La Seine romantique (Sông Seine trữ tình)

La Seine (Sông Seine)

Version française

Version anglaise

Sông Seine là một con sông trữ tình của xứ Pháp chảy qua thủ đô Paris của nước Pháp. Nó có một chiều dài là 776 cây số bắt nguồn từ vùng cao nguyên Langres thuộc tỉnh Côte d’or và đổ ra biển ở thành phố Le Havre. Ai đến Paris, cũng biết đến dòng sông nầy vì nó rất nổi tiếng nhờ các cầu xinh xắn và tuyệt đẹp như Pont des arts, Pont Alexandre III vân vân….

La Seine est le fleuve romantique de la France traversant la capitale Paris. Elle est longue de 776 kilomètres, prend la source au plateau Langres de la Côte d’or et se jette dans la mer à la ville Le Havre. Quiconque venant à Paris a l’occasion de connaître ce fleuve car il est très célèbre grâce à ses jolis ponts comme le pont des Arts, Pont Alexandre III etc.

The Seine is France’s romantic river, flowing through the capital Paris. It is 776 kilometers long, rising on the Langres plateau in the Côte d’Or and flowing into the sea at Le Havre. Anyone coming to Paris has the opportunity to get to know this river, as it is famous for its beautiful bridges, such as the Pont des Arts, Pont Alexandre III, etc.

[Return PARIS et ses sites] 

 

Luang Phra Bang

luangprabang

Luông Pha Bang (Luang Pra Bang)

Version vietnamienne

Luang Pra Bang est une province au nord du Laos d’aujourd’hui. Il y a une époque où Luang Pra Bang était l’ancienne capitale du royaume Lan Xang (Royaume du million d’éléphants) de 13ème siècle jusqu’au 16 ème siècle. Aujourd’hui, elle est la ville que l’organisme international  UNESCO reconnut en 1995 comme le patrimoine mondial au niveau architectural, culturel et religieux.  C’est la ville que j’aime le plus durant mon séjour au Laos.  Quelques sites touristiques dont le touriste ne peut pas se passer sont les suivants: le mont Phousi ou le point culminant de la ville avec 328 marches ,  la pagode Wat Xieng Thong (la pagode de la ville dorée) située au carrefour des fleuves Mékong et Nam Khan, le palais royal Haw Kham, le marché de nuit au cœur de la ville Luang Pra Bang sur l’avenue principale avec tous les produits artisanaux venant de tous les coins du pays, la grotte Pak Ou où sont trouvées  4000 statues de bouddha de toutes les tailles et formes avec une excursion en pirogue motorisée (2 h au minimum) ou le centre traditionnel des arts et d’ethnologie. C’est ici que le visiteur découvre la diversité du peuple Lao ainsi que son mode de vie. Si le visiteur peut  se réveiller tôt, il peut voir à 6 heures précises du matin la procession matinale des bonzes drapés de leurs robes safran, les pieds nus,   leur bol d’aumône traditionnel accroché en bandoulière, marchant en file indienne par un groupe de 10 ou 20 personnes au son des clochettes pour demander aux dévots de mettre dans leur sébile tout ce que ces derniers veulent leur donner.  Il faut compter au moins deux jours pour visiter tous les sites énumérés ci-dessus.

Luangprabang

No Images found.

Version vietnamienne

Luông Pha Băng là một tỉnh thuộc về miền bắc của nước Lào ngày nay. Có một thời Luông Pha Băng còn là cố đô của vương quốc Lan Xang hay là vương quốc của triệu con voi trong suốt thời kỳ từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 16. Nay chỉ là một thành phố mà được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1995 về kiến trúc, văn hoá và tôn giáo. Đây là một thành phố mà tớ rất thích khi có dịp tham quan xứ Lào. Có những điểm mà du khách không thể bỏ qua được đó là núi Phú Sĩ nơi cao nhất ở cố đô, chỉ có 328 bậc cũng xem xem với 384 bậc thang của Việtnam, nơi có cờ ở Lũng Cú (Hà Giang), chùa Wat Xieng Thong (hay chùa của thành phố vàng) ở  ngã ba sông Cửu Long và Nam Khạn, cung điện Hoàng Gia (Haw Kham), chợ đêm ở trung tâm thành phố bán rất nhiều đổ thủ công mỹ nghệ, động Pak Ou có đến 4000 pho tượng Phật đủ dạng và đủ kích thước mà muốn đến đây phải đi ngược dòng sông Mékong bằng thuyền mất 2 tiếng hay là trung tâm nghệ thuật và dân tộc học có hai tầng. Chính ở nơi nầy du khách sẻ thấy được sự đa dạng sắc tộc Lào cũng như lối sống của người dân Lào.  Nếu du khách có thể  thức sớm thì xem được buổi diển hành qua thành phố của các nhà sư mặc áo cà sa màu vàng cam, vai để trần, đi chân đất, lần lượt đi qua phố, để người dân nào cũng đến lượt dâng tặng thức ăn, đó là lễ khất thực được diễn ra buổi sáng vào lúc 6 giờ. Muốn tham quan tất cả điểm nầy cũng mất hai ngày đấy.     

 

Paris sous les ombres (Photos)

Paris sous les ombres (Paris dưới bóng râm)
C'est l'une des arcades superbes de la place des Vosges.
Đây là một trong bốn mái vòm lộng lẫy của quảng trường Place des Vosges ở Paris.


C'est le couloir des bâtiments situés au long de la rue de Rivoli.
Đây là hành lang dài của đường Ruvoli.

Paris sous les ombres

ombre_Paris

Grotte Ngườm Ngao (Động Ngườm Ngao)

Version française

English version

Động Ngườm Ngao là một hang động nằm cách xa thác Bản Giốc gần 5 cây số. Trong ngôn ngữ người dân Tày, ngườm có nghĩa là hang còn ngao thì là hổ hay cọp. Như vậy ngườm ngao có nghĩa là hang cọp. Chắc nơi nầy một thời  có cọp ở nhiều lắm theo truyền thuyết. Nhưng có một lý do khác giải thích rằng tiếng nước chảy thường xuyên trong hang tựa như tiếng gầm rú của cọp.  Hang nầy được các viên chức Pháp tìm thấy lúc khi họ viếng thăm thác Bản Giốc vào năm 1921 .   Động nầy có ba cửa vào: Ngườm Ngao, Ngườm Lồm và Bản Thuồn phiá sau núi thuộc Bản Thuồn. Theo tài liệu của hội khảo sát hoàng gia Anh, Ngườm ngao có một chiều dài lên đến 2144 thước. Trong hang có nhiều ngóc ngách chỉ vừa một người đi lọt qua và cần phải cúi đầu vì trần hang quá thấp, rất nguy hiểm nếu không để ý.

La grotte Ngườm Ngao  est située à 5 kilomètres  de la chute d’eau Bản Giốc. Dans le langage des Tày, Ngườm signifie grotte et Ngao tigre. Ngườm Ngao c’est la grotte des tigres. Probablement les tigres y vivaient nombreux à une époque lointaine selon la légende Tày. Mais on trouve une autre explication: le ruissellement fréquent  de l’eau dans la grotte ressemble au son provoqué par le rugissement du tigre.  Elle fut découverte par les fonctionnaires français lors de leur visite à la chute d’eau Bản Giốc en 1921. Elle a trois entrées principales: Ngườm Ngao, Ngườm Lồm et Bản Thuồn située derrière la montagne. Selon les documents de la Société Géologique de Londres, Ngườm Ngao a une longueur plus de 2144 mètres. Dans cette grotte il y a tellement des recoins permettant le passage d’une seule personne . Comme le plafond de la grotte est tellement bas dans ces recoins qu’il faut courber la tête. C’est très dangereux si on ne fait pas attention à cette lacune.

The Ngườm Ngao cave is located 5 kilometers from the Bản Giốc waterfall. In the Tày language, Ngườm means cave and Ngao means tiger. Ngườm Ngao is the cave of tigers. According to Tày legend, tigers probably lived there in large numbers in a distant past. But there is another explanation: the frequent dripping of water inside the cave resembles the sound produced by a tiger’s roar. It was discovered by French officials during their visit to the Bản Giốc waterfall in 1921. It has three main entrances: Ngườm Ngao, Ngườm Lồm, and Bản Thuồn located behind the mountain. According to documents from the London Geological Society, Ngườm Ngao is more than 2,144 meters long. Inside this cave, there are many narrow passages that allow only one person to pass through. Since the cave ceiling is so low in these passages, one has to bend their head. It is very dangerous if one is not careful of this hazard.

NGUOM NGAO

Galerie des photos

 

 

Yên Bái (Nguyễn Thái Học- Cô Giang)

Version française
Chàng thì tuổi trẻ tài ba
Chết vì đất nước đúng là nam nhi
Nàng thì thân liễu sá chi
Chết vì tình nghĩa đáng ghi muôn đời 

© Đặng Anh Tuấn

Không tựa như các thành phố khác của Việt Nam, Yên Bái không có một nét quyến rũ nào về du lịch. Đây chỉ là một thủ phủ của một tỉnh, một thị trấn  nằm ven sông ở thung lũng sông Hồng giữa con đường đi từ Hà-Nội đến biên giới Trung Quốc (Lào Cai). Tuy nhiên Yên Bái vẫn tiếp tục nổi bật trong quá khứ bởi cuộc kháng chiến vũ trang do những người theo chủ nghĩa dân tộc Việt cầm đầu trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Nó không chỉ thể hiện sự hy vọng của những người dân Việt  giành lại tự do bằng vũ lực mà còn là sự hiên ngang dũng cảm của những người nầy khi đối diện với cái chết sau sự thất bại của cuộc nổi dậy vào năm 1930. Chúng ta phải đặt mình vào bối cảnh chính trị ở thời gian này để hiểu được không những nguyên nhân của cuộc nổi dậy này mà còn sự khát vọng sâu sắc của người dân Việt giành lại độc lập sau sự thất bại của cụ Phan Chu Trinh, nguời  mà đặc ưu tiên cho việc tiến bộ xã hội trên độc lập chính trị, tiếp theo đó là sự ra đi vĩnh viển của ông và việc quản thúc tại gia của một nhà lãnh đạo khác, cụ Phan Bội Châu ở  Huế bởi chính quyền thực dân.

Bất chấp lời cảnh báo của đại tá Parfait-Louis Monteil vào năm 1924, ít có cải cách được thực hiện có lợi cho người bản xứ. Mặt khác, việc khai thác nhân công rẻ tiền ở các đồn điền cao su là việc ưu tiên hàng đầu và tột bật. Nhà văn hào người Pháp Roland Dorgelès đã nói đến việc nầy  trong  quyển sách mang tựa đề  « La Route Mandarine (Con đường cái quan) ».

Vùng đất  hoang này, khi nó được biết đến trong cơn sốc, tỏa ra hơi thở của người chết. Càng nhiều lối đi thỉ càng nhiều ngôi mộ được mở ra. Những cây cao su mảnh khảnh và thẳng hàng trồi lên khỏi mặt đất tựa như những hàng cây thập tự. Người chết sẽ lên tới hàng chục ngàn người vì bệnh hay suy dinh dưỡng. Đây là lý do tại sao người ta  không ngớt phàn nàn qua  bài thơ sau đây:

Kiếp phu đỗ lắm máu đào
Máu loang mặt đất máu trào mủ cây
Trần gian địa ngục là đây
Ðồn điền đất đỏ nơi Tây giết người.

Suốt nửa thế kỷ, những người chủ đồn điền  trên vùng đất nầy đã thu thập mủ cao su mà họ biến lại thành vàng. Chính trong những đồn điền này, mầm móng của các cuộc nổi dậy đã được hình thành. Một số người như Nguyễn Văn Viên đã tìm cách thoát khỏi địa ngục này và  gia nhập  sau  đó vào Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Để thể hiện lòng nhiệt thành và gây ra tiếng vang thuận lợi trong  giới  nghèo, đặc biệt là ở các đồn điền cao su, bất chấp sự miễn cưỡng của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Văn Viên đã chủ động ám sát Bazin được biết ông nầy có  nhiệt tình trong việc tuyển dụng các người cu li và gữi họ sau đó đến các đồn điền cao su ở miền nam Việt Nam. Cái chết của Bazin  đã cho chính quyền thực dân có cơ hội để khởi động lại chính sách đàn áp toàn diện.

Mù Cang Chải (Yen Bái)

Do đó,  Việt Nam quốc dân đảng  đã trở thành mục tiêu chính trong cuộc đàn áp nầy. Đảng nầy không còn có khả năng di chuyển dễ dàng nữa. Nếu không phản ứng, thì sẽ là một cái chết chậm rãi vì tất cả các thành viên của đảng sẽ bị chính quyền thực dân bắt giữ sớm hay muộn. Nếu phản ứng với cuộc nổi dậy thì biết rằng đây sẽ là một vụ tự sát tập thể, mạo hiểm và mẫu mực. Đây là lý do tại sao Nguyễn Thái Học thường nói với các bạn đồng hành:

Ðại hà chi thanh, nhân thọ kỷ hà?
Ðợi sông Hoàng Hà trong trở lại, đời người thọ là bao?

Hình Nguyễn Thái Học ở nhà tù

Theo người Trung Hoa, sông Hoàng Hà chỉ có  trong lại  cứ sau ba trăm năm. Nguyễn Thái Học biết rất rõ anh ta sẻ đưa đồng đội của mình đến cái chết hiển nhiên. Anh biết không thể đợi thêm được nữa. Nhưng cái chết này có vẻ hữu ích vì nó nhắc nhở với người dân Việt rằng không có sự lựa chọn nào khác ngoài cuộc đấu tranh. Nó cũng đánh dấu sự khởi đầu của nhận thức và  thức tỉnh của cả một dân tộc trước số phận của họ mà được dẫn dắt cho đến giờ bởi những người thừa kế không xứng đáng của triều đại Nguyễn (Khải Định, Bảo Đại). Cuộc nổi dậy  ở Yên Bái là một thất bại không thể chối cãi bởi vì hầu hết các nhà lãnh tụ quốc gia đều bị bắt giữ.

Trái lại, nó đặt một cơ sở vững chắc và lâu dài mà từ đó đảng Cộng sản Việt Nam được hưởng lợi để thiết lập quyền lực và có được uy tính với người dân trong những năm tới để giành độc lập. Nó cũng là hồi chuông báo tử cho một đế chế thực dân đã mất đi nhiều cơ hội để thiết lập lại cuộc đối thoại và hợp tác với người dân bản xứ. Điều này dẫn đến việc tử hình tất cả các nhà lãnh đạo quốc gia. Nguyễn Thái Học là người cuối cùng bị xử chém. Trước khi bị xử tử, anh ta rất thản nhiên. Mặc dù kiệt sức ở trong tù, anh ta cố gắng hét to lên  bằng tiếng Pháp:

Chết vì tổ quốc
Chết vinh quang
Lòng ta sung sướng
Trí ta nhẹ nhàng…

Rồi hiên ngang nằm xuống nhìn máy chém không xúc động. « Hoan hô Việt Nam », đây là những tiếng được nghe anh phát biểu trước khi qua đời. Máu của anh  tung tóe khắp nơi dưới một bầu trời đen tối buồn thảm. Đầu của anh  thì rơi vào một cái xô chứa mùn cưa. (17 tháng 6 năm 1930). Anh ta chỉ mới có 27 tuổi. Trung thành với truyền thống Việt Nam, vợ của anh,  Nguyễn Thị Giang không trì hoãn để theo gót chân anh bằng cách tự sát vào ngày hôm sau (18 tháng 6 năm 1930) tại một nhà trọ nơi mà họ thường gặp nhau trước khi kết hôn. Nàng để lại một lá thư mà  có những câu văn, minh họa cho tình yêu bất diệt  mà nàng dành cho anh và đất nước:

Sống nhục sao bằng sự thoát vinh
Nước non vẹn kiếp chung tình
………
Cuộc đời xá kể chi thành bại
Trai trung thì gái phải trinh

Thi thể của mười ba lãnh tụ quốc gia nầy được chôn cất vào ngày hôm sau trên một ngọn đồi gần ga Yên Bái.

Nếu thành phố này ít được người biết đến  so với các thành phố  khác của Việt Nam, nó thể hiện ngược lại cái gì mà không có  thành phố nào có thể có. Nó biểu tượng sự trưởng thành và phẩm giá của cả một dân tộc tìm lại được  trước vận mệnh đất nước. Nó hiên ngang lớn mãi trong quá khứ cùng toàn dân Việt  Nam trong công cuộc tranh đấu giành độc lập.

Việt Nam Quốc dân Đảng

Vọng Các (Venise de l’Orient)

Version française

Nằm ở đồng bằng Menam, thủ đô Bangkok được gọi là « Venise của phương Đông » và được biết đến trong kỷ lục Guinness là thành phố có tên dài nhất thế giới. Nó  nằm cách biển khoảng 30 cây số  và được đặc trưng bởi vô số kênh rạch (khlongs). Chính quyền  đang cố gắng lấp các kênh nầy để  biến thành đường phố nhầm đem lại một giải pháp cho vấn đề giao thông xe hơi ở Vọng Các. Nơi này thông thường hay bị ngột ngạt và chịu rất nặng nề về ô nhiễm hàng ngày. Dân số chính thức của thành phố nầy đã tăng trong năm 2010 lên tới 8.2 triệu dân. ĐếnVọng Các, không có du khách nào quên ghé thăm cung điện hoàng gia nơi mà có nhà cầu nguyện có chứa Đức  Phật Ngọc,  thần phụ hộ của Thái Lan và chùa Wat Traimit với tượng phật vàng nặng đến 5,5 tấn (trong khu Tàu).

Vong_cac

[Trở về trang Thái Lan]

Mù Cang Chải (Yên Bái)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Đây là một huyện nằm vùng cao của tỉnh Yên Bái, cách xa Hà Nội gần 300 cây số hướng đi về Tây Bắc và cũng là nơi có các dân tộc thiểu số như Tày, Dao và Hmong. Nhìn về lich sử, Yên Bái cũng là nơi mà đảng trưởng Nguyễn Thái Học cùng 12 nhà cách mạng khác của đảng Việt Nam Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp xử trảm trong đó có Phó Đức Chính can đảm khí khái hiên ngang nhìn máy chém trước khi chết. Nay Mù Cang Chải là điểm ưa thích nhất của những ai thích săn ảnh và yêu chuộng thiên nhiên. Muốn đến đây, đường xá cheo leo vất vã lắm không thua chi Hà Giang, Cao Bằng một là thuê xe máy như các anh chàng tây ba lô hai mướn ô tô như mình mới có thể săn hình được nhất là phải đi con đường của các nhà săn hình (route des photographes) phải đi ngang qua thị xã Nghĩa Lộ, đổ đèo Khau Phạ (Sừng Trời có nghĩa là Sừng nó nhô đến tận Trời) , một trong bốn đèo huyền thoại của Tây Bắc như Mã Pín Lèng của Hà Giang, đường đi có độ dài 30 cây số lúc nào cũng có sương mù và hai phần ba đường ngập nghềnh sỏi đá.

Cũng trên đường đi nầy sẻ đi ngang Tú Lệ, nơi nổi tiếng có cốm Tú Lệ, một loại lúa nếp xanh đầu mùa có một hương vị dẻo thơm, một món ăn tinh hoa của vùng đất nầy. Mù Cang Chải có hai mùa đẹp nhất đó là mủa nước đổ và mùa lúa chín. Với mùa thác đổ, nước được dẫn đến các bậc thang qua các ống tre để cho đất mềm và để cho bà con có thể cấy lúa. Những bậc thang óng ánh với nước, phản chiếu sắc trời khiến tạo một dấu ấn đặc biệt của vùng Tây Bắc. Còn giữa tháng chín và tháng mười đó là mủa lúa chín. Đó cũng là lúc lúa đã ươm vàng hay chín khiến tạo với một bầu trời xanh của mùa thu một khung cảnh hùng vĩ của đất trời khiến ít có ai mà không muốn lưu lại những khoảnh khắc đẹp của thiên nhiên với những bậc thang bát ngát và mênh mông nhất là với các đồi mâm xôi của xã Lã Pán Tấn. Phải nói mình có duyên với cuộc hành trình nầy ở Mù Cang Chải, Sapa. Trước hết phải cám ơn cháu Trung và cháu Ngân giúp chú mướn ô tô để cuộc hành trình nầy được hoàn hảo nhất với cháu tài xế Huân không bao giờ biết than thở, lúc nào cũng vui vẽ trầm lăng và lúc nào mạo hiểm cùng mình đi những nơi mà nghĩ lại đáng sợ nhất là ngày đầu đến Mù Cang Chải, đường sạt lở eo hẹp chỉ một chiếc ô tô đi được với một cơn mưa nguyên buổi chiều tối để đến một khách sạn cheo leo ở giữa những các bậc thang lúa chín. Tại sao mình dám táo bạo như thế vỉ mình nghỉ lúc nào con người có số mạng cả, muốn chết cũng không dễ và cũng như người Phật tử thường nói còn tùy  duyên nửa mình có hay không với mãnh đất nầy. Đến rồi mới thấy Quê Hương Việt Nam quá đẹp qúa mộng mơ [Đọc tiếp phần 2]

Version française

Loin de la capitale Hanoi à peu près de 300 kilomètres dans la direction nord-ouest du Vietnam, Mù Cang Chải est le district de la région montagneuse de Yên Bái. C’est aussi le lieu où il y a une forte concentration des minorités ethniques (les Tày, les Dao et les Hmongs). D’un point de vue historique, Yên Bái est aussi l’endroit où les colonialistes français ont guillotiné dans le passé le leader Nguyễn Thái Học en même temps que ses douze autres membres nationalistes parmi lesquels figurait Phó Đức Chính. Très courageux, celui-ci préférait de voir en face la guillotine avant d’être décapité. Aujourd’hui Mủ Cang Chải devient le lieu préféré non seulement par les photographes amateurs mais aussi par ceux qui aiment la nature. La route est très accidentée et sinueuse. Pour venir ici, il faut louer soit un scooter comme les randonneurs soit une voiture avec un conducteur. C’est la dernière solution que j’ai choisie durant mon voyage à Mủ Cang Chải afin de me permettre d’être sur la route des photographes en passant par la ville Nghĩa Lộ et par le col Khau Pha, l’un des quatre cols légendaires de la région Nord-Ouest. Long de 30 kilomètres, ce col Khau Pha est toujours couvert par les nuages et les deux tiers de son parcours sont des chemins caillouteux et tortueux.

C’est sur cette route qu’on arrive à Tú Lệ connu pour son riz vert du début de la saison (cốm) avec une saveur parfumée et glutineuse, un plat typique de cette région. Mù Cang Chải a deux belles saisons: celle où l’abondance de l’eau provient de la montagne et de la pluie et celle où le riz paddy est récolté. Durant la période d’abondance d’eau, on réussit à ramener l’eau venant de la montagne par des conduits en bambou jusqu’aux rizières en terrasses afin de rendre ces dernières plus molles pour faciliter le repiquage. Mélangées avec de l’eau et réfléchies par la couleur du ciel, les rizières en terrasses ont donné une empreinte caractéristique de la région Nord-Ouest du Vietnam. Entre la mi-septembre et le mois d’Octobre, c’est la période où les épis de riz sont mûrs et prennent la couleur jaune, ce qui donne avec la couleur du ciel azur un spectacle grandiose qu’il est difficile de retenir  en ces instants magiques de la nature lorsqu’on est en face des rizières en terrasses en forme des plateaux (mâm xôi) de Lã Pán Tấn. Il faut reconnaître que j’ai la chance d’avoir ce voyage à Mù Cang Chải et Sapa. D’abord je dois remercier le manager de l’hôtel Rising Dragon Hôtel Mr Trung et sa collaboratrice Ngân toujours prompts à venir m’aider dans la réalisation de mes projets de voyage (Mù Cang Chải, Sapa et Japon). J’ai aussi la chance d’avoir à mes côtés un jeune chauffeur Huân toujours silencieux et jovial.

Il ne se plaint jamais et a toujours l’audace de me suivre et à m’emmener dans des endroits presque inaccessibles lorsqu’il fait nuit et il pleut beaucoup le premier jour de notre arrivée à Mù Cang Chải avec les chemins de terre à deux sens et réservés pour une voiture pour aller à un hôtel écologique perdu à 8 kilomètres de la ville au milieu des champs de rizières en terrasses.

[Lire la suite. Partie II]

English version

Far from the capital Hanoi, about 300 kilometers northwest of Vietnam, Mù Cang Chải is a district in the mountainous region of Yên Bái. It is also the place where there is a high concentration of ethnic minorities (the Tày, the Dao, and the Hmongs). From a historical point of view, Yên Bái is also the place where the French colonialists guillotined the leader Nguyễn Thái Học in the past, along with his twelve other nationalist members, including Phó Đức Chính. Very brave, he preferred to face the guillotine before being beheaded. Today, Mù Cang Chải has become a favorite place not only for amateur photographers but also for those who love nature. The road is very rugged and winding. To come here, you must either rent a scooter like hikers or a car with a driver. This is the last option I chose during my trip to Mù Cang Chải to allow me to be on the photographers’ route passing through the town of Nghĩa Lộ and the Khau Pha pass, one of the four legendary passes of the Northwest region. The Khau Pha pass, 30 kilometers long, is always covered by clouds, and two-thirds of its route consists of rocky and winding paths.

It is on this road that you arrive at Tú Lệ, known for its early season green rice (cốm) with a fragrant and glutinous flavor, a typical dish of this region. Mù Cang Chải has two beautiful seasons: one when the abundance of water comes from the mountains and rain, and the other when the paddy rice is harvested. During the period of water abundance, water from the mountains is successfully brought through bamboo conduits to the terraced rice fields to make them softer and facilitate transplanting. Mixed with water and reflected by the color of the sky, the terraced rice fields have created a characteristic imprint of the Northwest region of Vietnam. Between mid-September and October, it is the period when the rice ears are ripe and turn yellow, which, combined with the azure sky, gives a magnificent spectacle that is hard to forget in those magical moments of nature when facing the terraced rice fields shaped like the plates (mâm xôi) of Lã Pán Tấn. I must acknowledge that I am fortunate to have this trip to Mù Cang Chải and Sapa. First, I must thank the manager of the Rising Dragon Hotel, Mr. Trung, and his collaborator Ngân, who are always quick to help me realize my travel projects (Mù Cang Chải, Sapa, and Japan). I am also lucky to have by my side a young driver, Huân, who is always silent and cheerful.

He never complains and always has the audacity to follow me and take me to almost inaccessible places when it is night and raining heavily on the first day of our arrival in Mù Cang Chải, with the two-way dirt roads reserved for one car to go to an eco-hotel lost 8 kilometers from the town in the middle of the terraced rice fields.

[Reading more. Part II]

 

Làng cổ Oshino Hakkai (Nhật Bản)

 

Oshino Hakkai (Nhật Bản)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Sáng nay, ngày thứ tư, mình được cùng phái đoàn được viếng thăm một làng cổ trứ danh của nước Phù Tang ở dưới chân núi của núi Phú Sĩ  thuộc về  tỉnh Kanagawa cách xa thủ đô Tokyo 116 cây số trong khu vực ngũ hồ. Cũng như làng cổ Đường Lâm ở miền bắc Viêt Nam, Oshino Hakkai không những là một ngôi làng cổ thuần túy với phong cách kiến trúc ở thời kì Edo mà còn có vẽ đẹp thanh bình hoà hợp với môi trường. Nét đẹp của làng cổ thanh bình nầy đuợc thấy qua các mảnh vườn trồng rau, ngô, chè xanh và các khu vườn cây thông bao quanh các ngôi nhà mái lá cùng các buị bông ven đường. Ở đây còn sót lại 8 hồ nhỏ được  tạo ra ở thời kì núi Phú Sĩ còn phun lửa. Dân cư ở đây phần đông làm ruộng nhưng rất giàu có chỉ nhìn qua các nhà họ xây dựng. Nhờ kiến trúc cá biệt, làng nầy được công nhận là một di sãn thế giới vào năm 2013 bởi UNESCO. Tuy nhiên đến đây khó mà chụp ảnh vì người dân ở đây họ muốn giữ cái yên tĩnh họ đã có từ bao nhiêu năm nay.

Le village antique d’Oshino Hakkai 

Ce matin, au quatrième jour de mon voyage au Japon, j’ai eu l’occasion de visiter avec mon groupe touristique, un village antique très connu au Japon situé au pied du mont Fuji dans la zone de cinq lacs de la province Kanagawa et loin de la capitale Tokyo de 116 kilomètres. Analogue au village ancien Đường Lâm (Sơn Tây) dans le nord du Vietnam, Oshino Hakkai est un village très ancien. Il se distingue non seulement par son caractère authentique avec son style d’architecture de l’époque Edo mais aussi par son charme paisible en harmonie avec l’environnement. On trouve son attrait à travers ses jardins potagers (légumes, maïs, théier etc.) et ses parcs de pins bonsaï autour de ses maisons aux toits de chaume. Ici il reste 8 petits lacs crées au moment de l’éruption du volcan Fuji.  Sa population est constituée essentiellement par les agriculteurs qui sont assez riches. Grâce à son architecture singulière, le village Oshino Hakkai fut reconnu en 2013 par UNESCO comme le patrimoine mondial culturel du Japon. Malgré sa réputation, il est difficile pour un touriste de faire des photos car ses habitants n’apprécient pas le regard des touristes et n’aiment pas à être dérangés non plus dans leur quiétude.

The ancient village of Oshino Hakkai

This morning, on the fourth day of my trip to Japan, I had the opportunity to visit with my tour group a very famous ancient village in Japan located at the foot of Mount Fuji in the Five Lakes area of Kanagawa Prefecture, 116 kilometers away from the capital Tokyo. Similar to the ancient village of Đường Lâm (Sơn Tây) in northern Vietnam, Oshino Hakkai is a very old village. It stands out not only for its authentic character with its Edo period architectural style but also for its peaceful charm in harmony with the environment. Its appeal lies in its vegetable gardens (vegetables, corn, tea plants, etc.) and its bonsai pine parks around houses with thatched roofs. Here remain 8 small lakes created at the time of Mount Fuji’s eruption. Its population mainly consists of farmers who are quite wealthy. Thanks to its unique architecture, the village of Oshino Hakkai was recognized in 2013 by UNESCO as a cultural world heritage site of Japan. Despite its reputation, it is difficult for tourists to take photos because the inhabitants do not appreciate the gaze of tourists and also do not like to be disturbed in their tranquility.

Pictures gallery

[RETURN JAPAN]

La tristesse de l’automne doré (Buồn tàn thu)

Buồn tàn thu (La tristesse de l'automne doré)
Buồn tàn thu.
La tristesse de l’automne doré


Với năm tháng qua dần, mùa thu đã chết bao lần
Thôi tình ta đấy tựa như thu tàn với lá vàng rơi trên đường...

Au fil des années et des mois, l’automne est mort tant de fois
Notre amour ressemble ainsi à sa fin avec les feuilles jaunes et flétries tombant sur le chemin….

Over the years and months, autumn has died so many times
Our love thus resembles its end with yellow and withered leaves falling on the path

Galerie des photos

automne_doré

Thu về rải rác lá vàng
Một mình lặng lẽ lang thang trên đường….

Pont Alexandre III (Cầu Alexandre III)

Pont d’Alexandre III

Version vietnamienne

C’est le pont le plus joli enjambant la Seine romantique entre les quartiers 7 et 8 de Paris. Ce pont a été construit en même temps que les ouvrages architecturaux « Petit Palais » et « Grand Palais » à l’occasion de l’exposition universelle de Paris en 1900. C’est aussi le cadeau offert par le tsar Alexandre III à la France pour sceller l’amitié entre les deux peuples russe et français. Le tsar a demandé aux deux architectes Cassien-Bernard et Gaston cousin ainsi que deux ingénieurs Jean Résal et Amédée d’Alby d’assumer la réalisation. Aujourd’hui, ce pont est reconnu par UNESCO comme le patrimoine mondial et visité par la plupart des touristes étrangers.

Cầu Alexandre Đệ Tam 

Đây là một cái cầu đẹp nhất bắc qua sông Seine trữ tình giữa hai quận 7 và 8 của Paris. Cầu nầy được xây cất cùng hai công trình Petit Palais và Grand Palais nhân dịp có cuộc triển lãm thế giới năm 1900 ở Paris. Nó cũng là món quà tặng của sa hoàng Alexandre III để siết chặt tình hữu nghị Nga và Pháp và được giao cho hai kiến trúc sư Cassien-BernardGaston Cousin cùng hai hai kỹ sư Jean Résal và Amédée d’Alby đảm nhiệm. Nay được UNESCO công nhận là di sản thế giới.