Giếng nước (Puits)

Giếng nước (Puits)

Version française

Cây đa, mái đình, giếng nước là những thành phần không thể thiếu được  trong bức tranh của các làng quê ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Bao lần đi tham quan chùa chiền hay đình làng ở miền Bắc thì lúc nào cũng thấy có cái giếng ở đâu đó. Người Việt cổ có quan niệm «thiên viên địa phương (trời tròn đất vuông)» nầy nên có thói quen chia mãnh đất ra làm chín lô với mô hình dựa trên chữ  tĩnh  (giếng nước) viết bằng chữ Hán. Lô ở trung tâm dùng để xây cái giếng còn 8 lô  xung quanh còn lại để xây cất nhà. Đây là đơn vi gia cư đâu tiên  trong xã hội nông nghiệp và từ đó dẫn đến việc thành hình làng cổ.  Giếng nước hay thường được thấy ở trong làng quê dưới dạng hình tròn tượng trưng cho trời, giếng hình vuông tượng trưng cho đất.  Giếng còn thấy ở trước cổng chùa hay đình vì theo phong thủy, những nơi nầy được xem là « địa linh », là những nơi có « huyệt đạo » thì giếng ở đó không bao giờ cạn nước được dù có ở đỉnh núi cao như núi Nưa nơi thờ Bà Triệu (Thanh Hoá). Trong những ngày lễ hội, các bộ  lão hay dùng nước giếng để nấu chè cúng thần linh  ở  đình hay Phật (ở chùa)  và để tắm rửa các tượng. Ngoài ra giếng được xem bởi người dân trong làng là một không gian để hẹn hò gặp gỡ. Đi làm ở đồng về thì cũng ghé qua cái giếng nước để  rửa mặt hay rửa tay cho mát, có khi lại uống nước nếu là giếng mát và sạch. Nói tóm lại ở đâu có làng là có giếng nên giếng được xem lúc nào là hồn xưa của làng, đấy là cái vẻ đẹp ngàn đời của nông thôn Việt Nam mà nhà thơ Nguyễn Bính nhắc đến trong không gian làng quê.

Trong văn hóa nhân loại thì giếng nước mang lại sự dồi dào, sung mãn và đầy đủ. Bởi vậy người Pháp hay thường dùng câu « nguồn hiểu biết » để ám chỉ  các nhà học giả bởi vì họ biết lắm chuyện cũng như giếng nước, múc mấy cũng không cạn.

Giếng còn mang cả những huyền tích lịch sử và ý nghĩa tâm linh nữa. Ở  đền Cổ Loa, huyện Đông Anh, thì có giếng Ngọc nằm ngay trước cửa đền An Dương Vương nhắc  đến chuyện tình éo le của Trọng Thủy -Mỵ Châu. Ở trong khu đền các vua Hùng (Phú Thọ) thì có đền Giếng, nơi mà  hai nàng công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung, con của Vua Hùng thứ 18 thường đến đây soi gương chải tóc.  Còn ở hoàng thành Thăng Long (Hà Nội)  thì qua các  công trình khảo cứu, người ta tìm được cho đến ngày nay  26 giếng nước. Có nhiều tập tục vẫn còn giữ  và có liên quan đến giếng nước chẳng hạn  như  đến thời điểm này, trai ở làng Diềm (Bắc Ninh) đi hỏi vợ vẫn mang gạo nếp ra, lấy nước ở giếng vo để thổi xôi đem đi hỏi vợ. Hay là  ở làng Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây) có cái giếng được gọi là « giếng xin sữa ».  Mặc  dù giếng rất nhỏ, nhưng đã ngàn năm nay nước giếng vẫn luôn đầy và trong vắt. Những bà mẹ ở làng Đường Lâm thiếu sữa nuôi con thường đến làm lễ xin sữa, rồi uống nước giếng là có đủ sữa cho con bú. Ở phiá nam Hà Thành, các làng  Mai Động và  Hoàng Mai nhờ làm từ giếng nước nên món Đậu Phụ rất ngon cũng như ở Hội An với món Cao Lầu làm từ nước giếng Ba Lễ, một giếng cổ trứ danh của vùng. Trong kho tàng ca dao Việt Nam, hình tượng giếng nước rất khá phổ biến mà còn đa dạng về ý nghĩa và mang nhiều sắc thái thẩm mĩ độc đáo. Thưở xưa người thiếu nữ ở làng quê  hay thường bị ép duyên lấy chồng bởi gia đình nên mới có sự may rủi và mới có câu dao như sau:

Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt và vườn hoa

Như cái giếng nước, người thiếu nữ phải chấp nhận số  phận của mình:

Thân em như giếng giữa đường
Người khôn rửa mặt, người thường rửa chân.

Sống trong một xã hội phong kiến lạc hậu, người đàn ông vẫn thường được xem ưu tú trọng đãi, có thể làm nên sự  nghiệp  dù  có  nông nổi đi nữa. Còn đàn bà dù có sâu sắt chi cho mấy mà tấm lòng nông cạn  cũng như cái khơi không sâu  đựng trầu.   Đây là một câu tục ngữ được sử dụng  với nghĩa châm chọc và thể hiện trọng nam khinh nữ trong xã hội cũ.

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu

Nói đến giếng nước thì không thể nào không nhắc đến bài  « Ngọc tỉnh liên phú (Hoa sen trong giếng ngọc) » của Mạc Đỉnh Chi. Sen là loại cây mà sĩ phu Mạc Đỉnh Chi lựa chọn để bộc lộ tài năng xuất chúng và thiên tài chưa từng thấy. Vua Trần Anh Tôn ngần ngại phong ông làm « tiến sỹ » đầu tiên vì ông quá xấu xí vào thời điểm ông nhận bằng. Để thuyết phục nhà vua, ông tự ví mình như hoa sen trong giếng ngọc ở núi Hoa Sơn.  

Giống quý ấy ta đây có sẳn
Tay áo nầy ta chứa đã lâu
Phải đâu đào , lý thô màu
Phải đâu mai, trúc dãi dầu tuyết sương
Cũng không phải tăng phường câu kỷ
Cũng không là Lạc Thủy mẫu đan
Cũng không là cúc, là lan
Chính là sen ở giếng vàng đầu non.

Giờ đây, trong quá trình đô thị hóa rất nhanh ở các vùng nông thôn  khiến tạo ra một khuôn mặt mới ở các làng quê. Biết rằng đời sống kinh tế nó linh hoạt hơn, nó giúp dân ta ra khỏi nghèo đói nhưng nó  cũng làm mất đi  phần nào cái yên tĩnh, những tập tục, những nghề truyền thống, những kỷ niệm của một thời thơ ấu, những biểu tượng  ở các làng quê. Giếng làng vừa thể hiện nét đẹp của làng quê mà vừa  là nơi sinh hoạt rất thân thương nhưng giờ đây không còn nữa, được lấp đi để phân lô, xây nhà bê tông cột  thép.  Làm sao có thể  bám giữ được « đất lề, quê thói » ? Đây là một thách thức không nhỏ để giữ  được giá trị truyền thống của làng quê.

Version française

 

 

 

 

 

 

 

Le puits d’eau

Le banian, le toit de la maison communale et le puits sont les éléments ne pouvant pas être manquants dans le paysage des  villages situés dans le delta du Fleuve Rouge. En visitant maintes fois les pagodes ou les maisons communales du Nord, on s’aperçoit qu’il y a toujours  quelque part un puits. Ayant  toujours l’idée que le ciel est rond et la terre plate,  les Proto-Vietnamiens  sont habitués à morceler une portion de terrain en neuf lots en prenant comme modèle le caractère Han 井 tĩnh  désignant le puits (giếng nước). Le lot au centre est prévu pour la construction d’un puits d’eau et les huit lots restants sont destinés pour la construction des maisons, ce qui constitue  ainsi la première unité d’habitation dans la société agricole et aboutit ainsi à la  formation d’un ancien village. Le puits est fréquemment visible dans le village soit sous la forme d’un cercle symbolisant le ciel soit sous la forme d’un carré représentant la terre. On le trouve aussi devant l’entrée de la pagode ou la maison communale car selon le Feng Shui, ces lieux sont considérés sacrés, des endroits ayant une structure topographique spéciale, ce qui ne fait pas tarir le puits même s’il est au sommet d’une montagne. C’est le cas de la montagne Nưa où il y a l’autel dédié à la dame Triệu. (Thanh Hoá).

Durant les jours de fête, les sages du village ont l’habitude de prendre l’eau du puits dans la préparation du thé pour offrir aux génies de la maison communale ou Bouddha (dans les pagodes) et dans les ablutions des statues. D’autre part, le puits est considéré par les villageois comme l’endroit idéal pour se donner le rendez-vous  et se rencontrer. En revenant des champs et des rizières, les villageois s’arrêtent au puits pour se laver le visage ou les mains et boire parfois de l’eau de puits si celle-ci est fraîche et propre.

Bref, là où il y a un village, on trouve aussi un puits. Celui-ci  est considéré en quelque sorte comme l’âme ancienne du village. C’est la beauté éternelle  de la campagne vietnamienne que le poète Nguyễn Bính a évoquée dans l’espace du village. Dans la culture de l’humanité, le puits évoque l’abondance, la plénitude et la complétude. C’est pourquoi les Français ont l’habitude de se servir de l’expression « puits de science ou puits d’érudition»  pour faire allusion aux érudits car ils connaissent beaucoup de choses comme un puits de savoir, un puits qu’on n’arrive pas à tarir malgré le puisement régulier d’eau.  Le puits revêt une importance toute particulière en légendes et a une signification spirituelle. Dans la citadelle  Cổ Loa du district Đồng Anh, se trouve  juste en face du temple du roi An Dương Vương le puits de jade évoquant l’histoire d’amour de Trọng Thuỷ- Mỵ Châu.  Dans le temple des Rois Hùng (Phú Thọ), il y a le Temple du Puits, où deux princesses Ngọc Hoa et Tien Dung, les filles du 18ème Roi Hùng, viennent souvent ici pour se regarder dans le miroir et se brosser les cheveux. Quant à la citadelle Thăng Long (Hà Nội), grâce aux fouilles archéologiques, on arrive à recenser jusqu’à aujourd’hui 26 puits d’eau. Il existe un grand nombre de traditions encore conservées et en liaison étroite avec l’eau du puits. C’est le cas des garçons du village de Diềm (Bắc Ninh) continuant à garder  jusqu’à aujourd’hui la tradition de laver du riz gluant à l’eau du puits pour faire « xôi vò »  avant de l’apporter à leurs fiançailles. Ou bien dans le village Mông Phụ (Đường Lâm, Sơn Tây) ; il existe un puits d’eau nommé « puits destiné à alimenter du lait maternel ». Malgré l’étroitesse du puits, celui-ci continue à être rempli et son eau reste limpide. Les femmes du village Đường Lâm n’ayant pas assez du lait maternel ont l’habitude de venir ici, d’y faire des offrandes avant de boire son eau. C’est ainsi qu’elles arrivent à avoir du lait maternel pour allaiter leur enfant. Dans le sud de Hanoï, les villages  Mai Động et Hoàng Mai sont connues pour leur plat Đậu Phụ fait avec l’eau de leur puits. C’est aussi le cas de Hội An (ou Faifo)  avec la spécialité gastronomique Cao Lầu préparée à partir de l’eau de  Ba Lễ, un ancien puits célèbre dans cette région. Dans le trésor des chansons populaires vietnamiennes, l’image du puits est assez répandue. Elle revêt non seulement plusieurs significations différentes mais aussi des nuances esthétiques originales. Autrefois, la fille du village est obligée d’épouser le mari selon l’arrangement imposé par sa famille. C’est pourquoi il y a le risque de se retrouver dans une situation aberrante et pour cela il y a l’humour ironique dans le vieil adage suivant:  

Thân em như hạt mưa rào
Hạt rơi xuống giếng, hạt vào vườn hoa

Mon sort ressemble à celui des pluies d’averse
Certaines tombent dans le puits, d’autres dans le jardin des fleurs.
Analogue à un puits d’eau, la fille est à la merci du destin.

Thân em như giếng giữa đường
Người khôn rửa mặt, người thường rửa chân.

Je suis comparée au puits trouvé sur la route
L’homme décent y lave le visage, le vulgaire y rince les pieds.

L’homme est toujours bien considéré  comme un puits profond dans une société féodale et arriérée malgré que le fait qu’il soit superficiel. Par contre malgré sa profondeur dans son âme, la femme est toujours taxée de ressembler à une boîte de bétel à rebord très court.  C’est  le proverbe qu’on emploie pour l’ironie et pour le mépris des femmes dans l’ancienne société.

Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu

L’homme, si superficiel soit-il est un puits profond
La femme, si profond soit-elle, est analogue à une boîte de bétel à rebord très court.

En parlant du puits d’eau, il est impensable de ne pas évoquer le poème intitulé « Ngọc tỉnh liên phú (Le lotus dans un puits de jade) » du lettré Mạc Đỉnh Chi. Le lotus est la plante choisie par lui-même pour révéler son talent inouï et son génie indescriptible lorsque le roi Trần Anh Tôn hésite à le nommer « Premier docteur » en le trouvant trop laid au moment de la remise du diplôme. Pour convaincre le roi, il se compare au lotus dans un puits de  jade  au sommet de la montagne Hoa Sơn

Giống quý ấy ta đây có sẳn
Tay áo nầy ta chứa đã lâu
Phải đâu đào , lý thô màu
Phải đâu mai, trúc dãi dầu tuyết sương
Cũng không phải tăng phường câu kỷ
Cũng không là Lạc Thủy mẫu đan
Cũng không là cúc, là lan
Chính là sen ở giếng vàng đầu non.

J’ai cette espèce précieuse à ma disposition
La manche de cette veste la contient depuis longtemps
Elle n’est ni le pêcher, ni le jambosier perdant l’éclat de la couleur
Elle n’est ni l’abricotier ni le bambou exposés aux intempéries de la neige et des rosées
Elle n’est pas non plus la baie dont l’odeur doit être évitée
ou la pivoine de Lạc Thủy,
ou le chrysanthème ou la fleur du magnolia
mais c’est le lotus dans un puits d’or au sommet de la montagne.

À présent, dans le processus d’urbanisation accéléré des campagnes, un nouveau visage se crée dans les villages. Sachant que la vie économique est plus dynamique, elle peut aider notre peuple à sortir de la pauvreté, mais elle détruit aussi en grande partie la tranquillité, les coutumes, les métiers traditionnels, les souvenirs d’enfance, les symboles représentatifs du village. Le puits  incarne non seulement la beauté particulière du village mais aussi le lieu d’activité intime et préféré de tous. Aujourd’hui il commence à disparaître  et à être remplacé  par la répartition des lots pour la construction des maisons en béton avec des colonnes de fer. Comment peut-on réussir à garder « les règles et les traditions locales de chaque village »? C’est un grand défi de pouvoir garder les valeurs traditionnelles du village dans les années à venir.

 

Tết Trung Thu (Fête de la mi -automne)


Tết Trung Thu

Version française

Ở Việt Nam, nông nghiệp được đóng một vai trò  trọng yếu bởi vì người ta rất chú trọng đến mưa, nó làm cho đất được màu mỡ. Đây là lý do tại sao rồng được  có mặt chủ yếu  ở nơi nầy vì nó biểu tượng mưa và có khả năng sinh sản. Gần gũi với người dân Việt này, rồng đóng góp  vào việc thành công của mùa thu gặt hè tới. Không có gì đáng ngạc nhiên khi hàng năm ở Việt Nam vào đêm rầm ngày 15 tháng 8 âm lịch, người Việt cổ có tục lệ  tôn vinh con động vật tuyệt vời này từ buổi ban sơ.

Đặc biêt vào Tết Trung Thu, rồng  hay thường  xuất  hiện trên các đường phổ  ở nông thôn lẫn thành thị với sự hoành tráng, hay được dẫn đầu ờ phiá trước trong cuộc diễu hành bởi  các biểu ngữ muôn màu, các đèn lồng được trưng bày dưới dạng các loại trái cây, các con vật sống dưới nước vân vân… Rồng được làm bằng tre đan, bộc bằng giấy hay vải và được nâng lên cao qua các cây sào để cho phép các  người vận chuyển làm thân rồng ngoằn ngoèo khi họ tạo vòng đi lại. Rồng thường được tháp tùng trong cuộc diễu hành với một con lân cũng làm bằng tre và bộc giấy màu nhưng chỉ có đầu lân và được một người cầm lấy  chắc và lay động bằng hai tay để mô phỏng điệu múa lân trong bầu không khí vui tươi. Múa lân được biểu diễn và hòa nhịp theo tiếng trống và tiếng chập chỏa để cầu xin được  hòa bình và thịnh vượng cho đất nước. Ở Việt Nam, Tết Trung thu là Tết của thiếu nhi. Đây là lý do tại sao chúng ta thường  thấy các trẻ con hay đi trong đêm nầy với  những chiếc đèn lồng được thắp sáng bởi những ngọn nến nhỏ bên trong và được làm không chỉ bằng giấy nhiều màu mà còn ở  dưới nhiều hình dáng khác nhau (ngôi sao, rồng, cá chép, thỏ, bươm bướm vân vân..) trên đường phố. Các trẻ con c òn mang mặt nạ theo hình ảnh của các anh hùng huyền thoại như Chí Phèo, Chú Tều vân vân.. và hay cầm trống lục lạc.

Đấy là lễ mà những đứa trẻ trở thành những người lớn sau nầy cũng không bao giờ quên được  bởi vì  nó vẫn để lại ở nơi chúng những kỉ niệm đẹp nhất

của tuổi thanh xuân theo năm tháng mặc dù  những món đồ chơi rẻ tiền nầy. Còn các thanh niên thì hay tham gia các cuộc thi hát xen kẽ (trống quân) trong khi các cụ thì dự đoán tương lai của đất nước bằng cách quan sát trăng tròn và màu sắc của nó. Sau đó, họ tụ nhau với gia đình hoặc bạn bè  ngồi chung quanh bàn để thưởng thức ăn bánh trung thu uống trà. Các bánh này thường  màu trắng và hay dính hoặc màu vàng và được nướng,  thường được gộp thành 4 bánh để trong các hộp các-tông vuông xinh xắn  được bán khắp mọi nơi khi đến gần ngày lễ trung thu. Lễ nầy được tổ chức hầu hết ở các quốc gia ở Châu Á theo các phong tục và truyền thống.

Trước hết  ở Trung Hoa, chúng ta quen thấy việc tổ chức ngày lễ này như là một truyền thống, nó có từ thời nhà Đường. Theo nhà nghiên cứu người Việt  Nguyễn Văn Huyền của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp(EFEO), nhờ một đạo sĩ già của Lão giáo làm cái cầu vòng nối qua cây trượng ma thuật mà Hoàng đế Đường Huyền Tông (tức là Đường Minh Hoàng) lên được mặt trăng. Ngay sau khi trở về lại trái đất, ngài không ngừng buồn bã và hay thường tổ chức ca múa trong cung điện của ngài để nhớ  lại  các kỳ quan ở trên cung trăng. Kể từ đó, các nhà thơ, các nghệ sĩ và các trẻ em có tục lệ tôn sùng mặt trăng.

Ở Nhật Bản, lễ hội được tổ chức ở  tại các ngôi chùa Phật giáo, nơi mà những người tham gia hay mặc trang phục truyền thống và tôn vinh lễ hội bằng cách ca hát để bày tỏ lòng biết ơn đối với Mẹ Thiên nhiên. Theo âm lịch, Nhật Bản có hai lễ hội, một lễ được gọi là « Zyugoga » và lễ còn lại là « Zyusanya » vào ngày 13 của tháng 10. Lễ  đầu tiên thì có liên quan đến truyền thống « otsuki-mi (sự chiêm ngưỡng mặt trăng) ». Vào mùa thu, người ta có thể chiêm ngưỡng mặt trăng dưới ngày đẹp trời  trước thời điểm thu gặt muà màng và cảm ơn mặt trăng vì những lợi ích mà nó mang lại. Bất cứ ai tham gia lễ hội đầu tiên đều phải ăn mừng lễ hội thứ hai nếu không sẽ gặp xui xẻo. Như ở Việt Nam, trẻ em Nhật Bản tham gia vào cuộc diễu hành với chiếc đèn lồng hình con cá chép có ghi lại ngày sinh. Cá chép tượng trưng cho lòng dũng cảm vì trong truyện cổ tích Nhật Bản, cá chép là hiện thân của sức mạnh và lòng dũng cảm lội ngược dòng nước và mạnh dạn bất chấp các loại thú săn mồi.

Ở Hàn Quốc, Tết Trung thu là dịp để người Hàn bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên. Lễ hội này diễn ra một ngày trước đó và kết thúc sau ngày 15/8 trong âm lịch. Loại bánh truyền thống cho dịp này được gọi là  bánh “Songphyun” . Bánh nầy được làm từ gạo, đậu xanh, hạt mè và các quả hạch. Họ dành thời gian họ có để  viếng  thăm các nghĩa trang và  để bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên và tham gia các hoạt động văn hóa khác (nhảy múa dưới trăng, mặc trang phục truyền thống vân vân…).

Ở Thái Lan, mỗi  gia đình đều  có tổ chức Tết Trung thu được gọi là “Tết trông trăng”.  Họ tận dụng cơ hội này để ngồi chung quanh bàn đầy trái cây (các quả đào, sầu riêng và bánh trung thu) và kể lại với nhau những câu chuyện xưa.

Ở Cao Miên, theo lịch của Phật Giáo, người Khơ Me chuẩn bị lễ vật, hoa tươi, cơm nhừ và nước mía cho buổi tối hôm đó. Khi mặt trăng bắt đầu nhô lên khỏi những ngọn cây, thì bữa tiệc có thể bắt đầu. Những người Khơ Me này có truyền thống hay đút cơm đầy vào miệng của trẻ con để tượng trưng cho sự dư dả.

Version française

C’est au Vietnam que l’agriculture joue un rôle de premier plan, car on attache une grande importance aux pluies qui fécondent le sol. C’est pourquoi le dragon y fait figure principalement car il est le symbole de la pluie et de la fécondité. Cet animal si proche des Vietnamiens doit apporter sa contribution à la réussite des moissons de l’été. Rien n’est étonnant de voir chaque année au Vietnam  dans  la nuit du quinzième jour du mois Août du calendrier lunaire la glorification de cet animal fabuleux depuis la nuit des temps par les Proto-Vietnamiens. Le dragon se manifeste à la fois dans les zones rurales et urbaines  en grande pompe, précédé  par d’étendards aux cinq couleurs, des lanternes figurant des fruits, des animaux aquatiques  etc… Le dragon  est fait en bambou tressé, enveloppé de papier et de toile et monté  sur des perches pour permettre aux porteurs de lui imprimer des mouvements serpentins en faisant la ronde. Il est accompagné souvent dans sa procession d’un lion  fait aussi en bambou et en papier coloré, présenté seulement par sa tête portée  et secouée par un homme avec ses deux bras pour simuler la danse du lion dans une atmosphère joyeuse.  Cette danse est  exécutée et rythmée au son des tambours et cymbales  pour demander la paix et la prospérité au pays. Au Vietnam, la fête de mi – automne est la fête des enfants. C’est pourquoi  on les voit promener durant cette nuit  leurs lampions éclairés par les petites bougies  et faits non seulement en papier multicolore mais aussi sous diverses formes  (étoile, dragon, carpe, lapin, papillon  etc…) dans les rues. Ils   portent  des masques à l’image des héros légendaires  (Chí Phèo,  Chú Tều etc…) et frappent sur leurs tambourins. C’est la fête que les enfants devenus plus tard adultes n’oublient jamais car elle leur laisse toujours  au fil des années  les meilleurs souvenirs de sa jeunesse en dépit du prix dérisoire de ces jouets. Durant la nuit de la fête, les jeunes gens participent  aux concours de chansons alternées (trống quân)  tandis que les sages tirent des présages pour l’avenir du pays en observant la pleine lune et sa couleur. Puis  ils se réunissent  plus tard dans la famille ou entre amis autour d’une table pour goûter avec du thé les gâteaux de lune. Ceux-ci sont blancs et gluants ou jaunes et grillés  et sont regroupés souvent  par quatre  dans des boîtes carrées en carton vendues partout à l’approche de la fête. On la célèbre dans la plupart des pays en Asie selon les us et traditions.

D’abord en Chine,  on est habitué à célébrer cette fête comme une tradition datant de l’époque de la dynastie des Tang. Selon le chercheur vietnamien  Nguyễn Văn Huyền (EFEO), grâce au guide d’un vieillard taoïste qui fit un pont pour l’empereur Tang Xuanzong (Đường Minh Hoàng) avec son bâton magique, ce dernier monta dans la lune. Dès son retour sur la terre, il ne cessa pas de s’attrister et il fit exécuter dans son palais musique et danse pour sa nostalgie des merveilles lunaires. Depuis lors, les poètes, les artistes et les enfants n’arrêtent pas d’honorer le culte de la lune.

 Au Japon, la fête est organisée dans les temples bouddhistes où on trouve leurs participants portant des vêtements traditionnels et honorant cette fête  en chantant pour exprimer leur gratitude  envers la mère Nature.  Dans le calendrier lunaire, le Japon a deux festivals dont l’un est connu sous le nom « Zyugoga » et l’autre est « Zyusanya »  au 13ème jour du mois Octobre. Le premier est associé à la tradition « otsuki-mi (contemplation de la lune)». En automne, on peut contempler la lune sous son beau jour juste avant la période des récoltes et la remercier pour les bénéfices qu’elle apporte. Quiconque  participe au premier festival  doit  célébrer le second sinon il aura la malchance. Comme au Vietnam, les enfants japonais se joignent au parade avec leur lanterne en forme de carpe sur laquelle est écrite sa date de naissance. La carpe symbolise le courage car dans les contes de fées nippons, la carpe incarne la force et le courage de remonter le cours d’eau à contre sens et de braver tous les prédateurs.

En Corée, la fête de la mi-automne  est une occasion pour les Coréens d’exprimer leur gratitude envers leurs ancêtres.  Cette fête a lieu la veille et se termine après le 15 Août dans le calendrier lunaire.  Le gâteau traditionnel  pour cette occasion est « Songphyun » qui est fait avec du riz, des haricots verts, des sésames et des noix. Ils passent leur temps à visiter les cimetières pour montrer leur respect envers les ancêtres et prennent part à  d’autres  activités culturelles (danse sous la lune, port du costume traditionnel etc …). 

En Thaïlande, chaque ménage célèbre aussi la fête de mi-automne connue sous le nom «Fête de la lune ». On profite de cette occasion pour se mettre autour de la table remplie de fruits (pêches, durions et gâteaux de lune) et pour raconter les anciennes histoires.

Au Cambodge, selon le calendrier bouddhiste,  les Khmers préparent les cadeaux, les fleurs fraîches, le riz écrasé et le jus de canne à sucre pour cette soirée. Quand la lune commence à monter au dessus du sommet des arbres,  on peut démarrer la fête. Ces Khmers ont la tradition de mettre  pleinement dans la bouche d’un enfant le riz pour symboliser l’abondance.