Edification de l’église Notre Dame de Paris

 

Version vietnamienne

Il m’est difficile d’encadrer ces photos car le nombre d’admirateurs est trop élevé mais il est indispensable pour ceux qui veulent avoir un regard sur l’évolution de son édification. Partant d’une église romane jusqu’à devenir une église gothique, il y a un long chemin à parcourir prenant plus de deux siècles, de 1160 jusqu’au milieu du 14ème siècle.  Beaucoup de modifications et d’ajouts étant ajoutés, elle devient ainsi un chef-d’œuvre de Paris que personne ne peut oublier  lors de son passage à Paris. Le nombre de visiteurs s’élève à 13 millions par an ou plus 30.000 touristes par jour.  Elle est toujours la première sur la liste des sites touristiques à Paris devant la tour Eiffel et le musée du Louvre.  Cette église est l’une des premières églises construites avec le style gothique. Celui-ci est basé essentiellement sur la technique de la voûte sur croisée d’ogive  (ses arcs brisés se croisent en  diagonales et s’appuient non pas sur deux piliers mais sur quatre piliers). Cette technique apporte non seulement la lumière grâce à un nombre élevé de fenêtres (vitraux)  mais aussi l’élévation et la finesse extraordinaire. Pourquoi gothique ? Ce mot est employé par les Romains pour faire allusion à des Goths,  des peuplades barbares situées dans le Nord de l’Europe (les Français d’autrefois).

Évolution dans l’édification de l’église Notre Dame de Paris

Version vietnamienne

Rất khó chụp ngay ngắn các tấm ảnh nầy vì số người xem quá nhiều nhưng rất cần thiết để ai muốn có cái nhìn về sự biến chuyển xây dựng nhà thờ Đức Bà ở Paris. Từ một nhà thờ nhỏ bé với phong cách xưa (romane) mà đến phong cách gothique thì có một đoạn đường khá dải hơn hai thế kỷ từ  1160 đến giữa thế kỷ 14, có nhiều sửa chữa và bổ túc khiến nhà thờ nầy trở thành một kiệc tác của Paris mà không ai có thể quên khi đến tham quan Paris. Số lượng người đi xem  là 13 triệu người mỗi năm có nghĩa là hơn 30.000 du khách mỗi ngày. Nó luôn luôn đứng đầu trong danh sách các nơi tham quan ở Paris, trước tháp Eiffel  và điện Louvre. Nhà thờ nầy là một trong những nhà thờ xây dựng đầu tiên  với phong cách gothique. Phong cách nầy dựa trên các vòm mà có ở các nơi bắt tréo hình nhọn  và gân cung. Nhờ vậy trọng lượng của vòm nó không dựa trên hai trụ mà 4 trụ. Phong cách nầy đem lại không những sự  sáng sủa nhờ có nhiều cửa sổ mà còn cao vút tạo ra sự tao nhã lạ thường.    Tại sao gọi gothique ? Thuật ngữ gothique dùng  bởi người La Mã để ám chỉ dân  Goth, dân mọi rợ đến từ phiá  Bắc (người Pháp thưở xưa).  

Les Mayas (Nền văn minh Maya): Partie 2

 

Version vietnamienne

Version française

Malgré cela, une percée significative dans le déchiffrement de l’écriture maya eut lieu dans les années 1950 grâce aux travaux du linguiste russe Yuri Knorosov. Ce dernier parvint à prouver que l’écriture utilisée par les Mayas pour la transcription de leur langue, était de type logo-syllabique (de 900 à 1200 signes) comparable à l’égyptien classique (734 signes). Puis en 1978, l’épigraphiste américain de l’université Stanford, J. Justeson introduisit dans sa thèse consacrée à l’écriture maya, l’idée de compléments phonétiques. Même une grammaire se constitua récemment dans les années 1980-1990 avec les travaux de L. Schele (1982), B. Macleod (1983) et V. Bricker (1986). Cela facilite la meilleure compréhension de la tradition écrite par des Mayas.

Aujourd’hui, on peut dire que l’écriture maya est de type logo-phonétique. Grâce à cette avancée dans le décryptage et dans les fouilles archéologiques, on est obligé de modifier la vision qu’on a eue à l’égard des Mayas en saisissant tout ce qu’ils avaient laissé dans le corpus hiéroglyphique composé actuellement de plus de dix mille textes.

 

 Cho đến năm 1950, nhờ  nhà ngôn ngữ nga Yuri Knorosov mà  hệ thống chữ viết Maya được giãi mã.  Ông nầy đã  chứng minh  lối  viết của người Maya trong việc phiên âm là loại logo âm tiết (từ 900 đến 1200 dấu) so với lối viết của người Ai Cập (734 dấu). Rồi đến 1978, nhà nghiên cứu  văn khắc người Mỹ, ông J. Juteson của đại học Stanford đưa vào trong luận án dành về văn tự của người Maya, một ý niệm về việc bổ sung ngữ âm. Có luôn cả văn phạm của người Maya được cung cấp gần đây trong những năm 1980-1990 với các công việc của L. Schele (1982), B. Macleod (1983) và  V. Bricker (1986). Nhờ đó mà sự hiểu biết về lối viết của người Maya đuợc thông suốt từ đây. Ngày nay, có thể khẳng định là chữ viết của người Maya là loại logo âm tiết.  Nhờ viêc tiến triển trong việc giãi mã và các cuộc khai quật mà  cái nhìn về người Maya cũng được thay đổi nhất là với những gì họ để lại trong kho tàng tượng hình gồm có hiện nay hơn mười ngàn  văn bản.

Les Mayas (Nền văn minh Maya): Partie I

Version vietnamienne

Qui sont ces mayas?

Selon certains archéologues, les Mayas ont leur origine asiatique avec leurs traits. On pourrait penser à l’arrivée, sur le territoire vierge d’Amérique, de leurs ancêtres, des chasseurs venus d’Asie, à la poursuite du gibier en franchissant le détroit de Behring au cours de la dernière période glaciaire. Cette théorie reste séduisante et convaincante dans la mesure où on trouve chez les Mayas des techniques rencontrées en Asie: céramique, filage et tissage ainsi que certains concepts d’ordre religieux (chamanisme) et cosmique comme les associations de couleurs et d’animaux célestes aux quatre points cardinaux. (Ngũ hành). Grâce à la découverte des monuments de la ville de Copán (Honduras) envahis par la végétation dans les vapeurs de la jungle tropicale par l’explorateur américain John Lloyd Stephens et son compagnon illustrateur Frederick Catherwood en 1840, on recommence à s’intéresser à leur civilisation, leur mode de vie, leurs connaissances scientifiques (astronomie, mathématiques, architecture, agriculture etc…) et surtout leur écriture glyphique. Celle-ci est un système d’écriture complexe et incompréhensible qui n’est pas conçu pour les transactions commerciales comme les autres écritures anciennes. Elle n’est pas destinée à la basse couche de la société maya mais elle est un moyen pour les nobles et les scribes de s’adresser aux dieux et de légitimer le pouvoir de leurs souverains considérés à l’égal des dieux. Cela décourage un grand nombre de savants et de chercheurs qui qualifiaient avec résignation dans le passé cette écriture maya de “problème insoluble”. Leur déchiffrement devient de plus en plus ardu car lors de l’arrivée des conquistadors espagnols sur le territoire des Mayas, la plupart de leurs manuscrits (ou codex) furent brûlés sur un bûcher par l’évêque Diego de Landa à Mani (Yucatan). 

Ce dernier trouva dans ces codex des formules de rituel avec une écriture glyphique incompréhensible, une entrave à sa mission de christianisation et un caractère de superstition et de mystification du démon. On estime qu’il fit détruire 70 tonnes de témoignages écrits par les Mayas ainsi que 5000 idoles. Pourtant il fut l’un des meilleurs chroniqueurs de la civilisation maya. Beaucoup de gens eurent du mal à croire, à cette époque, que ces Indiens misérables vivant à côté des ruines mystérieuses de Copán découvertes par John Lloyd Stephens et Frederick Catherwood, étaient les descendants des bâtisseurs de cette civilisation. Pourtant ils furent, à l’époque précolombienne, le seul peuple d’Amérique centrale à avoir poussé aussi loin l’exploration d’un système complexe d’écriture dans le but de donner cohésion et unité à leur culture autant diverse que variée, d’une région à une autre, au niveau de la composition ethnique et matérielle. Malgré un grand nombre élevé de dialectes (une trentaine en tout), on a retrouvé les mêmes hiéroglyphes, la même écriture en divers points de l’Amérique centrale soit sur les basses terres de tout le Yucatan soit dans les hautes terres du Guatemala ou dans le territoire traversé par les rivières Usumacinta et Sarstoon. Analogues aux Egyptiens avec le papyrus et aux Chinois avec la fibre de mûrier, les Mayas ont réussi à fabriquer le papier avec les fibres d’une espèce de figuier. Cela leur permit d’enregistrer leurs rites religieux, leurs observations scientifiques et leurs annales dans des codex présentés sous la forme des grandes feuilles de papier plissées verticalement en accordéon. À cause de l’autodafé de livres mayas organisé par Diego de Landa, il ne reste aujourd’hui que 4 codex mayas dont les trois premiers sont: le Codex de Dresde (Codex Dresdensis), le Codex Tro Cortesianus (ou Manuscrit de Madrid), le Codex Peresianus (ou Manuscrit de Paris) dans les bibliothèques de Dresde, de Madrid et de Paris et le quatrième connu comme le Codex Grolier découvert en 1971 par Michael Coe, un chercheur américain de l’université Yale.(Suite: Partie 2)

Người Maya

Theo các nhà khảo cổ học, người Maya có nguồn gốc đến từ Châu Á nếu dựa trên nét mặt. Có thể nghĩ rằng trên mảnh đất hoang sơ của Châu Mỹ, ông cha họ đến khi còn là những người đi săn bắn đến từ Châu Á . Vi đeo đuổi các thú rừng nên họ vượt qua eo biển Behring trong thời kỳ cuối băng hà. Giả thuyết nầy có vẽ thuyết phục và hấp dẫn vì chúng ta nhận thấy ở những người Maya có những kỹ thuật thường được trông thấy ở Châu Á : gốm, việc xe sợi và dệt vải, những khái niệm mang tính chất tôn giáo (saman giáo) và vũ trụ cũng như sự kết hợp các màu và động vật thiên ở bốn phương (Ngũ hành). Nhờ nhà thám hiểm người Mỹ, ông John Lloyd Stephens cùng bạn đồng hành họa sỹ Frederick Catherwood khám phá vào năm 1840, các công trình của thành phố Copán (Honduras) bị bao phủ bởi cây cối và chìm đắm trong sương mù của rừng nhiệt đới mà văn minh của người Maya được quan tâm lại nhất là lối sống của họ, những kiến thức khoa học ( thiên văn, toán học, kiến trúc, canh nông và nhất là chữ viết của họ. Lối viết nầy rất phức tạp không dùng trong việc buôn bán cũng như các văn tự cổ khác. Nó không dành cho giới hạ tầng cũa xã hội mà nó là một phương tiện cho giới qúi tộc và các biện lại để tiếp cận với thần thánh và hợp pháp hóa quyện lực của vua chúa được xem như ngang hàng với các thần thánh. Chính vì vậy biết bao nhiêu nhà khảo cứu xem vặn tự của họ là một vấn đề nan giải nhất là với sự xâm nhập của đoàn viễn chinh Tây Ban Nha trên lãnh thổ của người Maya thì bao nhiêu sách vỡ (hay codex) ở Mani (Yucatan) đều bị giám mục Diego de Landa đốt cả. Qua những công thức nghi lễ được tìm thấy trong các codex với lối viết theo những họa tiết không thể hiểu nổi, ông cho rằng đây là một trở ngại trong việc truyền bá đạo công giáo và nó có tính chất dị đoan mê tín. Có ít nhất 70 tấn tang chứng văn tự của người Maya bị tiêu hủy cùng 5000 thần tượng.

Tuy nhiên ông Diego de Landa là một trong những nguời thời luận xuất sắc về văn hóa Maya. Rất nhiều người không nghỉ rằng ở thời đó có những bộ tộc nghèo đói sống ở vùng đất hoang tàn Copán mà được John Lloyd Stephens và Frederick Catherwood khám phá là con cháu của những người xây dựng một nền văn minh Maya cổ. Tuy nhiên ở thời kỳ tiền Colombo, họ là một dân tộc duy nhất ở Trung Mỹ đã khảo sát tĩ mĩ một hệ thống chữ viết phức tạp để mang lại sự liên kết chặt chẽ và thống nhất cho nền văn hóa của họ nhất là nó rất phong phú và khác nhau từ vùng nầy qua vùng kia trên phương diện sắc tộc và vật chất. Mặc dầu có 30 thổ ngữ, người ta vẫn tìm thấy một loại chữ viết tượng hình như nhau ở khắp nơi vùng Trung Mỹ dù nơi đó là đồng bằng Yucatan hay là vùng cao nguyên của Guatemala hoặc là vùng đất có các con sông Usumacinta và Sarstoon. Cũng như người Ai Cập với giấy cói và nguời Trung Hoa với sợi dâu, người Maya họ tìm ra trong việc chế tạo giấy với sợi của cây vả ( hay cây sung). Nhờ vậy họ ghi chép lại tất cả lễ nghi tôn giáo, các cuộc quan sát khoa học cùng các biên sử trong các codex dưới dạng các tấm giấy lớn được gấp dựng đứng như đàn phong cầm. Vì sự thiêu hủy sách vở do ông Diego de Landa đề xướng, chỉ còn hiện nay 4 codex của người Maya: codex de Dresde, codex Tro Cortesianus (hay là bản thảo Madrid) và codex Peresianus (hay là bản thảo Paris) thì thuộc về các  thư viện Dresde, Madrid và Paris còn  codex thứ tư được gọi là codex Grolier khám phá vào năm 1971 bởi Michael Coe, một nhà nghiên cứu Mỹ của đại học Yale. (Tiếp theo)

Aristide Maillol (Jardin des tuileries)

Aristide Maillol

Version vietnamienne

Presque à 40 ans, Aristide Maillol commence à être connu à travers ses chefs-d’œuvre de la sculpture en bronze non pas sur la peinture. Chaque fois de passage au jardin des Tuileries en face de la pyramide du Louvres, je ne tarde pas à prendre quelques photos sur ses sculptures en bronze de femmes nues car elles sont vraiment très belles sur la façon de faire apparaître la beauté du corps féminin. Maillol avec Rodin ce sont deux personnages auxquels le philosophe français Michael Paraire attribue le mot « génie » entre le 19 et 20 ème siècle, chacun ayant un style différent. Rodin se penche vers le réalisme et prône le caractère particulier de chaque personnage dans ses œuvres qualifiées sublimes par Michael Paraire. Rodin se sert de l’argile. Quant à Maillol, il se sert du bronze comme matériau dans ses réalisations qualifiées « beau » par le même philosophe, en particulier ce qui a trait  à la beauté du corps féminin. Ses œuvres sont visibles au jardin des Tuileries, au musée d’art moderne de New York ou au musée Maillol que sa muse Dina Vierny dans les années 1930 a fondé en 1995 à Paris.

 

Version vietnamienne

Mãi đến gần 40 tuổi , ông Maillol mới nổi tiếng qua những tác phẩm điêu khắc chứ không phải qua hội họa. Mỗi lần đến vườn hoa Tuileries ngang mặt Pyramide của bảo tàng viện Louvres thì mình không thể không dừng lại chụp các bức tượng khỏa thân điêu khắc của ông vì nó quá đẹp làm nỗi bật thân thể của người phụ nữ. Ông cùng nhà điêu khắc Rodin đuợc một nhà triết gia Pháp Michael Paraire gọi là hai kẻ thiên tài giữa thế kỷ 19 và 20, mỗi người một phong cách khác nhau. Ông Rodin thì thiên hẳn về lối hiện thực, ca ngợi cá tính riêng của mỗi nhân vật.trong các tác phẩm của ông đươc Michael Paraire gọi là tuyệt vời (sublime). Ông nầy thường dùng đất sét. Còn ông Maillol thì thường sử dụng chất liệu đồng trong các kiệt tác của ông đuợc Michael Paraire gọi là quá đẹp nhất là cái đẹp hoàn mỹ của thân người phụ nữ. Các tác phẩm thường được trưng bày ở vườn hoa Tuileries, bảo tàng nghệ thuật hiện đại ở New York hay ở bào tàng Maillol mà được người mẫu của ông là Dina Vierny ở những năm 1930, thành lâp vào năm 1995 ở Paris.

Un instant pour soi dans le vieux quartier de Hànội

Một lúc thư thản ở phố cổ Hànội

 

Le lac Hồ Hoàn Kiếm

 

 

One moment to myself in the old quarter of Hànội

Parc de Keukenhof (Amsterdam)

 

Ouvert tous les ans à la même période au public pour huit semaines, le parc de Keukenhof est situé à Lisse, au sud-ouest d’Amsterdam  (Hollande). Ce parc de 32 ha est très connu non seulement pour ses tulipes mais aussi pour ses jardins thématiques.  Grâce à cette fleur, la Hollande est le premier producteur au monde avec plus de 4 milliards de bulbes vendus chaque année.

Vườn hoa tulipe Keukenhof

Open every year to the public  during the same period for eight weeks, the park of Keukenhof is located at Lisse in the southwest of Amsterdam.  This 33 hectare park is very known not only for its tulips but also for its theme gardens. Thanks to this flower, Holland is the largest world producer  with more than 4 billions bulbs sold each year.

Parc de Sceaux 2018

Công viên Sceaux

C’est l’un des parcs connus dans la région de l’île de France. Il fut conçu par le célèbre aménageur des jardins du château de Versailles, André le Nôtre à la fin du XVII  ème siècle à la demande de Colbert, ministre des finances du roi soleil Louis XIV .

 

 Đây là một trong những công viên nổi tiếng  ở vùng ngọai ô Paris. Vườn nầy được thiết kế vào cuối thế kỷ 17  bỡi ông André Le nôtre, người  được xây dựng và trang trí các vườn hoa của lầu đài Versailles với sự yêu cầu của bộ trưởng tài chính của “vua mặt trời” Louis XIV.

 

Champa sculpture ( Điêu khắc cổ Champa)

Version française

Version vietnamienne
dieu_khac_champa

Until now, one does not known precisely the ethnic origin of Cham people. Some believe that they came from the Asian mainland and were deported with the other populations living in the south of China (the Bai Yue) by the Chinese while others (ethnologists, anthropologists linguists) highlighted the insular origin through their research studies.


To sculpt a statue, it is a religious act


For these latter, the Cham were probably the people living in the Southern Ocean (archipelagic countries or that of Malaysian Peninsula).,At the legendary era, the Champa oral traditions speaking of  the linkage between Chămpa and Java, consolidate this latter hypothesis.

Known as Vikings from Southeast Asia,  Champa people lived along the coasts of center and south of Vietnam today. Their main activities were essentially based on trade. They were in contact very early with China and territories as far away as Malaysian peninsula, perhaps the coasts of South India.

Being devoted to religious purposes, the Champa sculpture thus did not escape political recupercussions and influences from outside, in particular those of India, Cambodia and Java. These ones thus became the main forces in creation, development and evolution of styles for their art. For French researcher Jean Boisselier, the Champa sculpture was very closely with the history. Significant changes have been highlighted in the development of Champa sculpture, in particular the statuary with historical events, dynastic changes or relations that  Champa   have had with its neighbouring countries (Vietnam or Cambodia). Thanks to  vietnamese researcher  Ngô văn Doanh, each time an important incidence came  from outside, one did not take long to see the emergence of  a new style in Chămpa sculpture. To achieve this,  it is sufficient to cite an example: to 11th-12th century, the intensification of violent contacts, especially with Vietnam and Cambodia and the emergence of new conceptions in relation to the foundations of royal power, can explain the originality and  richness found in Tháp Mắm style.

Pictures gallery

 

 Being the expression of the Indian pantheon (brahmaniste but especially shivaiste and Buddhist), the Cham sculpture resort to local interpretation of the concepts with elegance rather than slavish imitation. Above all, it is a support for meditation and a proof of devotion. “To sculpt a statue”, it is a religious act. Being subject to religious norms, the Cham sculptor, with his skillful hands, has succeeded in giving, with fervour, to inert stone a soul, a divine representation enabling to convey the religious concept he loved to transmit with faith. The Cham sculpture is peaceful. No scene of horror is present. There are only animal creatures slightly fanciful (lions, dragons, birds, elephants etc. . ). One could find no violent and decent form in the deities. Despite the evolution of styles throughout history, the Cham sculpture continues to keep the same divine and animal creatures in a constant theme. 

 

Makara

 The Cham art manages to keep its specificity, its facial own expression and its particular beauty without being not a slavish imitation from external models and affecting its singularity in the Hindu sculpture found in India and Southeast Asia. In spite of lack of animation and realism, Cham artworks are predominantly carved in sandstone and much more rarely in terracotta and other alloys (gold, silver, bronze etc. .. ).

Generally speaking, being in the modest dimension, they relate religious beliefs and conceptions of the world. They cannot leave us impassive because they always give us a very strange impression. It is one of the features of the beauty in the Cham art.

One finds sculptures in the round, high-reliefs and bas-reliefs in the Cham art. A “rond-bosse” is a scuplture around which we can turn to see the sculptor work . A high-relief is a sculpture having a relief very salient and it does not untie itself from the background. As for low-relief, it is a sculpture with a relief less salient on a uniform background. In the Cham sculpture, one retains the trend toward the adoption of the creatures roundness at the level of the reliefs. Few scenes are included in this sculpture. The lack of continuity or awarkness are noted at the assembly level in the opposite case.

The creatures found in the Cham sculpture tend to be always detached from space that surrounds them with brilliance. They have something monumental. Even in the case where they are grouped together (in the artworks of Mỹ Sơn, Trà Kiệu chronicling the Cham daily life ), they give us the impression that each one remains independently from others. 

One can say that the Cham sculptor is solely interested by creature he wants to show and glorify without thinking at no time to details and imperfections becoming excessively unrealistic (hand too big or Trà Kiệu dancer arm too flexed for example) and without the perfect imitation in Hindu original models, which gives to Cham sculpture the character “monumental” not found in the other sculptures. It is an another feature found in this Cham sculpture. 

The artworks are limited but they testify to a plastic beautiful quality and the expression of various religions. It is difficult to give them a same style. By contrast, some features are closely linked to tradition of Amaravati Indian art . It is only in the second half of 7th century that under the reign of Prakasadharma Vikrantavarman I king , the Champa sculpture began to take body and to reveal its originality. More reading

  • Mỹ Sơn E1 style (7th -middle 8th century)
  • (Middle  8th- middle  9th century).  Hoàn Vương period
  • Ðồng Dương style  (9th -10th century)
  • Mỹ Sơn A 1 style (10 th century)
  • Tháp Mắm style (or Bình Ðịnh style)  
  • Yang Mum and Pô Rome style ( 14th -15tn century)

Papyrus vietnamien (Giấy dó)

 

English version

Papier dó

Celles-ci sont proposées souvent dans les kiosques réservés aux touristes étrangers. Le papier dó (papier de rhamnomeuron) est utilisé dans l’impression de ces imageries. Selon certains chercheurs vietnamiens, ce papier fut apparu vers le IIIème siècle et connût son apogée du VIIIème au XIVème siècles. Hồ Qúi Ly s’en servit à la fin du XIVème  siècle pour l’impression des monnaies fiduciaires.

La production de ce papier nécessite une préparation minutieuse. Il est fabriqué avec l’écorce de l’arbre do. Après la récolte de celle-ci entre les 8è et 10è mois lunaires, on a besoin de l’immerger dans l’eau pendant un ou deux jours. On la traite ensuite en la macérant dans une solution de chaux condensée durant 5 heures. Puis on la fait bouillir

L’enfant et le coq

durant une vingtaine d’heures avant de la piler pendant 5 heures. La farine obtenue par le pilage est diluée dans une bassine remplie d’un mélange d’eau et de résine de la plante mò ( clerodendron ). Le papier est obtenu grâce à un moule après avoir été pressé et séché.

Papyrus vietnamien

Galerie des photos

Pour cent kilos d’écorce, on obtient seulement 5 ou 6 kilos de papier. Cela explique la raison pour laquelle le marché est très limité. De plus le papyrus vietnamien do ne pousse que dans les hautes régions au Nord. Connus pour la fabrication des imageries populaires sur papier do, les villageois de Dương Ô et de Ðông Hồ ont subi le même sort. Le prix de revient  dans  la production du papier recyclé est supérieur à celui de vente  du papier dó. C’est pourquoi peu de gens continuent à s’intéresser encore à ce métier ancestral qui se perd au fil des années.

Version anglaise

Those are often proposed in the kiosks reserved to  foreign tourists. Paper dó (rhamnomeuron paper) is used in the printing of these images. According to certain Vietnamese researchers, this paper had appeared around the 3rd century and knews its apogee from the 8th to the 14th century. Hồ Qúi Ly made use of it at the end of  14th century for the printing of  fiduciary currencies. The production of this paper requires a meticulous preparation.

It is manufactured with the bark of the tree dó. After the harvest of this one between the 8th and 10th lunar months, one needs to immerse it in water during one or two days. After one treats it by macerating it in a lime solution condensed during 5 hours. Then one makes it by boiling  during about twenty hours before crushing it during 5 hours. The flour obtained by crushing is diluted in a basin filled with a mixture of water and resin of the plant mò (clerodendron). Paper is obtained thanks to a mould after being pressed and  dried.

For two hundred kilos of bark, one  gets only 5 or 6 kilos of paper. That explains why the market is very limited. In addition, the Vietnamese papyrus dó grows only in the northern  highlands. Known for making popular imagery on paper dó,  villagers of Dương Ô and Đông Hồ suffered the same fate. The cost price in the production of recycled paper is higher than the selling  price  of dó paper. That is why a few people still continue to be interesting to this ancient craft that is lost over the years.