Menton (Côte d’azur)

 

Thành phố Menton (Côte d’Azur)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Được gọi là ngọc trai của nước Pháp,  Menton là một thành phố nằm trên bờ biển Địa Trung Hải ở phía đông nam nước Pháp. Nơi đây nổi tiếng với những bãi biển tuyệt đẹp. Nằm trên sườn đồi, khu phố cổ thời trung cổ của thành phố là nơi tọa lạc của vương cung thánh đường Michel-Archange với tháp chuông  có từ thế kỷ 18 và nhà nguyện trắng Penitents với mặt tiền được trang trí lộng lẫy. Nhờ di sản kiến ​​trúc và thực vật, điều này mang lại cho Menton nhãn  hiệu « Thành phố nghệ thuật và lịch sử » vào năm 1991.

Version française

Étant connue comme la perle de la France, Menton  est une ville située sur la rive méditerranéenne (Côte d’Azur), dans le sud-est de la France. Elle est réputée pour ses plages. Située sur les pentes de la colline, sa vieille ville médiévale abrite la basilique Saint-Michel Archange avec son clocher du XVIIIème  siècle, et la chapelle des Pénitents blancs à la façade superbement  décorée. Grâce à son patrimoine architectural et botanique, cela lui donne le label « Ville d’Art et d’Histoire » en 1991.

Version anglaise

Known as the pearl of France, Menton is a town located on the Mediterranean coast (French Riviera), in the southeast of France. It is renowned for its beaches. Situated on the slopes of the hill, its medieval old town houses the Basilica of Saint Michael the Archangel with its 18th-century bell tower, and the Chapel of the White Penitents with its beautifully decorated facade. Thanks to its architectural and botanical heritage, it was awarded the label « City of Art and History » in 1991.

Galerie des photos

No Images found.

[Return VILLES DE FRANCE]

Le palmier à sucre

Le palmier à sucre (Cây Thốt Nốt)

Version vietnamienne
Version anglaise
Galerie des photos

Analogue au cocotier caractérisant le paysage agraire des régions côtières et deltaïques du Viet Nam, le palmier à sucre est visible surtout  dans les régions frontalières du Vietnam avec le Cambodge. Cet arbre joue un rôle important dans l’économie de la province d’An Giang, en particulier dans ses districts Tịnh Biên et Tri Tôn  et fournit la moitié du sucre consommée par la population locale. Il est appelé sous le nom de « thnot »  par les Khmers qui en ont fait leur arbre national tandis que nous le nommons « cây thốt nốt ». Le palmier à sucre est sans doute originaire du royaume du sud de l’Inde. C’est pour cela  qu’au moment des échanges commerciaux de ce dernier avec  les royaumes indianisés de l’Asie du Sud Est (Thaïlande, Birmanie, Laos, Cambodge, Champa) que s’est développée la culture du Borassus  (nom scientifique donné à ce palmier à sucre). Faisant partie de la famille des palmiers, le Borassus apprécie beaucoup  les sols fertiles des diguettes où les couches d’humus nées de l’amoncellement de la boue  et des mauvaises herbes favorisent sa croissance  et il peut vivre jusqu’à 150 ans. Son tronc peut atteindre jusqu’à 35 mètres mais la hauteur moyenne des individus varie entre 18 et 35 m, ce qui lui donne une allure filiforme à l’âge adulte. Par contre son tronc est renflé à la base (1m au maximum pour le diamètre).

La surface du tronc est rugueuse et de couleur gris cendré.  On peut récolter le jus du palmier lorsque ses spécimens sont  âgés de plus de 15 ans et ils ont une hauteur de 9 à 10m. C’est le moment préféré des paysans grimpeurs: l’arbre est facile à exploiter. Au-delà de 80 ans, il est risqué de continuer la récolte car l’arbre devient trop haut, les risques  de chute devenant plus fréquents. L’adolescence du palmier à sucre est donc relativement longue, mais lorsqu’il atteint l’âge adulte il peut être exploité pendant cent à cent vingt cinq ans. On a constaté que seule la hauteur de l’arbre limite la durée réelle de cette exploitation. Par contre les grimpeurs expérimentés continuent rarement leur métier au-delà de 40 ans car au-delà  des  maux particuliers liés à leur profession  comme les rhumatismes du genou, il y a le risque d’être handicapé facilement lorsqu’on n’est plus habitué à grimper sur le palmier avec adresse. Pour récolter la sève du palmier à sucre, la réalisation doit avoir lieu uniquement à la saison sèche (de décembre à fin mai). On peut le faire 2 fois par jour, le matin et le soir. Chaque arbre peut fournir jusqu’à 600 litres de sève en une saison, ce qui représente 90 kilos de sucre après transformation.

La sève doit être  extraite  des fleurs blanches ou jaunes se trouvant au sommet de l’arbre, leur  période de floraison étant toujours au printemps et en été. Pour y arriver, le paysan grimpeur doit recourir à une échelle en bambou.  Puis il doit faire une incision dans la tige de la fleur mâle  ou femelle à l’aide d’un couteau spécifique pour faire sortir la sève qu’il recueille au moyen des tubes en bambou. Puis il doit la transformer en sucre  dans les deux heures qui suivent la collecte  s’il ne veut pas nuire à sa qualité à cause de la fermentation qui peut être ralentie avec  des tanins de bois. Normalement, le jus du palmier à sucre a une couleur blanchâtre, un goût sucré, gras, légèrement fermenté  et aigre. En prenant le jus du palmier à sucre pour la première fois, beaucoup de gens pensent qu’il n’est pas vraiment  pur à cause du léger goût de fermentation.  Ce processus de transformation continue à empirer  au fil de la journée si  les conditions de conservation ne sont pas  bonnes.  C’est pourquoi il est obligé de la transformer immédiatement en sirop. Pour cela, le jus doit être  filtré et cuit durant trois heures  dans un vaste  chaudron  avant d’être battu d’une manière  ininterrompue avec un outil en bois traditionnel pour concrétiser la cristallisation. Il sera ensuite tamisé ensuite dans le but d’obtenir une texture cristalline.

Le rônier est une plante à multiple usages. On peut se servir de son  sucre transformé  dans la préparation des plats  destinés aux diabétiques car son indice glycémique est moins élevé que celui des autres sucres.  Son jus est considéré comme une boisson agréable à prendre  car il a un goût acidulé et il devient après quelques heures de fermentation un vin à la saveur fumée. Ses fruits peuvent être consommés frais. Les marchands ambulants  vietnamiens d’origine khmère ont l’habitude de proposer au marché des  gâteaux au palmier à sucre connus sous le nom « akao». La région des Sept Montagnes (Thất Sơn, An Giang) est depuis longtemps réputée  pour ses vastes forêts de palmiers rôniers, une espèce d’arbre étrange qui ne produit des fruits qu’après 15 ans d’existence. Pour les habitants d’ici, le palmier rônier est non seulement une image familière, mais aussi la principale source de revenus pour  de nombreuses familles vietnamiennes. Le palmier rônier est associé au travail pénible et dangereux des grimpeurs. Dès l’aube, les habitants d’ici grimpent sur les imposants palmiers rôniers au risque de leur vie pour extraire  de la  sève  dans la fabrication du sucre et pour cueillir des fruits à vendre  dont la couleur est verte lorsqu’ils sont jeunes et deviennent noirs à maturité.

Nous savons aussi que ce travail est réservé aux pauvres. En faisant le va-et-vient plusieurs fois par jour sur le palmier rônier, le grimpeur  pourra perdre sa vie s’il n’y prend garde. On constate que notre pays a tellement des gens pauvres. Étant un touriste de passage dans cette région, je suis satisfait de pouvoir boire un verre de jus de palmier à sucre  au bord de la route mais en apprenant  en même temps le travail  que le paysan grimpeur accepte de prendre tous les jours au risque de sa vie, cela me fait beaucoup de peine.
Version vietnamienne

Tương tự như cây dừa đặc trưng cho cảnh quan nông nghiệp của vùng ven biển và đồng bằng châu thổ của Việt Nam, cây thốt nốt được nhìn thấy ở các vùng biên giới của Việt Nam với Cao Miên. Cây này giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh An Giang, đặc biệt là ở các huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, và cung cấp một nửa số lượng đường tiêu thụ của người dân địa phương. Người Khơ Me gọi nó là « thnot », họ đã biến nó thành cây tiêu biểu quốc gia của họ, trong khi chúng ta gọi nó là « cây thót nốt ».

Cây thốt nốt  có lẽ có nguồn gốc từ vương quốc miền Nam Ấn Độ. Đây là lý do tại sao, vào thời điểm giao thương của vương quốc này với các vương quốc Ấn Độ hóa ở Đông Nam Á (Thái Lan, Miến Điện, Lào, Chân Lạp, Chiêm Thành), việc trồng Borassus (tên khoa học được đặt cho cây cọ đường này) đã được phát triển. Là một phần của họ cọ, Borassus rất thích sống ở đất màu mỡ của các con đê nơi mà  các lớp mùn được tạo ra do sự tích tụ của bùn và cỏ dại nên tạo ra điều kiện cho sự phát triển của nó và nó có thể sống tới 150 năm. Thân cây có thể cao tới 35 mét nhưng chiều cao trung bình của từng cá thể thay đổi  từ 18 đến 35 mét, khiến cây có vẻ ngoài mảnh khảnh khi trưởng thành. Mặt khác, thân cây phình to ở gốc (đường kính tối đa là 1 mét). Bề mặt thân cây thô và có màu xám tro. Nhựa cây cọ có thể được thu hoạch khi mẫu vật của nó hơn 15 năm tuổi và cao từ 9 đến 10 mét.

Đây là thời điểm được nông dân leo cây ưa thích: cây dễ khai thác. Sau 80 năm, việc tiếp tục khai thác sẽ có nhiều sự  rủi ro vì cây đã quá cao và nguy cơ  việc cây  đổ rất  thường xuyên hơn. Do đó, thời kỳ thiếu niên của cây thốt nốt tương đối dài, nhưng khi đạt đến độ tuổi trưởng thành, nó có thể được khai thác từ 100 đến 125 năm. Người ta thấy rằng chỉ có chiều cao của cây mới giới hạn thời gian khai thác thật  sự này. Mặt khác, những người leo cây có kinh nghiệm hiếm khi tiếp tục nghề nghiệp của mình sau 40 tuổi vì ngoài những căn bệnh cụ thể liên quan đến nghề nghiệp như thấp khớp ở đầu gối, họ còn có nguy cơ dễ bị tàn tật khi không còn quen với việc leo cây một cách khéo léo.

Để thu hoạch nhựa (nước ép)  cây thốt nốt, quá trình này chỉ được thực hiện vào mùa khô (từ tháng 12 đến cuối tháng 5). Có thể thực hiện hai lần một ngày, vào buổi sáng và buổi tối. Mỗi cây có thể cung cấp tới 600 lít nhựa cây trong một mùa, tương đương với 90 kí lô  đường sau khi chế biến. Nhựa cây (nước ép)  phải được chiết xuất từ ​​những bông hoa màu trắng hoặc vàng nhạt  nằm ở ngọn cây, thời kỳ ra hoa của chúng luôn là vào mùa xuân và mùa hè. Để đạt được điều này, người nông dân leo cây phải sử dụng thang tre. Sau đó, anh ta phải rạch một đường trên thân hoa đực hoặc hoa cái bằng một con dao chuyên dụng để lấy nhựa cây, sau đó anh ta thu thập nhựa cây (nước ép)  qua các ống tre. Sau đó, anh ta phải chuyển hóa nó thành đường trong vòng hai giờ sau khi thu hoạch nếu không muốn làm hỏng đi chất lượng của nó do quá trình lên men, có thể  chậm lại nhờ dùng tannin gỗ. Thông thường, nước ép thốt nốt có màu trắng, vị ngọt, béo, lên men nhẹ và chua. Khi uống nước thốt nốt lần đầu tiên, nhiều người nghĩ rằng nó không thực sự tinh khiết vì có vị lên men nhẹ. Quá trình chuyển hóa này tiếp tục xấu đi trong ngày nếu điều kiện bảo quản không được tốt. Đó là lý do tại sao anh ta buộc lòng phải biến  đổi nó ngay thành xi-rô. Để làm được điều này, nước thốt nốt  phải được lọc và nấu ba giờ trong một cái vạc lớn trước khi được đánh liên tục sau đó bằng một dụng cụ bằng gỗ truyền thống để đạt được sự kết tinh. Sau đó, nó sẽ được sàng lọc  để có được kết cấu tinh thể.

Cây thốt nốt là một loại cây đa dụng. Đường chế biến của nó có thể được sử dụng để chế biến các món ăn dành cho người  bị tiểu đường vì chỉ số đường huyết của nó thấp hơn các loại đường khác. Nước ép của nó được coi là một thức uống dễ chịu vì nó có vị chua và sau vài giờ lên men, nó trở thành một loại rượu khói. Quả của nó có thể ăn tươi. Những người bán hàng rong người Việt gốc Khơ Me  thường bán bánh thốt nốt được gọi là « akao » ở chợ.

Vùng Thất Sơn (An Giang) từ lâu đã nổi tiếng với những cánh rừng thốt nốt bạt ngàn, một loài cây lạ chỉ có quả sau 15 năm. Đối với người dân địa phương, thốt nốt không chỉ là cảnh tượng quen thuộc mà còn là nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình Việt Nam. Cây thốt nốt gắn liền với công việc leo trèo gian khổ và nguy hiểm của những người leo cây. Từ sáng sớm, người dân địa phương bất chấp nguy hiểm trèo lên những cây thốt nốt cao chót vót để lấy nhựa làm đường và hái quả để bán, quả của nó có màu xanh khi còn non và chuyển sang màu đen khi chín. Chúng ta cũng biết rằng công việc này dành riêng cho  những người nghèo khổ. Nếu không cẩn thận, người leo cây có thể mất mạng  như chơi nếu đi qua đi lại nhiều lần trong ngày trên cây thốt nốt. Chúng ta thấy rằng đất nước chúng ta còn có rất nhiều người nghèo. Là một du khách đi qua vùng này,  mình rất  thích thú khi được uống một cốc nước thốt nốt bên lề đường, nhưng đồng thời cũng biết được công việc mà người nông dân leo cây đồng ý đảm nhận mỗi ngày với nguy cơ mất mạng, điều đó khiến  mình cảm thấy buồn không ít.

Version anglaise

Similar to the coconut tree characterizing the agricultural landscape of the coastal and delta regions of Vietnam, the sugar palm is mainly seen in the border regions of Vietnam with Cambodia. This tree plays an important role in the economy of An Giang province, especially in its districts Tịnh Biên and Tri Tôn, and provides half of the sugar consumed by the local population. It is called « thnot » by the Khmers, who have made it their national tree, while we call it « cây thốt nốt. » The sugar palm is undoubtedly native to the southern kingdom of India. This is why, during the commercial exchanges of the latter with the Indianized kingdoms of Southeast Asia (Thailand, Burma, Laos, Cambodia, Champa), the cultivation of Borassus (the scientific name given to this sugar palm) developed. Belonging to the palm family, Borassus greatly appreciates the fertile soils of the dikes where layers of humus formed from the accumulation of mud and weeds favor its growth, and it can live up to 150 years. Its trunk can reach up to 35 meters, but the average height of individuals varies between 18 and 35 meters, giving it a slender appearance in adulthood. However, its trunk is swollen at the base (up to 1 meter in diameter).

The surface of the trunk is rough and ash gray in color. The juice of the palm tree can be harvested when the specimens are over 15 years old and have a height of 9 to 10 meters. This is the favorite time for the climbing farmers: the tree is easy to exploit. Beyond 80 years, it is risky to continue harvesting because the tree becomes too tall, and the risk of falling becomes more frequent. The adolescence of the sugar palm is therefore relatively long, but when it reaches adulthood, it can be exploited for one hundred to one hundred and twenty-five years. It has been observed that only the height of the tree limits the actual duration of this exploitation. However, experienced climbers rarely continue their profession beyond 40 years because, in addition to specific ailments related to their profession such as knee rheumatism, there is the risk of becoming easily disabled when one is no longer accustomed to climbing the palm tree skillfully. To harvest the sap of the sugar palm, the operation must take place only during the dry season (from December to the end of May). It can be done twice a day, in the morning and in the evening. Each tree can provide up to 600 liters of sap in one season, which represents 90 kilograms of sugar after processing.

The sap must be extracted from the white or yellow flowers found at the top of the tree, their blooming period always being in spring and summer. To do this, the climbing farmer must use a bamboo ladder. Then he must make an incision in the stem of the male or female flower using a specific knife to let the sap flow out, which he collects using bamboo tubes. He must then transform it into sugar within two hours after collection if he does not want to harm its quality due to fermentation, which can be slowed down with wood tannins. Normally, the sugar palm juice has a whitish color, a sweet, rich, slightly fermented, and sour taste. When tasting sugar palm juice for the first time, many people think it is not really pure because of the slight fermentation taste. This transformation process continues to worsen throughout the day if the storage conditions are not good. That is why it must be immediately transformed into syrup. For this, the juice must be filtered and cooked for three hours in a large cauldron before being continuously stirred with a traditional wooden tool to facilitate crystallization. It will then be sifted to obtain a crystalline texture.

The rônier is a plant with multiple uses. Its processed sugar can be used in the preparation of dishes intended for diabetics because its glycemic index is lower than that of other sugars. Its juice is considered a pleasant drink to consume because it has a tangy taste and, after a few hours of fermentation, it becomes a wine with a smoky flavor. Its fruits can be eaten fresh. Vietnamese street vendors of Khmer origin are accustomed to offering sugar palm cakes known as « akao » at the market. The Seven Mountains region (Thất Sơn, An Giang) has long been renowned for its vast forests of rônier palms, a strange species of tree that only produces fruit after 15 years of existence. For the local inhabitants, the rônier palm is not only a familiar image but also the main source of income for many Vietnamese families. The rônier palm is associated with the hard and dangerous work of climbers. At dawn, the locals climb the towering rônier palms at the risk of their lives to extract sap for sugar production and to pick fruits to sell, which are green when young and turn black when mature.

We also know that this work is reserved for the poor. By going back and forth several times a day on the sugar palm, the climber could lose his life if he is not careful. It is evident that our country has so many poor people. As a tourist passing through this region, I am happy to be able to drink a glass of sugar palm juice by the roadside, but at the same time learning about the work that the climbing farmer accepts to do every day at the risk of his life makes me very sad.

Galerie des photos

[Return Fleurs du Monde]

Củ Chi (Tây Ninh)

 

 

 

 

Water bus Saïgon ( Du thuyền trên sông Bạch Đằng)

Version française

English version

Dù rất mệt hai ngày liên tiếp khi đến Saïgon, mình rất thích trải nghiệm đi xe bus hôm nay trên sông Saịgon. Đây là một dịch vụ giải trí mới mẻ để mình chiêm ngưỡng các kiến trúc đồ sộ của thành phố Saigon dưới  sông với góc nhìn hoàn toàn khác lạ và cũng có dịp để mình tìm ra những góc chụp mới mẽ. Một thưở nào xa xôi, Saigon là hòn ngọc Viễn Đông, nay nó trưởng thành siêu đô thị với  sự  biến  đổi đáng  kể. Với xe bus trên sông Saigon, bạn có thể dừng chân lại ở các bến tàu như sau: Bạch Đằng, Thủ Thiêm, Bình An, Thanh Đa, Bình Chánh và Linh Đông và bạn có thể  tìm được  những nơi giải trí và các quán ăn. Một trải nghiệm đáng nhớ cho mình với một tô bún riêu.

French version

Malgré la fatigue que j’ai eue successivement durant mes deux premiers jours à Saigon, je suis content de faire l’expérience de prendre aujourd’hui  le bateau-bus sur le fleuve de Saigon.  C’est un nouveau service de divertissement pour permettre au visiteur de découvrir les grandes constructions architecturales de la ville de Saigon visibles d’une manière totalement différente sur l’eau et c’est aussi une occasion pour moi de chercher  les nouveaux angles de prises de vue pour les photos. Étant connue à une époque lointaine  la perle de l’Extrême-Orient, Saïgon devient aujourd’hui la mégapole avec tant de changements notables. En prenant le bateau-bus sur le fleuve Saigon, on peut s’arrêter aux quais suivants : Bạch Đằng, Thủ Thiêm, Bình An, Thanh Đa, Bình Chánh và Linh Đông et on peut y trouver des endroits de distraction et des restaurants. Une expérience mémorable pour moi avec un bol de soupe de vermicelles de riz au crabe.

 

English version

Despite the fatigue I had during my first two days in Saigon, I am happy to experience taking the water bus on the Saigon River today. It is a new entertainment service to allow visitors to discover the great architectural constructions of the city of Saigon visible in a completely different way on the water and it is also an opportunity for me to look for new angles of shots for photos. Known in a distant time as the pearl of the Far East, Saigon today becomes the megacity with so many notable changes. By taking the water bus on the Saigon River, you can stop at the following wharves: Bạch Đằng, Thủ Thiêm, Bình An, Thanh Đa, Bình Chánh và Linh Đông and you can find places of entertainment and restaurants there. A memorable experience for me was a bowl of crab rice vermicelli soup.

 

 

Forbidden Purple City (Huế)

 

Version française

Version vietnamienne

The Forbidden Purple City of Hue is protected by a 4-meter-high brick wall. This wall is further reinforced by the installation of a water-filled moat system, thus encircling the city. Each gate leading into the city is preceded by one or more bridges, but the Meridian Gate remains the main entrance, once reserved for the king. Today, it is the main entrance for visitors.

It is a powerful masonry structure pierced by five passages and topped by an elegant two-story wooden structure, the Five Phoenix Belvedere (Lầu Ngũ Phụng). To the east and west of the citadel are the Chương Đức Gate (7) and the Hiển Nhơn Gate (8), which are very well decorated and each pierced by three passages. The Hiển Nhơn Gate was completely restored in 1977.

World cultural Heritage of Viet Nam

Once you pass through the Meridian Gate, you see the sumptuous Palace of Supreme Harmony or Throne Palace, which can be reached by crossing the Esplanade of Great Salutations (Sân Ðại Triều Nghi). It was in this palace that the emperor, seated on the throne in a prestigious symbolic position, received the greeting of all the dignitaries of the empire. They were lined up hierarchically on the esplanade for major ceremonies. It is also the only building that has remained relatively intact after so many years of war. Behind this palace is the private residence of the king and his family.

 

 

  • 1 Gate of the Midday (Ngọ Môn)
  • 2 Palace of the Supreme Harmony. ( Điễn Thái Hòa)
  • 3 Belvedere of the Lecture or Pavilion of the Archives (Thái Bình Ngự Lâm Thư Lâu)
  • 4 Royal Theatre (Duyệt Thị Đường)
  • 5 Splendour Pavilion (Hiên Lâm Các)
  • 7 Gate of the Vertu (Chương Đức Môn)
  • 8 Gate of the Humanity (Hiển Nhơn Môn)

Từ bao giờ có khu 36 phố phường ở Hà Nội?

Từ bao giờ có khu 36 phố phường ở Hà Nội?
Depuis quand il y a le quartier des 36 rues et corporations  à Hanoï?

Version française 
Version anglaise
Galerie des photos

Thăng Long được xuất phát từ làng Long Đỗ. Từ thế kỷ  thứ năm, vua Lý Nam Đế đã xây ở  đây « mộc thành» của nước Vạn Xuân. Nhà Đường, sau khi xâm chiếm nước ta lấy nơi nầy làm trị sở trên đất Long Đỗ và đổi tên nó ra Tống Bình.

Lý Công Uẩn dưới sự giúp đở của sư Vạn Hạnh nhận ra tiềm năng của vùng đất nầy vì nó là điểm giao nhau của các trục đường bộ và đường sông trong việc vận chuyễn hàng hóa. Vã lại nó còn  đáp ứng cho việc cân bằng  giữa các yếu tố  nước và đất hay là giữa dòng khí tốt (Rồng xanh) và dòng khí xấu (hổ trắng)   trong phong thủy mà được tướng nhà Đường Cao Biền  du nhập vào nước ta. Tục truyền Cao Biền dùng bùa phép yểm trấn thành Đại La nhưng nhờ thần Bạch Mã  trợ  giúp mà Lý Thái Tổ thành công trong  việc xây thành Thăng Long trên nền móng cũ của  thành Đại La. Đền thờ Bạch Mã vẫn  còn ngày nay ở phố Buồm (Rue des voiles). Vì vậy vào mùa thu 1010, Lý Công Uẩn mới ra quyết định dời đô từ Hoa Lư về vùng đất « Rồng cuộn, hổ ngồi ». Ngài muốn chọn một nơi để phát triển kinh tế  cho vận nước được lâu dài và tính kế lâu dài  cho con cháu được  muôn vạn thế hệ và muôn vật được phồn thịnh và phong phú.

Từ đó, ngài cần lập các công xưởng thủ công để sản xuất các hàng hóa mà triều đình cần dùng và tiêu thụ.  Không những các thợ thụ công giỏi đua nhau đến Thăng Long làm việc mà luôn cả các nông dân ở thôn quê vùng sông Hồng  lúc nhàn rỗi  cũng tham gia sản xuất các sản phẩm hàng thủ công bán cho các con buôn mà những người này họ mang về kinh thành bán lại để kiếm lời. Lúc đầu họ tụ hợp ở các phiên chợ  của bốn chợ lớn tại các cửa  ô kinh thành. Nhưng về sau vì các xưởng sản xuất của triều đình không thể cung ứng đủ nên khiến một số thương nhân dần dần tập trung tại khu phố  ở cửa Đông vì ở đây địa thế của chợ nầy rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa bằng thuyền từ nông thôn ra kinh thành qua sông Hồng, Tô Lịch và các kênh. Phía trước mặt chợ  thời đó là đền Bạch Mã. Còn bên phải là sông Tô Lịch và thưở đó có cái cầu bắc ngang sông hiện nay đó là phố Hàng Đường. Bởi vậy ở thế kỉ 14 mới  có thành ngữ  « Kẻ Chợ » (những người của chợ) để nói đến khu phố tấp nập này. Chính  nơi nầy được gọi về sau là  khu 36 phố phường để bán các sản phẩm  thủ  công mà các làng nghề  xung quanh và ở nông thôn cung cấp. Các cửa hàng đều là những  nhà chòi dùng để làm cơ xưởng hay để buôn bán dọc theo phố (hay đường).

Tựa như các nhà ở đồng quê, các cửa hàng nầy được dựng lên bằng gỗ, tre, mái rơm và tường trét bùn. Nhà nào cũng có chum nước để ở trên mái  khi có hỏa họan  thì kéo đổ xuống mái. Quá sợ hỏa hoạn, người dân lập đền Hỏa Thần (nay nó nằm ở Hàng Điếu) để ngày rằm cầu xin thần lửa đừng gây cháy.  Kẻ Chợ dần dần thoát khỏi sự phụ thuộc vào kinh thành từ thế 17 dưới sự ngự trị của các chúa Trịnh nhờ có một  loạt nghị quyết như giảm thuế, thống nhất hệ thống tiền bạc và xây dựng nhiều công trình đô thị lớn dẫn đến sự phát triển đáng kể. Các thủ công nhà buôn từ các làng nghề đổ xô về cư ngụ lâu dài ở thành phố và các nhà con buôn nước ngoài  thì bắt đầu lập chi nhánh tại kinh thành khiến làm nền kinh tế nó rất sôi động hơn. Nhờ đó mà kinh thành trở nên trung tâm buôn bán lớn nhất của miền bắc Việt Nam.

Các thợ  thủ công và các thương nhân cùng một làng quê gốc tập hợp thành các phương hội rồi cùng nhau  chuyên sản xuất hay  bán ở phường. Để kiếm hàng cần mua thì chỉ cần đến phường mà trước lối cổng vào thì có một tấm bảng ghi rõ chất  lượng và loại hàng được bán.Thời kỳ này chữ phố cũng chưa được dùng. Theo nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến thì chữ phố vẫn được dùng với nghĩa là bến sông. Bởi vậy mới có câu « Gác mái ngư ông về viễn phố » (nhớ về bến xa)  trong bài thơ « Chiều hôm nhớ nhà » của bà Huyện Thanh Quan.Theo nhà sử học Pháp Philippe Papin, thì chữ phố được sử dụng vào năm 1851 ở huyện Thọ Xuyên và Vĩnh Thuân nên mới có chức trưởng phố  trong  quyến sách mang tựa đề là  « Lịch sử Hà Nội ». Còn trong sách Đại Nam nhất thống chí thì có chép như sau: Hà Nội là kinh đô xưa, nguyên trước có 36 phố phường …. Còn trong cuốn « Chuyến đi thăm Bắc Kỳ năm Ất Hợi  (1876) của học giả Trương Vĩnh Ký thì ông có kể ra 21 phố gồm có: Hàng Buồm, phố nầy cũng là phố Khách Trú có nhiều tiệm thuốc bắc, nhiều hàng cao lâu, Hàng Quảng Đông (Hàng Ngang hiện nay) nơi nầy cũng toàn  người khách trú ở, Hàng Mã thì gắn liền với nghề sản xuất, buôn bán đồ giấy, đồ vàng mã cúng lễ, ma chay vân vân… Như vậy chữ phố có thể ra đời từ đầu thời vua Tự Đức.

Các thợ kim hoàn xuất phát từ làng Châu Khê thì định cư ở phố Hàng Bạc. Còn thợ tiện gỗ đến từ làng Nhị Kê thì ở phố Tô Tịch vân vân…Họ luôn luôn giữ liên lạc với ngôi làng gốc của họ ở nông thôn trong việc tuyển nhân công, cung ứng nguyên liệu, ghi tên vào gia phả của làng, tham gia mỗi năm và các ngày hội của làng.


Các làng ở nông thôn trở thành các nơi cung cấp không những cho làng phố  đô thị các sản phẩm đạt trình độ kỹ thuật cao mà còn luôn cả nông phẩm cho kinh thành. Có thể nói các làng ở nông thôn và các làng phố ở kinh thành phụ thuộc lẫn nhau. Chính nhờ thế tình thần đoàn kết giữa các làng phố đô thị và các làng ở nông thôn càng chặt chẽ hơn nữa. Mỗi làng phố  đô thị được xây dựng dọc theo phố hay một đoạn của phố và lệ thuộc một hay nhiều làng cùng làm một nghề thủ công. Thời đó đăc điểm của làng phố là ở mỗi đầu của làng phố là có cổng ra vào. Các cổng nầy đều đóng lại lúc về đêm. Mỗi làng phố còn có một  bộ máy hành chánh riêng biệt cũng như có một trưởng phố, một  ngôi đình riêng tư nhầm để thờ các ông tổ của nghề hay là  các thần hoàng của các làng gốc ở nông thôn.  Dưới thời Pháp thuộc, để tránh hỏa hoạn thì chính quyền Pháp mới ra chỉ thị xây dựng lại thành phố qua  các công trình kiến trúc  kiên cố với các  ngôi nhà  hình ống mà  chúng ta được thấy ngày nay ở phố cổ Hà Nội mà họ còn  lấp đi nhiều ao hồ như hồ Hàng Đào, hồ Mã Cảnh, hồ Hàng Chuối, hồ Liên Trì vân vân…  Năm 1894, Pháp lấp đọan đầu sông Tô Lịch để xây chợ Đồng Xuân. Họ lại phá tường thành Hà Nội và các cửa thành. Nay chĩ còn duy nhất Ô Quan Chưởng hay (Ô cửa Đông) còn khúc sông Tô Lịch dưới chân thành cũng bị lấp đi.  Giờ  đây nhiều phố  chỉ còn tên mà thôi như phố Hàng Bè chớ cát bồi đưa sông ra xa nên bè mảng không còn vào được sát chân đê nữa. Như vậy đâu  còn bè mà cũng không còn chợ cái bè trên đê nữa. 

Còn các nhà hình ống nầy mang đậm phong cách phương tây nhất là mặt tiền với ban công, lô gia, hiên nhà vân vân. Còn vật liệu xây dựng thì gồm có xi măng, cốt thép, bê tông, kính vân vân … Tuy nhiên theo sử gia Pháp Philippe Papin thì các nhà ống ở Hànội là ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa. Luận chứng nầy  không hẳn là sai nếu có  dịp đến tham quan các nhà cổ  của  người Hoa ở  Hội  An.  Nhưng theo nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến thì  dưới thời vua Minh Mạng,  đánh thuế  cửa hàng không  căn cứ  nhà đó  buôn to hay nhỏ  hay chiều sâu mà chỉ  đo mặt tiền.  Mặt tiền rộng đóng thuế  cao, hẹp thì  thuế  ít. Vì vậy mặt tiền rộng hay thường chia ra nhiều cửa hàng. Đôi khi con trai lập gia đình và không có điều kiện mua chỗ buộc cha mẹ phải nhường một phần cửa hàng nên mới có  sự  hình thành nhà ống.  Các nhà ống tuy mặt tiền rất eo hẹp nhưng có  thể có chiều dài lên đến 60 thước. Loại nhà nầy thường có ba phần: phiá trước dùng để buôn bán hay cơ xưởng  còn ở  giữa  hay thường  có  cái sân, nơi có một nhà nhỏ xây vòm cuống giống một cái lò cao 1,8 thước để chứa các đồ  qúi giá  phòng khi cháy chớ nếu không mất trắng tay và phần cuối thì để ở.

Trong quyển sách  được mang tên là « Miêu tả về vương quốc Bắc Kỳ », ông Samuel Baron, một thương gia người Anh có nhắc đến phố cổ qua một số tài liệu hình ảnh và những gì ông  mô tả  thật thú vị. Tuy rằng nhỏ hẹp so với diện tích của Việt Nam, khu phố cổ Hà Nội nó là minh chứng tiêu biểu của  nền văn hóa thương mại và đô thị của người dân Việt qua nhiều thế kỷ. Đây là một kiểu mẫu mà cần thiết phải biết tường tận để hiểu rõ  được cái cấu trúc truyền thống của đô thị trong thế giới làng mạc của người  dân Việt.


Version française

Thăng Long était issue  du village de Long Đỗ. Dès le Vème siècle, le roi  Lý Nam Đế construisit ici la « citadelle en bois » du royaume de Vạn Xuân. Après avoir envahi notre pays, la dynastie des Tang a pris cet endroit comme le quartier général de son armée sur les terres de  Long Đỗ et a changé son nom en Tống Binh. Lý Công Uẩn aidé par le  moine Van Hanh, a  trouvé l’énorme  potentiel de cet endroit  car il était à  l’intersection des routes et des voies fluviales pour faciliter le transport de marchandises. De plus, il a  répondu  également à l’équilibre et l’harmonie  entre les éléments Eau et Terre ou bien  entre le souffle  bienfaisant  (Dragon vert) et le souffle malfaisant (Tigre blanc) dans la géomancie  introduite dans notre pays par le général Tang Gao Pian. La légende racontait  qu’il  se servit des sortilèges pour protéger la citadelle de Đại La, mais grâce à l’aide  apportée par le génie  « métamorphosé en Cheval Blanc », Lý Thái Tổ réussit à édifier  la citadelle de Thăng Long sur les anciennes fondations de la citadelle de Đại La. Le temple dédié au culte du Cheval Blanc  existe encore aujourd’hui  dans la rue des voiles (Phố Buồm). C’était pourquoi à l’automne 1010, Lý Thái Tổ vint de décider le transfert de la capitale, de Hoa Lư à la région où le dragon s’enroulait et le tigre était assis. Il voulait choisir un endroit pour développer l’économie à long terme et prévoir un avenir radieux avec prospérité et abondance pour dix mille  générations futures. 

Il dut créer  dès lors des usines artisanales pour produire les marchandises dont la cour royale avait besoin pour la consommation.  Il y avait non seulement des artisans talentueux  se précipitant à  travailler à Thăng Long, mais aussi des agriculteurs vivant dans les campagnes de la région du fleuve Rouge. Ces derniers,  durant leur temps libre, ont également participé à la production de produits artisanaux destinés à être vendus aux intermédiaires  qui les ont ramenés dans la capitale pour les revendre dans le but de gagner de l’argent. Dans un premier temps, ils s’étaient rassemblés aux quatre grands marchés se trouvant tout près des  portes de la capitale. Mais comme les usines royales ne pouvaient pas approvisionner suffisamment les  produits, ils  s’étaient  progressivement regroupés  dans le quartier de la Porte Est car le terrain d’ici  était très propice au transport fluvial des marchandises  de la campagne vers la capitale en passant par le fleuve Rouge jusqu’à Tô Lich et les canaux.

À cette époque, devant le marché se trouvait le temple du Cheval Blanc (Bạch Mã). Sur sa droite il y avait la rivière Tô Lich et  un pont, le tout devenant aujourd’hui la rue  du sucre (Hàng Đường). C’était  pourquoi au 14ème siècle l’expression « Kẻ Chợ »  (ou les gens du marché) était employé  pour désigner ce quartier animé. C’était cet endroit qui devenait  plus tard  le  quartier de 36 rues et corporations  destiné à vendre tous les produits artisanaux fournis par les villages artisanaux et ruraux  aux alentours.  Les magasins  étaient entièrement  des huttes utilisées comme des ateliers de fabrication  ou des lieux pour faire du commerce tout le long de la rue.

Analogues à des maisons de campagne, ces magasins étaient  construits en bois et en bambou, avec des toits de paille et des murs enduits de boue. Chaque maison possédait  une jarre d’eau sur le toit qui, en cas d’incendie, pouvait  être renversée  sur le toit pour éteindre le feu. Étant effrayés par le feu, les gens ont décidé de construire  un temple  destiné au génie du feu (situé aujourd’hui dans la rue des pipes) pour lui demander de ne pas provoquer d’incendie tout le 15ème  jour du mois lunaire.  Kẻ  Chợ s’’était  progressivement échappé de la dépendance de la capitale depuis le XVIIème siècle sous le règne des seigneurs Trinh grâce à une série de résolutions telles que la réduction des impôts, l’unification du système monétaire et la réalisation de nombreux  projets urbains conduisant à un développement important. Les artisans  commerçants  des villages artisanaux affluèrent vers la capitale pour y vivre de manière permanente et les commerçants étrangers commencèrent à ouvrir aussi des succursales dans la capitale, ce qui rendait  l’économie plus dynamique. Grâce à cela, la capitale était  devenue ainsi  le plus grand centre commercial dans le  nord du Vietnam.

Les artisans et les commerçants d’un même village se regroupaient en corporations et se spécialisaient ensemble dans la production ou la vente dans le quartier. Pour trouver les produits dont vous avez besoin,  il vous suffit de vous rendre au quartier dont le portail d’entrée porte un panneau indiquant clairement la qualité et le type de produits vendus. Durant cette période, le mot rue n’était pas utilisé. Selon l’écrivain Nguyễn Ngoc Tiến, le mot rue était encore employé  pour désigner le quai fluvial. C’est pourquoi il y a la phrase « En déposant la rame, le pêcheur  se dépêche de retourner à la rive lointaine » dans le poème «L’après-midi  teinté de nostalgie» de Mme Huyện Thanh Quan. Selon l’historien français Philippe Papin, le mot « rue » était utilisé en 1851 dans les districts de Thọ Xuyên et Vĩnh Thuận. C’est pour cela que  le poste du chef de la rue est apparu  dans son  livre intitulé « Histoire de Hanoi ».

Dans le livre intitulé  Đai Nam Nhất Thống Chí (Géographie du Viet Nam), il est écrit ainsi: Hanoï était l’ancienne capitale, elle comptait à l’origine 36 rues etc. Dans le livre « Un voyage au Tonkin de  l’année du cochon en bois (1876) » de l’érudit Trương Vĩnh Ký, il a répertorié 21 rues dont: Hàng Buồm (Rue des voiles). Cette rue étant aussi la rue des immigrants chinois  avec de nombreux magasins de médecine traditionnelle et des restaurants chinois , Hàng Quảng Đông  c’était la rue des Cantonnais à l’époque française (rue Hang Ngang d’aujourd’hui), Hàng Mã  (Rue du cuivre à l’époque française) était  associée à la production et au commerce de papiers votifs, des objets de funérailles, etc. Le mot rue pourrait donc être né dès le début du règne du roi Tự Đức.

Les bijoutiers venus du village de Châu Khê s’étaient installés dans la rue des changeurs (Hàng Bạc). Quant aux tourneurs sur bois du village de Nhi Kê, ils habitaient dans la rue Tô Tịch et ainsi de suite… Ils gardaient toujours le contact avec leur village d’origine à la campagne en recrutant des ouvriers, en fournissant du matériel, en inscrivant leurs noms dans la généalogie du village et en participant chaque année aux fêtes villageoises.

Les villages ruraux étaient  devenus ainsi  des lieux qui approvisionnaient non seulement les villages urbains en produits de haute technologie mais aussi en produits agricoles pour la capitale. On peut dire que les villages de la campagne et les villages de la capitale dépendaient les uns des autres. Grâce à  cette interdépendance, l’esprit de solidarité entre les villages urbains et les villages ruraux était encore plus serré. Chaque village urbain était construit le long d’une rue ou d’un tronçon de rue et dépendait d’un ou plusieurs villages exerçant le même métier.

A cette époque, la particularité du village résidait sur le fait qu’à chaque extrémité du village il y avait toujours un portail d’entrée qui était fermé durant la nuit. Chaque village disposait  également d’un appareil administratif distinct ayant un chef de village, une maison communale dédiée  au culte des ancêtres du métier ou  des génies du village dont les gens étaient issus. 

Durant la période coloniale française, afin d’éviter les incendies, le gouvernement français prit la décision de réorganiser la ville au moyen des travaux architecturaux avec des maisons tubulaires que l’on voit aujourd’hui dans la vieille ville de Hanoï, mais il fit disparaître également  de nombreux étangs et lacs comme le lac Hàng Đào, lac Mã Cảnh, lac Hàng Chuối, lac Liên Trì  etc. pour construire les maisons et les bâtiments publics. En 1894, les Français ont asséché la partie supérieure de la rivière Tô Lich pour construire le marché de  Đồng Xuân. Ils ont de nouveau détruit les murs de la citadelle de Hanoi et ses portes. Il ne restait désormais que la porte Quan Chưởng  (porte  de l’Est) et la rivière Tô Lich en contrebas de la citadelle a également été comblée de sable et d’alluvions. À présent, de nombreuses rues n’ont plus que leur nom, comme la rue Hàng Bè (rue des radeaux), car le sable a repoussé la rivière plus loin, de sorte que les radeaux ne peuvent plus s’approcher du pied de la digue. Donc il n’y a plus de radeau. Alors  il n’y a non plus de marché des radeaux sur la digue.

Quant aux maisons tubulaires, on les voit mettre en valeur le style occidental, notamment leur  façade avec balcon, loggia, porche etc. Les matériaux de construction comprennent le ciment, les barres d’armature, le béton, le verre etc. Cependant, selon l’historien français Philippe Papin, les maisons tubulaires de Hanoï sont influencées par la communauté chinoise. Cet argument n’est pas forcément faux si on a l’occasion de visiter les anciennes maisons des Chinois à Hội An. Mais selon l’écrivain Nguyễn Ngoc Tiến, sous le règne du  roi Minh Mang, l’impôt sur les magasins n’était pas basé sur la taille ou la profondeur du magasin, mais uniquement sur la façade. Le propriétaire d’un magasin  ayant une façade relativement large doit payer une taxe plus élevée par rapport à celui possédant une  petite façade. On a intérêt de diviser  la grande façade en plusieurs petites façades donc en plusieurs boutiques. Parfois, un fils  qui se marie et n’a pas les moyens d’acheter un nouveau logement est obligé de demander à ses parents de céder une partie de leur boutique, ce qui donne naissance à la création des maisons tubulaires. Bien que celles-ci aient des façades très étroites, elles peuvent avoir une longueur allant jusqu’à 60 mètres.

Ce type de maison comporte généralement trois parties: le devant avec sa façade est réservé au commerce ou à l’atelier tandis qu’au milieu se trouve généralement  une  petite cour où on édifie  une petite maison avec un dôme  ressemblant à un four de 1,8 mètre de haut pour garder des objets de valeur en cas d’incendie  et le derrière  du magasin est destiné à l’habitation.

Dans son livre intitulé « Une description du royaume de Tonkin », le commerçant anglais Samuel Baron en a parlé avec ses illustrations et ses descriptions intéressantes. 
Malgré sa taille insignifiante par rapport à celle du Vietnam, le vieux quartier de Hanoï témoigne incontestablement de la culture commerciale et urbaine des Vietnamiens au fil de plusieurs siècles. C’est un modèle dont on a besoin pour connaître d’une manière approfondie la structure traditionnelle de la « ville » dans le monde rural des Vietnamiens.

English version

Thăng Long originated from the village of Long Đỗ. As early as the 5th century, King Lý Nam Đế built here the « wooden citadel » of the kingdom of Vạn Xuân. After invading our country, the Tang dynasty took this place as the headquarters of their army on the lands of Long Đỗ and renamed it Tống Binh. Lý Công Uẩn, aided by the monk Van Hanh, discovered the enormous potential of this place because it was at the intersection of roads and waterways, facilitating the transport of goods. Moreover, it also met the balance and harmony between the elements of Water and Earth, or between the beneficial breath (Green Dragon) and the harmful breath (White Tiger) in geomancy introduced to our country by General Tang Gao Pian. Legend has it that he used spells to protect the Đại La citadel, but thanks to the help provided by the spirit « transformed into the White Horse, » Lý Thái Tổ succeeded in building the Thăng Long citadel on the old foundations of the Đại La citadel. The temple dedicated to the worship of the White Horse still exists today on Sail Street (Phố Buồm). That is why, in the autumn of 1010, Lý Thái Tổ decided to transfer the capital from Hoa Lư to the region where the dragon curled and the tiger sat. He wanted to choose a place to develop the economy long-term and foresee a bright future with prosperity and abundance for ten thousand future generations.

He then had to create artisanal factories to produce the goods that the royal court needed for consumption. There were not only talented artisans rushing to work in Thăng Long, but also farmers living in the countryside of the Red River region. The latter, during their free time, also participated in the production of handicrafts intended to be sold to intermediaries who brought them back to the capital to resell in order to make money. At first, they gathered at the four main markets located near the gates of the capital. But since the royal factories could not supply enough products, they gradually regrouped in the East Gate neighborhood because the land there was very suitable for the river transport of goods from the countryside to the capital via the Red River to Tô Lich and the canals.

At that time, in front of the market was the White Horse Temple (Bạch Mã). To its right was the Tô Lich river and a bridge, all of which today is Sugar Street (Hàng Đường). That is why in the 14th century the expression « Kẻ Chợ » (or the market people) was used to designate this lively neighborhood.It was this place that later became the district of 36 streets and guilds, intended to sell all the handcrafted products supplied by the nearby artisanal and rural villages. The shops were entirely huts used as workshops or places for trade along the street.

Similar to country houses, these shops were built of wood and bamboo, with thatched roofs and mud-plastered walls. Each house had a water jar on the roof which, in case of fire, could be overturned onto the roof to extinguish the flames. Being afraid of fire, people decided to build a temple dedicated to the fire spirit (located today on Pipe Street) to ask it not to cause any fires on the 15th day of the lunar month. Kẻ Chợ gradually escaped dependence on the capital since the 17th century under the reign of the Trinh lords thanks to a series of resolutions such as tax reduction, monetary system unification, and the completion of many urban projects leading to significant development. Artisanal merchants from the craft villages flocked to the capital to live there permanently, and foreign traders also began opening branches in the capital, making the economy more dynamic. Thanks to this, the capital had thus become the largest commercial center in northern Vietnam.

Artisans and merchants from the same village would group together into guilds and specialize collectively in production or sales within the neighborhood. To find the products you need, you just have to go to the neighborhood whose entrance gate bears a sign clearly indicating the quality and type of products sold. During this period, the word « street » was not used. According to the writer Nguyễn Ngọc Tiến, the word « street » was still used to refer to the river quay. That is why there is the phrase « Upon laying down the oar, the fisherman hurries back to the distant shore » in the poem « Afternoon tinged with nostalgia » by Mrs. Huyện Thanh Quan. According to the French historian Philippe Papin, the word « street » was used in 1851 in the districts of Thọ Xuyên and Vĩnh Thuận. That is why the position of street chief appeared in his book entitled « History of Hanoi. »

In the book entitled Đai Nam Nhất Thống Chí (Geography of Vietnam), it is written as follows: Hanoi was the ancient capital, originally comprising 36 streets, etc. In the book « A Journey to Tonkin in the Year of the Wooden Pig (1876) » by the scholar Trương Vĩnh Ký, he listed 21 streets including: Hàng Buồm (Sail Street). This street was also the street of Chinese immigrants with many traditional medicine shops and Chinese restaurants. Hàng Quảng Đông was the street of the Cantonese during the French era (today’s Hang Ngang street). Hàng Mã (Copper Street during the French era) was associated with the production and trade of votive papers, funeral objects, etc. The word « street » could therefore have originated at the beginning of King Tự Đức‘s reign.

Jewelers from the village of Châu Khê had settled in the money changers’ street (Hàng Bạc). As for the woodturners from the village of Nhi Kê, they lived on Tô Tịch street, and so on… They always maintained contact with their native village in the countryside by recruiting workers, supplying materials, registering their names in the village genealogy, and participating each year in village festivals.

The rural villages thus became places that supplied not only the urban villages with high-tech products but also agricultural products for the capital. It can be said that the countryside villages and the capital’s villages depended on each other. Thanks to this interdependence, the spirit of solidarity between urban and rural villages was even stronger. Each urban village was built along a street or a section of a street and depended on one or more villages practicing the same trade. At that time, the uniqueness of the village lay in the fact that at each end of the village there was always an entrance gate that was closed at night. Each village also had a distinct administrative body with a village chief, a communal house dedicated to the worship of the ancestors of the trade or the village spirits from which the people originated.

During the French colonial period, to prevent fires, the French government decided to reorganize the city through architectural works with tubular houses that can still be seen today in the old town of Hanoi. However, they also caused the disappearance of many ponds and lakes such as Hang Dao Lake, Ma Canh Lake, Hang Chuoi Lake, Lien Tri Lake, etc., to build houses and public buildings. In 1894, the French drained the upper part of the To Lich River to build the Dong Xuan Market. They again destroyed the walls of the Hanoi citadel and its gates. Only the Quan Chuong Gate (the East Gate) remained, and the To Lich River below the citadel was also filled with sand and sediment. Now, many streets exist only in name, such as Hang Bè Street (Raft Street), because the sand pushed the river further away, so rafts can no longer approach the foot of the embankment. Therefore, there are no more rafts. Consequently, there is no longer a raft market on the embankment.

As for the tube houses, they are seen to highlight the Western style, particularly their façade with balcony, loggia, porch, etc. The construction materials include cement, reinforcing bars, concrete, glass, etc. However, according to the French historian Philippe Papin, the tube houses of Hanoi are influenced by the Chinese community. This argument is not necessarily false if one has the opportunity to visit the old Chinese houses in Hội An. But according to the writer Nguyễn Ngoc Tiến, under the reign of King Minh Mang, the tax on shops was not based on the size or depth of the shop, but only on the façade. The owner of a shop with a relatively wide façade had to pay a higher tax compared to one with a small façade. It was advantageous to divide the large façade into several small façades, thus into several shops. Sometimes, a son who got married and could not afford to buy a new home was forced to ask his parents to give up part of their shop, which led to the creation of tube houses. Although these have very narrow façades, they can be up to 60 meters long.

This type of house generally consists of three parts: the front with its facade is reserved for commerce or the workshop, while in the middle there is usually a small courtyard where a small house with a dome resembling a 1.8-meter-high oven is built to keep valuables safe in case of fire, and the back of the shop is intended for living quarters.

In his book titled « A Description of the Kingdom of Tonkin, » the English merchant Samuel Baron spoke about it with his illustrations and interesting descriptions. Despite its insignificant size compared to that of Vietnam, the old quarter of Hanoi unquestionably bears witness to the commercial and urban culture of the Vietnamese over several centuries. It is a model needed to gain a deep understanding of the traditional structure of the « city » in the rural world of the Vietnamese.

Galerie des photos

VILLAGE_URBAIN

[Return HANOÏ]

Bibliographie:

Nguyễn Bá  Chính : Hà Nôi Chỉ Nam. Guide de Hanoï. Nhà xuất  bản Nhã Nam, Hà Nội.
Philippe Papin : Histoire de Hanoï. Editeur Fayard.
Hữu Ngọc: Hà Nội của tôi. Nhà xuất bản Văn Học.
Nguyễn Ngọc Tiến: Làng Làng Phố Phố Hà Nội. Nhà xuất bản hội nhà văn.

Đình Minh Hương Gia Thạnh (Chợ Lớn, Saigon)

Temple Minh Hương Gia Thạnh 

Version française

Tọa lạc ở số 380 đường Trần Hưng Đạọ (Saïgon) , đình Minh Hương Gia Thạnh được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật bởi bộ Văn Hóa.  Đình nầy được coi xem là có lâu đời nhất  ờ vùng Saïgon-Chợ lớn do người Minh Hương xây dựng từ năm 1789. Người Minh Hương là những Việt gốc Hoa mà tổ phụ của họ là người Hoa, thần dân của nhà Minh sang định cư ở Đàng Trong sau khi nhà Minh bị  sụp đổ, được chúa Nguyễn Phúc Tần cho phép hai vị tổng binh cựu thần của nhà Minh Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cư trú  ở miền nam tức là vùng đất của Chân Lạp cùng với 3000 binh sĩ và gia đình vào năm Kỷ Mùi (1679).  Dương Ngạn Địch  vào khai thác vùng Mỹ Tho còn Trần Thượng Xuyên thì vào khai khẩn vùng Biên Hoà (Cù Lao Phố), một vùng đất trù phú. Người ngoại quốc thường tới lui buôn bán ở nơi nầy. Trong thời kỳ chiến tranh giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh, thì tất cả người Minh Hương đều đứng về phía chúa Nguyễn nên nhà Tây Sơn  tàn phá nhà  cửa của họ  vào năm 1776. Họ buộc lòng phải  lánh nạn  về  ở vùng đất Đề Ngạn xưa tức là Chợ  Lớn ngày nay. Đến năm kỷ dậu (1789)  dưới thời  Lê Mẫn Hoàng Đế  thì con cháu nhà Minh có quyền lập ra Minh Hương xã. Ban đầu chữ « hương » dùng chữ có nghĩa là « hương hỏa » (香火), đến năm 1827 đổi sang chữ có  nghĩa là « làng ». Như vậy Minh Hương có thể hiểu là « làng của người Hoa, thần dân của nhà Minh. Bởi vậy chúng ta cũng thường gọi họ là khách trú. Lúc đầu làng Minh Hương không có ranh định biên giới như các làng khác vì họ ở khắp mọi nơi của vùng đất mới. Người Minh Hương khỏi đi lính và khỏi đi làm xâu.  Nếu họ phạm phép  thì Minh Hương xã phân xử. Mặc dầu có đặc quyền như vậy, Minh Hương xã rất nghiêm ngặt trừng trị và  lo lắng  dạy dỗ con cháu họ. Bởi vậy họ sống rất hoà đồng với người dân Việt khiến  mới có câu ca dao như sau:

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương.

Chính vua Tự Đức đã có sắc tặng cho làng Minh Hương  bốn chữ: Thiện Tục Khả Phong (Phong tục tốt đẹp cần giữ lưu truyền), khắc vô một tấm biển, nay treo trước căn giữa Chánh điện của đình. Theo giáo sư Lâm Vĩnh Thế  thì năm 1865, Thống Đốc Nam Kỳ lúc bấy giờ là Đô Đốc De La Grandière ban hành quyết định chấm dứt quy chế làng của Minh Hương Xã, viện lý do là Sài Gòn và Chợ Lớn là châu thành tức là  thủ phủ của tỉnh, làng Minh Hương không còn có lý do tồn  tại nữa.  Đình Minh Hương Gia Thạnh không phải là nhà làng nữa mà trở thành từ đó nhà hương hỏa chung của tất cả hội viên, của tất cả công dân Việt Nam gốc Hoa có hơn hai trăm năm nay vì họ nói tiếng Việt, mặc quốc phục  trong các dịp tế lễ, cho con cái học trường Việt và hành xử hoàn toàn như là một công dân Việt Nam. Trịnh Hoài ĐứcNgô Nhân Tịnh, hai người Minh Hương làm quan đến chức thượng thư.

Đình được xây cất  theo kiểu nhà năm gian. Mái đình lợp ngói ống, trang trí hình lưỡng long tranh châu, cá hóa long, tượng ông Nhật bà Nguyệt, phù điêu trích từ các tuồng tích Trung Quốc. Trên cột và các đà ngang treo nhiều hoành phi, câu đối, phần lớn được làm từ đầu và giữa thế kỷ 19. Tại đình vẫn còn lưu giữ  nhiều cổ vật quý giá nhất là  đình có giá trị về nghệ thuật thư pháp, nghệ thuật chạm khắc gỗ mang phong cách Việt nam. Nhờ sự giải thích của chị Vân,một thành viên của ban tri sự quản lý  đình hôm đến tham quan, mình  được chị giải thích  biết nhiều  về  các cổ  vật trưng bày  của đình. Thật thú vị và  cũng tiện đây có một lời cám ơn chị qua bài viết nầy.

GIA THANH

Située au numéro 380 rue Tran Hung Dao (Saïgon), la Maison communale Minh Huong Gia Thanh est reconnue comme un monument architectural et artistique par le ministère de la Culture. Cette maison communale est considérée comme la plus ancienne de la région de Saïgon-Cholon, construite par les partisans de la dynastie des Ming  (ou Minh Hương) en 1789.

Les Minh Hương sont des Vietnamiens d’origine chinoise dont les ancêtres étaient des Chinois, sujets de la dynastie Ming qui s’étaient  réfugiés dans le sud après la chute de la dynastie Ming en Chine. Le seigneur Nguyễn Phúc Tần permit aux deux anciens généraux de la dynastie Ming, Dương Ngạn Địch et Trần Thượng Xuyên, de  trouver refuge dans le sud du Vietnam, l’ancien territoire du Chen La avec 3 000 soldats et leurs familles en l’année de la Chèvre (1679). Dương Ngạn Địch était allé exploiter la région de Mỹ Tho et  Trần Thượng Xuyên la région de Biên Hoà (Cù Lao Phố), un territoire riche et peuplé. Les étrangers le fréquentaient souvent pour y faire  des affaires. Durant la confrontation armée entre les Paysans de l’Ouest (Tây Sơn)  et Nguyễn Ánh, tous les Minh Hương s’étaient rangés du côté de ce dernier. Furieux, les Tây Sơn pillèrent leurs maisons en 1776. Les Minh Hương  étaient  obligés de se réfugier dans la région de Đề Ngạn (Cholon d’aujourd’hui). En 1789, sous le règne de l’empereur Lê Mẫn, les Minh Hương  obtinrent  le droit de fonder leur propre village.

Le mot « Hương » était initialement  écrit avec le pictogrammepour évoquer le culte des ancêtres (香火), mais il était remplacé ensuite  par le pictogramme  鄉 en 1827 pour signifier le village. Minh Hương  pouvait être compris ainsi comme  le village des sujets de la dynastie Ming. C’était pour cela on était habitué à les appeler « les résidents étrangers».

Au début, le village des Minh Hương n’était pas délimité par des frontières  comme les autres villages  grâce à leur possibilité de s’installer partout sur le nouveau territoire. Les Minh Hương  étaient exemptés du service militaire et ils n’étaient pas forcés de travailler gratuitement pour l’état. En cas de la violation de la  loi, ils seront punis par leur propre village. En dépit des privilèges qu’ils ont eus, les Minh Hương ne cessaient pas de respecter les lois avec sévérité et ils étaient toujours soucieux d’aider leurs enfants dans l’éducation. C’était pourquoi ils vivaient en harmonie avec les Vietnamiens, ce qui donnait naissance  à  la chanson populaire suivante :

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương.

Quelle salade peut-on trouver  aussi délicieuse comme celle de crevettes ?
Y a t-il quiconque plus poli que le village des Minh Hương ?

L’empereur Tự Đức  lui-même signa pour le  village des Minh Hương un décret comportant  quatre mots suivants: Thiện Tục Khả Phong (Les bonnes coutumes doivent être gardées et transmises), gravés sur une pancarte, désormais accrochée devant la salle principale de la maison communale. Selon le professeur Lâm Vĩnh Thế, en 1865, le gouverneur de la Cochinchine de l’époque, l’amiral De La Grandière, décida de mettre  fin au statut de la création du  village de Minh Hương Xã en prenant prétexte que Saigon-Cholon était la capitale de la province.  Le village des Minh Hương n’avait plus de raison d’exister. Mais il  était devenu dès lors la maison communale  dédiée au culte des ancêtres  pour tous ses membres et pour tous les citoyens vietnamiens d’origine chinoise depuis plus deux siècles car ils parlaient le vietnamien,  ils portaient des vêtements nationaux lors des cérémonies, ils envoyaient leurs enfants dans les écoles vietnamiennes et se comportaient entièrement  comme des citoyens vietnamiens. Trinh Hoài Đức  et Ngô Nhân Tịnh issus des  Minh Hương  étaient au poste de ministre.

La maison communale a été construite dans le style d’une maison à cinq compartiments. Son toit est recouvert de tuiles tubulaires, décoré d’un couple de dragons se disputant la perle enflammée, de poissons se transformant en dragons,  de génies de mariage et des tableaux en relief extraits des opéras chinois. Sur les colonnes et les poutres horizontales sont suspendus de nombreux panneaux horizontaux et des sentences parallèles dont la plupart ont été réalisés au début et au milieu du XIXème siècle.

La maison communale conserve encore de nombreuses antiquités, les plus précieuses étant l’art de la calligraphie et de la sculpture sur bois dans le  style vietnamien.  Grâce aux explications de Mme Vân, membre du comité de gestion  de cette association,  j’ai  beaucoup d’informations à savoir   sur les antiquités exposées.  Pour moi, c’est  très intéressant et  aussi  une opportunité  de lui rappeler ma gratitude à travers cet article.

 

 

Cascade Pa Sỹ (Măng Đen, Kon Tum)

 

Thác Pa Sỹ

Version française

Theo tiếng dân tộc Rơ Mâm, thác nầy  có nghĩa là 3 nguồn suối lớn nhất ở Măng Đen chụm lại thành một dòng nước nên được gọi là Pau Suh Thác được đọc chệch bởi dân  bản xứ nên  nên trở  thành Pa Sỹ. Đến đây phải ăn cơm lam gà nướng , rết ngon tuyệt vời. 

Selon la langue de l’ethnie Rơ Mâm, cette cascade signifie le point de rencontre  des trois plus grandes sources de M ăng Đen se rejoignant dans un cours d’eau. C’est pour cela qu’elle est appelée Pau Suh qui devient au fil des années Pa S ỹ à cause de la mauvaise prononciation des gens locaux. En venant ici, il faut manger du riz gluant dans un tronçon de bois avec le poulet grillé. C’est extrêmement délicieux.

Le lever du soleil ( Bình minh ở vịnh Lan Hạ)

LHB

[Return LAN HA]

Còn chút gì để nhớ Pleiku, Gia Lai


                                                           Biển hồ T’nưng

Còn chút gì để nhớ Pleiku, Gia Lai

Version française

Lúc về Việt Nam vào tháng 11 vừa qua, minh  được  anh Phát, người sáng lập Trường Không Biên giới mời đến Pleiku để  dự lễ tưởng niệm  vợ anh  quá cố được  Mái Ấm Thiên Ân tổ chức ở Pleiku. Đây là nơi được sơ Nguyễn Thị Kim Chi, thuộc dòng các nữ tu thuộc tu viện St. Paul de Chartres ở Pháp thành lập từ năm 2010 và che chở  hàng trăm em nhỏ người đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, ít học hoặc bị cha mẹ bỏ rơi.  Mái Ấm Thiên Ân được tọa lạc ở thôn 4, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, mái ấm Thiên Ân cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng chừng 9 cây số.

Nhắc đến Pleiku làm mình không thể quên bài  « Còn  chút gì để nhớ của nhà thơ Vũ Hữu Định mà được nhạc sỹ Phạm Duy phổ biến thành nhạc. Có dịp đến Pleiku  rồi hôm nay trở về Paris tự hỏi mình còn chút gì để nhớ Pleiku hay không? Còn  chứ, còn nhớ nhiều lắm, nhớ Mái Ấm Thiên Ân, nơi bao bọc các em nghèo thuộc dân tộc thiểu số (Jarai, Ede), nhớ đến các sơ  không ngại khó khăn nhọc nhằn  kiếm tiền từng xu  qua cách trồng trọt cà phê, hạt điều, va ni vân vân và tháo vát bán buôn và đa năng để đem lại  ấm no cho 189 em nghèo thiểu số, nhớ đến một thành phố hiền hoà ít xe cộ bụi bặm náo nhiệt  như Saïgon thưở nào, nhớ  đến phố núi đầy sương mù như Đà Lạt, nhớ đến vườn hoa tuyệt vời, một thiên đàng xinh xắn nho nhỏ  được săn sóc tĩ  mĩ  với đầu óc thẩm mỹ  của các sơ, nhớ đển buổi lễ tưởng niệm chị Marie Consolata ở nhà thờ, nhớ biển hồ T’nưng, nhớ  đến buổi  cơm tối  ngày đầu khi ba chú cháu dùng  ở một quán cơm dân dã đậm chất quê hương  nhất là để  lại một ấn tượng với món cá chiên dầm xoài nước mắm. Một kỷ niệm khó quên, một thành phố đáng nhớ trong cuộc hành trình nầy.

Mái Ấm Thiên Ân

Pleiku_Thien_An

Quelque chose à retenir de Pleiku, Gia Lai

À mon retour au Vietnam en novembre dernier, j’ai été invité par Mr  Phát, fondateur de l’’École sans Frontières, à  venir à Pleiku pour assister à la messe commémorative de sa défunte épouse organisée par le « Refuge Thiên Ân ». Il s’agit d’un havre fondé en 2010 par sœur Nguyễn Thị Kim Chi appartenant à l’ordre des Religieuses de Saint Paul de Chartres en France et abritant des centaines d’enfants de minorités ethniques en situation difficile, sans éducation ou abandonnés par leurs parents. Le refuge Thiên Ân est situé dans le village 4, commune Chu Á ville de Pleiku, province de Gia Lai, Il est à environ 9 kilomètres du centre-ville de Pleiku. En évoquant Pleiku, je ne peux pas oublier la chanson « Ce qu’il reste à retenir » du  musicien talentueux Pham Duy ayant trouvé son inspiration dans le célèbre poème du poète Vũ Hữu Định.

Ayant eu l’occasion d’aller à Pleiku puis de retour à Paris aujourd’hui, je me demande si j’ai encore quelque chose à retenir de Pleiku  ou non? Oui, il y a plein de choses à retenir. D’abord  je me souviens  du refuge Thien An, l’endroit qui abrite les enfants pauvres des minorités ethniques (Jarai, Ede), puis des religieuses polyvalentes qui n’ont pas peur des épreuves et des difficultés pour gagner  de l’argent  en cultivant du café, des noix de cajou, de la vanille, etc. et qui se débrouillent pas mal dans la vente au détail et en gros pour apporter la nourriture à 189 enfants pauvres des minorités ethniques, de la ville Pleiku  paisible et moins polluée avec peu de voitures semblable à la ville Saïgon d’une époque lointaine, de la ville de montagne plongée dans la brume comme Dalat, du magnifique jardin fleuri, un joli petit paradis soigneusement entretenu par l’esprit esthétique  et créatif des religieuses, de la messe commémorative en l’honneur de Marie Consolata à l’église, du lac T’nưng et enfin du dîner du premier jour où nous avons mangé tous les trois dans un restaurant populaire et  typique de notre pays, en nous laissant à la fin du repas  une impression particulière avec le poisson frit mariné dans une sauce à la mangue. Un souvenir inoubliable, une ville mémorable pour ce voyage.