Non nước Cao Bằng (Monts et Eaux Cao Bằng)

Le fleuve Nho Quế se faufile comme un serpent à travers les montagnes

Version française

Sau công viên địa chất Đồng Văn (Hà Giang), Việt Nam đuợc có thêm  công viên địa chất thứ hai  Non nước Cao Bằng gia nhập vào  mạng lưới công viên địa chất toàn cầu  mà tổ chức Liên Hiệp Quốc  UNESCO công nhận vào tháng 4 vừa qua (2018). Tỉnh   Cao Bằng  cùng tên nầy thuộc vùng đông bắc Việt Nam, giáp ranh giới với khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc. Cao Bằng nằm cách xa thủ đô Hànội 286 km.  Đến từ Hà Giang, tụi nầy chọn đi qua con đèo độc đáo Mã Pí Lèng. Đèo nầy nằm giữa cao nguyên Đồng Văn, một bên là vách núi Mã Pí Lèng còn một bên là sông Nho Quế. Đèo nầy  không dài chi cho mấy chỉ khoảng 20 km nhưng nó rất hùng vĩ ngoạn mục nhất ở Việt Nam vì trong tầm mắt trên cao nhìn xuống sông Nho Quế nó nhỏ  như  sợ chỉ, như con rắn bò qua hàng ngàn núi đá  trọc màu xám trùng trùng điệp điệp lô nhô cây cối.  Đèo nầy được ví như « vua của các đèo » ở Việtnam vì nó rất nguy hiểm với những đoạn cua tay lổn nhổn đá hộc, hai ô tô phải né tránh nhau với tiếng kèn.  Sở dĩ đèo nầy mang cái tên Mã Pí Lèng vì theo tiếng Quảng Đông là sống mũi con ngựa. Tuy nhiên các người Hmong họ cho là sống mũi con mèo. Theo lời kể dân gian, các con ngựa cái leo qua đèo nầy bị trụy thai hay  dốc nó cao  quá chừng khiến con ngựa đuối sức trèo lên tắc thở.   Đường nầy được mang tên Hạnh Phúc nhưng thật sư đựợc thành hình với mồ hôi, xương máu và nước mắt của đội quân cảm tử thuộc  16 dân tộc thiểu số (Tày, Mèo, Lolo, Pù Péo vân vân …) cùng nhau đục đẽo từng viên đá ngày đêm trong thời gian 6 năm liền. Có thể nói là con đường gian nan khổ sở nhất cho những ai lái xe nhưng nó cũng là một niềm vui không ít cho những người du lịch thích cảnh vật thiên nhiên  hoang dã. Có đến đây mới thành hảo hán vì đây được xem như là Vạn Lý Trường Thành của Việtnam, có đến đây mới thấy đất nước Việtnam xinh đẹp  và xanh tươi. Cao Bằng là một tỉnh ít bị ô nhiêm nhất chỉ có khoảng chừng 500.000 dân. Cao Bằng nổi tiếng có thác Bản Giốc, có động Ngườm Ngao, có khu di tích Pắc Bó. Chính ở nơi nầy mà người anh hùng của dân tộc Tầy Nùng, Nùng Trí Cao khởi nghĩa dành độc lập chống lại nhà Tống như tộc Lạc Việt với Ngô Quyền. Mặc dầu việc quật khởi không thành, ông được xem là người anh hùng của dân tộc Choang (Tày Nùng) và được tôn thờ ở Cao Bằng nhất là ở chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc. Chính ở nơi nầy mà theo lời chỉ dẩn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm  mà con cháu nhà Mạc chạy về đây cố thủ, làm vua được ba đời thêm vào thế kỷ 16.

Galerie des photos (de Hà Giang à Cao Bằng)

Version française 

Après la reconnaissance du parc karstique de Đồng Văn , le Vietnam a eu  récemment le deuxième parc  géologique Non Nước Cao Bằng reconnu comme   membre du Réseau global des parcs géologiques de la part de l’UNESCO en avril dernier (2018). La  province Cao Bằng  est  située au nord-est du Vietnam et a une frontière commune avec la région autonome Kouang Si (Quảng Tây) de la Chine. Elle est distante  de la capitale Hànội de 286 km. En partant de Hà Giang, nous sommes décidés de prendre la route menant au col majestueux Mã Pí Leng. Celui-ci est situé au cœur du plateau calcaire Đồng Văn avec d’un côté les falaises de Mã Pí Leng  et de l’autre  le fleuve Nho Quế. Ce col fait environ 20 km de long mais il est grandiose et  très spectaculaire au Vietnam car à portée de vue en haut, le fleuve Nho Quế   ressemble à un fil mince ou à un serpent se faufilant à travers des milliers de rochers nus et gris qui se succèdent  et se laissent  envahir par la végétation.  Il est considéré comme le « roi des cols »  au Vietnam car il est tellement  dangereux  avec des tronçons de route  en forme de coude  et remplis  de blocs de pierre  équarris en désordre que  le klaxon  des  voitures doit retentir sans cesse pour éviter les risques de collision. C’est pourquoi ce col porte le nom « Mã Pí Lèng » car selon le cantonais, c’est le bout avant du  nez du cheval. Mais pour les Hmongs c’est le bout avant du  nez du chat. Selon l’on-dit,  en passant par ce col, la jument enceinte aurait le risque d’avortement ou  la pente est tellement  haute que  le cheval serait mort d’épuisement en la grimpant. Cette route sinueuse est appelée souvent  « route du bonheur »  mais elle  a été construite  avec la sueur, le sang et les larmes des volontaires recrutés parmi les  16 ethnies minoritaires  (Tày, Mèo, Lolo, Pù Péo etc …) du Vietnam,  ne cessant pas de travailler jour et nuit durant les six années consécutives  pour cette réalisation titanesque.  On peut dire que c’est la route la plus difficile pour les chauffeurs. En passant par ce col, on se sent fier d’être un brave car on  considère ce col  comme la muraille de Chine du Vietnam. C’est aussi une  joie immense pour les touristes, en particulier ceux qui aiment la nature sauvage. En venant ici, on s’aperçoit que le Vietnam est un très beau pays et incroyablement vert. La province Cao Bằng est la moins polluée car elle n’a qu’à peu près 500.000 habitants. Cao Bằng est connue pour ses chutes d’eau Bản Giốc, sa grotte Nguờm Ngao,  le site historique Pắc Bó. C’est ici que le héros national du peuple Choang Nùng Trí Cao a tenté le soulèvement populaire  contre les Song (Chinois) pour établir un royaume Đại Nam au sud de la Chine comme les Vietnamiens avec le général Ngô Quyền.  Malgré l’échec de ce soulèvement, il est considéré comme un héros du peuple  Choang et vénéré partout à Cao Bằng, en particulier à la pagode Phật Tích en face des chutes d’eau Bản Giốc. C’est ici que sur les recommandations du Nostradamus vietnamien Nguyễn Bỉnh Khiêm que les descendants de la dynastie des Mạc se réfugièrent  au 16ème  siècle pour se défendre et maintenir encore leur règne pour trois générations.

Le palais fortifié du roi des Hmong (Dinh thự của vua Mèo)

Version vietnamienne

De passage à Hà Giang, on a l’occasion de visiter le palais fortifié du roi des Hmong Vương Chính Đức. Celui-ci est situé à une vingtaine de kilomètres de Đồng Văn au cœur de la vallée de la  commune Sa Phìn. Selon l’on-dit, Vuơng Chính Đức a choisi cet emplacement du fait qu’il y a  un bloc de terre semblable à la carapace de la tortue, ce qui permet d’avoir une belle carrière pour lui et ses descendants dans l’optique des géomanciens. Basée sur le modèle de Yamen Manchu (bâtisse d’un mandarin à l’époque des Qing) et construite dans les années 1920 à 1600 m d’altitude sur une superficie de 3000 m2, cette magnifique résidence est une belle œuvre architecturale, un mélange subtil de l’art traditionnel Hmong, chinois et français. Cela   nécessite quand même 8 ans de travaux effectués  avec acharnement par les ouvriers venant de Yunnan et de Đồng Văn.  Elle est composée de 3 constructions  sur pilotis à 2 étages dont l’une  est située jusque derrière  l’entrée et les deux autres dépendances  sont opposées entre elles et forment avec la première  un angle droit. Tout est fait en bois précieux (planchers, cloisons, colonnes etc…) avec la toiture toujours en tuiles Yin et Yang.
Il y a au moins 64 pièces et   trois cours intérieures. Grâce à l’ajout de de deux donjons en pierre  à l’arrière de cette résidence, celle-ci est appelée souvent sous le nom « château ».  À l’époque où le roi des Hmong était en vie, il y avait plus de 100 personnes qui étaient logés dans cette résidence, y compris ses 3 femmes et ses enfants. 

Vue prise de l’entrée de la résidence jusqu’au fond à travers les cours

Maison principale avec ses deux dépendances opposées

Ai có đến Hà Giang thì cũng có dịp đến tham quan nhà của vua Mèo Vương  Chính Đức. Được tọa lạc cách Đồng Văn gần hai chục cây số ở giữa lòng một thung lũng thuộc địa phận xã Sa Phìn. Theo lời  đồn, Vương Chính Đức chọn nơi nầy vì ở đây có một khối đất được xem như là cái mai rùa khiến sẻ  có sự nghiệp tốt đẹp cho ông và con cháu theo cái nhìn quan sát của các nhà rành về phong thủy. Dựa trên mẫu nhà của Yamen Manchu (những dinh thất của các quan dưới thời đại nhà Thanh) và  được xây cất  ở độ cao 1600 thước vào các năm 1920 với một diện tích 3000 mét vuông, dinh thự nầy là một kiệt tác kiến trúc, một hỗn hợp tinh vi của nghệ thuật truyền thống của người Hmong, người Hoa và người Pháp. Thế cũng phải  mất 8 năm xây dựng nhọc nhằn bỡi những người thợ chuyên môn đến từ Vân Nam và Đồng Văn. Dinh thự  nầy gồm có 3 tòa nhà mà nhà chính thì được tọa lạc ngay sau cửa vào và hai nhà phụ thì đối diện với nhau và tạo với nhà chính các góc vuông.   Tất cả đều được làm bằng gỗ qúy từ sàn nhà cho đến cột trụ qua đến vách ngăn.  Tất cả mái nhà  nơi nầy đều được lợp với ngói âm dương. Có ít nhất 64 phòng và ba sân  nội.  Nhờ thêm hai vọng lâu xây  bằng đá ở phiá sau dinh thự mà dinh nầy thuờng được gọi là lầu đài.   Dạo thời vua Mèo còn sống thì có hơn một trăm người sống ở đây kể luôn ba bà vợ  của ông và các con cháu.

Hà Giang, vẽ đẹp của miền sơn cước

 


Version française

Nằm ở vùng núi phía Bắc Vietnam, Hà Giang là một tỉnh có nhiều núi rừng, giáp ranh giới vói tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Dân số ở nơi nầy rất thưa, chỉ có khoảng chừng 900.000 người theo điều tra dân số năm 2016. Tuy nhiên chính ở nơi nầy tụ hơp rất nhiều dân tộc thiểu số (22 dân tộc) trong đó đáng kể nhất là người Hmong (hay Miêu) tiếp đó người Tày, người Dao và người Nùng. Đến đây mới thấy được cái đẹp tư nhiên của tạo hóa, cái hùng vĩ của non nước, cái nhọc nhằn, công lao của ông cha ta gìn giữ bờ cõi đất nước trước hiểm họa của người phương bắc. Chính cũng ở nơi nầy mới có cảm xúc nhiều khi lặn lội trèo lên 389 bậc thang ở đỉnh Lũng Cú mà thường được gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn) (1700 mét), nơi mà danh tướng Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm dựng lên lúc ban sơ cây cột cờ để khẳng định chủ quyền Vietnam trên mãnh đất nầy. Tuy Hà Giang nó rất còn hoang sơ của miền sơn cước nhưng nó có cái gì thiêng liêng mà không thể diễn tả được khi đến với mãnh đất nầy. Tôi còn nhớ trước ngày đi đến, ai cũng khuyên không nên đi vỉ tuần trước đường xá sạt lở vì bão Sơn Tinh. Có thể nguy hiểm cho tánh mạng và có thể hủy đi lịch trình Hà Giang khiến tôi sẻ mất một tuần ở Vietnam nhưng rồi tôi cũng quyết tâm đi cùng các con cháu. Tôi mới có dịp nhìn thấy được nét đẹp của Hà Giang, đến tham quan cao nguyên đá Đồng Văn mà cơ quan UNESCO chín thức công nhận là Công Viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Vietnam và thứ hai ở Đông Nam Á sau Langkawi (Mã Lai)  vào năm 2010.

Hôm đi, không có gì trở ngại cả, cứ lấy quốc lộ 2 đến Tuyên Quang rồi sau đó đến thành phố Hà Giang nghỉ một đêm ở một khách sạn trong thành phố Hà Giang. Trên đường, có một quán bán nước mía không thấy có ruồi chi cả dù có bã mía rất nhiều trong thùng rác. Thấy vậy tôi,  các con cháu và cháu  tài xế mới mua uống  mỗi người một ly. Hai vợ chồng bán nước mía nầy họ trồng sau vườn các bụi mía. Thât ngon và sạch nhất là ở đất nầy không thấy có  ruồi có lẽ tại khí hậu của rừng núi và dân số quá thưa. Lâu lắm rồi mới uống được một ly nước mía trong sạch chớ bao giờ dám uống mỗi lần vê Việtnam.  Chiều đó  còn được một cặp vợ chồng bạn con dâu mình mời và  đãi một buổi cơm với món ăn đặc trưng ở Hà Giang là lẩu ngựa. Ăn kèm theo rau rừng, mùi vị béo ăn cũng không ngán để làm ấm lại con người khi  không gian thời tiết se lạnh hay mưa rỉ rả trong đêm. Sáng sớm mưa vẫn rơi, tụi nầy tiếp tục hành trình đi Đồng Vạc với quốc lộ 4C, mình hơi lo, cứ nhủ thầm trong lòng, cứ  sương mù xuống nửa lừng đồi thêm mưa rỉ rả  như vầy  thì chuyện chụp hình của mình cũng hỏng chưa nói chuyện sạt lở đất ở giữa đường đi, đôi khi có một  tảng đá to lớn vài tấn nằm bên hông đường. Không có chỉ dẩn rõ ràng chi cả có đi đuợc hay không, cháu tài xế Minh cứ lẳng lặng lái xe. Chính nhờ  sự bình tĩnh cũa Minh và tính tiền định có ở nơi người con Việt mà sự  lo âu của mình cũng dần dần biến mất nhất là có những đọan đường không có mây đen trời lại nắng khiến mình mãi mê chụp hình mà quên tất cả. Nhưng có những đoạn đường quanh co nguy hiểm đến đổi phải sửng sốt đèo nầy qua thì đèo khác tới khiến làm ai cũng mệt  nhất là chỉ có tổng cộng hơn 200 cây số mà 6, 7  tiếng đồng hồ phải mất .  Mệt thì có mệt nhưng với không gian yên tĩnh, con người hiền hòa của vùng sơn cước thì  cũng nên cần có  chớ không như ở Saïgon hay Hànội  cái ồn ào ầm ĩ của tiếng kèn, cái không gian sôi động không ngừng.  Cũng không có trộm cắp như các đô thị khác theo lời kể của cháu tài xế. Cụ thể là gà, vịt, trâu và bò vẫn ngẩn ngơ do dự   từng bước  sang ngang trên quốc lộ mà tất cả xe lớn xe nhỏ phải tránh và dù tụi nó  xa nhà của chủ nhân có cả cây số. Cũng không ai dám cán  chúng nó vì sợ chủ nhân đòi đền gấp  nhiều lần hơn. Dọc theo quốc  lộ,  lúc nào cũng thấy các cánh đồng ngô xanh của dân tộc Hmong. Họ rất giỏi về làm ruộng. Bởi vậy từ thưở nào người Trung Hoa  dùng chữ  tựơng hình điền  thêm trên đầu  chữ  tượng hình thảo (lúa) để ám chỉ nguời Hmong   hay Miêu, những người  giỏi về canh tác đấy.  Cũng đúng thôi vì nhìn  trên tản đá chỉ cần một tí đất là  cây ngô có thể chồi ra dễ dàng. Đôi khi dọc theo đường nhìn sâu qua kiến xe có một  hay hai cái nhà của người Hmong nằm cheo leo sườn núi không biết họ xây dưng làm sao và đi thể nào để vào đó.  Cũng có phần  may mắn khi  đến Đồng Văn có một nhà trọ mới sửa ở phố cổ nên tụi nầy được trọ đêm thứ nhì ở  đây. Mưa vẫn rơi tầm tã nên đèn đuốc cũng lờ mờ, không có trông đẹp như Hội An, Phố cổ Hànội. Có lẻ tụi nầy đến giữa tuần nên không có nhộn nhịp như lúc cuối tuần. Sáng ngày thứ ba, tụi nầy mới có dịp ăn điểm tâm ở đây, ăn bánh cuốn trứng  Đồng Văn, đặc sản ở  miền sơn cước. Nó cũng được tráng từ bột gạo và nhân làm từ lợn xay ra, chỉ có khác là thay vì ăn kèm với nước mắm pha chanh đường thì họ dùng với nước hầm (ninh) xương kèm theo hai chiếc giò lụa nhỏ.  Mình chỉ  thấy có một hương vị đặc biệt nhưng vì có mỡ của xuơng nên ăn dễ  ngán lắm. Có lẽ là một cách ăn để ấm lòng và  xua đuổi cái lạnh của rừng Tây Bắc cũng như ở Pháp thường ăn bơ với mùa đông. Sau đó tụi nầy  đi một vòng ở phố cổ Đồng văn, mới có dịp nhìn thấy được cách thức rửa cây lin  mà người Hmong dùng để  dệt vãi  với nước suối trước khi đi tham quan đỉnh Lũng Cú và nhà vua Mèo Vương Chính Đức.  Biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên và cảm xúc không ít với ba ngày ở Hà Giang nhất là có các con cháu bên cạnh, lúc nào cũng trơ lực  trong chuyến đi nầy từ Hà Giang đến Cà Mau, hai cái mốc của đất nước cách xa  1535 cây số.

Cuộc hành trình Hà Giang  theo hình ảnh 

 

L’itinéraire du voyage à travers les photos

Située dans la région montagneuse du Nord Vietnam, Hà Giang est une province partageant la frontière commune avec  la contrée du sud-ouest de la Chine, Yunnan. Sa population est peu dense et estimée à peu près de 900.000 habitants selon la statistique démographique en 2016. Pourtant c’est une région où il y a la concentration importante  des ethnies minoritaires du Vietnam (22 ethnies) parmi lesquelles il faut citer d’abord les Hmongs suivis par les Tày, les Dao et les Nùng. C’est ici qu’on découvre la beauté extraordinaire du Créateur,  la nature grandiose et magnifique du Vietnam fascinant, le labeur et le mérite de nos ancêtres dans l’action de résister à la menace des gens du Nord. C’est ici seulement qu’on ressent une émotion intense lorsqu’on grimpe les 389 marches de l’escalier en pierre de la colline Lũng Cú qu’on est habitué à appeler la « colline du Dragon » à 1700 mètres d’altitude. C’est ici aussi que le général vainqueur  des Song et pacificateur du Chămpa  Lý Thường Kiệt a édifié au début un mât en bois de quelques mètres pour affirmer  avec intransigeance la souveraineté du Vietnam sur ce territoire. Bien que ce dernier ait l’air d’une région montagneuse  sauvage et difficilement pénétrable, il y a quelque chose sacrée que je n’arrive pas à décrire en venant ici. Je rappelle bien que la veille de mon départ, tout le monde m’a recommandé d’abandonner le projet de visiter Hà Giang  car elle a été dévastée la semaine précédente par la tempête « Sơn Tinh ». Cela pourrait provoquer des ennuis pour moi et me faire perdre une semaine de vacances au Vietnam. Malgré cela, je continue à persister dans le dessein d’y aller. J’ai ainsi l’occasion d’admirer le charme irrésistible  de Hà Giang et de visiter le plateau karstique Đồng Văn que la fondation  UNESCO a reconnu comme le deuxième parc géologique de l’Asie du Sud Est après celui de la Malaisie (Langkawi) en 2010.

Nous  n’avons  aucun souci le jour du départ. Nous  n’avons  qu’à prendre la route nationale n°2 pour aller à la ville Tuyên Quang avant de rejoindre ensuite  la ville Hà Giang pour passer la nuit à l’hôtel.  Sur la route, nous avons l’occasion de rencontrer un kiosque  détenu par un couple et spécialisé dans la vente du jus de canne à sucre. Nous constatons  qu’il n’y a pas de mouches aux alentours malgré la présence d’une poubelle remplie de déchets de canne à sucre broyés. Nous pensons que le climat joue un rôle important et la démographie n’est pas importante. Nous sommes tentés, chacun  de prendre un verre de jus de canne à sucre. C’est extrêmement délicieux car jusqu’à ce jour je n’ose pas à le prendre quand je reviens au Vietnam. Le soir  même, nous sommes invités par un couple d’amis de  ma belle-fille Oanh dans un restaurant connu pour sa spécialité locale (lẫu ngựa)(ou fondue vietnamienne de viande de cheval). Accompagné par les légumes de la région montagneuse, ce plat ayant la saveur grasse ne nous dégoûte pas mais il nous réchauffe tellement  lorsque le temps commence à se refroidir et la pluie est sporadique durant toute  la nuit. Le lendemain, la pluie continue à tomber toujours. Malgré cela, nous prenons   la route nationale 4C  en direction de Đồng Văn.  L’inquiétude commence à m’envahir car si le brouillard continue à s’épaissir de plus en plus à mi-hauteur de la colline avec la pluie persistante comme celle de la nuit, l’idée de faire les photos  serait tombée à l’eau sans  évoquer les dégâts causés sur la route par la dernière tempête ( plusieurs  gros bloc de pierre de plusieurs tonnes  étant souvent visibles au bord de la route). Aucune indication n’est fournie pour connaître la praticabilité de la route ou non. Notre chauffeur Minh continue à conduire avec assiduité sans être inquiété par l’absence de l’indication. C’est grâce à son calme et à l’attitude fataliste reçue des Vietnamiens  que mon inquiétude s’estompe au fil de la journée. Sur certains tronçons de la route,  le retour du soleil m’incite  à tout oublier et à me  consacrer entièrement  à  faire des clichés. Par contre il y a des tronçons de route très dangereux et tellement sinueux que cela nous rend tous fatigués. Pour 200 kilomètres de trajet, il faut compter au minimum 6 ou 7 heures de route.    Malgré cela, nous sommes contents d’avoir cet espace tranquille et  les gens gentils et  aimables de la région montagneuse au lieu de retrouver à Saïgon ou à Hanội le bruit incessant des klaxons et l’espace tellement animé et pollué. Selon le chauffeur Minh, il n’y a pas non plus le vol comme on le trouve dans les villes.  Les poulets, les canards,  les buffles ou les bœufs hésitant dans leur marche peinent à  traverser la route sans que leur propriétaire s’inquiète de les perdre même s’ils sont loin de leur enclos. Personne n’aime à les écraser car il faut payer  un prix très fort au propriétaire. Sur le bord de la route, on trouve souvent les champs de maïs des Hmongs. Ils sont experts dans le domaine de la culture. C’est pourquoi les Chinois se servent depuis longtemps du pictogramme    (champs) au dessus duquel est ajouté  le pictogramme  (riz paddy) pour désigner les Hmongs   (ou Miêu), les gens doués pour la culture du sol. C’est ce que nous constatons en découvrant de près sur une roche garnie d’une  petite motte de terre l’apparition d’une plante de maïs. Parfois à travers la vitrine de la voiture, nous  découvrons au loin  une ou deux maisons des Hmongs perchées  sur le flanc de la montagne. On se demande comment arrivent-ils à les construire et à y accéder? Nous avons la chance de passer la deuxième nuit  à Đồng Văn  dans un homestay récemment rénové au centre de la vieille ville. La pluie continue à tomber le soir. C’est pourquoi aucune attraction n’a lieu et les lampions sont clairsemés par rapport à ceux de Hội An et de la vieille ville de Hànội. Du fait que nous sommes arrivés au milieu de la semaine, nous ne trouvons aucune   animation organisée fréquemment  en fin de la semaine. Le matin du  troisième jour, pour prendre le petit déjeuner,  nous cherchons de bonne heure un restaurant spécialisé dans la préparation d’une crêpe à l’œuf (bánh cuốn trứng)  typique de Đồng Văn. Étant une spécialité de la région montagneuse, cette crêpe  est faite à partir de la farine de riz et de la viande hachée et se déguste  en la trempant  dans une sauce mijotée à petit feu avec des os de porc et accompagnée toujours par deux petits morceaux de pâté de viande.  Ce plat a une saveur particulière mais à cause de la consistance graisseuse de la sauce, il est difficile de renouveler l’envie.   C’est peut-être la façon de se réchauffer et d’évacuer le froid provenant de la forêt Nord-Ouest comme en France  on est habitué à manger du beurre en hiver. Nous allons faire ensuite un tour à Đồng Văn. Nous avons l’occasion de voir la façon des Hmongs de laver  le lin avant de s’en servir pour le tissage de leurs vêtements avec l’eau de source. Puis    nous visitons  la colline Lũng Cú et le palais fortifié du roi des Hmongs Vương Chính Đức. J’ai tellement des souvenirs et des moments d’émotion intense qu’il est difficile de remémorer pour ces trois jours de visite à Ha Giang en  compagnie de  mes enfants et de mon petit-fils qui ne cessent pas de me soutenir dans ce projet depuis le début jusqu’à la fin de ce voyage inoubliable. (de Hà Giang jusqu’à la pointe de Cà Mau, 1535 km à parcourir).
Paris 28/08/2018

 

 

Việt Nam Quê Hương tôi

intro

Version française

English version

Việt Nam là một quốc gia  mà người dân rất yêu chuộng hoà bình, độc lập và tự do. Là người con Việt  thì phải có khả năng kháng cự lại trước hết việc đồng hóa hay là tư tưởng ngoại bang và hảnh diện có mang ở trong tĩnh mạch dòng máu của cha Rồng. Đối với người dân Việt, không còn sự  hoài nghi nào cả vì qua truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có từ thuở nào, họ là con cháu của  cha Rồng mặc dầu họ biết rõ  từ nay nguồn gốc qua các công trình khoa học. Họ là người thừa kế của nền văn hóa Hòa Bình và thuộc về đại tộc Bách Việt, những bộ tộc sống rải rác ở phía nam sông Duơng Tử. Nuớc ở nơi nầy nó thấm nhuần với đất vì có thể là vậy nên quốc gia nầy thường được gọi là Đất Nước. Cũng  trên mãnh đất của đồng bằng sông Hồng nầy đã qua bao nhiêu thế kỷ trước Công Nguyên có một vương quốc sáng lâp một triều đại với các vua Hùng huyền thoại (nước Văn Lang). Sau đó được thay  thế bởi nước Âu Việt của An Dương Vương (Thục Phán) mà thành trì Cổ Loa là thủ đô, một bằng chứng cụ thể của vương quốc nầy bị thôn tính về sau bởi  Triệu Đà, một danh tướng của hoàng đế Trung Hoa Tần Thủy Hoàng. Ông nầy sáng lập ra nước Nam Việt (Nan Yue) bị thôn tính về sau bởi quân Tàu của danh tướng Mã Viện (Ma Yuan) dưới thời  Hán Quang Vũ Đế (Guagwudi) với một nghìn năm bắc thuộc  trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của tuớng Ngô Quyền. Trong thời kỳ đô hộ, văn hóa Đồng Sơn bị hủy diệt. Người ta tìm thấy trong văn hóa nầy các thạp đồng và nhất là cái trống đồng uy nghiêm biểu hiệu quyền lực và đặc tính của dân tộc Việt đã bao lần suýt bị hủy diệt bởi đế  chế Trung Hoa theo dòng lich sữ.  Đây không phải  là lịch sữ của các triều đại vua chúa hay các phong trào tư tưởng mà chính đây là lịch sữ của dân tộc nông dân bền bỉ từ biên cương Việt Trung đến mũi Cà Mau, vất vã khó nhọc để lại dấu ấn cho quang cảnh của mãnh đất nầy. Sự hy sinh của họ không phải là một từ vô ích. Các hào kiệt của họ thà làm qủi phương nam thay vì làm các vương công phương Bắc. Còn các nữ kiệt cũng không ngần ngại đáp lời sông núi. Đó là hai bà Trưng Trắc Trung Nhị, Triệu Ẩu, Nguyễn Thị Giang (Cô Giang), Nguyễn thị Minh khai vân vân. Không người con Việt nào có thể quên câu nói bất diệt của Nguyễn Thái Học trước cái chết :

Chết vì Tổ Quốc.

Đây là số mệnh quá cao thượng,  đáng khen ….

Trên chiến trường, không có lực luợng  ngoại bang nào có thể  đánh bại  khi có chạm trán với người dân  Việt. Chính họ dành được  sự thắng lợi  nhờ ba yếu tố nầy: Thiên Thời, Đia Lợi và Nhân Hòa. Chính yếu tố sau cùng  nầy nó  đem lại sự khác biệt trong cuộc chiến tranh tiêu hao. Nguyễn Trãi đã có dip nói rằng thà chinh phục nhân tâm hơn là chiếm đoạt thành trì. Hiên ngang trước quân giặc mạnh  hơn họ thì họ cần phải kiên nhẫn nghĩ đến các thể thức thường được áp dụng trong lý thuyết Âm Dương : Lấy Yếu chống Mạnh hay Lấy Cụt chống Dài. Chính nhờ mưu lược nầy mà Nguyễn Trãi dành phần thắng lợi  trong cuộc chống giặc nhà Minh của hoàng đế Vĩnh Lạc và xua đuổi quân Tàu ra khỏi Việtnam vào năm 1428. Dùng chiến thuật di quân (Dương) trước sự bất động của quân nhà Thanh (Âm) phù hợp hoàn toàn với địa lợi, vua Quang Trung  đánh bại  chớp nhoáng quân địch vào năm 1788 trong 5 ngày Tết  để lấy lại Thăng Long. Chính cũng Quang Trung lợi dụng sự không biết đia thế của quân địch mà dành phần thắng lợi thần tốc ở  rạch Gầm-Xoài Mút (Mỹ Tho) với quân Xiêm La của tướng Chakri  khi ông nầy gởi sang 50 vạn binh tiếp viện cho vua Gia Long. Không có dân tộc nào có thể cưởng lại trước sự  bành trướng  của người dân Việt trong cuộc Nam Tiến. (hai vương quốc Chămpa và Chân Lạp). 

Dù bị nghìn năm bắc thuộc và  có sự đóng góp văn hóa ngọai bang, những người nông dân con Việt  mảnh khảnh  nầy, chân vùi dưới bùn giữa các ruộng lúa, đã  gìn giữ được  những gì qúi giá nhất của các dân tộc trên thế giới. Đó là những truyền thống  và tiếng Việt dựa trên chữ Hán sau nầy dùng chữ Latinh với ông thầy tu Alexandre de Rhodes. Chỉ còn bộ tộc Lạc Việt duy nhất  thuộc đại tộc Bách Việt không bị hán  hóa qua nhiều  thế kỷ. Chính Đức Khổng Tử  đã có từng  so sánh sinh lực  có ở nơi người Trung Hoa và người Lạc Việt, tổ tiên của người Việtnam ngày nay : cang đảm và vũ lực thuộc về người Trung Hoa, còn Lạc Việt thì khoan dung và  nhân từ. Tuy nhiên người dân Việt luôn luôn gắn bó sâu đậm với đất nước khiến họ không nhường bộ trong cuộc đấu tranh vì thế theo sự suy luận của một nhóm người, họ là những kẻ đi chinh phục tàn nhẫn và đáng sợ nhưng còn nhóm người khác thì  họ là những người bảo vệ chính đáng trong công cuộc chiến  dành lại độc lập và tư do. Dù sao họ đã hy sinh quá nhiều trong quá khứ về sinh mạng cho hai khái niệm: độc lập và tự do mà họ  không có quen để lựa chọn hay tách biệt. Chính vì  vậy họ vẫn trong tình trạng khổ tâm không ít. Rồi họ cũng  có lần lượt  hai khái niệm nầy với  cái giá  mạng người quá đắt. Việc ý thức tập thể bất đầu thành hình qua nhiều năm với Nguyễn An Ninh. Mặc dầu ba vị vua trẻ Việt Nam Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân bị lưu đày ở Algérie và La Réunion và việc xử trảm nhiều nhà cách mạng trong đó  có một chàng trai trẻ tài ba Nguyễn Thái Học, người dân Việt vẫn  không mất nhuệ khí trong các cuộc nổi dậy và dành lại độc lập với chiến thắng ở Điên Biên Phủ vào năm 1954. Việc  thả ba trăm tấn bom (265 kí cho mỗi người dân Việt)  và 60 triệu lít chất làm rụng lá cũng không làm nản lòng người dân Việt trên con đường thống nhất  lại đất nước vào năm 1975 sau đó dẫn đến việc đày  biết bao nhiêu người lính miền nam đến trại học tập và cuộc di tản  chưa từng thấy, có rất nhiều người  chết đuối  và bị hảm hại bởi hải tặc ở biển Đông và vịnh Thái Lan để đi tìm tự do. Theo lời tường thuật của nhiều tác giả Tây Âu, (Barry Wain, Magali Barbieri) có dịp nghiên cứu về vấn đề nầy thì có ít nhất  tổi thiểu là 250.000 người Việt vượt biên chết  ở biển. Theo sự dự tính của cơ quan HCR (Haut  Commissariat pour les Réfugiés), từ 1975 đến 1991, trong 16 năm, có gần một triệu người dân Việt mà trong đó có 8 trăm nghìn người di tản đã lìa bỏ Việtnam. Con đường hòa giải dân tộc rất còn xa vời vì nó đầy gian nan, cạm bẩy và vụng về sau ba thập niên chiến tranh và đau khổ. Một trang lịch sữ đã khép lại  nhưng Việtnam phải trả  giá rất đắt không những trên phương diện con người và môi trường bởi vì vẫn tiếp tục nhận  những hậu quả không  ước lượng nổi của bao nhiêu thập niên chiến tranh (chất độc da cam chẵng hạn). Theo tờ báo thông tin của Unesco ghi lại tháng năm năm 2000, một tổ chức làm việc dưới sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc, ước tính có một phần năm rừng ở miền nam bị hủy hoại bởi các thuốc diệt cỏ của Hoa Kỳ.

Người trai trẻ Việtnam ngày nay không biết hận thù  và cũng không có nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh. Nhưng thách thức  nghèo đói  vẫn   còn rình rập đeo đuổi. Bóng ma chiến tranh nó vẫn còn đó theo dòng ngày  tháng  ở biển Đông với các đảo Hoàng Sa bị cưởng đoạt  năm 1974 và Trường Sa gần đây bởi người phương Bắc mà  mối đe dọa càng ngày càng quá khiêu khích. Trước tham vọng quá đỗi của Trung Quốc, bài thiên sữ thi « Nam Quốc Sơn Hà » của tướng Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm, khẳng định lại chủ quyền của Việtnam, nó trở lại ám ảnh tâm trí và vang âm trong trái tim của người con Việt.  Tuy rằng với bao nỗi lo âu và cuộc sống quá tồi tệ, không ai có thể quên đi  được mãnh đất  nầy mà người con Việt thường gọi là Quê Hương vì  chỉ ở nơi  nầy  có thể tìm lại kỷ niệm của tuổi ấu thơ, mái trường xưa và  quá khứ. Mặc dầu mãnh đất nầy  nó đồng nghĩa với chữ nghèo nàn và khổ cực, nó là lý lẽ sống đấy vì ông cha ta  tranh đấu và giành được từ  khi lập nước với mồ hôi, nước mắt và xương máu. Cũng như mẹ, mỗi người con dân Việt  chỉ có một người mẹ duy nhất trong đời không ai có thể thay thế được. Ngoài làng ra, hình ảnh đình, con trâu hay cây tre không bao giờ xoá mờ trong kí ức tập thể của người con Việt cả. Đối với những người con Việt viễn xứ, đây chỉ là một khoảng thời gian tạm thời thôi   chớ nó không phải là một kết cục chính. Hình bóng Quê Hương nó vẫn  đeo đuổi mãi  họ với biết bao trìu mến và luyến tiếc.

Những bài mới viết gần đây

Duy Tân (1907-1916) (English version)

duytan_empereur

Version française

 A great homage to the man who has dedicated all his life for his people and his country.

Một đời vì nước vì dân
Vĩnh San đứa trẻ không cần ngôi vua
Tù đày tử nhục khi thua
Tử rồi khí phách ông vua muôn đời

With the agreement of the Vietnamese authorities, the ashes of emperor Duy Tân interred up to now in the Republic of Central Africa were gathered with great pomp on April 4th, 1987 in Huế, the city of imperial mausoleums of the Nguyen dynasty. This has brought an end to a long and painful banishment that has had prince Vĩnh San often known as Duy Tân ( or Friend of Reforms ) since his uprising plan against the colonial authorities was discovered on May 4, 1916 because of the treason of a collaborator, Nguyễn Ðình Trứ.

Duy Tân is an outstanding character that none of the last emperors of the Nguyễn dynasty could be equal to. One can only regret his sudden disappearance due to a plane crash that took place at the end of 1945 on his way back from a mission from Vietnam. His death continues to feed doubt and remains one of the mysteries not elucidated until today. One found in him at that time not only the unequal popularity he knew how to acquire from his people, the royal legitimacy, but also an undeniable francophile, an alternative solution that general De Gaulle contemplated to propose to the Vietnamese at the last moment to counter the young revolutionary Hồ Chí Minh in Indochina. If he had been alive, Vietnam probably would not have known the ill-fated decades of its history and been the victim of the East-West confrontation and the cold war.

It is a profound regret that every Vietnamese could only feel when talking about him, his life and his fate. It is also a misfortune for the Vietnamese people to have lost a great statesman, to have written their history with blood and tears during the last decades.

His ascension to the throne remains a unique occurrence in the Annals of history of Vietnam. Taking advantage of suspicious anti-french schemes and the disguised lunacy of his father, emperor Thành Thái, the colonial authorities compelled the latter to abdicate in 1907 and go into exile in the Reunion at the age of 28. They requested that Prime Minister Trương Như Cường assume the regency. However this one while categorically refusing this proposal, kept demanding the colonial authorities to strictly respect the definite agreement in the Patenôtre Treaty of Protectorate (1884) providing that the throne comes back to one of the emperor’s sons in case he ceases reigning ( Phụ truyền tử kế ). Facing popular opinion and the infallible fidelity of Trương Như Cương to the Nguyen dynasty, the colonial authorities were forced to choose one of his sons as emperor. They did not hide their intention of choosing the one that seemed docile and without caliber. Except Vĩnh San, all of about 20 other sons of emperor Thành Thái were present at the moment of selection made by the General Resident Sylvain Levecque. The name Vĩnh San missed at the roll-call, which forced everyone to look for him everywhere.

Finally he was found under the beam of a frame, his face covered with mud and soak with sweat. He was chasing the crickets. Seeing him in this sordid condition, Sylvain Levecque did not hide his satisfaction because he thought only a fool would choose the day of ascession to the throne to go chasing the crickets. Upon the recommendation of his close collaborator Charles, he decided to designate him as emperor of Annam as he found in front of him a seven-year old child, timid, reserved, having no political ambition and thinking only to devote himself to games like children of his age. It was an erroneous judgment as stated in the comment of a French journalist at that time in his local newspaper:

 A day on the throne has completely changed the face of an eight-year old child. 

One noticed a few years later that the journalist was right because Duy Tân has dedicated all his life for his people and his country until his last breath of life.
At the time of his ascension to the throne he was only 7. To give him a stature of an emperor, they had to give him one more year of age. That is why in the Annals of history of Vietnam, he was brought to the throne at 8 years of age. To deal with this erroneous designation, the colonial authorities installed a council of regency constituted of Vietnamese personalities close to General Resident Sylvain Levecque ( Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh, Cao Xuân Dục) to assist the emperor in the management of the country and requested that Eberhard, the father-in-law of Charles be Duy Tân’s tutor. It was a way to closely supervise the activities of this young man.

Trần Cao Vân

In spite of that, Duy Tân succeeded in evading the surveillance network placed by the colonial authorities. He was one of the fierce partisans for the revision of the Patenotre agreements (1884). He was the architect of several reforms: Tax and chore duty reduction, elimination of wasteful court protocols, reduction of his own salary etc… He forcefully protested the profanation of emperor Tự Ðức’s tomb by General Resident Mahé in his search for gold, with the governor of Indochina Albert Sarraut. He claimed the right to look at the management of the country. This marked the prelude of dissension which grew more and more visible between him and the French Superior Resident. On May 4, 1916, with Trần Cao Vân and Thái Phiên, he fomented a rebellion which was discovered and put down due to the treason of one of his collaborators. Despite his capture and flattering advice of the Governor of Indochina asking him to reexamine his comportment and conduct, he continued be impassible and said: 

If you compelled me to remain emperor of Annam, you should consider me as an adult emperor. I should need neither the council of regency nor your advice. I should manage the country’s business on the same footing with all foreign countries including France.

Facing his unwavering conviction, the colonial authorities had to assign the Minister of Instructions of that time, the father-in-law of future emperor Khải-Ðịnh, Hồ Ðắc Trung to institute proceedings against his treason toward France. For not compromising Duy Tân, the two older collaborators Trần Cao Vân and Thái Phiên made it known to Hồ Đắc Trung their intent to voluntarily accept the verdict provided that emperor Duy Tân was exempt from the capital punishment. They kept saying:

The sky is still there. So are the earth and the dynasty. We wish long live to the emperor.

 

Faithful to the Nguyen dynasty, Hồ Ðắc Trung only condemned the emperor to exile in justifying the fact that he was a minor and that the responsibility of the plot rested with the older collaborators Trần Cao Vân and Thái Phiên.

The men were guillotined at An Hoà. As for emperor Duy Tân, he was condemned to exile to the Reunion on November 3, 1916 on board of the steamship Avardiana. The day before his departure, the representative of the General Resident visited him and asked:

Sir, if you need money you may take it from the state coffer.

Duy Tân replied politely :

The money that you find in the coffer is intended to help the king to govern the country but it does not belong to me in anyway especially to a political prisoner.

To entertain the king, the representative did not hesitate to remind him that it was possible to choose preferred books in the library and take them with him during his exile because he knew the king loved to read very much. He agreed to that proposal and told him:

I love reading very much. If you have the chance to bring books for me, don’t forget to bring the entirety of all the volumes of « History of the French Revolution » of Michelet.

The representative dared not report to the Resident what Duy Tan had told him.

His exile marked not only the end of the imperial resistance and the struggle monopolized and animated up until then by the scholars for the defense of the Confucian order and the imperial state but also the beginning of a national movement and the emergence of a state nationalism placed in birth by the great patriot scholar Phan Bội Châu. It was also a lost chance for France for not taking the initiative to give freedom to Vietnam in the person of Duy Tân, a francophile of the first hour.

His destiny is that of the Vietnamese people. For a certain time, one has deliberately made all streets bearing his name disappear in big cities ( Hànội, Huế, Sàigon ) in Vietnam, but one cannot forever erase his cherished name in his people’s heart and in our collective memory. He is not the rival of anybody but he is on the contrary 

the last great emperor of Vietnam.

To this title I dedicate to him the following four verses:

Devoting his whole life to his country and people,
Duy Tan the kid did not hang on to his throne.
Facing exile and humility when defeated,
His uprightness lives forever in history unabated.

Thành Thái (1879-1954) (English version)

 

 

Version française

Thành Thái 

A great homage to a man who devoted his whole life for his country and people through my Six-Eight verses:

Ta điên vì nước vì dân
Ta nào câm điếc một lần lên ngôi
Trăm ngàn tủi nhục thế thôi
Lưu đày thể xác than ôi cũng đành

His madness for the love of  his country  and people.

I am mad for the love of my country and people
Once on the throne, I can’t stay deaf-mute
It wouldn’t matter I feel self pity and shame
And my body suffers years of exile with resignation

Prior to becoming emperor Thành Thái, he was known as Bửu Lân. He was the son of emperor Dục Ðức who had been vilely assassinated by the two Confucianist mandarins Tôn Thất Thuyết and Nguyễn Văn Tường, and the grand son of the mandarin Phan Ðình Bình. Because the latter was maladroitly opposed to the enthronement of emperor Ðồng Khánh by the colonial authorities, Ðồng Khánh was fast to take revenge by cowardly getting rid of this old mandarin and by putting Bửu Lân and his mother under house surveillance within the surrounding wall of the purple city at the Trần Võ palace in order to avoid all seeds of revolt. That was why at Ðồng Khánh’s death and upon the announcement of the choice of her son as the successor by the colonial authorities, Buu Lan’s mother was surprised and cried so much because she was always obsessed by the idea that her son would probably meet the same fate as her husband, emperor Dục Đức and her father, the mandarin Phan Ðình Bình. If Buu Lan was preferred to other princes, it was incontestably due to the ingenuities of Diệp Văn Cương, the presumed lover of his aunt, princess Công Nữ Thiên Niệm because Diệp Vân Cương was Resident General Rheinart‘s personal secretary, in charge of conducting business with the Imperial Court to find a compromise on the person to be chosen to succeed emperor Ðồng Khánh.

Thus he involuntarily became our new emperor known as Thành Thái. He was fast to realize that his power was very limited, that the Patenôtre treaty was never respected and that he had no right with regard to the management and future of his country. Contrary to his predecessor Ðồng Khánh, close to the colonial authorities, he took a passive resistance by trying to thwart their policies in a systematic manner with his provoking remarks and amicable gestures. His fist virulent altercation with the Resident General Alexis Auvergne was noticed at the inaugural ceremony of the new bridge spanning across the Perfume river. Proud of technical prowess and confident of the sturdiness of the bridge, Alexis Auvergne did not hesitate to tell Thành Thái with his habitual cynicism:

When you would have seen this bridge collapse, your country would be independent.

To show the importance that the colonial authorities has given to the new bridge, they named it « Thành Thái ». This made the emperor mad. Using as a pretext that everyone can walk over his head when crossing the bridge, he forbade his subjects to call the bridge by its new name and incited them to use the old name « Tràng Tiền ».

Tràng Tiền bridge (Huế)

Some years later, the bridge collapsed during a violent storm. Thành Thái was fast to recall Alexis Auvergne of what he had said with his black humor. Alexis Auvergne was red with shame and had to clear off at these embarrassing remarks. The dissension with the authorities grew day by day until the replacement of the old Resident General by Sylvain Levecque. The latter was fast to place a network of strict surveillance when he learned that Thanh Thai continued to approach his people through the bias of his reforms and his disguise in plain clothes or as a beggar in villages. He was the first emperor of Vietnam to take the initiative of having his hair cut the European fashion, which astonished so many of his mandarins and subjects when he first appeared. But he also was the first emperor to encourage his subjects to follow French education. He was the artisan of several architectural projects. He was also the first emperor of the Nguyen dynasty who wanted to pay enormous attention to the daily life of his subjects and to know their daily difficulties. It was reported that during an escorted excursion, he met on his way a poor man who was hauling a heavy load of bamboo. He body guard wanted to ease the way but he stopped him by saying:

I am neither citizen nor emperor as I should be in this country. Why do you chase him away?

During his excursions, he often used to sit on a mat, surrounded by the villagers and to discuss all the issues with them. It was in one of his excursion that he brought back to the purple city an oarswoman who accepted to marry him and became his concubine. He was well known as an excellent drummer.

That is why he summoned all the best drummers in the country to the purple city, asked them to play drums before his court and reward them generously according to their merit. It was reported that one day, he met a drummer who used to tilt his head when playing. Wanting to help him correct this funny habit, he told him jokingly:

If you keep on playing that way, I will have to have your head rolled.

From then on, the drummer, worrying incessantly about the next call, was overwhelmed by fear and died of a heart attack. One day, knowing the death of the drummer, Thanh Thai was taken my remorse, summoned his family and gave them a large sum of money to take care of their daily needs.

His way of joking, his frequent disguises, his sometimes strange behavior incomprehensible to the colonial authorities gave them an opportunity to brand him a lunatic.

As for Thành Thái, he was deported first to Vũng Tàu (former Cap St. Jacques) in the Fall of 1907, then later to the Reunion Island with his son, emperor Duy Tân in 1916. He was only allowed to return to Vietnam in 1945 after the death of Duy Tân and to stay confined within Vũng Tàu, South Vietnam during the last years of his life.

Is it possible to brand him lunatic when it is known through his poem titled « Hoài Cổ » ( Remember the Past ) that Thành Thái was so lucid and never stopped to groan with the pain facing the alarming situation of his country? Other eight seven-foot verses we know such as The storm of the year of the Dragon in 1904 ( Vịnh Trần Bão Năm Thìn ) or Profession of Faith ( Cảm Hoài ) not only show Thành Thai’s perfect mastery in the strict application of the difficult rules in Vietnamese poetry but also the painful pride of a great emperor who, in spite of a forced exile for almost half a century ( 1907-1954 ) by the colonial authorities, continued to display his conviction and unshakable faith in the liberation of his country. Through him it is already seen forging on this land of legends the instruments of a future revolt.

For him, his incurable illness was the goal to realize his intention, to give his people the dignity so long waited and to show future generations the sacrifice and the price which even he, a person considered alienated by the colonial authorities, had to pay for that country ( 47 years of exile ). In the political context of the time, he should not reveal himself of this « illness ».

Up to now, no historic document show us Thành Thái’s insanity but rather it reveals a great emperor’s lunacy of the love of his country and people, neverending affliction of a great patriot facing the destiny of his country.

Sacrifice (English version)

Version Française

sacrifice_1f

Life is a game of chance. The chance is against us. It’s worth dying now for the country and set an example of sacrifice

Nguyễn Thái Học

Vietnam is not only a land of legends and learned men but also a land that men have acquired acre by acre in a crual mother nature for more than four thousand years. The cradle of the Vietnamese nation, the delta of Tonkin bordered by mild hills of the Hundred Thousands Mounts of China and squeezed in the South by a quasi impenetrable range, the Annamitic Cordillera, reduced to 15,000 km2 but rich of all the mud pulled out by the Red river, continues to be threathened by the latter with the discharge of 500m3 at low tide up to 3500m3 during the highest crests.

To master the blows of sword of the Red River, the Vietnamese people resort to a method of building dikes, which requires not only an increased watch of dikes but also a perpetual struggle. Facing the never-ending change of nature, the caprice of the Red river and the territorial ambitions of China, the Vietnamese people owe their safety at the cost not only of their labor and courage but also of their sacrifice in the long march toward the South.

This sacrifice is not foreign to the majority of Vietnamese in particular the men and women of character. It also becomes a cult that one likes to maintain and ceaselessly praise for Vietnam to excite the whole people before the threat of foreigners.

The sacrifice is the surest way to maintain the perfection of the homeland but it is also the synonym of loyalty and dignity. A great person is the one who dares take the responsibilities in moments of difficulty in his or her life but it is also the one who knows how to sacrifice himself or herself for a good cause, in particular for his or her country. The sacrifice is indispensable to the word « honor » in Vietnam.

Because of this moral dignity, many military people prefered suicide to surrender (Trưng Trắc, Trưng Nhị, Trần Bình Trọng, Võ Tánh etc..). That is why it is the habit to say:

Hùm chết để da, người chết để tiếng.
A dead tiger leaves its hide, a deceased person his reputation. 
The history of Vietnam is also that of sacrifices. The duty of a Vietnamese is to serve his or her country wholehreatedly. The greater the danger, the better his or her loyalty seems to be.

 

 

Heroes sacrifice for their fatherland. No matter what happens, his honor is never tainted. It is the case of the scholar Phan Thanh Giản, signatory of the Franco-Vietnamese treaty of 1868. After having failed to put up with the French in the defense of the three western provinces of the Mekong delta (Vĩnh Long, An Giang and Hà Tiên) he chose to surrender and decided to poison himself in 1967 because he thought it was the only way to save the people and to show his fidelity to emperor Tự Ðức. The same, Nguyễn Tri Phương (1873), adversary of Francis Garnier and Hoàng Diệu (1882), adversary of Henri Rivière preferred suicide after having failed to defend Hànội city.

During the French occupation, sacrifice became the flame of hope lit by unknown people such as Nguyễn Trung Trực, Phạm Hồng Thái. The former accepted to die in the stead of his mother captured after having succeeded in blowing up the French « Espérance » on its passage on the « Nhựt Tảo » river in Long An while the latter, chased by the Chinese police in his escape, preferred to throw himself in the river after having failed to assassinate the French governor Merlin during his passage by Canton in 1924. Admiror of his courage and sacrifice for his fatherland, the governor of Canton later buried his remains in a cemetery solely reserved for the 72 Chinese heroes and known as « Hoàng Hoa Cương » in Vietnamese. 

If this sacrifice is not a vain word for men, it carries a particular meaning for the Vietnamese women. Princess Huyền Trân of the Trần dynasty was proposed to become in 1306 the wife of king Chế Mẫn (Jaya Simhavarman)  in exchange of the two territories of Champa Chau Ô and Châu Rí. She had to sacrifice her life, her love for reason of State.

The same, three centuries later, a princess of the Nguyễn dynasty, of the name Ngọc Vạn to whom the word « Cochinchina » or (Cô chín xin) was attributed, was not late in following Huyen Tran’s footsteps in becoming the concubine of Cambodian king Prea Chey Chetta II in 1618 in exchange of the facilities granted to Vietnamese in their settlement in the region Ðồng Nai Mô Xoài which is no other than the Saigon-Cholon region today.

Her presence on the Cham soil served as a pretext for lord Nguyễn Phúc Tần to launch an expedition and annex the last territory of Champa in 1651. One cannot blame the Cham for hating princess Ngoc Khoa at that time because of her, they have lost their homeland. But Ngọc Khoa illustrates for us Vietnamese the sublime sacrifice she consented for her country and her people.

 

 

 

Eastern Han Dynasty (Nhà Đông Hán)

Version française
 

Eastern Han dynasty (Nhà Đông Hán)

titre_dynhan_9 Guimet museum of Asian art (Paris)

 

Chronology of Eastern Han dynasty 

icon_daihan

 Đông Hán

25-57: Guangwudi reign

57-75: Mingdi’s reign

75-88: Zhandi reign

88-106: Heidi reign

106: Shangdi reign

106-125: Andi reign

125: Shaodi reign

125-144: Chongdi reign

145-146: Zhidi reign

146-168:  Huandi reign

168-189: Lingdi reign

184: Yellow turban rebellion

189: Shaodi impeachment.

189-220: Xiandi reign.

190: Increasing power of General Cao Cao (Tào Tháo)

220: Death of  Cao Cao and Xiandi.

End of Eastern Han dynasty

 

In the  territories conquered by  the Han, in particular in the South China, the Chinese assimilation continued in full swing. That is why revolts firstly  succeeded each other in the Dian kingdom (Điền Quốc)  (86, 83  before J.C., 14 after J.C., from 42 to  45 ). They were repressed with severity. These upheavals were largely due to   the Han officials exactions and the Chinese settlers’ behaviour in possession of fertile soils and expulsion of local people in remote  corners on his territory.  In addition, the latter had to adopt the language, customs and religious beliefs practiced by the Han.

In year 40, a serious rebellion broke out in Jiaozhou province (or Giao Châu in Vietnamese) including at this time, a great  part of  Kouangsi  and Kouang tong territories. It was led by the local prefect’s daughters, the elder Trưng Trắc (Zheng Cè)  and  her youngest daughter Trưng Nhị (Zheng Èr). As the husband of the elder Shi Suo (Thi Sách) opposed the Chinese assimilation policy conducted  brutally  by the Chinese proconsul Su Ding (Tô Định), the latter did not hesitate to kill him for making an example against Yue rebels. This killing revolted sisters Trưng and trigged immediately the insurgent movement in Yue territories.

 

icon_tigre

Mat weight 

intended to maintain the mat edges thanks to its weight.

 

Sisters Trưng succeeded in gaining control of 65 citadels for a very short period of time.  They were  proclaimed Queens on conquered territories and etablished themselves in Meiling (or Mê Linh). In year 41, they were defeated by Chinese general Ma Yuan ( Mã Viện, Phục Ba tuớng quân)(the flow tamer) and preferred the suicide instead of the reddition by pluging into the Hát river. They thus became the symbol of Vietnamese resistance. They continue to be venerated today not only in Vietnam but also in certain areas of Yue territories belonging to China (Kouangsi et Kouang Tong). Ma Yuan began to apply a policy of terror and assimiltaion at forced march by placing at all level administration, Chinese trustwothy men and imposing the Chinese as the official language over the territory of the Vietnamese. It is the first Chinese domination during just 1000 years before the war of liberation started by General Ngô Quyền. In the meantime, Guangwudi  (Quang Vũ Đếsucceeded to bring prosperity and stability in his empire by reducing the tax on crops and profits. After his death,   his son Mingdi (Hán Minh Đế) imitating Wudi, pursued the policy of expansion by taking an offensive against the northern Xiongnu (Hung Nô)  with the aim of releasing the States of Central Asia from the guardianship of the latter and restoring the security of the silk road (con đường tơ lụa) for the benefit of China. Being the brother of Ban Gu (*)(Ban Cố) historian of this time, General Ban Chao (Ban Siêu was in charge of this  military expedition. He succeeded in reaching the sea Caspienne and subduing the  Yuezhi (Nguyệt Chi or Nhục Chi) thanks to the Kusana assistance.

 


 (*) Author of Hanshu (Hán Thư)

 

Con rồng cháu Tiên (English version)

French version

 Long time ago, Vietnam was a country half-wild, half-cultured, infested with wild beasts that cohabitated with men in deep caves in the forest. Lived then a young man named Lạc Long Quân intelligent and endowed with extraordinary powers. In his vein flowed a bloodstream mixed with the blood of the Dragons form Bách Việt country. During his travels through mountains and valleys, he arrived at a maritime region of southeast Lac Việt. Seeing the population decimated by a marine monster, he took a spear that he got red hot in fire and threw in the mouth of the monster killing it. He cut its body in three pieces which he threw into three different places that received three geographical names: the head became a mountain named Cầu Dầu Sơn, the body Cầu Dầu Thủy and the tail the name of Bạch Long Vỹ.

Lạc Long Quân and Âu Cơ

conrongchautien
Once the people of Lac Viet in peace, the hero headed for the Long Bien region where its inhabitants were terrorized by a fox which became a monster. The latter often turned itself into a young man to enter villages taking away women and young girls. Lac Long Quan had to fight for three days and three nights before beating the monster and entering its cave to free his survivors. Arriving at the Phong Châu area, he confronted the monster of trees so ferocious he had to turn to his father Kinh Dương Vương to chase it to the South. After having brought peace to the three countries, he was so moved by compassion for such an unfortunate and simple people. He decided to stay to protect and teach them how to grow rice, cook it, cut trees to build homes that sheltered them from rain, wind and savage beasts. He educated them in the family virtues of parents and spouses. The people revered him and considered him as their Chief. They also considered him as their father, the one who gave them their lives.

Before he joined his mother in the Palace of Waters, he recommended to his people, in case of misfortune, to call him aloud: Father. And he would come back right away. Some time later, the Lord of the High Regions of the North, Ðế Lai, leading his troops, invaded Lac Viet while bringing with him his delightful daughter Âu Cơ. De Lai oppressed and fleeced the people who had to supply his army with meat and rice. In distress people called: Father, come back and save us. Lạc Long Quân was on the spot, but did not find De Lai. Au Cơ was there alone, out for a walk amid her servants. Dazzled by her beauty, he took Au Cơ to his palace. Au Cơ herself, charmed by the young man, consented to live with him. Ðế Lai, coming back in rage, sent his troops out to besiege the town.

But Lac Long Quan commanded savage beasts to push him back. Incapable of struggling against such a strong son-in-law, Ðế Lai withdrew from Lạc Việt, leaving his daughter on the strange land.

Lac Long Quân with the monster

Amid their happiness, Au Cơ brought to the world a big pouch from which got out one hundred eggs that gave birth to one hundred sons as robust as their father. When came the time to separate and return to his mother, Lạc Long Quân told his wife Au Cơ : « You are of the race of Immortals. I am of that of the Dragons. We cannot stay together for the rest of our lives. You need to live up high. I need to live down by the sea. So you stay here with fifty children. I will bring the other fifty to the maritime region, we settle on the same land ». From then on, Au Cơ stayed in the mountains with her fifty children. Those became the ancestors of all the peoples living nowadays on high plateaus and mountains (these are the montagnards and minorities ). As for Lạc Long Quân, he descended on the plain, by the sea, with his children that he taught how to clear the land to establish a kingdom there. His eldest son became thus the first king of Vietnam and took the dynastic name of Hùng Vương and called his country Văn Lang.

That’s why Vietnamese are proud of being  » Children of the Dragon, Grandchildren of the Immortal »
(Con Rồng Cháu Tiên).

Vietnamese heroes (Anh hùng dân tộc)

Version française

History museum of Saïgon

On the road of the history of Vietnam, the list of heroes is so long it is difficult to cite them all. But it would be unbelievable for a young Vietnamese not to know heroes such as Lê Lai, Trần Hưng Ðạo and Quang Trung Nguyễn Huệ because these characters illustrate each of them a model example to follow.

Lý Thường Kiệt: winner of the  Song and the Cham.

Trần Hưng Đạo: winner of the Mongol (or the Yuan).

Nguyễn Trãi: winner of the Ming of Chou Di.

Nguyễn Huệ:  winner of the  Qing and the Siamese (Thaïs)

histoire1Unforgettable words

Better being a phantom in the South is worth than to become a prince of North.

Trần Bình Trọng (the general of the Trần dynasty captured and sentenced to death by the Mongols))

The life is a game of chance. The chance is against us. Better is worth to die now for this country and to give the example of the sacrifice.

Nguyễn Thái Học (the nationalist leader guillotined by the French colonialists)


Trời đất nể nang người khí khái
Nước non tây vị kể tài tình

Heaven and Earth have consideration for men of character,
Mountains and Rivers favour great-hearted and talented people.


Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn

(1228- 1300)

The great destiny belongs to people of talent and heart
Nghiệp lớn thuộc về người tài đức.

Facing a Mongolian army of 500,000 warriors of Kubilai Khan, it is difficult for a country as small as Vietnam to resist this barbarous invasion. In spite of that, Vietnam has arrived at defeating the Mongolian army repeatedly twice in 1257 and in 1287 with shining victories on Bạch Ðăng river thanks to the talent of general Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn. As for historians, Vietnam is the only country in Asia and Europe that succeeded in countering Mongolian invasion in this episode.

Nothing is surprising if a glance is made on the autobiography of this general. Coming from the royal family, he was a beyond-common character.  

He knew how to conciliate all the political forces of the country at that time, to galvanize the spirit of unity and the enthusiasm of all the people with the Vietnamese army through popular gatherings ( Hội Nghị Diên Hồng ) and surrounding himself with talented people among whom figured a character of exceptional value of the name Phạm Ngũ Lão.


Kubilai khan

Grandson of Genghis Khan (1215-1294)

Thanks to the strategy of this one, the Vietnamese people’s army entirely decimated the Mongolian army by planting stakes in the bed of the Red river to break all the joncs.Despite the shining victories, Hưng Ðạo Vương knew it was difficult to win the war facing a strong enemy such as the Mongolian army.

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng
The river Bạch Ðằng continues to be stained with blood red.

Aware of geographic realities and potilical necessities, he knew how to avoid cutting completely all ties with his powerful neighbor by proposing that Vietnam continued to pay tribute in exchange for a long lasting peace. Thanks to this general’s perceptiveness, Vietnam found a period of peace and independence. This general is highly praised by the Vietnamese people because it is found in him all the qualities of a politician. His memory is honored every year at the temple of Kiếp Bắc.

His advice to king Trần Anh Tôn before his death in 1300 served several times as reference for most of Vietnamese in the struggle for independence:

When the enemy advances roaring like fire and wind, it is easy to overcome them. If they use patience like the silkworm nibbling berry leaves without looking for a quick victory and without fleecing people, we need to have not only good generals but also an elaboration of adequate tactics like in a chess game. In any way, the army should be united, having only one heart like father and sons in a family, the people should be treated with humanity so we can guarantee deep roots and durable bases.

Người anh hùng của dân tộc

Nguyễn Huệ

(1753-1792)

Quang Trung Nguyễn Huệ was a native of Tây Sơn where his ancestors resettled to get away from the war between the Trinh and the Nguyen. With his two brothers Nguyễn Nhạc and Nguyên Lữ, he led the uprising of Tây Sơn. (this region is located near Quy Nhơn in the south of Vietnam). Despite his young age, it was he who played the role of a leader in the revolt and also in the management of state affairs of Ðại Việt after having eliminated the Nguyen and the Trinh. His first success was the victory he knew how to get with an alarming rapidity in 1785 west of the Mekong against the Siamese (Battle Rạch Gầm-Xoài Mút (Mỹ Tho)). The latter were dispatched by the Siamese monarchy to reestablish Nguyễn Ánh to the throne. From an army of 50,000 troops at the start, it remained only 2,000. That permitted to cut dry the Siamese expansion in the direction of Cochinchina.

His fame was due a great deal to the way of making a lightning war against the Qing in 1788.

That year, allied with the puppet king Lê Chiêu Thống, the Chinese arrived in front of the capital Thăng Long without any resistance, Ngô Văn Sỡ, the chief of the Tây Sơn at Thăng Long having preferred to withdraw his troops to Thanh Hóa

Nguyễn Huệ decided to attack the Qing on the day of Tet when the discipline was relaxed with the Qing. In five days, he succeeded in retaking the capital Thăng Long. Like Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Huệ showed proof of humility before China whose power was incomparable in spite of her defeat, which restored peace along the border. During his years of reign, he imposed the nom as the official script to get away from the Chinese cultural domination. Despite his will to reform the country, he did not have the time to reign. He died in 1792, leaving an heir only 10 years of age.

This allowed Nguyễn Ánh, the last survivor of the Nguyễn dynasty to conquer little by little all Vietnam and become later emperor Gia Long.

For the majority of Vietnamese, Quang Trung is not only a reforming king but also one of the strategists the best known.

Người anh hùng áo vải

Lê Lai

It was in a phase of decisive struggle that Lê Lợi was besieged at the Chí Linh mountain by the Chinese determined to capture him to render the resistance leaderless. Le Loi had an idea of looking for someone who would accept to disguise himself under his traits, fight in retreat in another direction to trick the Chinese in their pursuit and thus allow him to escape and continue the struggle for liberation.

Among his troops there was a soldier of the name Nguyễn Thân who consented to play this stratagem. As foreseen, the Chinese followed the false Lê Lợi, captured him and killed him. Thanks to Nguyễn Thân, Lê Lợi, after 10 years of struggle, triumphed and founded the dynasty of the Le who would reign almost one hundred years. Admiring the man who had accepted to die in his stead, and the sacrifice of Nguyễn Thân for the great national cause, Lê Lợi granted the latter the privilege of bearing the royal family name Le and the individual name Lai, and ordered posterity to perpetuate Le Lai’s anniversary which falls on the eighth month of the lunar year. This has recalled in the Vietnamese youth a sublime sense of solidarity between the individual and the great cause, of which Lê Lai is the supreme illustration.