Le mythe de Táo Quân (Chuyện ông Táo)

Le mythe de Táo Quân

English version
Version vietnamienne
Galerie des photos

Le mythe des génies du foyer repose sur la tragique histoire d’un bûcheron et de sa femme. Il prend sa source dans le taoïsme. Ce couple modeste vivait heureux jusqu’au jour où  il découvrit qu’il ne pouvait pas avoir d’enfants. L’infortuné mari se mit à boire et à maltraiter sa femme. Celle-ci ne pouvant en supporter davantage le quitta et épousa un chasseur d’un village voisin. Mais un jour, fou de solitude et plein de remords, le bûcheron décida de rendre visite à sa femme pour lui présenter ses excuses.

Sur ces entrefaites, le chasseur rentra chez lui. Afin d’éviter tout malentendu, la jeune femme cacha son premier mari dans une étable au toit de chaume, située près de la cuisine où le chasseur était en train de fumer son gibier. Par malheur, une braise s’échappa du foyer et mit le feu à l’étable.

Affolée, la jeune femme s’élança vers l’étable en flammes pour sauver son ex-époux. Le chasseur la suivit pour lui porter secours et tous trois périrent dans le brasier. L’empereur de Jade (Ngọc hoàng), du haut de son trône céleste, profondément touché par ce triste sort, divinisa les trois malheureux et les chargea de veiller au bien-être des Vietnamiens  à l’emplacement avantageux de la cuisine. C’est ainsi qu’ils devinrent  dès lors les génies du Foyer.

Pendant la semaine où les génies sont au ciel, les Vietnamiens craignent que leur maison soit sans protection. Afin de prévenir toute incursion des mauvais esprits dans leur maison, ils érigent devant chez eux une  haute perche de bambou (cây nêu) sur laquelle sont suspendues des plaques en argile (ou khánh en vietnamien) vibrant avec sonorité au gré du vent pour éloigner les esprits. Au sommet de cette perche, flotte un morceau de tissu jaune marqué par l’emblème bouddhique.

Cette coutume trouve ses origines dans une légende bouddhique  intitulée « Le Tết du bûcheron » selon laquelle les  Vietnamiens doivent affronter des esprits maléfiques.

C’est toujours le vingt-troisième jour du dernier mois lunaire que chacun des  Vietnamiens organise une cérémonie de départ du génie de foyer  pour le ciel. On trouve non seulement sur son autel des fruits, des mets délicieux, des fleurs mais aussi un équipement de voyage approprié (3 paires de bottes, 3 chapeaux, vêtements, des papiers votifs) et des trois carpes mises dans une petite cuvette. À la fin de la cérémonie, on brûle les papiers votifs et on libère les carpes dans un étang ou dans une rivière afin que le génie puisse s’en servir pour s’envoler au ciel. Celui-ci doit rapporter tout ce qu’il a vu sur terre à l’empereur de jade, en particulier dans le foyer de chaque Vietnamien. Son séjour dure ainsi  six jours au ciel. Il doit retourner au foyer dans la nuit du réveillon jusqu’au moment où  débute la nouvelle année.

(*) cây nêu: C’est un arbre cosmique reliant la terre au ciel  en raison des croyances des peuples anciens adorant le soleil, y compris les Proto-Vietnamiens mais il  est employé également  pour délimiter leur territoire.

Version vietnamienne

Cuisine des Vietnamiens 

Truyền thuyết về các Táo quân được  dựa trên câu chuyện bi thảm của một người thợ rừng và vợ của ông ta. Nó có nguồn gốc từ Lão giáo. Cặp vợ chồng khiêm tốn này được sống hạnh phúc cho đến khi họ phát hiện ra rằng họ không thể có con. Người chồng bất hạnh nầy mới  bắt đầu rượu chè và ngược đãi  bà vợ. Bà nầy không thể chịu đựng được nữa và rời bỏ ông ta và kết hôn với một người thợ săn ở làng bên cạnh. Nhưng một ngày nọ, cô đơn và hối hận, người thợ rừng quyết định đến thăm vợ để xin tạ lỗi.

Giữa lúc đó, người thợ săn trở về nhà. Để tránh mọi sự hiểu lầm, người phụ nữ trẻ buộc lòng giấu người chồng cũ của mình ở trong một chuồng gia súc có mái nhà bằng tranh, nằm gần nhà bếp nơi mà người thợ săn đang hun khói thịt rừng. Thật không may, một đóm lửa  than hồng thoát ra khỏi lò và đốt cháy chuồng.

Cùng quẫn, người phụ nữ trẻ lao mình về phía chuồng  đang bốc cháy để cứu chồng cũ. Người thợ săn chạy theo cô để giúp cô và cả ba đã chết trong ngọn lửa. Ngọc Hoàng, từ trên cao nhìn xuống, cảm động vô cùng trước số phận đau buồn này, phong thần cho ba người  và buộc họ phải trông chừng từ đây hạnh phúc của người dân Việt ở vị trí thuận lợi của nhà bếp. Bởi vậy họ trở thành các thần bếp núc từ đây của các gia đình người Việt.

Trong tuần lễ  các táo quân ở trên trời, người Việt lo sợ ngôi nhà của họ sẽ không được bảo vệ. Để ngăn chặn sự xâm nhập của tà ma vào nhà, họ dựng trước cửa nhà một cây nêu có treo những khánh đất phát tiếng động khi có gió rung. Trên đỉnh cột này  có treo một mảnh vải màu vàng có biểu tượng của Phật giáo.

Phong tục này bắt nguồn từ một truyền thuyết Phật giáo mang tên « Tết của người thợ rừng », theo đó người dân việt phải đối mặt với những linh hồn ma quỷ.

Cứ đến ngày hai mươi ba tháng Giêng âm lịch, mỗi người  dân Việt lại tổ chức lễ tiễn Táo quân  về trời. Không chỉ có  trái cây, thức ăn ngon, các bông hoa trên bàn thờ của Táo quân mà còn có đồ dùng cho cuộc hành trình thích hợp (3 đôi giầy, 3 cái mũ, 3  bộ đồ quần áo, vàng mã) và ba con cá chép được đặt trong một chiếc thau nhỏ. Sau khi kết thúc lễ cúng thì đốt vàng mã và thả cá chép xuống ao hay sông để Táo quân mượn cá chép bay về trời.  Táo quân phải báo cáo lại với Ngọc Hoàng tất cả những gì Táo quân được nhìn thấy ở trần gian, nhất là ở trong nhà của mỗi gia đình của người dân Việt. Thời gian lưu trú của Táo quân được  kéo dài là sáu ngày ở trên trời. Táo quân phải trở về nhà vào đêm giao thừa đúng lúc khi năm mới vừa bắt đầu.

(*) cây nêu:  cây vũ trụ nối liền đất với trời, do tín ngưỡng thờ thần mặt trời của các dân tộc cổ mà trong đó có người Việt cổ mà còn hàm chứa ý thức về lãnh thổ cư trú của họ.

[Return CONTES]

The Gongs of Central Highlands (Cồng Chiền Tây Nguyên) Last part

gong_dxdung

Photo Đinh Xuân Dũng ( Nha Trang )

Intangible Heritage of Humanity by Unesco in 2005

Last part

In the ritual ceremonies, the players of gongs move slowly in single file or in half-circle in front of a public admirer. They left from right to left in the counterclockwise direction to go back in time and return to their origins. Their footsteps are slow and rhymed to the beats of gongs, each of which has a well-defined role in the set. Each gong corresponds exactly to a guitar string, each having a note, a particular tone. Whatever the melody played, there is the active participation of all the gongs in the procession. However, an order very precise in the sequence and composition of beats is imposed in order to respond to the melodies and own themes chosen by each ethnic group.

Sometimes, to better listen to the melody, the auditor has the interest to be into a location equidistant from all the players arranged in a half circle otherwise he cannot listen properly because of the weakness and amplification of the resonance of some gongs corresponding respectively to the distance or the excessive closeness of its geographical position relative to one another.

For most of ethnic groups, the set of gongs is reserved only for men. This is the case of the ethnic group Jarai, Edê, Bahnar, Sedang, Co Hu. By contrast, for the ethnic group Eđê Bih, women are allowed to use the gongs. In a general way, the gongs are of variable size. The disk of the major gongs may vary from 60 to 90 cm in diameter with a cylindrical edge from 8 to 10 cm. This does not allow the players to wear them because they are too heavy.

These gongs are suspended often to the beams in house by the ropes. However, there are the gongs more small whose disk varies from 30 to 40 cm with an edge from 6 to 7cm. The latter are frequently encountered in the festive rituals.

For the identification of highland gongs, the Vietnamese musicologist Trần Văn Khê has the opportunity to enumerate a number of characteristics in one of his articles:

  • 1°) They are very varied.
  • 2°) They are linked closely to the spiritual life of highland ethnic minorities. Being regarded as sacred instruments, they promote communication with spirits and geniuses.
  • 3°) They accompany the highland people from its birth until its death. Their presence is visible not only in the important events (weddings, funerals, wars etc. ..) but also in the agricultural feasts (paddy germination, ear intiation, feast of the agricultural close etc. . ).
  • 4°) The manner of playing the highland gong is very particular and reflects the family structure of each ethnic minority. This allows to easily identify the ethnic group in question by the played stamp melodies.
  • 5°) The movement of players is always performed in the counterclockwise direction in the purpose to go back in time and return to the source. It is identical to the approach used by the Zen Buddhist school in its walking meditation (thiền hành) oriented from « the outside to the heart » (từ ngoài vào tim).

The composition of the played melody is based primarily on the sequence of beats settled according to original processes of repetition and answer.

One doesn’t finds elsewhere as many gongs as one had them on the Highlands of Vietnam. That is why, during his visit in Vietnam, the ethnomusicologist Filipino José Maceda, accompagned by Vietnamese musician Tô Vũ, had the opportunity to emphasize that the highland gongs are very original when he was in contact with the gongs. For him, because of the large number of gongs found, it is possible the Highlands may be the gong cradle in Southeast Asia.

Over the years, the risk of seeing the « original » and « sacred » character is real because of the illicit trafficking of gongs, the lack of gong tuner, the disinterestednessof young people and the destruction of natural environment where the gongs have been « educated ».

Highlands Gongs

For a few years, being regarded as cultural goods, the gongs become the object of all desire for Vietnamese antique dealers and foreign collectors, which brings the local authorities to exercise strict control with the aim of stopping the haemorrhage of gongs (chảy máu cồng chiêng)

The governmental effort is also visible at the local level by the establishment of incentive programs for learning with young people. But according to some Vietnamese ethnomusicologists, this allows to make durable the gongs without giving to the latter the means to possess a soul, a sacred character, a ethnic sound color because they need not only the skillful hand and fine hearing of gong tuner but also the environment. This is the latter factor that one forgets to protect effectively during the last years. Because of the intensive deforestation and galloping industrialisation for the coming years, the ethnic minorities don’t have the opportunity to practice slash and burn agriculture. They will not have any occasion to honor the ritual festivals, their genius and their traditions. They no longer know to express sorrows and joys through the gongs. They don’t know their oral epics (sử thi). Their paddy fields are replaced by coffee and rubber plantations. Their children are no longer forest clearers but they are engaged to industrial and tourist activities, which allows them to have comfortable livelyhoods. Few now recall how to tune these gongs.

The character « sacred » of gongs no longer exists. The latter become instruments of entertainment like other music instruments. They can be used anywhere without significant events and very specific and sacred hours (giờ thiêng). They are played according to the tourism demand. They are no longer what they were until now.

It is for this irreparable loss that UNESCO has not hesitated to underline the urgency in the recognition of space of gong culture in the Central Highlands (Tây Nguyên) as the masterpiece of Oral and Intangible Heritage of Humanity on 25 November 2005. The gongs are only one essential element in the achievement of this masterpiece but it must be understood that other elements are as important as these gongs: the environment, the traditions and customs, the ethnic groups etc. ..

The gongs without their environment and their ethnic sound color no longer possess the sacred soul (hồn thiêng) of Central Highlands.They lose the original character for ever. There is always a price to pay in the preservation of the gong culture in Central Highlands but it is to the scope of our collective efforts and our political will. One cannot refute that the culture of the gongs in Highlands is part now of our cultural heritage.

[Back to page « Vietnam, land of 54 ethnies »]

 

 

The Gongs of Central Highlands (Cồng Chiền Tây Nguyên) Third part

congchien_4e

The culture of the gongs is localized in the 5 provinces of central Vietnam (Đắc Lắc, Pleiku, Kontum, Lâm Đồng and Đắk Nong). Some twenty ethnic groups (Bahnar, Sedang (Xơ Đăng), Mnongs, Cơ Ho, Rơ Mam, Êđê, Jarai (Giarai people), Radhes etc ..) are identified in the use of these gongs. According to illustrated Vietnamese musicologist Trần Văn Khê, in the other countries of Southeast Asia, the gong player always remains seated and can play several instruments associated at the same time. This is not the case of the gong players of Highlands in Vietnam. Each player may play a single gong. There are as many gongs than players in a set.

Thanks to a thin string or to a band of cloth that can be more or less tightened by torsion, each player suspends the gong to the left shoulder. He struck the central dome of the gong outer face either with a wooden or leather mallet or with his right fist barren or wrapped up in fabric.

The sound quality of the gong depends not only on the alloy with which the gong has been manufactured but also the tuner quality. Other parameters are involved: the wooden or leather mallet, the position and action of the hand striking the gong, the tension of the strap etc. . In addition, the player can modulate skillfully the effects of the gong sound by varying the pressure and the relaxation on the bent edge of the outer face with his left hand. The muting effect may be caused by this action. Each ethnic group prefer a type of wood in the manufacture of the mallet. By choosing the hard wood, the Êđê often obtain interference noise in the power of the gong resonance. By contrast, in selecting the soft wood, the Bahnar manage to obtain the « clarity » of its fundamental tone despite the weakness of intensity detected in the resonance.

At the time of the purchase, the gong is delivered to the « raw » state, without musical tone, character and soul. Its outer face is almost flat. It is similar to an object producing an audible signal. (Cái kẻng) Thanks to the strokes of wooden mallet and to fine hearing of the tuner, the gong receives small bumps and concentric circles on its border and on its inner and outer faces. The blow of the mallet given on its outer face increase its tone.

By contrast, the decrease of the resonance is visible inversely with its inner face. The gong tuner manages to give it a sound color, a particular musical note, which makes it now a musical instrument in its own right. According to the highland people, analogous to the man, the gong has a face, a character and a soul.  It is unlike any other gong.It is said that the gong is educated because from an object that is purchased with the « raw » state from the Kinh (or Vietnamese) (Quảng Nam), it receives an education, a note, an ethnicity, a sacred character. For the gong purchased in Laos, it already has a soul but it is a Laotian soul.

To transform it into a gong of the high plateaus, it must be educated by the blows of wooden mallet so that it knows as well the language Bahnar, Stieng, Edê, Mnong etc. .. It now has the sacred soul (hồn thiêng) of the high plateaus.

The latter does not disappear as long as there is still the environment where the gong is « educated » (the forest, the ethnic groups, the villages, the sources of water, the animals etc. .. ).  The sacred character of the gong can only be found in this natural environment which allows it to find its ethnic identity through the melodies varying from one village to another or from one ethnic group to another and the agrarian rites. The gong can produce a false note over the years of use. One says that it is « sick ».

It must be treated by bringing in a doctor (or a good musician tuner) that it is difficult to find sometimes on-site. It is necessary to travel several kilometers in other regions to succceed in finding him. Once readjusted the sound, it is said that the gong is healed.

congchien5

More reading (Tiếp theo)

 

The Gongs of Central Highlands (Cồng Chiền Tây Nguyên) Second part

 

img_9058

Second part.

This general attempted to break down all the stirrings of Vietnamese resistance by melting all bronze drums, symbol of their power in combat. Probably, in this destruction, there was also the Dongsonian gongs because they were in bronze. According to the director of the South Asia prehistory center (Hànội), Nguyễn Việt, the Dongsonian situla cover whose center is slightly swollen and adorned with a star, strangely resembles the gong embossed of the high plateaus. It also owns the handles with which one can use the ropes for wall hanging as a gong. Perhaps it is the predecessor of the highland gongs.

We do not exclude the hypothesis with which the Dongsonian attempted to hide and sell them at any price in the mountainous regions through the cultural and economic exchange with the highland people.

From the linguistic research in particular that of French researcher Michel Ferguson, a specialist of Austroasiatic languages, this suggests that the Viet-Mường were present at the east of the Anamitic cordillera and on banks of Eastern China Sea (Biển Đông) before the beginning of our era. For this researcher, the group Viet-Mường lived together not only with the Tày but also with the highland people (the Khamou, the Bahnar etc … ). because there is the importance of the Tày vocabulary in the Vietnamese language and the similarities of the Giao Chỉ feudal structure with those of current Thai (descendants of proto-Tày).

In addition, there is a borrowing stratum from one or several languages viet-mường in the Khamou vocabulary. According to the suggestion of this researcher, the Tang Ming kingdom could be the former habitat of Việt-Mường group. This confirms the hypothesis the Dongsoniqan could be the provider of gongs to the highland people through the barter because the latter do not manufacture itself these gongs, despite their sanctity.

Probably, this is due to the fact that, being slash-and-burn agriculturalists, they had not a metallurgical industry enabling them to mold these gongs. Up to today, they obtain them from the Kinh (or Vietnamese), Cambodians, Laotians, Thais etc .. before giving them to their musician with his keen hearing. This one manages to give to these gongs a remarkable set of harmonics in accordance with the themes devoted to villagers and tribes by hammering them with the hardwood mallets.

The adjustment of the gong sound is more important than the purchase because it must make the gong in harmony with the gongs of the orchestra and it is necessary to give it a soul, a particular tone. According to the Vietnamese musicologist Bùi Trọng Hiền, the process of collecting and tuning the gongs of different origins and making harmonious and consistent to their aesthetics in a set is a grandiose art. The gong must be sacred before its use by a ritual ceremony, which allow its body to possess now a soul.

Some ethnic groups bless the gongs with the blood in the same manner as jars, drums etc. . This is the case of the Mnong Gar identified for example by the French ethnologist Georges Condominas. The sanctity of gongs cannot leave indifferent the Vietnamese. To give to these gongs a significant scope, the Vietnamese have the habit of saying:

Lệnh ông không bằng cồng bà (The drum of Mister does not resonate less loud to the human ear than the gong of Madam). This also explains that the authority of Mr. is less important than that of Madam. 

More reading (Tiếp theo)

Central Highlands gongs (Cồng Chiêng Tây Nguyên)

congchien

French version

First part

Since the dawn of time, the  gong culture  is the preferred approach used by the populations of the Central Highlands (Vietnam) living from agriculture in communication with the spirit world. According to their shamanistic and animist beliefs, the gong is a sacred instrument because it secretly houses a genius supposed to protect not only the owner but also his family, his clan and his village. Its âge not only improves its sound but also the power and  magical potency of the occupier genius. In addition, the gong will acquire a special patina over the years. This percussion instrument cannot be considered as an standard musical instrument. It is present at all the important occasions of the village. It is inseparable from the social life of highland tribes. The newborn baby is invited to listen the sound of the gong played by the elder village from the first month of his birth, which allows him to recognize the voice of his tribe and his clan. He become now an element of his ethnic community. Then he grows over years to the rhythm of gong sound which carries him away with the fermented rice alcohol (rượu cần) in the evening meetings around a jar and fire and in the village festivals (offerings, marriages, funeral, celebrations of the new years’s day or the victory, inauguration of the new housing, family reunion, agricultural ritual (paddy germination, ear initiation, feast of the agricultural close etc.). Finally, at his death, he is accompagnied by the rolling of the gongs to the burial with solemnity.

 

According to the Edê, a life without gong is a life without rice and salt. Each family must have at least a gong because this instrument proves not only its fortune but also with its authority and prestige in its ethnic community and its region. In function of each village, the set of instruments can be simply represented by two gongs but you can find sometimes up to 9, 12, 15 or 20 gongs. Each of these is called by a name that indicates its position in a hierarchy similar to that found in a matriarchal family. According to  French ethnomusicologist Patrick Kersale, the gongs reflect the image of the family structure with matrilineal inflection. For the Chu Ru, there are three gongs in a set. (Gong-mother, gong-aunt and gong-daughter). By contrast, for the Ê Đê Bih , the set of gongs consists of three pairs of gongs. The first pair is called under the name of gongs grand-mothers. And then the second pair is reserved for the gong-mothers and the last pair is for the gong-daughters.

In addition, there is a drum played by the oldest person to give the tempo. For peoples living in the south of the Highlands, there are also 6 gongs in a set but the gong-mother (chiền mẹ) remains the most important and is maintained slighty in the lower position compared with the other gongs. It is always accompanied by the gong-father followed then by the gong-children and gong-grandchildren. Due to their large size, the two gongs mother and father produce low sounds and nearly identical, which allows them to serve as a constituent basis to the orchestra.

In speculating about the provenance of gongs,we note  they are found not only in India but also in China and in the region of Southeast Asia. Despite their mention in the Chinese inscriptions around the year 500 after Jesus Christ (period of Đồng Sơn civilization), there is a tendency to attribute to the Southeast Asia region their origin because the gong  culture  embraces only the regions where live Austro-asiatic and Austronesian peoples. (Vietnam, Kampuchea, Thailand, Myanmar, Java, Bali, Mindanao (Philippines) etc …). According to some Vietnamese scholars, the gongs are linked closely to the the aquatic rice cultivation. For the Vietnamese researcher Trần Ngọc Thêm, the gongs are used to imitate the noise of thunder. They have a sacred role in the annual ceremonies of rain making rituals, with the aim of having a good harvest. In addition, we find in these gongs an intimate binding with the Đồng Sơn culture because the gongs were present visibly on some bronze drums (Ngọc Lữ for example). The gongs had to be considered a sacred instrument in  ritual celebrations so that they were honored by the Dongsonian on their drums. Among the Mường who are « close cousins » to the Vietnamese, one continues to associate the bonze drums (character Yang) with the gongs (character yin) which the Mường still regard as a stylized representation of the woman chest in religious festivals. These gongs are in some way the symbol of fertility. According to the Vietnamese musician Tô Vũ, the Mường forced back in the inaccessible mountainous regions, could continue to keep carefully these gongs against the Chinese conquerors. This is not the case of the Dongsonian (the ancestors of the Vietnamese) during the Chinese conquest led by the general Ma Yuan (or Mã Viện) of West Han dynasty after the sisters Trưng Trắc and Trưng Nhị revolt.   More reading (Tiếp theo)

 


Bibliographic references

  • Recherche de l’identité de la culture vietnamienne. Trần Ngọc Thêm, Editions Thế Giới,Hànôi 2008
  • Les Mnong des hauts-plateaux, Centre-Vietnam: Vie matérielle. Albert-Marie Maurice, Tome 1, Editeur L’Harmattan. 1993 Cồng chiêng Tây Nguyên. Di sản phi vật thể thế giơí. Trần Văn Khê. Vietsciences, 01/01/2006.
  • Vài nẻt đặc thù của cồng chiêng Tây Nguyên. Giáo Sư Trần Văn Khê. 2009
  • Người ÊĐê ở Việt Nam. The Ede in Vietnam. Editeur Thông Tấn 2010
  • La chanson de Damsan. Légende recueillie chez les Rhade de la province de Darlac. Texte et traduction. Louis Sabatier. BEFEO, 1933, Tome 33, n°33, pp: 143-302
  • Tranh luận về cồng chiêng Tây Nguyên. SGTT 2012
  • Sur l’origine géographique des langues Viet Muong. Michel Fergus, Môn Khmer Studies, 18-19: 52-59
  • Độc Đáo cồng chiêng Tây Nguyên. Bùi Trọng Hiền. Nguyễn Quang Vinh Tạp chí Ngày Nay. 28/02/2011
  • Gongs de tous les pouvoirs. DVD documentaire de Patrick Kersalé.2009

Les Mnong (Dân tộc Mnong): 2ème partie

dantoc_mnong

Version vietnamienne

Version anglaise

Deuxième partie

Quand on décide d’aller à l’étranger ( càd dans les autres villages voisins), on a besoin d’être accompagné par un entremetteur recruté de préférence sur les kuang du village. Un kuang est en fait un homme puissant et réputé qui ne se mesure pas à la fortune accumulée mais au nombre de sacrifices de buffles qu’il a organisés et accomplis. Grâce aux dépenses grandioses qu’il a entamées dans les sacrifices des buffles pour ses proches, ses invités jôok et son village, il a acquis du même coup un énorme prestige. Cela lui a permis d’élargir progressivement son réseau de relations, d’avoir du poids dans les délibérations du village et de devenir un rpuh kuang (ou un buffle mâle) au niveau de la puissance sexuelle.

Même les cornes de son « âme-buffle ( ou hêeng rpuh ) » élevée par les génies se sont allongées en fonction du nombre de sacrifices accomplis. Son cercueil pèse d’autant plus lourd que ces cornes ont atteint une taille imposante. Un grand kuang est celui qui ose pratiquer la stratégie de l’endettement. Plus il thésaurise pour dépenser dans les sacrifices des buffles et dans les achats, plus son prestige s’accroît. Il a toujours quelque dette à la traîne.

Il n’attend pas de rembourser l’intégralité de ses achats pour en faire d’autres car cela lui vaut l’admiration et la renommée. Un villageois mnong devient un kuang avec le premier sacrifice de buffle. Il devient ainsi l’homme « indispensable » sur lequel on s’appuie pour s’assurer non seulement la sécurité routière mais aussi la réussite dans les transactions commerciales lors du déplacement hors du village. C’est avec lui qu’on mettra au point l’itinéraire. C’est lui qui présentera, grâce à son réseau de relations, le jôok local du village destinataire qui connait tous les habitants et qui sait parmi ces derniers lequel intéressé par les objets entrant dans la transaction tout en présentant les garanties de solvabilité.

Analogues aux Bahnar, les Mnong sont des animistes. Ils pensent que toute chose a une âme même dans les ustensiles à usages rituels (les jarres à bière par exemple). L’univers est peuplé de génies (ou yaang).

C’est pourquoi l’appel aux divinités ne se cantonne pas dans un endroit particulier mais il s’éparpille partout soit dans le village soit dans les bois soit dans les monts et les eaux. Aucun recoin n’est épargné. Il sera soit évoqué collectivement soit honoré d’un culte spécial dans des circonstances particulières. C’est le cas du génie du riz auquel un petit autel est dédié au milieu du ray. Durant la saison des semailles, le Mnong viendra placer ses offrandes. La moisson collective ne peut pas commencer sans un rite spécial connu sous le nom de « Muat Baa » ou ( nouage du paddy ). Comme le paddy a une âme, il faut éviter de le faire courroucer et de le faire fuir en prenant soin d’un grand nombre de précautions: éviter de siffler, de pleurer, de chanter sur les champs ou de s’y disputer, de manger des concombres, des citrouilles, des œufs, des êtres glissants etc. Une poule sera sacrifiée près de la hutte miniature de l’âme du riz perchée sur un bambou lui-même cerné par des bambous portant des nids à offrandes. Au génie de la pluie, le Mnong offrira sur une minuscule plateforme des œufs. Pour calmer la colère des génies végétaux de la forêt avant le défrichement d’un pan, on procède à de grands soins rituels et de prières. Un long piquet de bambou à la pointe recourbée duquel a été suspendu un poisson pêché est planté sur le lieu consacré dans le défrichement à brûler.

Au moment où le feu commence à jaillir, deux « hommes sacrés »( croo weer ) implorent la protection des génies tandis qu’un troisième oint le piquet au poisson et appelle les génies. Même il y a des divinités censées d’être les gardiens de l’âme de l’individu. Celui-ci se compose d’un corps matériel et de plusieurs âmes (ou heêng). Celles-ci prennent des formes multiples: une âme-buffle élevée dans un étage des cieux par les génies, une âme-araignée dans la tête de l’individu, une âme-quartz qui loge tout droit derrière le front. Il y a même l’âme-épervier (kuulêel) symbolisé par une ficelle faite de brins de coton rouges et blancs et tendue au dessus du corps de défunt entre deux bambous pour distinguer le kuulêel de l’épervier ordinaire. Cette âme-épervier prend son envol à la mort de l’être humain. Un mal subi par l’une de ces âmes se répercute sur les autres. Les génies peuvent rendre malade quelqu’un en attachant son âme-buffle à leur poteau de sacrifice céleste. Le recours au chamane s’avère indispensable car lui seul peut établir le dialogue avec les génies lors de la séance de cure (mhö). Il tente de marchander le prix que les génies exigent pour libérer l’âme-buffle du malade sinon le malade meurt et l’un de ses autres âmes rejoint le premier des étages du monde souterrain. L’âme disparaît totalement lorsqu’il arrive à atteindre le septième étage souterrain au bout de la septième mort.

L’au delà est conçu comme souterrain. Le rite de guérison n’a pas de côté festif. Cela entraîne peu de frais à engager à part le buffle immolé et l’honoraire payé ( équivalent au nombre de hottées de paddy) au chamane qui reçoit en plus une cuisse de la bête sacrifiée. Chez les Mnong, la notion d’immortalité de l’âme n’existe pas. Par contre, la notion de réincarnation fait partie de la tradition des Mnong. Il peut arriver que l’ancêtre maintenu au premier étage souterrain se réincarne dans l’un de ses descendants.

Les hommes de la forêt

Musée d’ethnologie du Vietnam (Hanoi)

Dans la tradition mnong, le buffle est un animal sacré. Les Mnong ont recours au buffle comme monnaie d’évaluation. C’est aussi dans le système de croyances mnong que le buffle est l’équivalent de l’homme dont l’une de ses âmes est l’âme-buffle (hêeng rput) élevé au ciel par les génies à sa naissance et ayant un rôle prépondérant sur les autres âmes de l’individu. Avant d’être inhumé, le décédé est déposé dans un cercueil prenant approximativement la forme d’un buffle. Les Mnong n’organisent pas des funérailles et ils abandonnent le tombeau après un an d’inhumation. D’une manière générale, la maison de funérailles est construite sur une butte et elle est décorée avec des figurines sculptées en bois ou des motifs variés peints en noir, rouge ou blanc. La puissance d’un individu se mesure au nombre de bucrânes de buffles sacrifiés empilés et maintenus par des poteaux. Selon le mythe mnong, le buffle a remplacé l’homme dans le sacrifice. C’est pourquoi on voit dans ce sacrifice l’aboutissement suprême de tous les rites dont il se détache par le faste rituel animé par les processions de gongs, des jeux de tambours, des invocations d’appel aux esprits, des chants etc … et accompagné par des libations de bière, ce qui en fait un événement majeur et exceptionnel dans la vie villageoise.

Personne ne peut se soustraire à cet événement. Le village devient une aire sacrée où on doit s’amuser collectivement, bien boire, bien manger et éviter de se disputer car on pourrait courroucer les esprits. Les Mnong sont divisés en plusieurs sous-groupes ( Mnông Gar, Mnông Chil, Mnông Nông, Mnông Preh, Mnông Kuênh, Mnông Prâng, Mnông Rlam, Mnông Bu đâng, Mnông Bu Nor, Mnông Din Bri , Mnông Ðíp, Mnông Biat, Mnông Bu Ðêh, Mnông Si Tô, Mnông Káh, Mnông Phê Dâm ). Chaque groupuscule a une dialecte différente mais d’une manière générale, les Mnong issus de ces groupuscules différents arrivent à se parler sans aucune difficulté apparente.

Ceints d’un long pagne de coton indigo dont l’extrémité frangée de cuivre et de laine rouge leur retombe à mi-cuisse comme un petit tablier (suu troany tiek)(3) , les Mnong se présentent souvent sous l’aspect des hommes fiers aux membres longs et au torse nu musclé et bronzé malgré les souffrances d’une vie précaire. Cette ceinture-tablier sert à porter toutes sortes d’objets: le couteau, l’étui à tabac, le poignard et les talismans individuels (ou pierres-génies ). Ils se servent d’une veste soit courte soit longue ou d’une couverture comme manteau à la saison froide. On trouve sur leurs têtes un turban noir ou blanc ou un chignon où est piqué souvent un couteau de poche en acier et à manche recourbé. Ils sont habitués à porter une hache pour abattre les troncs d’arbres.

Les femmes mnong aux seins nus portent une jupe courte (suu rnoôk) enroulée au niveau du bas-ventre. Les Mnongs adorent les parures. Ils portent au cou des pectoraux, des colliers de fer ou en perles de verre ou des dents de chiens provenant d’un rite exorciste qui leur confèrent des propriétés protectrices.

Des bobines d’ivoire enfilées dans les lobes percés de leurs oreilles battent leurs maxillaires. Les femmes aiment particulièrement les colliers en verre de perles. Les lobes de leurs oreilles sont distendus souvent par de gros disques en bois blanc. On trouve encore dans la plupart des groupuscules mnong l’abrasion des dents de devant (de la mâchoire supérieure). Les hommes comme les femmes fument du tabac et consomment beaucoup de bière de riz. Celle-ci est non seulement un élément indispensable dans toutes les fêtes et dans les cérémonies rituelles mais aussi une boisson d’hospitalité. En l’honneur de son hôte, une jarre de bière de riz est débouchée quelques instants avant d’être offerte. Sa consommation se fait collectivement à l’aide d’un ou plusieurs chalumeaux en bambou plantés dans la jarre. Le nombre de mesures est imposé au buveur par la tradition de chaque ethnie. ( 2 chez les Mnongs Gar, 1 chez les Edê ). Pour maintenir le niveau de la jarre, on est obligé d’y verser de l’eau, ce qui dilue progressivement l’alcool de la bière de riz et qui transforme ce dernier en une boisson inoffensive.

Analogues aux Bahnar, les Mnong (ou les Hommes de la Forêt) sont fiers d’être des gens libres. C’est ce qu’a constaté l’ethnologue célèbre G. Condominas auprès des Mnongs Gar. Dans le village de Sar Luk où il a fait un an d’immersion complète avec les Mong Gar, il n’y avait pas de chef de village mais un groupe de trois ou quatre hommes sacrés qui sont des guides rituels notamment en matière agricole. La perte de leur liberté peut être le catastrophe que redoutent les Mnong. On trouve toujours en eux deux particularités qui les différencient des autres groupes ethniques du Vietnam: leur esprit d’abnégation et de solidarité et leur absence de s’enrichir égoïstement.

Malgré les souffrances de leur vie précaire, les Mnong démunis connaissent encore la notion de partage que nous, les gens dits civilisés, avons oubliée depuis longtemps.

[Retour à la page « Vietnam des 54 ethnies »]


Références bibliographiques

De la monnaie multiple. G. Condominas. Communications 50,1989,pp.95-119

Essartage et confusionisme: A propos des Mnong Gar du Vietnam Central. Revue Civilisations. pp.228-237

Les Mnong Gar du Centre Vietnam et Georges Condominas. Paul Lévy L’homme T 9 no 1 pp. 78-91

La civilisation du Végétal chez les Mnong Gar. Pierre Gourou. Annales de géographie. 1953. T.62 pp 398-399

Tiễn đưa Condo của chúng ta, của Tây Nguyên. Nguyên Ngọc

Chúng tôi ăn rừng …Georges Condominas ở Việtnam. Editeur Thế Giới 2007

Ethnic minorities in Vietnam. Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn, Lưu Hùng . Thế Giới Publishers. 2010

Mosaïque culturelle des ethnies du Vietnam. Nguyễn Văn Huy. Maison d’édition de l’Education. Novembre 1997

Les Mnongs des hauts plateaux. Maurice Albert-Marie 1993. 2 tomes, Paris, L’Harmattan, Recherches asiatiques.

Lac de l’épée restituée (Hồ Hoàn Kiếm)

Le lac de l’épée restituée

Version vietnamienne
Version anglaise
Liste des photos
Seconde liste des photos

Étant lié étroitement à l’histoire du peuple vietnamien, ce lac situé au cœur de la capitale est un lieu incontournable pour la plupart des Hanoïens. Il est le symbole de l’indépendance nationale car c’est ici que selon la légende, le roi Lê Lợi , après avoir vaincu les Ming, a restitué à la tortue dorée la précieuse épée qu’il avait reçue auparavant. Il est le lac des souvenirs car il garde le secret des amours intenses et des douleurs nées des sentiments perdus, ce qui le rend plus romantique et plus languissant avec ses saules pleureurs, ses eaux vertes colorées par une algue, son temple Ngọc Sơn plongé souvent dans des brumes matinales. Les mots ne suffisent plus. Il n’y a que les photos qui permettent d’immortaliser ces rêveries romantiques.

  • Khả liên ngũ bách văn chương địa
  • Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền
  • Năm trăm năm cũ nơi văn vật
  • Còn sót hòn non non một nắm trơ

        Nguyễn Khuyến

        Traducteurs: Lê Tư Thục, Nguyễn văn Tú

  • C’est ici que furent établies les traditions culturelles,
  • Il y a cinq cents ans.
  • Il ne reste qu’aujourd’hui une petite motte de terre.   

Hồ gươm

Version vietnamienne

Được xem  có  liên quan mật thiết với lịch sữ Việtnam và  nằm ở trung tâm thủ đô, hồ nầy  là một địa điểm  mà người Hànội không thể không biết đến  được.  Hồ còn  là một biểu tượng độc lập quốc gia  vì chính ở nơi nầy, theo truyền thuyết, vua Lê Lợi  sau khi thắng được quân Minh, trả lại gươm báu cho Rùa thần mà ông đã nhận được trước đó. Với  bao nhiêu kỷ niệm vui buồn, hồ nầy   âm thầm chôn vùi  biết  bao nhiêu mối tình nồng nàn và đau đớn khi tình yêu  nó bị rạn nứt  càng làm nó   lãng mạn và tương tư với các thùy liễu rũ rượi,  màu nứớc xanh biếc  từ các rong biển, đền Ngọc Sơn chìm đắm trong sương mù buổi sáng. Dù có bao  từ diễn tả chăng nửa cũng không bằng những ảnh chụp để nó gợi đến muôn thưở những mơ mộng lãng mạn.

  • Khả liên ngũ bách văn chương địa
  • Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền
  • Năm trăm năm cũ nơi văn vật
  • Còn sót hòn non non một nắm trơ

        Nguyễn Khuyến

Version anglaise

Closely linked to the history of the Vietnamese people, this lake located in the heart of the capital is a must-visit place for most Hanoians. It is a symbol of national independence because it is here that, according to legend, King Lê Lợi, after defeating the Ming, returned the precious sword he had previously received to the golden turtle. It is the lake of memories because it holds the secret of intense loves and the pains born from lost feelings, which makes it more romantic and more languid with its weeping willows, its green waters colored by algae, and its Ngọc Sơn temple often shrouded in morning mist. Words are no longer enough. Only photographs can immortalize these romantic reveries.

  • Khả liên ngũ bách văn chương địa
  • Thượng hữu cô sơn thạch nhất quyền
  • Năm trăm năm cũ nơi văn vật
  • Còn sót hòn non non một nắm trơ

        Nguyễn Khuyến

  • It is here that cultural traditions were established,
  • Five hundred years ago.
  • Today, only a small mound of earth remains.

 

Pictures gallery

[RETURN]

Le Caodaïsme (Cao Đài Giáo)

 

titre_caodai

English version
French version
Galerie des photos

Cao Đài gíáo được xem là một tôn giáo quan trọng đứng hàng thứ ba  ở Việtnam sau Phật giáo và Công giáo. Cao Đài  tức là nơi cao mà Thượng  để ngự trị.  Cao Đài giáo là một tôn giáo có tính pha trộn rất nhiều các tôn giáo lớn mà chủ yếu là Phật giáo, Công giáo,  Ấn Độ giáo, Hồi giáo,  Do Thái giáo,  Đạo giáo và nhất là kính trọng các truyền thống Vietnam. Tín đồ Cao Đài tin rằng Thượng đế là đấng chí cao  sáng lập ra các tôn giáo và luôn cả vũ trụ này và thường gọi tôn giáo của mình là Đạo Trời. Toà thánh Tây Ninh được tọa lạc tại thị trấn Hòa Thành, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh và cách xa khoảng 90 cây số  về phía đông nam của thành phố Saïgon. Số tín đồ theo đạo Cao Đài ước chừng 7 triệu người ở Việtnam và 30.000 ở hải ngoại nhất là ở Á Châu, Úc Châu, Gia Nã Đại, Âu Châu và Mỹ quốc.

Có 3 thời kỳ quan trọng trọng lịch sữ của đạo nầy.   Thời kỳ đầu và nhì được diễn ra ở thế kỷ 6 TCN.  Lần đầu thường được gọi là Nhất kỳ Phổ độ, Thượng đế xuất hiện dưới hình dạng của người lãnh tụ của Do Thái giáo, Đức  Phật  (Nhiên Đăng cổ Phật) ở Ấn Độ và Phục Hi ở Trung Hoa.  Lần thứ nhì thường gọi Nhị kỳ Phổ độ, ngài đến với Phật giáo qua  Sakyamuni, Khổng Giáo với Đừc Khổng Tử, Công Giáo với Đức Chúa Giêsu, Đạo giáo với Lão Tử và Hồi giáo với Mahomet.  Lần sau cùng là  Tam kỳ Phổ độ, ngài quyết định xuất hiện để truyền giảng cho tín đồ một cách trực tiếp qua hình thức cơ bút. Tất cả tôn giáo được xuất hiện trước Cao Đài giáo chỉ thể hiện dưới  các hình dạng khác nhau (tôn giáo) nhưng  cùng một chân lý mà còn tùy ở thời đại, nơi  phát hiện, phong tục tập quán của dân gian nhằm  để giáo dục nhân loại và dẫn đến con đường nhân nghĩa  hạnh phúc  dưới sự dìu dắt của Thầy.  Triết lý và niềm tin tín ngưỡng mà đạo Cao Đài giảng dạy rất giản dị nhưng tạo ra không ít sự hoang mang vì  đạo nầy rất thích hợp  với đạo lý nhiều hơn là mang tính chất huyền bí.  

  • Thờ cúng tổ tiên.
  • -Luyện tập thiền định.
  • -Thực tập ăn chay trong đời sống
  • -Bất  bạo động
  • -Tôn trọng mọi  hình thức tín ngưỡng
  • -Tu tập giải thoát luân hồi

Tránh làm 5 điều tối kỵ như sau:

  • Không giết bất cứ sinh vật
  • Không có gian dối
  • Không có uống rượu
  • Không có ngoại tình
  • Không có làm tổn thương qua lời nói

Cầu nguyện một lần trong ngày và ăn chay ít nhất  10 ngày trong tháng.  Các lễ  cầu nguyện được diễn ra  ở  toà thánh Tây Ninh mỗi ngày với các giờ chỉ định: 6 giờ, 12 giờ, 18 giờ và 24 giờ. 

Version française

Le caodaïsme est la troisième religion importante au Vietnam après le bouddhisme et le christianisme. Cao signifie « Haut » et Ðài  » Palace ». Cao Đài est la suprême palace où règne Dieu. Le caodaïsme est une religion syncrétique qui englobe et combine plusieurs éléments à partir des religions principales: le Bouddhisme, le Confucianisme, le Catholicisme, l’Hindouisme, l’Islam, le Judaïsme et le Taoïsme tout en prenant en compte les traditions vietnamiennes. Le Saint Siège se trouve à Tây Ninh, à 90 km du Nord-Ouest de Saigon. Le nombre de ses fidèles s’élève à 7 millions au Vietnam et 30.000 à l’étranger, en particulier en Asie, Australie, Canada, Europe et les Etats-Unis.

Galerie des photos

Article: Être caodaïste (Tôi là người Cao Đài)

img_9502 On trouve dans l’histoire de cette religion les trois périodes importantes de révélations. La première et la deuxième avaient lieu VIème siècle avant notre ère. Au cours de la première manifestation, Dieu fut apparu sous les trois formes du leader judaïste en Moyen-Orient, de Bouddha Dipankara en Inde et de Fou-Hi symbolisant le culte de l’humanité en Chine. Au cours de la deuxième manifestation, le bouddhisme réapparut sous la forme Sakyamuni, le confucianisme sous celle de Confucius, le christianisme sous celle de Jésus-Christ, le taoïsme sous celle de Lao- Tseu et l’Islam sous celle de Mahomet. Quant à la troisième manifestation, Dieu a décidé de se révéler lui-même. Cette troisième manifestation basée sur le bouddhisme est appelée souvent sous le nom « Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ« . Toutes les religions qui ont précédé la révélation du caodaïsme ne sont que des formes différentes issues de la même vérité  suivant l’époque, les lieux de révélations, les us et coutumes des peuples en vue d’éduquer l’humanité et de l’amener vers le chemin du Bien dans la voie de Dieu. La philosophie et la profession de foi du caodaïsme sont d’une simplicité déconcertante, plus proche de la morale que de la transcendance mystique.

  • -Respect du culte des ancêtres
  • -Pratique de la méditation.
  • -Pratique du végétarisme.
  • -Suppression de la violence
  • -Respect de toutes les formes religieuses.
  • -Recherche de la libération du cycle de réincarnations

Respect des 5 interdictions suivantes:

  • Ne tuer aucune vie
  • Ne pas être malhonnête
  • Ne pas boire
  • Ne pas commettre l’adultère
  • Ne pas offenser par des mots

Prier au moins une fois par jour et pratiquer un régime végétarien au moins 10 jours par mois. La messe a lieu au saint siège de Tây Ninh tous les jours et se déroule à des heures bien précises:
6h, 12 heures, 18 heures et 24 heures.

[Return RELIGION]