Jardin des Tuileries (Công viên Tuileries)

 

Trước khi là công viên Tuileries, nơi nầy  có cung điện  mang cùng tên được nữ hoàng Cathérine de Médicis xây dựng vào năm 1564 nhưng sau đó bị  hũy phá. Với tài năng của  Alexandre Le Nôtre, vườn Tuileries giữ được cách bố trí  tuyệt vời với phong cách Pháp  mà ông thiết kế vào năm 1664  cho đến hôm nay.  Ai có  đến tham quan viện bão tàng Louvre  thì phải biết vườn hoa nầy vì nó nằm giữa Louvre và Concorde. Không những là một công viên  rộng lớn nhất  ở Paris về phương diện diện tích mà nó còn là nơi có nhiều kiệc tác của các nhà  điêu khắc  lừng danh như Rodin , Giacometti hay Maillol. Ông nầy lúc đầu là một họa sĩ nhưng sau đó ông chuyển sang thành nhà điêu khắc khi ông 40 tuổi. Ông trở thành sau đó một nhà điêu khắc lừng danh nhất cùng thời với Rodin. Chính ông nầy cũng công nhận điều nầy.  Ông Maillol thường dùng chất liệu đồng và thường lấy cảm hứng với đề tài phu nữ khỏa thân. Bà  Dina Vierny là người mẫu gắn bó   nhiều với những kiệt tác của Maillol và  người thành lập vào năm 1995 bảo tàng nghệ thuật Maillol ở Paris.


Avant d’être le jardin des Tuileries, cet endroit était le lieu où la reine Cathérine de Médicis construisit le palais portant le même nom en 1564 . Ce dernier n’existe plus aujourd’hui.  Grâce au talent d’Alexandre le Nôtre, le jardin des Tuileries continue à garder  jusqu’à aujourd’hui le même agencement ordonné qu’il conçut avec le style français en 1664 . Quiconque ayant l’occasion de visiter Louvre doit connaître ce jardin car il sépare ce musée de la Concorde. Il est non seulement le jardin parisien le plus important au niveau de la superficie mais aussi le lieu où se trouve un grand nombre de chefs-d’oeuvre des sculpteurs célèbres comme Rodin, Giacometti ou Maillol. Ce dernier commence à être peintre  au début de sa carrière puis  devient sculpteur à partir de quarante ans.  Il est aussi renommé  à l’époque de Rodin. Celui-ci reconnaît aussi ce fait. Maillol a l’habitude de se servir du bronze comme matériau et de s’inspirer du nu féminin dans  ses oeuvres. Dina Vierny est son modèle préféré et est à l’origine de la fondation du musée  Maillol à Paris en 1995.

 

Jardin Luxembourg (Vườn hoa Lục Xâm Bảo)

 

Vì không bao giờ quên được nguyên quán của mình nhất là cung điện Pitti ở Florence nên khi lúc thái hậu Marie de Médicis hết quyền nhiếp chính nhường quyền lại cho Louis XIII, có nghỉ đến việc ẩn dật. Vì đó bà mua lại mảnh đất 8 hecta và dinh thự của công tước Piney- Luxembourg và nhờ đến kiến trúc sư Salomon de Brosse mở rộng cung điện dựa trên lối kiến trúc của cung điện Pitti và xây dựng khu vườn cùng tên. Còn việc trang trí nội thất và trồng cây tạo phong cảnh, bà nhờ đến các nghệ nhân Ý, flamand và Pháp nhất là có sự hỗ trợ của kiến trúc sư danh tiếng André Le Nôtre. Bởi vậy cung điện Luxembourg làm ta nhớ đến lối thiết kế thời Phục Hưng, một cách bố trí sắp đặt theo kiểu Ý. Nay là có trụ sở Thượng Viện Pháp bên cạnh, vườn Luxembourg là công viên lớn hàng thứ nhì của Paris, chỉ thua có công viên Tuileries về mặt diện tích mà thôi.

 


 

Étant incapable d’oublier son pays d’origine, en particulier le palais Pitti de Florence, la reine mère Marie de Médicis, après avoir terminé la régence et cédé le pouvoir au roi Louis XIII, pense à chercher un refuge. C’est pourquoi elle décide d’acquérir la propriété de 8 ha appartenant au comte de Piney-Luxembourg et de faire appel au talent de l’architecte Salomon de Brosse dans le but d’agrandir et rénover le palais dans le style d’architecture de Florence trouvé dans le palais Pitti et créer un jardin portant le même nom. Quant à la décoration intérieure et au paysage du jardin, elle fait appel aux artistes italiens, flamands et français et à l’aide apportée par l’architecte renommé André Le Nôtre. En visitant ce palais, cela nous fait penser au décor de la Renaissance, une méthode d’agencement ordonné dans le style italien. Aujourd’hui, le jardin Luxembourg, ayant le sénat à l’intérieur de son enceinte, est classé comme le deuxième parc parisien après celui des Tuileries au niveau de la superficie.

Musée du Louvre (Bảo tàng viện Louvre)

 
Bảo tàng viện Louvre không những khác biệt là một bảo tàng lớn nhất Paris về diện tích (210 000 m2 mà đã có 68000 m2 dàng cho triển lãm ) mà còn là một trong những bao tàng trọng đại ở thế giới.


 Le musée du Louvre n’est pas non seulement le plus grand musée de Paris par sa surface (210 000 m² dont 68 000 consacrés aux expositions mais aussi l’un des plus importants du monde.

Opéra Garnier (Nhà hát Opéra Garnier)

Đây là một trong những nhà hát đẹp và tráng lệ nhất ở thế giới. Nhờ sáng kiến và trí tưởng tượng của ông Charles Garnier, nhà hát nầy là một công trình nổi bật được hoàn thành sau thời kỳ đế chế thứ hai của Pháp quốc trong khu vực thiết kế của Haussman qua sự yêu cầu của Napoléon III.

C’est l’un des plus beaux théâtres au monde. Imaginé par Charles Garnier, cet opéra prit place à la fin du second empire dans le Paris haussmanien à la demande de Napoléon III.

Valley of Chămpa kings (Thánh Địa Mỹ Sơn)

Version française ou vietnamienne

The Old Chămpa inhabitants have incarnated their soul into the soil and the stone and they have been able to take advantage of the nature for making it in a splendid, mysterious and grandiose Mỹ Sơn. It is a real architectural, sculptural and artistic museum for the outstanding value in the world that it is difficult to fully understand.


(Late architecte Kasimierz Kwakowski )

The brick buildings and  sandstone statues are the cornerstone in the Chămpa art. Contrary to the Khmer, the Chămpa people continued to build the edifices in brick, despite the perfect mastery of sandstone in decorations and statues. The Chămpa architecture is inspired by India. The works are essentially composed of a main temple (or kalan in the Cham language), some towers and some outbuildings, the whole included in the enclosure. The brick carving remains a particular and original Chămpa art rarely found among other peoples of Southeast Asia.

Mỹ Sơn could be compared with Angkor (Cambodia), Pagan  (Myamar) ,Borobudur (Indonesia) and Ayutthaya (Thaïland). Mỹ Sơn is located  in a valley located approximatively 10 km west of Trà Kiệu. This one was known as the capital of Lâm Ấp kingdom (Linyi)  from 605 to 707 with the name Simhapura and  situated 37km south of Đà Nẵng city.

Pictures gallery


A great homage to Chămpa civilization vanished in the turbulence of history.


 

 

The kingdom of Chămpa (Vương quốc Chămpa)

linyi

It is an ancient kingdom of Indochina known in the past as “Lâm Ấp” ( or Lin Yi )(192-749), then Hoàn Vương (Huanwang)  (758-859)  and finally  Chiêm Thành ( or Tchan-Tcheng in Chinese) (988-1471) and located in what is now central Vietnam, from the Anamitic cordillera   Hoành Sơn, Quãng Bình in the North to  Bình Thuân (Phan Thiết) in the south. The amazing Cham towers in red bricks and sandstone found in Ðà Nẵng and Phan Thiết are the sole silent witnesses of a civilization vanished in the turbulence of history.

The Cham were no doubts of Indonesian origin and occupied the coasts of central and south Vietnam from the neolithic time. In 2nd century, this sailors people adopted Hinduism in contact with Indian merchants, which gave birth to the Champa kingdom. A Chinese traveller of 4th century described them with a particular typical look: big straight nose, black and curly hair, practicing a funeral ritual that involves the cremation at the drum sound. The Chàm were not only excellent sailors but also formidable builders and ingenious farmers. The Chàm succeeded in achieving the unity of the country at the beginning of 5th century after having resisted several rounds of Chinese domination attempts. Their capital was located at Indrapura (Trà Kiểu), near Ðà Nẵng (former Tourane of the French ) from 7th to 9th century.

Thanks to the silk, spices, and ivory trade between China on one hand and India and the Muslim world on the other, this kingdom experienced a period of prosperity that was troubled first by the Khmers conquest in 1145-1147 then next by the expansion policy of Kubilai Khan’s Mongols. To face this domination, the Chàm sought alliance with Vietnam, which allowed the Chàm and the Vietnamese to come out victorious during this confrontation. To seal this union, a Vietnamese princess of the name Huyển Trân of the Tran dynasty, sister of king Trần Anh Tôn was proposed to become in 1306 the wife of the Champa king Chế Mẫn ( Jaya Simhavarman ) in exchange for the two Cham territories Châu Ô and Châu Rí, located at the Hai Vân Pass. These are no other than the two northern provinces Quảng Trị and Thừa Thiên of presently Vietnam (Huế). This union was of short duration. The Vietnamese continued to claim more land toward the South and the death of king Che Man a year after his marriage, without an heir, was only an additional pretext in the conquest of Champa. The king of Vietnam set up a plot by sending his general Trần Khắc Chung to rescue his sister, who had to be sacrificed according to the Cham tradition, at the funeral of her husband. The provinces of Châu Ô and Châu Ri’ became then the subject of discord between Champa and Vietnam.

The Cham had an awakening with king Chế Bồng Nga who struck the Vietnamese several times by ransacking the capital Thăng Long in 1372 and 1377. But he was assassinated in 1389 during a new invasion of Vietnam and his death marked the decline of the Cham. The Vietnamese annexed this kingdom around 1470 under the Lê dynasty with king Lê Thánh Tôn.

Today, the Cham are dispersed as a diaspora from Kampuchea to Malaysia and constitute one of the ethnic minorities of Viet-Nam. (less than 100000 Chams).

Vương Quốc Chămpa (Champa)

linyi

Đây là một vương quốc có mặt lâu đời trên bán đảo  Đông Dương, thường  được gọi buổi ban đầu   là Lâm Ấp (192-749)  rồi  sau đó lấy  tên Hoàn Vương (758-859)  và sau cùng với tên Chiêm Thành (988-1471). Cương vực của vương quốc nầy  hiện nay  thuộc về  miền trung Việt Nam từ dãy núi Hoành Sơn, Quảng Bình ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam. Những tháp chàm  bằng gạch nung màu đỏ sẫm mà thường trông thấy ở miền trung  là tang chứng    trầm lặng duy nhất của một nền văn hóa bị  hủy diệt  qua  những dòng  xoáy của lich sữ. Dân tộc Chàm chắc chắn là thuộc nhóm chủng tộc   ngữ hệ Nam Đảo, có thể là hậu duệ của những cư dân Sa Huynh cổ và sinh cư vùng ven biển miền trung và miền nam của Việt Nam từ thời kì đồ đá. Ở vào thế kỉ thứ hai, dân tộc thủy thủ nầy  theo Ấn  Độ giáo khi họ có dịp  tiếp xúc với các thương nhân người Ấn.

Một du khách Trung Hoa ở thế kỷ thứ tư có từng mô tả loại người riêng  biệt nầy như sau: mũi thẳng to, tóc thì đen và quăn, thường thấy trong tang  lễ , có hỏa táng dẫn theo tiếng nhịp của trống. Người Chămpa không những họ là những người  thủy thủ xuất sắc mà còn là những người xây cất tuyệt vời và những nông dân khéo léo. Dân tộc Chàm đã thành công trong cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Hán, đựợc độc lập và tự chủ vào đầu thế kỷ thứ năm sau bao nhiêu lần kháng cự lại sự xâm lược của người Trung Hoa.  Thủ đô của họ ở Trà Kiệu (Indrapura), gần thành phố Đà Nẵng ( tỉnh Quảng Nam) từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 9.

Nhờ buôn bán  tơ lụa, gia vị và ngà voi với Trung Hoa một mặt  và mặt khác với  Ấn Độ và thế giới Hồi giáo, vương quốc nầy được có một thời thịnh vượng nhưng không được bao lâu với cuộc xâm lấn của người  Chân Lạp (Cao Miên) từ  năm 1145 đến 1147 rồi sau đó bị nằm trong  chính sách bành trướng của giặc Nguyên Mông của Hốt Tất Liệt. Để đối phó sự thôn tính nầy,  dân tộc Chàm  tìm  cách liên minh với Đại Việt để đem lại thắng lợi cuối cùng  trong cuộc tranh chấp nầy. Để tăng cường thêm mối quan hệ hòa hiếu giữa hai đất nước Đại Việt – Chăm Pa và nhận được  hai châu Ô và Châu Lý  (từ đèo Hải Vân, Thừa Thiên – Huế đến phía bắc Quảng Trị ngày nay) làm vật sính lễ ,   Huyền Trân  công chúa của nhà Trần, em của vua Trần  Anh Tôn đựợc đề cử làm vợ của vua chàm tên là Chế Mẫn (Jaya Simhavarman III). Nhưng cuộc liên minh nầy nó quá ngắn ngủi vì người dân Việt không bỏ ý đồ trong cuộc Nam Tiến và chỉ cần một năm sau sau khi hôn lễ,  vào tháng 5 năm 1307, thì quốc vương Chế Mân chết. Theo phong tục của nước Chămpa, khi vua chết thì hoàng hậu cũng bị thiêu chết theo. Vua Trần Anh Tông sợ em gái mình bị hại nên lấy cớ điếu tang   sai Thượng Thư Tả Bộc Xa Trần Khắc Chung và An Phủ sứ Đặng Vân sang Chămpa để cướp công chúa Huyền Trân đem về Đại Việt. Từ đó Châu Ô và Châu Lý trở thành một đề tài tranh luận giữa Đại Việt và Chămpa.

Vương quốc Chămpa được một lúc  hưng thịnh cuối cùng  với Chế Bồng Nga (Po Binasuor), một vị vua kiệt xuất  của dân tộc Chămpa đã  bao  lần  xua quân Bắc phạt Đại Việt và  đã vào tận  và cướp bóc  Thăng Long 2 lần (năm  1371 và 1377). Nhưng lần chót xâm lượt Việt Nam vào năm 1389 , ông bị ám sát tử trận  sau khi trúng phải đạn tại trận Hải Triều. Cái chết của ông đánh đấu sự suy vong của dân tộc Chămpa. Vương quốc Chămpa bị sáp nhập vào khoảng năm 1470 dưới triều đại nhà Lê với vua Lê Thánh Tôn.

Ngày nay , dân tộc Chàm thành cộng đồng sống rải rác từ Cao Miên đến Mã Lai và trở thành một nhóm thiểu số của Việtnam ( kém hơn 100.000 người Chàm).