Nan Yue (Nam Việt)

namviet
Version vietnamienne 
English version

Le royaume de Nan Yue dont le nom signifie littéralement « le pays des Yue du sud » était  à l’origine de celui du Vietnam. Il occupait entre le IIème  et le Ier siècle avant Jésus-Christ, un territoire couvrant les provinces actuelles du Guangdong (Quảng Ðông), Guangxi (Quảng Tây), HaiNan (Hải Nam) et le royaume de Âu Lạc, l’ancien pays des Vietnamiens. Ce dernier appartenait au roi An Dương Vương et  était annexé par le général Qin Zhao Tuo (ou Triệu Ðà ou Triệu Vũ Vương en vietnamien), le fondateur du royaume de Nan Yue. Aux dires des Vietnamiens, la disparition de leur pays est liée étroitement à la légende de l’arbalète magique.

Cette disparition est due en fait à cette époque  à la division des Yue et  à la manière  adoptée par Triệu Ðà pour mener  une guerre éclair contre An Dương Vương tout en faisant lui  miroiter des compromis territoriaux. Une fois réunies ces provinces sous sa bannière, Zhao Tuo fixa son siège à Panyou (Phiên Ngung) non loin de Guangzhou devenue aujourd’hui  l’actuelle Canton. Il divisa le royaume de Âu Lạc en deux commanderies, l’une connue sous le nom de Giao Chỉ et constituée essentiellement de la région du Nord Vietnam et l’autre sous le nom Cửu Chân regroupant toutes les autres provinces du centre Vietnam (Thanh Hoá, Nghệ An etc..). Selon la chercheuse française Maud Girard-Geslan (1), la population est constituée des non Hans  appartenant au groupe Bai Yue auquel sont rattachés les Luo Yue (Lạc Viet) et Xi Ou (Tây Âu).

     Vương Quốc  Nam Việt

A la chute des Qin (206 avant Jésus-Christ), il se proclama roi de Nanyue et prit le titre de Wu Wang, puis  celui d’empereur en 187. Il ne cessa pas de défier l’empire des Hán en le harcelant à maintes reprises et en occupant les hameaux du comté de Chang Sa appartenant à la dynastie des Han après que l’impératrice douairière Lu Zhi (Lã Thái Hậu) eut décidé de couper les relations commerciales avec le Nanyue. À cause de l’humidité du climat,  l’armée chinoise tomba malade et ne réussit pas à descendre dans le sud de la Chine. Elle fut obligée d’abandonner le projet d’annexion. Après le décès de  sa mère,  l’impératrice Lu Zhi et son intronisation en l’an 180 avant J.C., l’empereur Han Wen Di tenta  de  convaincre Zhao Tuo.  Il ordonna à ses fonctionnaires d’entretenir avec soin et de faire des offrandes sans cesse aux tombes des ancêtres  de ce dernier à Zhengding et il envoya en même temps sur les conseils de son premier ministre Cheng Ping (Trần Bình) l’ambassadeur  Lu Jia (Lục Giả)  pour convaincre Zhao Tuo d’accepter de se soumettre à la dynastie des Han et d’abandonner son titre d’empereur en reprenant celui du roi des Yue.   Zhao Tuo connut peut-être à cette époque le rapport des forces qui ne lui était pas favorable avec la population de l’empire des Han estimée à 50 millions d’habitants par rapport à celle de son royaume (1 million d’habitants). Il décida de reprendre le titre de roi des Yue et accepter d’être sous le giron de  l’empire des Han. Il était officiellement roi sur les papiers lors de l’échange des ambassadeurs mais dans son  royaume il continuait à se comporter comme un empereur jusqu’à la fin de sa vie car les pays aux alentours, les royaume des Man Yue et des Xi Ou de l’Ouest acceptaient d’être sous sa protection. Grâce à la clairvoyance et le courage politique, il réussit à regrouper tous les petits états Yue et à les transformer  en un royaume fort et unifié des Yue face au péril des gens du Nord.

Il était apprécié par la plupart des historiens vietnamiens tels que Lê văn Hưu de l’époque des Trần dans son ouvrage intitulé « Le livre complet sur l’histoire du Grand Viet ») ou dans la  » Grande déclaration sur la pacification des Chinois » de Nguyễn Trãi de l’époque des Lê postérieurs »: les dynasties Triệu, Đinh, Lý, Trần se succédaient pour édifier le pays. Zhao Tuo était considéré ainsi comme le premier roi vietnamien depuis qu’on avait l’histoire écrite. Selon l’écrivain vietnamien Hà văn Thùy, Zhao Tuo a le mérite de laisser aux Vietnamiens un héritage précieux. Il réussit à créer et à consolider l’esprit d’union des Vietnamiens afin d’éviter la sinisation durant presqu’un siècle. C’est grâce à lui qu’il y avait la base solide pour les futures  révoltes des sœurs Trưng, Triệu Ẩu, Lý Nam Đế , Mai Hắc Đế, Phùng Hưng  avant la réussite de Ngô Quyền dans la guerre de libération. La révolte des sœurs Trưng reçut à cette époque l’écho favorable non seulement dans le territoire des Vietnamiens mais aussi dans la région Liangguang (Guangdong)  jusqu’à  Hai Nan. C’est dans le sud de la Chine que lors de sa visite avec  l’équipe médicale française entre les années 1979-1989,  le docteur vietnamien Trần Đại Sỹ a relevé la présence de plus de 200 sites où la vénération des sœurs  Trưng (Zheng Cè et Zheng Er) était visible avec leurs autels.  Le  royaume de Nanyue ne peut pas être absent dans le parcours de la lutte d’indépendance des Vietnamiens.  Quoique Zhao Tuo fût le général de l’armée des Qin, il épousa une femme vietnamienne Trình Thị issue de Đồng Xâm (Thái Bình). Son fils Trọng Thủy, son petits-fils Triệu Muội, son arrière petit-fils Anh Tề tous avaient plus ou moins du sang Yue dans leurs veines. Ils avaient aussi un attachement profond à leur pays. Ils étaient  fiers  d’être « Enfants du Dragon, Grands Enfants de l’Immortelle ». Ils méritaient d’être rois de la dynastie des Yue du Sud.

Sa renommée était si grande que dans les écrits chinois de l’époque, son nom comme son royaume, fut cité à maintes reprises. Il décéda en l’an 137 avant J.C. Ses descendants devaient régner sur ce royaume durant au moins un siècle à travers cinq générations. Son successeur immédiat était Zhao Mei, son petit-fils, plus connu sous le titre d’empereur Wen de Nanyue. Sa tombe, creusée au flanc de la colline de Xianggang, près de Canton, fut  découverte en 1983 par une équipe d’archéologues cantonais. Sous l’influence de sa mère Cù Thị d’origine chinoise, l’avant-dernier empereur de cette dynastie décida de céder son royaume à l’empire des Han. Étant mis au courant de ce projet, son premier ministre vietnamien Lử Gia décida de l’éliminer ainsi que sa mère et d’introniser à sa place son demi-frère connu sous le nom de « Dương Vương« . Prétextant l’usurpation du pouvoir, les Han envahirent le royaume et l’annexèrent en l’an 111 avant J.C. malgré la résistance héroïque de Lữ Gia. Dès lors, le pays des Vietnamiens  passa sous la domination chinoise. La propagation de la culture chinoise ne se faisait pas d’une manière pacifique durant presque un siècle. Elle était marquée par une série de révoltes sanglantes suivantes:

  • Révolte de deux héroïnes Trưng Trắc (Zheng Cè) l’aînée et Trưng Nhị (Zheng Èr)  durant les années 40-43 après J.C.
  • Révolte de l’héroïne Triệu Ẩu en l’an 248.
  • Révolte du héros Lý Bôn (ou Lý Nam Ðế) durant les années 544 – 602.
  • Révolte dirigée par Mai Thúc Loan (ou Mai Hắc Ðế) en 722.
  • Révolte du héros Phùng Hưng (ou Bồ Cái Ðại Vương) en 791.

 Cela conduisait à la fin à la victoire écrasante sur le fleuve Bạch Đằng avec le général Ngô Quyền  en l’an 938 et terminait la première domination chinoise durant presque 1000 ans.

  Dynastie des Yue du Sud

  • Triệu Đà:  Zhao Wu Di  (Triệu Vũ Đế) 203-137 avant J.C.
  • Triệu Muội: Zhao Wen Di (Triệu Văn Đế) 137-122 avant  J.C.
  • Triệu AnhTề: Zhao Yinqi (Triệu Minh Vương) 122-113 avant J.C.
  • Triệu Hưng: Zhao Xing (Triệu Ai Vương) 113-112 avant J.C.
  • Triệu Kiến Đức: Zhao Jiandé (Triệu Dương Đế) 112-111 avant J.C.

Paris le 12/11/2020

Nước Nam Việt

Nam Việt được gọi  là « nước của người Việt ở phía nam » có nguồn gốc đến nước Việt Nam và bao gồm từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam  và nước Âu Lạc, một quốc gia cổ của người Việt.  Nước  nầy có vua tên là An Dương Vương, bị thôn tính bởi tướng  nhà Tần Triệu Ðà hoặc Triệu Vũ Vương, người sáng lập vương quốc Nam Việt. Theo người Việt, sự biến mất của nước Âu Lạc có gắn liền với truyền thuyết về nỏ thần. Trên thực tế là do sự chia rẻ giữa người Việt và  cách hành sự của Triệu Đà trong một cuộc chiến chớp nhoáng chống lại An Dương Vương  bằng cách hứa giải về  lãnh thổ. Sau khi các tỉnh này được thống nhất dưới ngọn cờ của ông, Triệu Đà đóng đô tại  Phiên Ngung không xa Quảng Châu mà ngày nay được gọi là Canton. Ông đã chia Âu Lạc thành ra hai quận, một quận được gọi là Giao Chỉ và chủ yếu nằm ở miền bắc Việt Nam và một quận dưới tên Cửu Chân gồm  tất cả các tỉnh khác ở miền trung Việt Nam. (Thanh Hoá, Nghệ An vân vân…). Theo nhà nghiên cứu người Pháp Maud Girard-Geslan (1), cư dân ở nơi nầy không phải là người Tàu mà thuộc về dòng đại tộc Bách Việt trong đó có người Lạc Việt  và Tây Âu.

Khi nhà Tần bị diệt vong (năm 206 TCN), Triệu Đà tự xưng vương lập ra nước Nam Việt dưới tên là Triệu Vũ Vương rồi sau đó xưng Triệu Vũ Đế vào năm 187 TCN. Ông không ngừng thách thức đế chế  nhà Hán bằng cách đánh chiếm  các ấp của quận Trường Sa thuộc về nhà Hán sau khi Lã Hậu cắt đứt buôn bán với Nam Việt. Nhưng vì thời tiết oi bức binh sĩ của  nhà Hán đổ bệnh và không thể đi xuống phương nam khiến cuộc xâm chiếm nước Nam Việt bất thành. Sau khi Lã Thái hậu qua đời và sau khi  lên ngôi  năm 180 TCN thì Hán Văn Đế cố gắng thuyết phục Triệu Vũ Đế.  Ông sai quân chăm nôm mồ mả và lo hương hỏa tổ tiên của Triệu Đà ở Chân Định và gửi sứ giả  Lục Giả theo lời chỉ bảo của Trần Bình sang Nam Việt để thuyết phục Triệu Vũ Đế trở lại làm vương của nhà Hán. Có lẽ Triệu Đà thấy sức mạnh của nhà Hán lúc bấy giờ với số dân 50 triệu nên ông buộc lòng qui phục lại nhà Hán và trở  lại xưng vương (tương kế tựu kế).   Nhưng chỉ vương với nhà Hán trên giấy tờ luc trao đổi sứ thần chớ ở Nam Việt ông vẫn là hoàng đế ở phương Nam vì các nước như Mân Việt, Tây Âu Lạc cũng chịu qui phục với Nam Việt. Nhờ sự sáng suốt khéo léo chính trị, ông thành công trong việc thống nhất được các tiểu quốc người Việt để tạo thành một nước Việt hùng mạnh để chống họa đến từ phương bắc. 

Ông được nhiều sử gia nước Việt khen ngợi như Lê Văn Hưu (đời Trần) trong « Đại Việt Sử ký toàn thư » hay trong « Bình Ngô đại cáo » của Nguyễn Trãi (đời nhà Hậu Lê):Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước.  Như vậy Triệu Đà được thừa nhận là một ông vua đầu tiên dựng nước ta từ khi có sử. Theo nhà văn Hà văn Thùy thì Triệu Đà có công để lại cho người dân Việt một di sản qúi báu. Ông tạo nên và củng cố tinh thần người dân Việt  tránh sự hán hóa có được gần một thế kỷ. Chính nhờ ông mà có nền tảng cho các   cuộc khởi nghĩa về sau của hai Bà Trưng, Triệu Ẩu, Lý Nam Đế , Mai Hắc Đế, Phùng Hưng trước khi Ngô Quyền  thành công  trong công cuộc giải phóng dân tộc. Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng  được  sư hưởng ứng vào thời đó  không những ở Việtnam mà luôn cả vùng Lưỡng Quảng sang tận  đến Hải Nam. Chính ở vùng phiá nam Trung Quốc, qua cuộc viếng thăm của bác sỹ Trần Đại Sỹ cùng phái đoàn ủy ban y học của Pháp trong những năm 1979-1989, thì có  ghi nhận đến 200 địa điểm có đạo thờ vua bà (Hai bà Trưng).  Không thể  thiếu Nam Việt trong cuộc hành trình giành độc lập của người dân Việt.  Dù Triệu Đà võ tướng nhà Tần nhưng có vợ  Trình Thị người Giao Chỉ (Đồng Xâm, Thái Bình) nên con  Trọng Thủy, cháu Triệu Muội luôn cả  Anh Tề cũng có một phần máu Việt trong người. Họ cũng có sự gắng bó mật thiết với  đất nước. Họ không thẹn con Rồng cháu Tiên và cũng xứng đáng làm vua chúa của một triều đại Việt Nam.

Tiếng tăm  của ông lừng lẫy đến nỗi ông được nhắc đến nhiều lần nhất là là vương quốc của ông trong các tác phẩm Trung Hoa thời bấy giờ. Ông qua đời vào năm 137 TCN. Con cháu của ông tiếp tục cai trị vương quốc này cũng gần một thế kỷ qua năm thế hệ. Người kế vị ngay sau  ông là  Triệu Muội (Zhao Mei), cháu trai của ông, con Trọng Thủy được biết đến nhiều với tên là  Triệu Văn Đế của nước Nam Việt nhờ cuộc khám phá lăng mộ của ông vào năm 1983 bởi một nhóm nhà khảo cứu người Quảng Đông. Mộ nầy nằm dưới độ sâu 20 thước ở dưới chân núi Tượng Cương ở thành phố Quảng Châu. Bị  ảnh hưởng của mẹ Cù Thị  là người gốc Hoa, vị hoàng đế áp chót của triều đại này đã quyết định nhượng lại vương quốc của mình cho đế chế nhà Hán dưới thời cai trị của Hán Vũ Đế. Được biết rõ  dự án này, tể tướng Lử Gia  quyết định loại bỏ vua nầy và mẹ của ông và đưa anh trai cùng cha khác mẹ với ông là « Dương Vương » lên làm vua. Dựa cớ soán ngôi, người Hán mở ra chiến lược  xâm lược và thôn tính vương quốc nầy vào năm 111 TCN bất chấp sự kháng cự anh dũng  của Lữ Gia cùng người Việt. Từ đó về sau, đất nước của người dân Việt bị Trung Quốc cai trị. Việc truyền bá văn hóa Trung Hoa  không diễn ra một cách bình yên trong suốt một nghìn năm  đô hộ này. Nó  được đánh dấu bằng một loạt các cuộc nổi dậy đẫm máu sau đây:

  • Cuộc khởi nghĩa của hai nữ anh hùng Trưng TrắcTrưng Nhị trong những năm 40-43 SCN.
  • Cuộc khởi nghĩa của nữ anh hùng Triệu Ẩu năm 248.
  • Cuộc khởi nghĩa của anh hùng Lý Bôn (tức Lý Nam Ðế) trong những năm 544 – 602.
  • Cuộc khởi nghĩa do Mai Thúc Loan (tức Mai Hắc Ðế) lãnh đạo năm 722.
  • Cuộc khởi nghĩa của anh hùng Phùng Hưng (hay Bồ Cái Ðại Vương) năm 791.

và dẫn đến chiến thắng vẽ vang trên sông Bạch Đằng với Ngô Quyền vào năm 938 và kết thúc gần thiên niên kỷ Bắc thuộc.

Tombe à linceul de jade du roi
Triệu Văn Đế (Zhao Mei)


Bibliography
(1) Maud Girard-Geslan: La tombe à linceul de jade du roi de Nan Yue à Canton In: Arts asiatiques. Tome 41, 1986. pp. 96-103.
Hà Văn Thùy:  Hành trình tìm về côi nguồn . Nhà xuất bản Văn Học
Lê Văn Hưu:  Đại Việt Sử ký toàn thư

Con Rồng cháu Tiên (Version française)

English version

Lạc Long Quân- Âu Cơ

Autrefois, le Vietnam était un pays mi-sauvage, mi-cultivé, infesté de bêtes fauves qui cohabitaient avec l’homme dans des cavernes profondes de la forêt. Vivait alors un jeune homme nommé Lạc Long Quân intelligent et doté de pouvoirs extraordinaires. Dans ses veines coulait un sang mêlé du sang des Dragons du pays Bách Việt. (Bai Yue). Dans ses pérégrinations par monts et par vaux, il arriva à la région maritime du Sud Est du Lạc Việt. Voyant la population décimée par un monstre marin, il saisit un javelot qu’il rougit au feu et le lança dans la gueule du monstre. Il le tua sur le coup. Il coupa son corps en trois morceaux qu’il jeta dans les trois endroits différents. Le premier morceau fut jeté dans une montagne nommée  nommée Cẩu Đầu Sơn, le tronc du corps dans une autre montagne  Cẩu Đầu Thủy et la queue dans une île connue sous le nom de  Bạch Long Vỹ.

Le peuple Lạc Việt étant une fois en paix, le héros s’achemina vers la région de Long Biên dont les habitants étaient terrorisés par un renard devenu un monstre. Celui-ci se transformait souvent en jeune homme pour entrer dans les villages et enlever les femmes et les jeunes filles. Lạc Long Quân dut batailler trois jours et trois nuits avant d’abattre le monstre et d’entrer dans sa caverne pour libérer les survivantes. Arrivé à la région Phong Châu, il affronta le monstre des arbres tellement féroce qu’il dut recourir à son père Kinh Dương Vương pour le chasser dans le sud. Après avoir ramené la paix dans ces trois régions, il fut ému de compassion pour le peuple si malheureux et si simple. Il décida d’y rester pour le protéger et lui apprendre à cultiver le riz, à couper les arbres pour construire les maisons destinées à le protéger contre la pluie, le vent et les bêtes sauvages. Le peuple le vénérait et le considérait comme son chef. Il l’éduquait aux vertus familiales des parents et d’époux. Il était vénéré par ce peuple comme son père biologique et comme  celui qui lui engendrait la vie.

Avant de revoir sa mère au Palais des Eaux, il recommanda à son peuple, en cas de malheur, de l’appeler bien fort: Père. Et il revint aussitôt. Quelque temps après, le Seigneur des Hautes Régions du Nord, Ðế Lai, à la tête de ses troupes, envahit le Lạc Việt en emmenant avec lui sa ravissante fille du nom de Âu Cơ. Ðế Lai opprima et rançonna la population. Il obligea cette dernière à lui fournir la viande et le riz pour son armée. Dans sa détresse, le peuple appela: Père, revenez vite pour nous sauver. Lac Long Quân fut sur place, mais il ne trouva pas Ðế Lai. Seule Âu Cơ était là, en promenade au milieu de ses servantes. Ébloui par sa beauté, il emmena Âu Cơ dans son palais. Âu Cơ elle-même, charmée par le jeune homme, consentit à vivre désormais avec lui. Ðế Lai, revenu en colère, envoya ses troupes pour assiéger la ville.

Mais Lac Long Quân commanda aux bêtes sauvages de le repousser. Incapable de lutter contre un gendre aussi puissant, Ðế Lai se retira du Lạc Việt , laissant sa fille sur la terre étrangère. Après quelque temps, Âu Cơ mit au monde une grande poche d’où sortirent cents œufs  donnant  naissance à cent garçons robustes comme leur père. Quand vint le jour de séparation  et de retour auprès de sa mère, Lạc Long Quân dit à sa femme Âu Cơ: « Vous êtes de la race des fées. Je suis de celle des Dragons. Nous ne pouvons pas rester ensemble toute la vie. Vous avez besoin de vivre en altitude. J’ai besoin de vivre au bord de la mer. Vous restez ici ainsi avec cinquante enfants. J’emmène les cinquante autres dans la région maritime pour  nous y installer. Depuis, Âu Cơ restait dans les montagnes avec ses cinquante enfants. Ceux-ci devenaient ainsi les ancêtres de tous les peuples vivant de nos jours sur les hauts plateaux et dans les montagnes (ce sont les montagnards et les minorités ). Quant à Lac Long Quân, il descendit avec ses enfants dans la plaine, au bord de la mer. Il leur apprit à défricher pour y fonder un royaume. Son fils aîné devint ainsi le premier roi du Vietnam et prit le nom dynastique de Hùng Vương et appela son pays Văn Lang.

C’est pourquoi les Vietnamiens sont fiers d’être « Enfants du Dragon, Grands Enfants de l’Immortelle » (Con Rồng Cháu Tiên).

Cổ Loa thành ( citadelle en colimaçon )

English version
Version française
Galerie des photos

Loa Thành và Huyền Thoại

Thục Quốc Sơn Hà nguyên cổ Việt
Loa Thành cung tẩm sướng tiền Ngô
Sông núi nước Thục vốn là nước Việt xưa
Cung khuyết ở thành Cổ Loa, bắt đầu xây dựng từ thời Ngô Quyền
Les monts et fleuves du royaume Thục appartenaient à l’ancien pays des Vietnamiens.
La porte du palais royal situé dans la citadelle fut édifiée à l’époque de Ngồ Quyền.

Theo truyền thuyết, thành Cổ Loa ban đầu có chín vòng xoắn ốc đất. Đây là lý do tại sao vua An Dương đặt cho nó cái tên « Loa Thành (thành cổ xoắn ốc) ». Trong các cuộc khai quật khảo cổ gần đây, các nhà khảo cổ học Việt Nam và Nhật Bản chỉ tìm thấy sự tồn tại của 3 vòng xoắn ốc. Được xây bằng đất, các vòng xoắn nầy được bao quanh bởi những con hào rộng và được gia cố chắc chắn bằng hàng rào tre. Sự hiện diện của những con hào này và sự củng cố của những vòng xoắn này là minh chứng cho sự hiểu biết hoàn hảo của người dân Việt cổ về điạ hình của vùng đất.  Nhờ thế  An Dương Vương chống lại anh dũng  các cuộc tấn công  của người Hoa nhiều lần.

Theo truyền thuyết, tòa thành không thể thất thủ được nhờ chiếc nỏ thần được  biếu tặng cho nhà vua bởi con rùa vàng vào thời điểm chia tay. Loa thành chỉ bị thất thủ vào năm 208 nhờ mưu đồ khéo léo của  tướng Trung Hoa Triệu Đà  thành công thực hiện cùng con trai Trọng Thủy  bằng cách đồng ý sự kết hôn với công chúa Mỵ Châu, đứa con gái duy nhất của  An Dương Vương. Gần đây phát hiện một nơi lưu trữ  các đầu mũi tên tại Cổ Loa khiến việc nầy không còn xa lạ với truyền thuyết và chứng thực nỗ lực kháng cự và tham gia mãnh liệt trong cuộc bảo vệ tòa thành. (1).

Tọa lạc ở quận Đồng Ánh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội  18 cây số, thành Cổ Loa được xây dựng vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên bởi vua An Dương Vương. Thành nầy trở  thành ngày nay một quần thể kiến trúc tôn giáo và tưởng niệm mà được thấy có một ngôi đình, một đền dành riêng để  thờ  công chúa Mỵ Châu, một ngôi chùa được gọi là Bảo Sơn, ngôi đền của vua An Dương Vương vân vân … Được xem là  thành hoàng của làng Cổ Loa, An Dương Vương được vinh danh mỗi năm vào ngày thứ 6 tháng âm lịch đầu tiên qua một cuộc diễu hành trọng thể  ở làng. An Dương Vương là một nhân vật lịch sử bởi vì theo kết luận của nhà nghiên cứu Trung Quốc Dư Duy Cương, viên ngọc mà chúng tôi tìm thấy  trong lăng mộ Triệu Đà là một chiến lợi phẩm thuộc về An Dương Vương (2)

Selon la légende, la citadelle comportait au début neuf spirales de terre. C’est pour cela que le roi An Dương  lui donna le nom « Loa Thành (la citadelle en colimaçon) ». Lors des fouilles archéologiques  récentes, les archéologues vietnamiens et japonais ont constaté seulement l’existence de 3 spirales. Etant constituées de remparts  de terre, celles-ci étaient bordées par de larges douves et renforcées solidement par des haies de bambous. La présence de ces douves et la fortification de ces spirales  témoignent de la connaissance parfaite de la configuration du terrain par les Vietnamiens d’autrefois. Cela permit au roi An Dương Vương de résister vaillamment tant de fois aux assaillants chinois. 

Selon la légende, la citadelle était imprenable grâce à l’arbalète magique dont la gâchette était une griffe offerte au roi par la tortue d’Or au moment de la séparation. Elle fut prise seulement en 208 grâce au stratagème ingénieux que le général chinois  Zhao Tuo avait réussi à mettre à exécution avec son fils Trọng Thủy (Zhao Shi) en consentant à ce dernier de se marier avec la princesse Mỵ Châu, fille unique du roi An Dương Vương. La découverte récente  d’un stock de pointes de flèches à Cổ Loa n’est pas étrangère à cette légende et témoigne d’un gigantesque effort  de résistance engagé dans la défense de la citadelle.(1)

Pointes de flèches découvertes  (Cổ Loa)

Etant localisée dans le district de Đồng Ánh, à 18 km du centre de la capitale Hànội, la citadelle de Cổ Loa qui fut construite au IIIème siècle avant J.C. par le roi An Dương Vương, devient aujourd’hui un complexe architectural religieux et commémoratif où on trouve à la fois une maison communale, un temple dédié à la princesse Mỵ Châu, une pagode nommée  Bảo Sơn, un temple consacré au roi An Dương Vương etc…Etant le génie tutélaire du village de Cổ Loa, le roi An Dương Vương est honoré chaque année le sixième jour du premier mois lunaire par la procession de sa statue dans le village. An Dương Vương était un personnage historique car selon les conclusions du  chercheur chinois Dư Duy Cương, la tablette de jade  qu’on a trouvée dans le tombeau de Zhao Tuo était un butin appartenant à  An Dương Vương. 

Version anglaise

The citadel and its myth

According to legend, the citadel included 9 spirals of soil. That is why An Dương King gave it the name « Loa Thành » (spiral citadel). During recent archaeological excavations, Vietnamese and Japanese archaeologists have only seen   the existence of three spirals.  Being constituted by ramparts of soil, they were surrounded by wide moats and reinforced firmly by bamboo hedgerows. The presence of these moats and fortification of these spirals  testifies to the perfect knowledge of the land  configuration by  old Vietnamese. That allowed An Dương King to show so many times amazing resistance against  Chinese attackers. 

According to legend, this citadel was impregnable with the magic crossbow, the trigger of which was a claw  offered  by the golden turtle to the king at the time of their separation.  This fortress was taken only in 208 through the ingenious  stratagem adopted by Chinese general Zhao Tuo (Triệu Đà)  with his son Trọng Thủy by consenting to  the latter to get married with Princess Mỵ Châu, the sole daughter of  King An Dương. The recent discovery of a stock of arrowheads  at Cổ Loa is not unrelated to this legend and testifies to the gigantic resistance  effort invested in the the citadel’s defence.(1)

Being located  about 18km in the  Đồng district from  Hànội,  the citadel Cổ Loa which  was build at the 3rd century before J.C. by King An Dương, becomes today a religious and memorial  architectural  complex where one  simutaneously finds a communal house, a temple dedicated to Princess Mỵ Châu,  a pagoda named Bảo Sơn, a temple consacred to An Dương king etc … Being the guardian genius of Cổ Loa village, King An Dương is honored every year, on the 6th day  of the first  lunar month by the procession of his statue in the village. An Dương Vương was a historical personage because, according to the Chinese researcher Dư Duy Cương conclusions, the jade tablet found in the Zhao Tuo tomb was a  spoils belonging to King An Dương.(2)

Galerie des photos


(1) Catherine Noppe, Jean François Huppert: Arts du Vietnam: La fleur du pêcher et l’oiseau d’azur. Collection Références. Éditeur: La renaissance du livre 2002.
(2) Trần Văn Giáp: Numéro spécial sur la tablette de jade d’An-Dương. Quelques points de vue sur la tablette de jade d’An-Dương et le problème de Thục An Dương Vương, Văn Sử Địa, n° 28, Mai 1957.
 

Delta du fleuve rouge (Đồng bằng sông Hồng)

Version vietnamienne
English version
Galerie des photos

Contrairement au delta du Mékong, le delta du fleuve Rouge contient beaucoup de vestiges historiques. C’est le berceau de la nation vietnamienne. C’est ici qu’on trouve du côté de Thanh Hoá dans la vallée de la rivière Mã la présence d’une civilisation  au premier millénaire avant J.C. à l’âge de bronze qu’on a l’habitude d’appeler l’âge de Đồng Sơn à partir duquel commencent aussi les périodes mythiques de l’histoire du Vietnam. Une première dynastie légendaire, celle de Hồng Bàng aurait régné jusqu’au IIIème siècle avant J.C. C’est à partir de ce delta que s’amorça au début du Xème  siècle, le mouvement « Nam Tiến » (ou la descente vers le Sud) entamé par le généralissime Lê Hoàn et terminé au XVIIIème par les rois Nguyễn.

L’histoire du Vietnam est liée étroitement à ce fleuve Rouge (ou Sông Hồng). C’est lui qui a forgé l’âme vietnamienne. C’est lui qui a pétri l’épaisse identité du peuple vietnamien. Il est à la fois ennemi, ami et acteur du peuple vietnamien.

Pour dominer ses eaux et ses caprices, le peuple vietnamien doit construire et consolider sans cesse les digues. Celles-ci existent depuis un millénaire et rompent seize fois durant ces vingt-cinq dernières années. C’est à cause de lui que le peuple vietnamien a toujours eu pour hantise la domination et la maîtrise des eaux. Le peuple vietnamien est obligé de s’organiser, de réaliser des travaux d’aménagement et d’entretien dès les débuts de notre ère. C’est lui qui apporte au peuple vietnamien la vertu d’être plus patient, plus têtu, plus acharné,  plus laborieux et méthodique dans la construction des digues, dans la réalisation des canaux et des remblais et dans le colmatage des brèches. On trouve dans ce delta un réseau sophistiqué de canaux de drainage et de hautes digues que seul un état hydraulique centralisé comme le Vietnam a su réaliser.

C’est lui qui a été témoin de plusieurs batailles décisives du peuple vietnamien contre les envahisseurs. C’est grâce à sa complicité que le généralissime Trần Hưng Ðạo a défait l’armée mongole en plantant astucieusement dans son lit des pieux qui brisèrent les jonques mongoles en 1288 à l’embouchure de la rivière Bạch Ðằng et en renouvelant l’exploit éclatant  du général Ngô Quyền contre les Chinois en 938 (victoire mettant fin à 1000 ans de domination chinoise). Il a été aussi témoin de l’insurrection de Yên Bái dirigée par le leader nationaliste Nguyễn Thái Học en 1930.

Son destin est celui du peuple vietnamien. C’est lui qui a donné à la capitale du Vietnam le dernier nom Hà-Nội (Hà veut dire fleuve; Nội désigne intérieur). Hà-Nội veut dire  » En deçà du fleuve ». Cette ville fut fondée par le roi Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) en l’an 1010 sur une localité Ðại La que les géomanciens avaient jugée propice à l’abri des eaux du fleuve Rouge. Elle s’appela aussi sous le nom « Thăng Long » (La cité du dragon prenant son essor) car  le roi Lý  Thái Tổ a vu au débarcadère un dragon d’or s’envoler de cette localité.

C’est aussi lui qui a vu grandir Hanoï avec ses fameuses trente-six rues commerçantes et ses lacs tels que Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây. L’écrivain Thạch Lam du groupe « Tự Lực Văn Ðoàn » en a parlé dans son roman « Hà Nội 36 phố phường ». C’est lui qui a donné naissance à la construction française du pont Paul Doumer longue de 1680m (ou Cầu Long Biên ) à Hanoï.

Grâce à ses limons riches en fer et à son irrigation, le delta est tellement fertile qu’il est possible d’avoir une moisson en plus au mois de novembre. C’est ici qu’on  trouve tous les jours des femmes penchées sous le chapeau conique, pieds et mains dans la glaise, des enfants rentrés de l’école arpentant les digues, des buffles immobiles dans leurs bains de boue sous un soleil quelquefois accablant. C’est le fleuve Rouge qui inonde souvent la plaine de Hoa Lư, l’ancienne capitale du Vietnam jusqu’au XIème siècle. Il est après le Mékong le deuxième grand fleuve du Vietnam. Il est descendu d’une région montagneuse Yunnan en Chine du Sud. Il est connu souvent sous le nom  » fleuve aux six têtes ». Il entre définitivement au Vietnam à Lào Cai. Il serpente sur plus de 1000 km avant de mourir dans la somptueuse baie de d’Along.

Celle-ci est la huitième merveille du monde. Elle compte plus de trois mille îles, îlots et récifs. On trouve des rochers de formes très variées. Les uns minuscules, les autres de dimensions importantes portent souvent des noms pittoresques. La baie d’Along devient depuis quelques années le site le plus visité par les touristes étrangers quand ceux-ci débarquent au Vietnam. Des mini croisières en jonque permettent de la visiter. C’est dans cette baie, selon la légende, que pour domestiquer les courants marins, un dragon serait descendu. C’est pour cette raison que les Vietnamiens ont appelée Hạ Long ( ou le site de la descente du Dragon ).

Émerveillé par la splendeur et la beauté de cette baie qu’il visita en jonque en 1468, le roi Lê Thánh Tôn laissa quelques vers inoubliables comme témoignage de son émotion :

Muôn ngọn núi nổi trên như biển ngọc
La liệt như những sao sa, những quần cờ, chênh vênh màu xanh biếc …

Des cimes élevées se dressent en foule dans la mer comme autant de joyaux,
Des sommets bleuâtres sont éparpillés comme des étoiles descendantes et des pions dans l’échiquier des flots
Les poissons et le sel, abondants comme le sable, offrent au peuple un gain rapide.

Khác với đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng có rất nhiều di tích lịch sử. Nó là cái nôi của dân tộc. Chính ở đây, chúng ta tìm thấy ở phía Thanh Hóa trong thung lũng sông Mã sự hiện diện của một nền văn minh ở thiên niên kỷ đầu tiên trước Công nguyên vào thời đại đồ đồng mà chúng ta thường gọi là thời đại Đồng Sơn. Cùng với thời đại nầy mới khởi đầu thời kỳ truyền thuyết của lịch sử Việt Nam. Một triều đại huyền thoại đầu tiên, một triều đại mang tên Hồng Bàng được ngự trị cho đến thế kỷ thứ ba trước Công nguyên. Chính cũng từ vùng đồng bằng này từ đầu thế kỷ thứ 10, khởi đầu một cuộc « Nam Tiến » bởi tướng Lê Hoàn và được kết thúc với các chúa Nguyễn vào thế kỷ 18. Lịch sử Việt Nam được gắn bó mật thiết với sông Hồng này. Chính nó rèn luyện tâm hồn và uốn nắn bản sắc dày đặc của người dân Việt. Nó đồng thời vừa là kẻ thù, đồng minh và diễn viên của nhân dân Việt Nam.

Để ngự chế sự thay đổi thất thường của sông Hồng, người dân Việt phải xây dựng và củng cố không ngừng các con đê. Những công trình nầy được tồn tại có một thiên niên kỷ và bị phá vỡ mười sáu lần trong hai mươi lăm năm vừa qua. Chính vì sông Hồng mà người dân Việt lúc nào cũng có nỗi lo âu trong việc kiềm chế và kiểm soát nước sông. Người dân Việt buộc lòng phải tổ chức, thực hiện các công việc sửa chửa và bảo trì từ đầu thời đại của chúng ta. Chính sông Hồng làm người dân Việt có được đức tính kiên nhẫn và bướng bỉnh hơn, miệt mài, cần cù và siêng năng trong các công việc xây dựng các con đê và các kênh rạch và bồi đất các nơi bị lỡ. Ở vùng đồng bằng này có một mạng  lưới kênh  đê có hệ thống thoát nước một cách tinh vi mà chỉ có một quốc gia thủy lực tập trung như Việt Nam mới có thể đạt được. 

Chính sông Hồng cũng là nhân chứng các trận chiến quyết liệt của nhân dân Việt Nam trong các cuộc chống quân xâm lược. Chính nhờ sự đồng lõa của sông Hồng mà Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn  đánh bại quân Mông bằng cách đóng cọc ngầm độc đáo dưới sông, phá vỡ quân Mông vào năm 1288 tại cửa sông Bạch Đằng và tạo lại chiến công hiển hách của tướng quân Ngô Quyền chống lại người Trung Quốc vào năm 938 (chiến thắng nầy chấm dứt 1000 năm thống trị của Trung Quốc). Nó cũng chứng kiến cuộc nổi dậy ở Yên Bái do lãnh tụ quốc gia Nguyễn Thái Học cầm đầu vào năm 1930.
Số phận của nó cũng là số phận của người dân Việt. Chính sông Hồng mang lại cho thủ đô của Việt Nam một cái tên cuối cùng đó là Hà Nội (Hà là sông còn nội có nghĩa ở bên trong). Hà Nội có nghĩa là « ở trong đất liền của con sông ». Thành phố này được thành lập bởi vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) vào năm 1010 tại một khu vực được gọi là Đại La mà các thầy địa chất giỏi về phong thủy phán đoán rất thuận lợi cho việc tránh lũ lụt của sông Hồng. Thành phố nầy cũng được gọi dưới cái tên « Thăng Long » (Thăng là bay lên, nơi mà rồng cất cánh) vì  ở nơi thuyền  ngự Lý Thái Tổ nhìn thấy có một con rồng vàng bay lên ở nơi này.

Cũng chính sông Hồng chứng kiến sự trưởng thành của Hà Nội với ba mươi sáu phố phường và các hồ nước nổi tiếng như Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây vân vân… Nhà văn Thạch Lam của nhóm « Tự Lực Văn Ðoàn » có nói về Hà Nôi trong cuốn tiểu thuyết « Hà Nội 36 phố phường« . Chính sông Hồng dẫn đến công trình xây dựng vào thời Pháp thuộc cầu Paul Doumer (hay cầu Long Biên ngày nay) dài có 1680 thước ở Hà-Nôi.

Nhờ có bùn lầy màu mỡ và được tưới nước, đồng bằng nầy có thể thu hoạch thêm một mùa hơn vào tháng 11. Chính ở nơi nầy chúng ta thấy được mỗi ngày các phụ nữ nghiêng mình dưới chiếc nón lá, chân tay dẫm trong đất sét, các trẻ em học sinh từ trường trở về đi bộ trên các con đê, các con trâu thì im lìm nằm trong các vũng bùn dưới ánh mặt trời đôi khi ngột ngạt. Chính sông Hồng làm ngập nước thường xuyên vùng đồng bằng Hoa Lư, cố đô của Việt Nam cho đến thế kỷ thứ 11. Sau sông Mê Kông, nó là con sông lớn thứ hai ở Việt Nam. Nó đến từ một vùng núi Vân Nam ở miền nam Trung Quốc. Nó thường được gọi là « con sông chín đầu ». Nó vào Việt Nam ở phía Lào Cai. Nó ngoẳn ngoèo uốn lượn có hơn 1000 cây số trước khi sáp nhập cuối cùng vào vịnh Hạ Long hoành tráng.

Vịnh nầy là kỳ quan thứ tám của thế giới. Nó có hơn ba ngàn hòn đảo và đá ngầm. Được thấy những tảng đá có hình dạng khác nhau. Một số thì nhỏ bé, còn một số thì có kích thước lớn thường và mang những cái tên rất mơ mộng. Vịnh Hà Long trở thành địa điểm được truy cập nhiều nhất trong những năm gần đây bởi khách du lịch nước ngoài khi họ đến Việt Nam. Các chuyến du lịch biển bằng thuyền cho phép bạn ghé thăm vịnh. Theo truyền thuyết, để thuần hóa các dòng hải lưu, một con rồng đáp xuống ở nơi này. Chính vì lý do này mà người dân Việt thường gọi là Hạ Long (hay là nơi của Rồng hạ xuống).

Kinh ngạc trước cái đẹp lộng lẫy của vịnh khi dùng thuyền để ngao du vào năm 1468, vua Lê Thánh Tôn đã để lại những vần thơ khó quên được nói lên sư cảm xúc của ông:

Muôn ngọn núi nổi trên biển ngọc
La liệt như những sao sa, những quần cờ, chênh vênh màu xanh biếc….

Đồng bằng sông Hồng

Dragon (Con Rồng)

Version française
English version

Không  có chuyện cổ tích hay truyền thuyết Vietnam nào  mà không có con vật phi thường và huyền thoại nầy mà thường được  gọi là con Rồng hay  con Long. Nó là linh vật  đứng hàng đầu  trong bốn con vật có sức mạnh siêu phàm hay tứ linh (long, lân, qui, phụng). Nó thường được phổ biến   trong nghệ thuật trang trí và điêu khắc.  Người ta không những thấy  sự hiện diện của nó ở các chùa chiền mà còn ở các mái hay rường nhà, đồ nội thất, chén đĩa và các mặt hàng bằng vải.   Nếu nó là con thú có cánh, phun lửa và biểu tượng sự tàn ác và hung dữ ở Âu châu  thì ở Vietnam nó là  yếu tố chính  trong truyện thần thoại của người  Việt. Nó là con vật rất gần gũi với đời sống của người Việt vì nó hình tượng của mưa gió thuận hoà, đem lại hạnh phúc ấm no  cho con người nhất là Vietnam là một nước nông nghiệp.

 Tất cả  người dân Việt tin tưỡng mãnh liệt họ  là con cháu của cha Rồng Lạc Long Quân đến từ nước và mẹ Âu Cơ xuất phát  từ miền núi. Từ cuộc hôn nhân đó, tiên nữ đẻ ra một cái bọc có 100 trứng khi vỡ ra, được 100  thằng con trai cường tráng. Sau nầy, khi chia tay, 50 đứa con theo cha  xuống vùng hạ du và sáng lập nhà nước  có tên là Văn Lang và 50 đứa con còn lại theo mẹ về vùng núi để dẩn đến sự ra đời một thế giới vi mô  phức tạp nhất là có đến 54 dân tộc thiểu số.  Mặc dầu  phiên bản nầy nó có tính cách phóng   túng và ngây ngô nhưng   ít nhất nó cũng giúp người  Việt và các dân tộc thiểu số sống  chung và đoàn kết  chặt chẽ  trên mãnh đất hình rồng đế chống lại ngoại bang trong những giây phút khó khăn nhất của lịch  sữ.

Theo truyền thuyết , cũng nhờ có sự hổ trợ  của con rồng khiến quân giặc phương bắc bị đánh bại.   Khi đụng chạm với nước biển, các ngọn lửa của nó    biến thành vô số  các đảo nhỏ, những đá ngầm hình thù lạ đời. Bỡi vậy vịnh nầy được gọi là vịnh Hạ Long (có nghĩa là nơi rồng đáp xuống). Vịnh nầy trở thành là một kỳ quan thứ tám của thế giới và cũng là một điểm trọng đại được nhiều du khách ngoại quốc đến tham quan khi đến Vietnam.

Biểu tượng của  uy quyền và sức mạnh, con rồng  thường được  gắn bó với   đế vương hay   những thực thể   qúy trọng  chỉ dành cho vua chúa chẳng hạn  long nhan (mặt vua), long ngai (ngai vua), long thể (thân thể của vua), long sàn (giường vua)  vân vân …Bỡi vậy chân rồng của vua thường có 5 móng.  Nếu các đồ nội thất nào như  tráp, bình gốm mà  chân rồng có 5 vuốt, đó là sở hữu của vua chúa. Ngược lai, thông thường rồng dân dã thì chân chỉ có 4 móng. Nó còn biểu tượng lang quân, hôn phu hay là người đàn ông. Còn phụ nử thường được thể hiên qua chim phượng hoàng. Bỡi vậy khi có hôn nhân, thường thấy trên các lụa thêu hay trên các bức hoành điêu khắc hình con rồng liên hợp với chim phượng hoàng. Đây củng là sự kết hợp mà các nhà thơ thường nhắc đến để nói lên  niềm vui và hạnh phúc hôn nhân. 

 

con_rồng

 

Hình tượng rồng Vietnam  rất đa dạng, có sự biến đổi không ngừng liên quan đến các triều đại Vietnam.  Duới triều nhà Lý, sau khi thoát khỏi sự đô hộ của Trung Hoa thì con rồng thân thể rất dài như rắn,  mềm mại và uyển chuyển trên bốn chân chim, uốn lượn nhiều vòng không có vảy to, đầu không có tai và sừng. Các nhà nghiên cứu gọi rồng nầy là rông dây. Chính nhờ những nét độc đáo và cá biệt của rồng được phổ biến trong  nghệ thuật điêu khắc thời đó mà người ta mới có thể xác định chính xác niên đại mà rồng được xuất hiện. Đến triều nhà Trần thì rồng rất mập mạp, khỏe mạnh và lực lưỡng. Đầu cũng lớn hơn, có sừng thêm tai. Có vẻ uy nghi hơn hơn lúc thời đại nhà Lý. Sang triều Lê thi nước Việt bị xâm nhập bỡi nho giáo nên rồng thời đó chịu ảnh hưởng rất mạnh  mẽ của phong kiến Trung Hoa  khiến con rồng có đầu to, sừng có chạc, móng quặp lại trông dễ sợ. Tất cả đều thể hiện sự uy quyền và  nghiêm khắc của nhà vua. Sau cùng dưới thời nhà Nguyễn, rồng trở thành một đề tài phong phú khiến ở khắp nơi từ  cung điện đến chùa chiền dù nó vẫn  tượng trưng vương quyền nhưng nó vẫn được sáng tạo một cách phóng khoáng.

Rồng được tìm thấy ở khắp nơi luôn ở đồng bằng sông Cửu Long. Xuất phát tử vùng chân núi Hy Mã Lập Sơn (Tây Tạng), sông nầy chia ra làm chín nhánh hay chín con rồng con để rồi hoà mình sau cùng ở vịnh Nam Bộ. Bỡi vậy vùng nầy mới gọi là đồng bằng Cửu Long.  Chính vua Lý Thái Tổ thấy rồng trong mộng mới dời đô về thị trấn Đại La mà các nhà địa lý cho rằng là nơi thuận lợi cho việc tránh lũ lụt  khốc liệt của sông Hồng. Vì vậy mà thủ đô Hà Nội được gọi thời đó là Thăng Long (Rồng bay lên).

Nếu con  quái vật biển nầy thường bị các dân tộc khác  sợ hải chán ghét thì nó ngược lại rất gần gũi với  đời sống hằng ngày của người Việt. Nó có trọng trách để  canh giữ ở Huế các lăng tẫm của các vua chúa với thân thể làm bằng các mãnh gốm đa sắc. Với màu vàng rực rỡ, nó thường được thấy đang uốn lượn trên các cột sơn mài màu son của các cung điện. Nó nằm trong hệ thống 12 con giáp. Nó không những  được thấy  trên các đồ thêu thùa bằng lụa dành cho du khách mà còn là hình chạm ở đầu mũi thuyền với màu sắc sặc sỡ ở vịnh Hạ Long.

Ở Vietnam, chúng ta lúc nào cũng cảm nhận được sự che chở bỡi con quái vật biển nầy  vì chúng ta tin tưởng mãnh liệt là con cháu của cha Rồng Lạc Long Quân.

Version française

Il n’y a pas de contes ni de légendes vietnamiennes sans cet animal fabuleux et mythique qu’on appelle communément Con Rồng ou plus littérairement Con Long (ou le Dragon en français ). Il occupe la première place parmi les  quatre animaux au pouvoir surnaturel (tứ qúi)(long, lân, qui, phụng (dragon, licorne, tortue et phénix).  Il est employé fréquemment dans l’art de décoration et la sculpture. On le voit non seulement dans les pagodes mais aussi sur les arêtes des toitures,  les poutres des charpentes,  les meubles,  les pièces de la vaisselle et  les étoffes.   Si cet animal ailé et puissant cracheur de feu  est le symbole de méchanceté et de cruauté en Europe, il passe par contre  pour un élément clé dans  la mythologie  vietnamienne. Il est proche de la vie journalière des Vietnamiens car il  est considéré par ces derniers  comme un élément de bonheur avec ses bienfaits dans la régulation harmonieuse de la pluie et du vent  et dans un pays agricole comme le Vietnam.

Tout Vietnamien se croit fermement descendant du roi Dragon Lạc Long Quân venu des Eaux et de la fée Âu Cơ d’origine terrestre. De cette union, la fée déposa cent œufs qui donnèrent le jour à cent robustes garçons. Plus tard, lors de la séparation du couple, une cinquantaine de garçons suivirent le père Dragon vers les basses régions côtières et fondèrent la première nation vietnamienne ayant comme nom Văn Lang tandis que les cinquante autres suivirent leur mère terrestre vers les hautes plaines pour donner naissance plus tard à un microcosme ethnique le plus complexe du monde avec 54 minorités ethniques. Bien que cette version mythologique soit débridée et poétique, elle permet néanmoins aux Vietnamiens et aux minorités ethniques de cohabiter tant bien que mal dans ce pays en forme de dragon et de s’unir comme un seul homme pour venir à bout des agresseurs étrangers dans les moments difficiles de leur histoire. 

Selon une légende vietnamienne, c’est grâce au retour d’un dragon bienfaiteur que les hordes barbares venant du Nord furent mises en déroute. Ses flammes de feu crachées se transformèrent au contact de la mer en une multitude d’îlots, écueils aux formes extravagantes. C’est pour cela que cette baie est connue en vietnamien sous le nom Hạ Long ou ( la Descente du Dragon ). Elle devient ainsi la huitième merveille du monde et le site naturel le plus visité par les touristes étrangers lorsque ceux-ci débarquent au Vietnam.

La baie de Hạ Long 

Étant l’élément de pouvoir, le dragon est lié étroitement à  l’empereur et à tout ce qui lui appartient. Par exemple long nhan (son visage),  long ngai (son trône), long thể (son corps), long sàn (son lit) etc… Etant l’animal emblématique de l’empereur,  le dragon  de l’empereur  doit  posséder des pattes à 5 griffes. Si on voit sur un meuble,  un coffret ou  une porcelaine un dragon avec ses pattes  à cinq griffes, c’est que l’objet en question est destiné au service de l’empereur. Par contre, d’une manière générale, le dragon n’a que quatre griffes pour ses pattes. Il est encore le symbole du mari, du fiancé et plus généralement de l’homme. Quant à la femme, elle est représentée par le phénix. C’est pourquoi lorsqu’on veut faire allusion à un mariage, on associe souvent sur une broderie ou  un panneau sculpté un dragon à un phénix. C’est aussi cette association que les poètes évoquent dans leurs poèmes pour parler  de la joie partagée et du bonheur conjugal.

img_2250

L’image du dragon se présente sous diverses formes et ne cesse pas d’avoir des modifications tout le long  des dynasties vietnamiennes.  Après la libération du  Vietnam de la domination  chinoise, le dragon apparût  sous la dynastie des Lý avec un corps  long comme celui d’un serpent, souple dans sa démarche avec les quatre pattes d’un volatile et ondulant sinueusement avec des petites écailles. Sa tête n’avait ni oreilles ni cornes. Les chercheurs lui donnent le nom « rồng dây ». Grâce à ses caractéristiques particulières et uniques trouvées dans la sculpture, on arrive à déterminer avec exactitude l’époque de son apparition. Puis sous la dynastie des Trần, le dragon commença à prendre de l’embonpoint et devint robuste et musclé avec une   tête plus grosse et garnie de cornes et d’oreilles. Ce dragon avait l’air majestueux par rapport à celui des Lý. Sous la dynastie des Lê, le Vietnam fut tellement influencé par le confucianisme et la féodalité chinoise que le dragon avait une grosse tête garnie de cornes fourchues et les griffes de ses pattes rabattues vers l’arrière, ce qui faisait peur à voir. Tout cela avait pour but de montrer la sévérité du pouvoir  et  l’autorité du roi. Enfin sous la dynastie des Nguyễn, le dragon devint un thème tellement foisonnant que malgré son emblème de royauté, les artistes n’hésitèrent pas à s’en servir délibérément à leur guise   pour leurs créations d’art visibles partout (du palais jusqu’à la pagode).

Le dragon est vu partout même dans le delta du Mékong. Ce fleuve né dans les contreforts de l’Himalaya (Tibet) se divise en neuf bras ou en neuf dragons pour se jeter dans le golfe de la Cochinchine (ou Nam Bộ). C’est pour cela que cette région s’appelle Cửu Long (ou Neuf Dragons en français). Il a été vu également à l’embarcadère par l’empereur Lý Thái Tổ, ce qui permit à ce dernier de transférer sa capitale sur la localité Ðại La que les géomanciens ont jugée propice à l’abri des eaux du fleuve Rouge meurtrier. C’est pour cela que la capitale Hanoï fut connue à une époque sous le nom Thăng Long (ou la montée du Dragon).

Si ce monstre marin rebute facilement la plupart des peuples, il fait partie par contre de la vie journalière vietnamienne. Il est chargé de veiller, à la ville impériale Huế sur les tombeaux des empereurs Nguyễn avec tout son corps de bris de céramique multicolore. Doré, il s’enroule autour des piliers de laque carmin des palais impériaux. Il est l’un des douze signes astrologiques du calendrier lunaire. Il devient non seulement la broderie sur soie des vêtements pour les touristes mais aussi la figure de proue aux couleurs criardes sur les jonques de la baie de Hạ Long.

 

Dans le berceau de légendes qu’est notre Vietnam, nous nous sentons mieux protégés par ce monstre marin car nous sommes convaincus que nous sommes toujours descendants du roi Dragon Lạc Long Quân.

[Return RELIGION]

 

 

Etre Việtnamien (Tôi là người Việt Nam)

Version vietnamienne
Version anglaise

D’après les sources archéologiques dont nous disposons aujourd’hui, les Vietnamiens sont issus probablement du groupe Thai-Vietnamien. Certains historiens continuent de voir non seulement dans ces Vietnamiens les immigrants mongoloïdes venus de la Chine méridionale (les Bai Yue) et s’installant dans le delta du Fleuve Rouge au cours des siècles précédant notre ère mais aussi les fourriers de la civilisation chinoise balayant sur leur passage par la poussée démographique toutes les civilisations brillantes et connues jusque-là sur la péninsule indochinoise (celles de Ðồng Sơn et du Champa plus tard). D’autres pensent que les Vietnamiens sont le résultat de fusion entre plusieurs peuples en contact dans le bassin du Fleuve Rouge parmi lesquels il faut citer les Hmongs, les Chinois, les Thaïs et les Dongsoniens.

En se basant sur leur légende de la pastèque ayant lieu à l’époque des rois Hùng et témoignant de la venue des étrangers d’une race différente qui auraient apporté des graines au Vietnam par la voie maritime ( IIIème siècle avant J. C. ) et sur les fouilles archéologiques confirmant l’existence du royaume de Nan Yue, les Vietnamiens sont convaincus qu’ils étaient issus des Yue mais avec un fonds indonésien probablement par l’intermédiaire des Dongsoniens car le Ðình exhaussé sur pilotis et où réside l’expression la plus vivante de l’âme du peuple vietnamien, ressemble incontestablement à la maison préfigurée sur les tambours de bronze de Đồng Sơn. Cette conviction semble concluante car on trouve aussi d’autres ressemblances étonnantes chez les Vietnamiens comme chez les peuplades indonésiennes: la chique du bétel, le tatouage et le laquage des dents.

À part quelques Français comme Henri Oger ayant pu découvrir dans la société vietnamienne une civilisation millénaire riche en traditions et en coutumes, on continue à se prêter à une confusion hallucinante en considérant que la civilisation vietnamienne est un décalque de la civilisation chinoise. On continue à reprocher aux Vietnamiens de ne pas avoir une civilisation aussi digne, intense et riche que celle qu’on a trouvée auprès des autres peuples d’Indochine (les civilisations khmère et chame) à travers leurs temples d’Angkor et de Mỹ Sơn. C’est une méconnaissance regrettable car pour connaître les richesses de la civilisation vietnamienne, il s’avère indispensable de s’intéresser plutôt à son histoire, à sa littérature qu’à son art.

Comment peut-on avoir un art aussi prodigieux et original lorsqu’on est toujours en lutte perpétuelle avec une nature si rude et impitoyable et lorsque le Tonkin n’est pas d’une richesse exceptionnelle sans parler de la sinisation systématique imposée par les Chinois durant leur mille ans de domination. Malgré cela, les Vietnamiens arrivèrent à montrer à maintes fois leurs techniques, leur savoir-faire et leur imagination qui permirent de conférer à certaines productions vietnamiennes (céramiques en particulier) un rang presque honorable parmi les arts provinciaux du monde chinois. Afin de préserver les traditions et de perpétuer leur culture, les Vietnamiens devaient leur salut dans leur lutte sempiternelle. Grâce à leurs croyances religieuses et à leur environnement quasi hostile au départ, ils avaient en eux un pouvoir considérable de résistance à la souffrance morale et physique qui devenait au fil des années l’une de leurs principales forces pour venir à bout de toutes les agressions extérieures.

Grâce aussi à leur labeur, leur ténacité et leurs sacrifices en vies humaines, ils arrivèrent à refréner les caprices et la colère du Fleuve Rouge, à déboulonner les Chinois hors du Tonkin à maintes reprises et à franchir seulement au XVIIème la barrière qu’est constituée la Cordillère Annamitique impénétrable jusqu’alors dans leur marche vers le Sud. Les Chams étaient les premières victimes de cette confrontation séculaire, suivies par les Khmers. On peut reprocher aux Vietnamiens d’être impitoyables envers les autres peuples mais il ne faut pas oublier que les Vietnamiens ont lutté inexorablement depuis la création de leur nation, pour leur survie et la préservation de leurs traditions.

Les Vietnamiens ont été très désavantagés depuis longtemps par la proximité géographique de la Chine. C’est pour interdire le passage des Mongols de Kubilai Khan dans la conquête du Champa que les Vietnamiens subirent deux fois leurs invasions en 1257 et 1287. C’est pour trouver un passage vers l’empire du Milieu que les Français pensèrent réussir dans un premier temps par le Mékong puis par le fleuve Rouge qui permettait de relier le Yunnan qu’une mission de Doudart de Lagrée suivie par celle de Francis Garnier fut envoyée en Indochine, ce qui permit aux Français de s’intéresser plus particulièrement au Tonkin et d’y intervenir militairement quelques années plus tard.

C’est pour contrer aussi la Chine après la guerre de Corée que les Vietnamiens furent impliqués de force pendant des décennies dans la guerre de confrontation Est-Ouest. C’est aussi pour contrarier la politique de la Chine au Cambodge que les Vietnamiens reçurent une correction en Février 1980 par l’invasion éclair des troupes chinoises à la frontière de Lạng Sơn durant un mois.

Sans leur longue tradition d’indépendance, leur farouche préservation de leur identité et leur forte personnalité, les Vietnamiens auraient disparu depuis longtemps sur la péninsule indochinoise lorsqu’ils sont si proches géographiquement et culturellement de l’empire du Milieu dont la civilisation est non seulement inégalée mais éblouissante aussi depuis quatre mille ans. Le Viêt-Nam serait probablement aujourd’hui une simple province chinoise et un banal avatar de la civilisation chinoise.

Pour ceux qui connaissent bien l’histoire du Vietnam, être Vietnamien, ce n’est pas être si paisible et si cool même si le Vietnamien a l’envie de vouloir l’être. Pétri du limon brun du delta tonkinois dont il est issu, engageant une lutte perpétuelle avec le hargne du Fleuve Rouge, entamant une longue marche vers le Sud par une succession de guerres intermittentes et subissant une longue assimilation et domination des Chinois sans parler d’un siècle de colonisation française et d’une vingtaine d’années le contraignant à devenir contre son gré la cible de la confrontation Est-Ouest et la victime de la guerre froide, le Vietnamien ne se laisse jamais décourager par ces difficultés titanesques.

Par contre, il devient plus aguerri, plus persévérant, plus endurci, plus persuadé dans ses convictions politiques et plus apte à résister vaillamment à ces affronts. Son attachement profond et intime à sa terre natale et à ses traditions le fait devenir intraitable dans la lutte, ce qui fait de lui un conquérant impitoyable et redoutable pour les uns, un défenseur légitime de la liberté et de l’indépendance nationale pour les autres.

Quoi qu’il arrive, il se sent fier de prendre la relève de ses parents pour défendre vaillamment la terre de ses ancêtres et la survie de son peuple et d’être dignement le Fils du Dragon et neveu de l’Immortelle. Mourir pour son pays n’est étranger ni à son tempérament ni à ses traditions. Mais c’est le sort le plus beau, le plus digne d’envie que tant de Vietnamiens comme Trần Bình Trong, Nguyễn Thái Học, Phó Ðức Chính, Nguyễn Trung Trực, Trần Cao Vân etc. ont accepté d’avoir avec bravoure sur cette terre des légendes.

Être Vietnamien,

c’est être capable de résister avant tout à toute assimilation ou idéologie étrangère  et être fier d’avoir dans les veines le sang du Dragon.