Hôtel des Invalides (Điên Invalides)

Hôtel des Invalides

Galerie des photos

Le Dôme reste le bâtiment le plus élevé de Paris jusqu’à l’érection de la tour Eiffel. Il a été conçu par l’architecte  Jules Hardouin-Mansart  sous le règne de Louis XIV. Les nombreuses dorures du dôme rappellent que le Roi-Soleil avait  ordonné la construction de l’Hôtel des Invalides par édit afin d’accueillir les anciens soldats de son armée.  C’est aussi l’endroit où a été déposé le cercueil de l’empereur Napoléon 1er de la France.

Mái vòm Invalides vẫn là tòa nhà cao nhất ở Paris cho đến khi tháp Eiffel được dựng lên.  Nó được  thiết kế bởi  kiến trúc sư  Jules Hardouin-Mansart dưới thời ngự trị của vua Louis XIV.   Các vàng thép được  trông thấy trên mái vòm nhắc lại  vua Mặt Trời ra chỉ thị cho phép xây dựng khách sạn Invalides  qua một sắc lệnh để tiếp nhận các cựu binh trong quân đội. Đây cũng là nơi an nghỉ của Nã Phá Luân Đại Đế  của Pháp quốc.

The Dome remains the tallest building in Paris until the erection of the Eiffel Tower. It was designed by the architect Jules Hardouin-Mansart during the reign of Louis XIV. The numerous gildings of the dome recall that the Sun King had ordered the construction of the Hôtel des Invalides by decree to accommodate the former soldiers of his army. It is also the place where the coffin of Emperor Napoleon I of France was laid to rest.

 

Galerie des photos

 

[Return PARIS et ses sites]

Place de la Concorde (Quảng trường Concorde)

Quảng trường Concorde

[Return PARIS et ses sites]

La Tour Eiffel, l’un des symboles de Paris

 

 
Tour Eiffel
 
Tháp Eiffel, một trong những biểu tượng của kinh đô ánh sáng Paris được trông thấy từ xa về đêm dưới nhiều gốc độ khác nhau.
 
La tour Eiffel, l’un des symboles de la ville de lumière Paris est visible de loin au fil de la nuit sous de nombreux angles différents.

The Eiffel Tower, one of the symbols of the City of Light Paris, is visible from afar throughout the night from many different angles.

 
Galerie des photos

 

 

[Return PARIS et ses sites]

 
 

Grèce, voyage mémorable

 

Chuyến đi thật thú vị

              Bảo tàng khảo cổ quốc gia Athènes. (Musée national archéologique d’Athènes)                                    

              Thành phố Théra (Capitale Théra de l’île  Santorin)
          Làng Oia  (Village Oia)
             Làng biển Perissa (Village balnéaire Périssa)

 

Mon voyage mémorable en Grèce

À savoir.
Hôtel recommandéAthens Psiri Hotel
32 Sofokleous str., Athens, Greece
+30 210 52 34 329
info@athenspsirihotel.com
www. athenspsirihotel.com

 

Petite Andalousie au cœur de Paris

 

 

Tiểu Andalusia ở giữa lòng Paris

[Return PARIS et ses sites]

Cà Mau (Pointe de Cà Mau)

Version française

Version anglaise

Cà Mau (tiếng Khơ Me gọi là Teuk Khmao) là một thành phố nằm ở cực phương nam của nước đất nước Việt Nam. Đi đến Cà Mau phải qua không biết bao nhiều các cầu nhỏ  để nói lên  Cà Mau là một vùng đầm lầy và thuộc về  đồng bằng sông Cửu Long. Cà Mau đươc biết đến nhờ có  vườn quốc gia U Minh Hạ. Đây là một trong ba vùng lõi của Cà Mau, được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Rất phong phú về động và thực vật, vườn quốc gia  U Minh Hạ  có khoảng 250 loài thực vật, 182 loài chim, 40 loài thú, 20 loài bò sát cùng nhiều loại côn trùng khác nhau.  Ở  xung quanh Mũi Cà Mau là vùng biển cạn. Hàng năm đất lấn ra biển hàng trăm thước. Vì vậy mà từ bao nhiêu thế hệ, người dân Cà Mau thường hay nói với câu ngạn ngữ nầy: « Mắm đi trước, đước theo sau » trong cuộc  hành trình lấn biển. Các cây mắm nhờ có rễ ăn sâu trong đất bùn nên bồi được thêm đất phù sa. Rễ cây đâm tua tủa và chỉa lên mặt đất cùng nhau giữ đất. Sau đó là đến phiên đước và những cây rừng ngập mặn khác như sú, vẹt… cùng đua nhau mọc  lên khiến bãi bồi ngày càng vững chắc thêm để  vươn ra biển.

Version française

Cà Mau (connue en khmer sous le nom de Teuk Khmao) est une ville située à l’extrême sud du Vietnam. En venant ici, il faut traverser tant de petits ponts pour rappeler bien que Ca Mau est une région marécageuse  du delta  du Mékong.  C’est l’une de ses trois zones importantes reconnues  par l’UNESCO comme réserve de biosphère mondiale. Très riche de faune et de flore, le parc national U Minh Ha compte environ 250 espèces de plantes, 182 espèces d’oiseaux, 40 espèces de mammifères, 20 espèces de reptiles et de nombreux types d’insectes différents. Autour du cap Cà Mau c’est la zone où la mer est peu profonde. Chaque année, la terre empiète sur la mer à des centaines de mètres. C’est pour cela que depuis des générations, les habitants de Cà Mau ont l’habitude de dire en vietnamien: » les plantes mắm (Avicennia)  poussent d’abord, puis elles sont suivies par les palétuviers » dans  leur empiétement sur la mer. Grâce à de longues racines fixées dans les bancs de vase, les Avicennias facilitent le dépôt des alluvions marines. Leurs racines ramifiées s’orientent dans toutes les directions hors du sol et réussissent à retenir ensemble ce dépôt. Puis  c’est le tour des  palétuviers et des autres plantes capables de pousser dans cet environnement  permettant  d’affermir ainsi l’extension de la vasière.

Version anglaise

Ca Mau (known in Khmer as Teuk Khmao) is a town in the extreme south of Vietnam. On the way here, you have to cross many small bridges to realize that Ca Mau is a marshy region of the Mekong Delta. It is one of three important areas recognized by UNESCO as a world biosphere reserve. Rich in flora and fauna, U Minh Ha National Park boasts some 250 plant species, 182 bird species, 40 mammal species, 20 reptile species and many different types of insect. Around Cape Cà Mau is the zone where the sea is shallow. Every year, hundreds of meters of land encroach on the sea. This is why, for generations, the inhabitants of Cà Mau have been used to saying in Vietnamese: “the mắm plants (Avicennia) grow first, then they are followed by the mangroves” in their encroachment on the sea. Thanks to long roots fixed in the mud banks, Avicennias facilitate the deposition of marine alluvium. Their branching roots reach out from the soil in all directions, holding the deposit together. Then it’s the turn of the mangroves and other plants able to grow in this environment, helping to consolidate the extension of the mudflat.

 

 

La roseraie de l’Hay-les-Roses (Val de Marne)

Version française

Trước khi trở thành khu vườn công cộng được thủ  phủ  Val de Marne quản lý, vườn hoa hồng  L’Hay-les-Roses tọa lạc cách xa Paris 5 cây số  về  phía nam và từng là lãnh địa riêng tư của một doanh nhân tên là Jules Gravereaux. Để thỏa mãn niềm đam mê hoa hồng, ông không ngần ngại thu thập, sưu tầm và trồng  hàng trăm loại giống hoa hồng từ năm 1894 ở vườn rau của mình. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của nhà thiết kế cảnh quan nổi tiếng Édouard André, ông đã thành công trong việc tạo ra khu vườn của mình có được một phong cách  hoa viên mới theo kiểu Pháp, trong đó thành phần trang trí chỉ gồm có hoa hồng. Hiện nay, ở trong vườn hoa nầy có gần 3.300 loại hoa hồng trên một diện tích tổng cộng là 1,52 héc-ta.

 

 

Version française

Avant de devenir le jardin public administré par le département du Val de Marne, la roseraie était l’ancien domaine privé d’un homme d’affaires de nom Jules Gravereaux.  Pour assouvir sa passion pour les roses, il n’hésita pas à réunir, collectionner et planter des centaines de variétés de rosiers dès 1894 dans son potager. Puis, grâce à l’aide apportée par le célèbre paysagiste Édouard André, il réussit à donner à son jardin un nouveau  style de jardinage à la française où l’élément de décoration est constitué uniquement des rosiers. Il y a actuellement près de 3300 variétés de rosiers sur une surface totale 1,52 hectares.

Galerie des roses

Le Clos Normand de Claude Monet (Giverny)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Nhờ việc nới rộng khu vườn « Clos Normand » và sửa đổi nguồn nước sông  Ru, Monet đã thành công tạo cho khu vườn nầy  có được một diện tích 1000 m2 và một hình dáng tuyệt vời mà du khách có cơ hội chiêm ngưỡng ngày nay  khi đến tham quan Giverny. Năm 1895, ông bắt đầu vẽ khu vườn của mình.  Khu nầy  không ngừng sung túc và phong phú thêm với các loài cây cỏ mà ông chọn trồng theo ý mình. Nhờ  đó, ông thực hiện hơn 250 bức tranh tuyệt vời từ nhiều góc độ nhìn khác nhau. Nhưng các hoa súng vẫn là chủ đề chính và quyén rũ ông đến nổi  qua các bức tranh của ông, các cảnh vật chỉ được vẽ sơ sài để nổi bật các hoa súng ưa thích.  Khu vườn nầy giúp ông có nguồn cảm hứng vô tận và  được xem từ đây như là một tuyệt phẩm nghệ thuật vẹn toàn 

Version française

Grâce à l’agrandissement du Clos Normand et à la modification du cours d’eau du Ru, Monet réussit à donner à son jardin d’eau couvrant désormais 1000m2 l’aspect actuel que le visiteur a l’occasion de contempler avec admiration  lors de sa visite à Giverny. Il se mit à peindre en 1895 son jardin d’eau renouvelé incessamment par de nouvelles plantations et par l’abondance de la végétation choisie avec soin par lui-même. Cela lui permit de réaliser  avec ingéniosité un ensemble de plus de 250 tableaux  sous de nombreux angles de vue différents. Mais les nymphéas constituent le sujet  principal dans ses tableaux  et captent son attention si bien que le paysage y est dessiné  simplement pour dégager  la beauté de ses fleurs préférées.   Son jardin d’eau lui donna  ainsi une source d’inspiration inépuisable et s’intégra désormais comme une œuvre d’art à part entier. 

Version anglaise

Thanks to the enlargement of the Clos Normand and the modification of the course of the Ru stream, Monet succeeded in giving his water garden, now covering 1000m2, the current appearance that visitors have the opportunity to admire during their visit to Giverny. He began painting his water garden in 1895, which was continuously renewed by new plantings and the abundance of vegetation carefully chosen by himself. This allowed him to ingeniously create a collection of more than 250 paintings from many different viewpoints. But the water lilies are the main subject in his paintings and capture his attention so much that the landscape is simply drawn to highlight the beauty of his favorite flowers. His water garden thus provided him with an inexhaustible source of inspiration and became, from then on, a work of art in its own right.

Galerie des photos

Une ballade mémorable dans le jardin de Monet (Giverny, Haute Normandie)

Cùng nhau đi dạo trong vưòn của họa sỹ tài hoa Monet (Giverny)

[Return VILLES DE FRANCE]

Hồ Chí Minh ville (Saïgon) Version vietnamienne

Saïgon  (Hồ Chí Minh ville)

Saïgon hai tiếng nhớ nhung
Ra đi luyến tiếc nghìn trùng cách xa

Version française

English version

Đối với một số người dân Việt, thành phố này mãi mãi là Sàigòn. Còn  với những người khác, đấy thực sự là thành phố Hồ Chí Minh. Dù thành phố nầy có mang tên chi nữa, nó vẫn tiếp tục là trung tâm kinh tế  đối với các doanh nhân nước ngoài. Chính ở nơi đây quá cảnh hàng triệu tấn thóc gạo và cá của  đồng bằng sông Cửu Long  để được xuất khẩu. Mặc dù được đổi tên vào năm 1975, Saïgon vẫn tiếp tục giữ những thói quen cũ, những thay đổi thất thường và những nghịch lý. Thành phố vẫn luôn náo nhiệt ồn ào với những đêm không ngủ. Quang cảnh hay thường được trông thấy  ở  các đường phố hay qua đêm trong những căn phòng rộng lớn sàn gỗ với các cô gái trẻ học nhảy điệu valse và tango. Saigon vẫn sống rất linh động với 10 triệu cư dân hiện nay. Saïgon lúc nào cũng có sức sống mãnh liệt  với một tinh thần tháo vát  tuyệt vời. Thành phố vẫn phóng đãng, thích phiêu lưu và quá phấn khởi. Nó tiếp tục phát triển với những khách sạn sang trọng hàng nghìn phòng ở giữa các khu dân nghèo. Đây là thành phố đông dân nhất ở Việt Nam với mật độ dân số trung bình hơn 4.500 người trên mỗi kilomet vuông, còn  cao hơn cả Thượng Hải (Trung Quốc).

Các điểm tham quan

Nó hiện có tổng diện tích 2061 km2 và được chia thành 19 quận và 5 huyện. Trong quá khứ, thành phố gồm có 12 quận và 6 huyện trên diện tích là  2029 kilomet vuông. Saigon đã từng là Hòn Ngọc Viễn Đông trong thời kỳ Pháp thuộc  và sau đó là thủ đô của miền Nam Việt Nam từ năm 1956 đến năm 1975. Ngày nay, nhờ dự án phát triển đô thị bán đảo Thủ Thiêm và sự  gia nhập của quận Thủ Đức gần đây, thành phố  đã thành công, theo nhà nghiên cứu  người Việt Trần Khắc Minh của đại học Québec ở Montréal, trong việc mở rộng khu vực đô thị và tăng trưởng dân số một cách nhanh chóng nhờ quá trình đô thị hóa nhưng điều nầy  không ngăn cản được sự phân đọan của kết cấu đô thị ngày càng tăng  và làm nổi bật thêm  khoảng cách giàu nghèo nhất là trong việc tìm nhà cư ngụ.

Từ đầu công nguyên cho đến thế kỷ 17, Sàigon lần lượt thuộc về  vương quốc Phù Nam, rồi  đến Chân Lạp,  sau đó Chămpa và Cao Miên. Tên của nó chỉ được nhắc đến lần đầu tiên trong một  tài liệu của Việt Nam vào năm 1776, kể  lại cuộc chinh phục thành phố  nầy bởi các chúa Nguyễn vào năm 1672.  Đối với người Khơ Me (hoặc người Cao Miên), Sàigòn chỉ là tên biến dạng của từ  Prey Nokor (« thành phố trong rừng ») mà người Khơ Me  gán cho thành phố này. Sài Gòn là một vùng đầm lầy đầy cá sấu và có nhiều  khí lam chướng vào cuối thế kỷ 17. Việc những người Việt đầu tiên định cư chọn Sàigòn làm nơi tha hương không phải là một chuyện bình thường. Vì thế có một ca dao phổ biến mà người  dân Việt được biết để  nói đến vùng đất dữ, có nhiều khí lam chướng.

Chèo ghe sợ sấu cắn chân
Xuống sông sợ đĩa, lên rừng sợ ma.

Mặc dầu có nhiều khuyết điểm, Saigòn vẫn tiếp tục là tĩnh mạch trọng yếu của Việt Nam. Chính Saigon đã dạy người dân Việt biết đến chính sách Đổi Mới  từ năm 1996 đẩy mạnh không những  công nghiệp hóa và  hiện đại hóa mà còn giúp họ ưa thích  chủ nghĩa tư bản và phiêu lưu trong việc bỏ vốn đầu tư mạo hiểm. Cũng như các thành phố khác, Sàigòn có một lịch sử lâu dài trước khi bị đô hộ, sau đó bị Mỹ hóa và sau cùng  lấy tên thành phố Hồ Chí Minh sau biến cố  năm 1975.

Đối với những người quan tâm đến thành phố này, lịch sử và sự phát triển của nó thì nên đọc những cuốn sách sau đây:

  • Saigon, le chantier des utopies de Didier Lauras, Editions Autrement, Collections Monde, 1997, no 95 HS.
  • Saigon, 1925-1945 , de la belle Colonie à l’éclosion révolutionnaire de Philippe Franchini, Editions Autrement, Collections Monde, no17, 1992.

[Return VILLES]

 

 

 

Hanoï c’est quoi en chacun de nous?

 

Hà Nội là gì trong mỗi chúng ta?
Hanoï c’est quoi en chacun de nous?

What is Hanoi in each of us?

Pictures gallery

Hà Nội là bát bún ngan giản dị ? Là những ghế nhựa ngồi bệ? Là gánh hàng rong với chiếc đòn gánh là cầu Long Biên còn người gánh lại là một cô robot ? Hay là Hànội là… Đây là cuộc thi vẽ minh họa thuộc dự án Hanoi Rethink được tổ chức bởi UNESCO với sự đồng hành của nhóm Vietnam local Artist Group.

Hanoï c’est quoi en chacun de nous ? Hanoï est-elle un simple  bouillon de canard  aux vermicelles ? Ou ce sont les  chaises basses en plastique ? Ou le vendeur ambulant dont  la palanche est le pont Long Bien et qui est en fait un robot ?  Ou bien Hanoi est … C’est le concours d’illustration appartenant au  projet Hanoi Rethink organisé par UNESCO en collaboration avec le groupe Vietnam local Artist.

What is Hanoi in each of us? Is Hanoi just a simple duck broth with vermicelli? Or is it the low plastic chairs? Or the street vendor whose carrying pole is the Long Bien Bridge and who is actually a robot? Or is Hanoi… It is the illustration contest belonging to the Hanoi Rethink project organized by UNESCO in collaboration with the Vietnam Local Artist group.

Pictures Gallery

[RETURN]