn bông.

It’s raining and it made the wind with intensity.

To be covered with a pair of Yếm better than to get thousand duvets

It is difficult to separate from the person we fell in love unless we have become this undershirt to retain. That is what we have in the two following verses:

Kiếp sau đừng hóa ra người
Hóa ra dải yếm buộc người tình nhân.

In the future life, one should not be born a man
But it is necessary to be transformed into undershirt to retain the lover.

Museum of Cham sculpture (Bảo tàng viện Điêu Khắc Cổ)

French version

phatmau_tara

It is the unique museum of Chămpa sculpture in the world where one finds the most famous pieces of statues from Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu and Po Nagar (Nha Trang) sites.

  • Mỹ Sơn E1 style (Phong cách E1)
  • Chính Lộ style (Phong cách Chính Lộ )
  • Đồng Dương style (Phong cách Đồng Dương)
  • Tháp Mắm style … (Phong cách Tháp Mắm)

Tháp Mắm style

style_thapmam

 

  • Mỹ Sơn E1 style : vivacity in ornamentation, dedicacy in the details..style_dongduong
  • Khương Mỹ style : gentleness in the faces, harmony and symmetry…
  • Trà kiệu style : beauty in the adornments, the half-smile, the development of feminine beauty ( fully developed breasts, new freedom in the hips etc ..)
  • Đồng Dương style :typical facial appearance (protruding eyebrowns, thick lips with the corners…
  • Tháp Mắm style : art reached in its limits with a lack of realism and extravagance….

© Đặng Anh Tuấn

Politique de rapprochement avec le Vietnam (Thaïlande)

L’hospitalité que Rama 1er a réservée à Nguyễn Ánh servira de base plus tard au développement de la future relation entre les deux pays. Elle n’est pas étrangère à la conduite attentionnée de Nguyễn Ánh dans la recherche d’une solution adéquate pour gérer la double suzeraineté sur le Laos et sur le Cambodge avec les Thaïs. Selon le checheur vietnamien Nguyển Thế Anh, ces pays furent considérés à cette époque comme des enfants élevés ensemble par le Siam et le Vietnam, le premier s’arrogeant le titre du père et le second le titre de mère. Cette double dépendance est connue en langue thaïe sous le nom “song faifa”. Selon les sources siamoises, Nguyễn Ánh envoya 6 fois de Gia Định à Bangkok des arbres d’argent et d’or, signe d’allégeance entre 1788 et 1801. (2). Dans une lettre adressée à Rama 1er avant son retour à Gia Đinh, Nguyễn Ánh accepta d’être placé sous le protectorat du Siam au cas où il réussirait à rétablir son pouvoir. Le Đại Nam (ancien nom du Vietnam) accepta-t-il d’être un état de mandala? Il y a plusieurs raisons de réfuter cette hypothèse. D’abord le Đại Nam n’était pas sous l’influence du bouddhisme théravadà et n’avait pas non plus la culture indianisée comme cela a été avec le Cambodge et le Laos car le rôle religieux joue un rôle important dans le mandala défini par le chercheur O. Wolter. Le Siam tenta d’étendre jusqu’alors son influence et son emprise dans les régions où les Thaïs étaient plus ou moins implantés et où la culture indianisée était visible.

Ce n’est pas le cas du Vietnam. Chakri et son prédécesseur Taksin ont déjà échoué dans cette démarche en Cochinchine qui était pourtant une terre neuve car il y avait une colonnie vietnamienne importante de culture différente. La vassalité paraît improbable. On ne connait jamais la vérité mais on peut s’appuyer sur le fait que pour reconnaître les bienfaits du Ralma 1er, Nguyễn Ánh pourrait adopter ce comportement compréhensible qui n’était jamais incompatible à son tempérament et surtout à son esprit confucianiste dont l’ingratitude ne faisait pas partie. On trouve toujours en lui la reconnaissance et la gentillesse qu’on ne pourra pas réfuter plus tard avec Pigneau de Béhaine ayant consacré beaucoup d’effort pour le convaincre de se convertir au catholicisme. Sous son règne, il n’y avait pas la persécution des catholiques qu’on peut interpréter comme une reconnaissance envers Pigneau de Béhaine. De ce point de vue, on peut voir en lui le principe d’humanité (đạo làm người) en honorant à la fois la gratitude envers ceux qui l’avaient protégé durant les 25 années de vicissitudes et la vengeance envers ceux qui avaient tué tous ses proches et sa famille. (thù phải trả, nợ phải đền)

Au moment de son intronisation en 1803 à Huế, Nguyễn Ánh reçut une couronne offerte par le roi Rama 1er mais il la lui retourna tout de suite car il n’accepta pas d’être traité comme un roi vassal et de recevoir le titre que le roi siamois Rama 1er était habitué à accorder à ses vassaux. Ce comportement déjuge l’accusation qu’on a toujours sur Nguyễn Ánh.

Pour certains historiens vietnamiens, Nguyễn Ánh est un traître car il fait venir les étrangers et leur donne l’occasion d’occuper le Vietnam. On aime à coller l’expression vietnamienne “Đem rắn cắn gà nhà” (Introduire le serpent pour mordre le poulet de la maison) à Nguyễn Ánh. Il est injuste de le taxer de trahison car dans le contexte difficile où il était, il n’y a aucune raison de ne pas agir comme lui en tant que humain lorsqu’il était au gouffre du désespoir. Probablement l’expression suivante “Tương kế tựu kế ( Combiner un stratagème de circonstance) lui convient mieux bien qu’il y ait un risque de faire le jeu des étrangers. Il faut rappeler aussi que les Tây Sơn eurent l’occasion d’envoyer un émissaire auprès de Rama 1er en 1789 dans le but de neutraliser Nguyễn Ánh avec le stratagème ( Điệu hổ ly sơn ( Éloigner le tigre loin de la montagne) mais cette tentative fut vaine à cause du refus de Rama 1er. (3)

Etant intelligent, courageux et résigné à l’image du roi des Yue Gou Jian (Cẫu Tiển) de la période des Printemps et des Automnes (Xuân Thu), il devrait connaître les conséquences de son acte. Il y a non seulement Gia Long mais aussi des milliers de gens ayant accepté de le suivre et d’assumer cette lourde responsabilité de faire venir les étrangers dans le pays pour contrer les Tây Sơn. Sont-ils tous des traîtres? C’est une question épineuse à laquelle il est difficile de donner une réponse affirmative et une condamnation hâtive sans avoir au préalable le sens de l’équité et sans se laisser convaincre par des opinions partisanes lorsqu’on sait que Nguyễn Huệ reste toujours le héros le plus adulé par les Vietnamiens pour son génie militaire.

Déçu par le refus de Gia Long, Rama 1er, ne montra aucun signe de rancune mais il trouva la justification dans la différence culturelle. On trouve en Rama 1er non seulement la sagesse mais aussi la compréhension. Il voudrait traiter désormais d’égal à égal avec lui. Ce traitement égalitaire peut être interprété comme une relation bilatérale “privilégiée” entre l’aîné et le jeune dans le respect mutuel. Chacun d’eux devrait savoir qu’il avait besoin de l’autre même il s’agit d’une alliance de circonstance. Leurs pays étaient guettés respectivement par des ennemis redoutables qu’étaient la Birmanie et la Chine.

Leur relation privilégiée ne s’estompa pas au fil du temps du fait que Rama 1er tomba amoureux entre-temps de la soeur de Nguyễn Ánh. On ne sait pas ce qu’elle deviendrait (sa femme ou sa concubine). Par contre il y avait un poème d’amour que Rama 1er lui a dédié et qui continuait à se chanter encore dans les années 1970 durant la procession annuelle des barques royales.

Quant à Nguyễn Ánh ( ou Gia Long ), durant son règne, il évita d’affronter militairement la Thaïlande sur les problèmes épineux cambodgien et laotien. Avant sa mort, Gia Long ne cessa pas de rappeler à son successeur Minh Mạng de perpétuer cette relation d’amitié qu’il avait réussi à établir avec Rama 1er et de considérer le Siam comme un allié respectable dans la péninsule indochinoise (4). Cela se justifiera plus tard par le refus de Minh Mạng d’attaquer le Siam à la demande des Birmans.

Selon le chercheur Nguyễn Thế Anh, dans l’Asie du Sud Est continentale, sur une vingtaine de principautés importantes vers 1400, il ne restait que trois royaumes qui réussirent à s’imposer au début du XIXème siècle en tant que puissances régionales parmi lesquelles figuraient le Siam et le Đại Việt, l’un entamant la marche vers l’Est et l’autre vers le Sud au détriment des états hindouisés (Laos, Cambodge, Champa). Ce conflit d’intérêts s’intensifia de plus en plus à la disparition de Rama 1er et de Nguyễn Ánh.

Leurs successeurs ( Minh Mạng, Thiệu Trị du côté vietnamien et Rama III du côté siamois) furent empêtrés par le problème de succession des rois cambodgiens qui ne cessaient pas de se battre entre eux et de solliciter leur aide et leur protection. Ils furent guidés dès lors par la politique de colonialisme et d’annexion qui les amena à se confronter militairement 2 fois en 1833 et en 1841 sur les territoires cambodgien et vietnamien et à trouver à la fin de chaque confrontation un compromis d’entente en leur faveur et au détriment de leurs protégés respectifs. L’alliance de circonstance n’est plus prise en compte. La rivalité qui devenait de plus en plus visible entre les deux pays concurrents Đại Nam et Siam, éloigne désormais tout rapprochement et toute alliance possible. Même leur politique est tout à fait différente, l’un s’alignant sur le modèle chinois pour éviter tout contact avec les colonialistes occidentaux et l’autre sur le modèle japonais pour prôner l’ouverture des frontières.

La capitale khmère Phnom Penh fut occupée à une certaine époque par l’armée vietnamienne du général Trương Minh Giảng tandis que les régions de l’Ouest cambogien ( Siem Reap, Battambang, Sisophon) étaient aux mains des Thaïs. Selon l’historien français Philippe Conrad, le roi du Cambodge était considéré comme un simple gouverneur du roi de Siam. Les insignes royaux ( épée d’or, sceau de la couronne) étaient confisqués et détenus à Bangkok. L’arrivée des Français en Indochine mit fin à leur double suzeraineté sur le Cambodge et le Laos. Elle permit aux protégés cambodgien et laotien de récupérer une partie de leur territoire aux mains des Vietnamiens et des Thaïs. Le Đại Nam de l’empereur Tự Đức dut faire face aux autorités coloniales françaises qui avaient annexé les six provinces de Nam Bộ (Cochinchine). Grâce à la clairvoyance de leurs rois (en particulier celle de Chulalongkorn ou Rama V) , les Thaïs s’appuyant sur la politique de rivalité entre les Anglais et les Français, réussirent à garder leur indépendance au prix de leurs concessions territoriales (les territoires birmans et malais occupés rendus aux Anglais et les territoires laotien et khmer aux Français). Ils optèrent une politique étrangère flexible (chính sách cây sậy) comme le roseau qui s’adapte au gré du vent. Ce n’est pas un hasard de voir l’union sacrée des trois princes thaïs aux prémices de la nation thaïe en 1287 et la soumission face aux troupes sino-mongoles de Kubilai Khan.

C’est cette politique synthétique d’adaptation qui leur permet d’être à l’écart des guerres coloniales, de se ranger toujours du côté des vainqueurs et d’exister jusqu’à aujourd’hui en tant que nation florissante malgré leur émergence tardive ( datant du début du 14ème siècle ) dans l’Asie du Sud Est continentale

 


(1) Bùi Quang Tùng: Professeur, membre scientifique de EFEO. Auteur de plusieurs ouvrages sur le Vietnam.

(2) P.R.R.I, p. 113.

(3) Pool, Peter A.: The Vietnamese in Thailand, p 32, note 3.