Non nước Cao Bằng (Monts et Eaux Cao Bằng)

Le fleuve Nho Quế se faufile comme un serpent à travers les montagnes

Version française

Sau công viên địa chất Đồng Văn (Hà Giang), Việt Nam đuợc có thêm  công viên địa chất thứ hai  Non nước Cao Bằng gia nhập vào  mạng lưới công viên địa chất toàn cầu  mà tổ chức Liên Hiệp Quốc  UNESCO công nhận vào tháng 4 vừa qua (2018). Tỉnh   Cao Bằng  cùng tên nầy thuộc vùng đông bắc Việt Nam, giáp ranh giới với khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc. Cao Bằng nằm cách xa thủ đô Hànội 286 km.  Đến từ Hà Giang, tụi nầy chọn đi qua con đèo độc đáo Mã Pí Lèng. Đèo nầy nằm giữa cao nguyên Đồng Văn, một bên là vách núi Mã Pí Lèng còn một bên là sông Nho Quế. Đèo nầy  không dài chi cho mấy chỉ khoảng 20 km nhưng nó rất hùng vĩ ngoạn mục nhất ở Việt Nam vì trong tầm mắt trên cao nhìn xuống sông Nho Quế nó nhỏ  như  sợ chỉ, như con rắn bò qua hàng ngàn núi đá  trọc màu xám trùng trùng điệp điệp lô nhô cây cối.  Đèo nầy được ví như « vua của các đèo » ở Việtnam vì nó rất nguy hiểm với những đoạn cua tay lổn nhổn đá hộc, hai ô tô phải né tránh nhau với tiếng kèn.  Sở dĩ đèo nầy mang cái tên Mã Pí Lèng vì theo tiếng Quảng Đông là sống mũi con ngựa. Tuy nhiên các người Hmong họ cho là sống mũi con mèo. Theo lời kể dân gian, các con ngựa cái leo qua đèo nầy bị trụy thai hay  dốc nó cao  quá chừng khiến con ngựa đuối sức trèo lên tắc thở.   Đường nầy được mang tên Hạnh Phúc nhưng thật sư đựợc thành hình với mồ hôi, xương máu và nước mắt của đội quân cảm tử thuộc  16 dân tộc thiểu số (Tày, Mèo, Lolo, Pù Péo vân vân …) cùng nhau đục đẽo từng viên đá ngày đêm trong thời gian 6 năm liền. Có thể nói là con đường gian nan khổ sở nhất cho những ai lái xe nhưng nó cũng là một niềm vui không ít cho những người du lịch thích cảnh vật thiên nhiên  hoang dã. Có đến đây mới thành hảo hán vì đây được xem như là Vạn Lý Trường Thành của Việtnam, có đến đây mới thấy đất nước Việtnam xinh đẹp  và xanh tươi. Cao Bằng là một tỉnh ít bị ô nhiêm nhất chỉ có khoảng chừng 500.000 dân. Cao Bằng nổi tiếng có thác Bản Giốc, có động Ngườm Ngao, có khu di tích Pắc Bó. Chính ở nơi nầy mà người anh hùng của dân tộc Tầy Nùng, Nùng Trí Cao khởi nghĩa dành độc lập chống lại nhà Tống như tộc Lạc Việt với Ngô Quyền. Mặc dầu việc quật khởi không thành, ông được xem là người anh hùng của dân tộc Choang (Tày Nùng) và được tôn thờ ở Cao Bằng nhất là ở chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc. Chính ở nơi nầy mà theo lời chỉ dẩn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm  mà con cháu nhà Mạc chạy về đây cố thủ, làm vua được ba đời thêm vào thế kỷ 16.

Galerie des photos (de Hà Giang à Cao Bằng)

Version française 

Après la reconnaissance du parc karstique de Đồng Văn , le Vietnam a eu  récemment le deuxième parc  géologique Non Nước Cao Bằng reconnu comme   membre du Réseau global des parcs géologiques de la part de l’UNESCO en avril dernier (2018). La  province Cao Bằng  est  située au nord-est du Vietnam et a une frontière commune avec la région autonome Kouang Si (Quảng Tây) de la Chine. Elle est distante  de la capitale Hànội de 286 km. En partant de Hà Giang, nous sommes décidés de prendre la route menant au col majestueux Mã Pí Leng. Celui-ci est situé au cœur du plateau calcaire Đồng Văn avec d’un côté les falaises de Mã Pí Leng  et de l’autre  le fleuve Nho Quế. Ce col fait environ 20 km de long mais il est grandiose et  très spectaculaire au Vietnam car à portée de vue en haut, le fleuve Nho Quế   ressemble à un fil mince ou à un serpent se faufilant à travers des milliers de rochers nus et gris qui se succèdent  et se laissent  envahir par la végétation.  Il est considéré comme le « roi des cols »  au Vietnam car il est tellement  dangereux  avec des tronçons de route  en forme de coude  et remplis  de blocs de pierre  équarris en désordre que  le klaxon  des  voitures doit retentir sans cesse pour éviter les risques de collision. C’est pourquoi ce col porte le nom « Mã Pí Lèng » car selon le cantonais, c’est le bout avant du  nez du cheval. Mais pour les Hmongs c’est le bout avant du  nez du chat. Selon l’on-dit,  en passant par ce col, la jument enceinte aurait le risque d’avortement ou  la pente est tellement  haute que  le cheval serait mort d’épuisement en la grimpant. Cette route sinueuse est appelée souvent  « route du bonheur »  mais elle  a été construite  avec la sueur, le sang et les larmes des volontaires recrutés parmi les  16 ethnies minoritaires  (Tày, Mèo, Lolo, Pù Péo etc …) du Vietnam,  ne cessant pas de travailler jour et nuit durant les six années consécutives  pour cette réalisation titanesque.  On peut dire que c’est la route la plus difficile pour les chauffeurs. En passant par ce col, on se sent fier d’être un brave car on  considère ce col  comme la muraille de Chine du Vietnam. C’est aussi une  joie immense pour les touristes, en particulier ceux qui aiment la nature sauvage. En venant ici, on s’aperçoit que le Vietnam est un très beau pays et incroyablement vert. La province Cao Bằng est la moins polluée car elle n’a qu’à peu près 500.000 habitants. Cao Bằng est connue pour ses chutes d’eau Bản Giốc, sa grotte Nguờm Ngao,  le site historique Pắc Bó. C’est ici que le héros national du peuple Choang Nùng Trí Cao a tenté le soulèvement populaire  contre les Song (Chinois) pour établir un royaume Đại Nam au sud de la Chine comme les Vietnamiens avec le général Ngô Quyền.  Malgré l’échec de ce soulèvement, il est considéré comme un héros du peuple  Choang et vénéré partout à Cao Bằng, en particulier à la pagode Phật Tích en face des chutes d’eau Bản Giốc. C’est ici que sur les recommandations du Nostradamus vietnamien Nguyễn Bỉnh Khiêm que les descendants de la dynastie des Mạc se réfugièrent  au 16ème  siècle pour se défendre et maintenir encore leur règne pour trois générations.

Nghệ thuật ẩm thực của người Việt

amthucvn

French version

English version

Người dân Việt rất chú trọng nhiều về nghệ thuật ẩm thực  nhất là các món ăn hằng ngày. Việc ăn uống nó trở thành một điều tất yếu  quan trọng trong cuộc sống và văn hóa của người dân Việt. Cũng không có gì phải ngạc nhiên khi một số từ họ thường dùng đều có chữ ăn dù biết rằng các từ nầy không có liên quan mật thiết  đến chữ ăn. Trong các  từ nầy, thường thấy chăng hạn: ăn nói, ăn mặc, ăn ở, ăn tiêu, ăn ngủ, ăn gian, ăn hối lộ, ăn hiếp vân vân … Chúng ta thường nghe : Trời đánh tránh bữa ăn để nói lên ông Trời có giận dỗi đi nửa cũng phải tránh quấy rầy buổi ăn của người dân Việt.

Các thức ăn của họ được chế biến một cách kỹ lưỡng theo thuyết Âm Dương Ngũ Hành, một cơ bản chủ yếu của nền văn minh Văn Lang. Âm Dương là biểu tượng của hai thực thể vừa đối lập và bổ sung của vạn vật trong vũ trụ. Thuộc về Âm tất cả những gì có tính chất  lỏng, lạnh, ẩm, thụ động, nội hay bản chất nữ tính như trời, mặt trăng, tối, nước và mùa đông. Ngược lại thuộc về Dương tất cả những gì có tính cứng, nóng, khô, năng động, ngoại, hay bản chất nam tính như đất, mặt trời, sáng, lửa và mùa hè. Con người thường được xem là dấu gạch nối giữa hai thực thể đó hay nói đúng là giữa  Trời (Âm) và Đất (Dương). Sự hài hoà có thể có được nhờ sự thăng bằng mà con người mang lại cho môi trường, vũ trụ và trong  cơ thể của con người. Qua  cách thức chế biến tỉ mỉ chu đáo và cá biệt trong mối quan hệ biện chứng của thuyết âm dương,  các món ăn của người Việt  còn biểu lộ  được sự tôn trọng truyền thống văn hóa đã có cả nghìn năm của một nước nông nghiệp và một nền văn minh rực rỡ với kỹ thuật trồng lúa nước. Chính vỉ thế mà gạo không thể thiếu trong một buổi cơm của người  Việt. Chính gạo là phần chủ yếu của các món ăn của người  Việt:   bánh cuốn, bánh xèo, phở, bún , bánh tráng, bánh chưng vân vân. Gạo có thể chỉ xay bỏ vỏ trấu (gạo lứt), dài, tròn, ghiền, thơm hay nếp (không có gluten) vân vân…  Còn hơn là một thức ăn, gạo là bằng chứng xác thực của người dân Việt thuộc về đại tộc Bách Việt và cũng là dấu ấn còn lại của một nền văn minh không bị hũy diệt   dưới sự thống trị lâu dài của người Hoa.

Âm Dương trong nghệ thuật ẩm thực của người Việt

Cách thức ăn uống của người dân Việt cũng không ngoài lệ với  việc tìm kiếm cái trung dung mà được ca tụng trong lý thuyết Âm Dương. « Ngồi ăn chung » thường đòi hỏi phải có sự  kính  nể và trình độ văn hóa  trong nghệ thuật ăn uống bỡi vì có sự tương thuộc hiển nhiên giữa những người  thực khách  trong việc chia sẻ thức ăn và không gian. Chính vì vậy mà người ta thường nói:  Ăn trông nồi , ngồi trông hướng. Không những thận trọng để ý nồi cơm mà còn phải chú ý đến hướng khi ngồi vào ăn. Đó là  câu châm ngôn mà cha mẹ người Việt thường nói với các con khi lúc còn nhỏ. Phải biết xử sự cho đúng với hai chữ trung dung khi được mời ăn. Không được ăn mau quá vì sẻ bị xem như  vô lễ mà cũng không dược ăn chặm quá vỉ để người khác phải chờ đợi. Cũng không thể ăn hết các thức ăn hay cơm trong nồi vì thể hiện quá đỗi  sự tham ăn. Ngược lại ăn ít  quá thì sẻ bị xem như là người thiếu lịch sự nhất là có thể làm phật ý chủ nhà. Cái thái độ thận trọng nầy thường được nhắc nhở qua câu tục ngữ nầy: Ăn hết bị đòn, ăn còn mất vợ. Chính vì vậy người dân Việt phải cố kiên trì   tìm kiếm  cho mình với sự khéo léo cái cân bằng nầy của lý thuyết Âm Dương  trong bữa cơm.  Tính cách đa dạng trong  các  thức ăn mà người  Việt  biến chế,  cũng  thể hiên rỏ ràng sự dồi dào phong phú của  các nguyên liệu.  Trong bữa cơm, thường có rất nhiều thức ăn, màu sắc  và hương vị  chung quanh bát cơm ý là chưa kể đến sự biểu lộ của ngũ giác quan mà  đuợc cảm nhận như sau:  

Khứu giác : từ các mùi thơm ngào ngạt  của các thức ăn.

Thị giác: tìm thấy qua các  màu sắc của các nguyên liệu trong việc chế biến thức ăn.

Vị giác: cảm nhận được các vị truyền thống: mặn, ngọt, chua, cay và đắng trong các thức ăn.

Thính giác: thu nhận được tiếng động khi uống trà hay ăn canh.

Xúc giác:   cảm giác được khi dùng các đôi đũa.

Với  vài món ăn như gà nướng, gà luộc, gỏi cuốn , việc dùng tay rất được thích hợp. Phần đông người Tây Phương thường quen nghỉ rằng  văn hóa dùng đũa thuộc về người Hoa. Tuy nhiên nó là sản phẩm của cái nôi  văn hóa trồng lúa được  tọa lạc ở Đông Nam Á. Chính nhà sữ gia Trung Hoa , ông Đàm Gia Kiện công nhận  trong quyển sách tựa đề : Lịch sữ văn hóa Trung Hoa (1993, trang 769).

Nhớ lại trước  thời kỳ Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, người Hoa vẫn còn ăn bốc thức ăn với tay. Đây là một truyền thống thường thấy ở các dân tộc sống trồng kê, mạch và ăn bánh bao thịt. Họ chỉ biết dùng đũa khi họ mở mang bờ cõi trong cuộc nam tiến. Sự khẳng định nầy nó được xác nhận lại qua các cuộc khám phá gần đây. 

Các đôi đũa nầy chỉ làm ra được từ những vùng có nhiều tre.  Chỉ có vùng phía nam Trung Quốc và Đông Nam Á.  Đũa là công cụ thô sơ được chế biến theo hình giống mỏ chim để có thế bắt lấy dễ dàng hột gạo hay cá và tránh việc bẩn tay với các món ăn có nước (súp, cháo, nước  mắm vân vân …). Người ta tìm thấy ở nơi người dân Việt một triết lý giản dị và hóm hỉnh trong việc dùng đôi đũa.  Đôi đũa thường được xem như cặp vợ chồng :

Vợ chồng như đôi đũa có đôi

Bây giờ chồng thấp vợ cao như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

Dưới thời nhà Lê, việc bẻ gãy đôi đũa đồng nghĩa với hai chữ ly dị.  Thà có một bà vợ ngây ngô hơn là có một cặp đũa cong vòng.  Chính vì vậy ta thường nghe qua tục ngữ nầy như sau : Vợ dại không hại bằng đũa vênh

Ngoài tính cách nhanh nhẹn và linh hoạt trong việc dùng đũa, người ta không thể quên tính cách tập thể mà thuờng gán cho đũa. Thông thuờng người ta ám chỉ bó đũa để nhắc đến sự đoàn kết. Tục ngữ : Vơ đũa cả nắm phản ánh cái ý niệm nầy khi người ta muốn chỉ trích người nào hay gia đình của họ từ một cuộc tranh cãi hay thảo luận nào.

 Trong cách thức ăn  uống, người dân  Việt vẫn coi trọng sự thăng bằng  của lý thuyết Âm Dương. Một bữa cơm ngon  phải thích hợp với  các tiêu chuẩn mà thường phụ thuộc lẫn nhau:

Nó phải phù hợp với khí hậu. Nó không thể nói là ngon dù có những món ăn thú vị.
Nó phải ở nơi nào và có một bầu không khí thỏa mái nếu không nó cũng không ngon.
Nó phải chia sẻ với các người bạn thân thiết nếu không chữ ngon cũng không thể gán cho nó.

Từ các tiêu chuẫn  được nêu ở trên đây, một bữa cơm ngon  không nhất thiết phải có thức ăn nhiều.  Đôi khi tìm thấy ít ỏi thức ăn trong bữa cơm ngon. Đó là bữa cơm của người nghèo mà sự kết hợp khéo léo các rau thơm khiến   giữ được một vai trò  quan trọng trong bữa cơm ngon. Việc tìm kiếm sự thăng bằng thích đáng trong lý thuyết âm dương thường được được nêu lên biểu lộ hiển nhiên trong các món ăn, cơ thể con người và giữa người và môi trường. Trong nghệ thuật ẩm thực, 3 điểm quan trọng sau đây được nêu lên:

1°) Sự thăng bằng Âm Dương trong các món ăn.

Dựa trên cách phận loại mà người Việt  thiết lập theo ngũ hành của Âm Dương thì mới nhận thấy được người Việt   rất chú ý  đến chuyện phân biệt các món ăn: hàn  (Nước), nhiệt (Hỏa), ôn (Mộc), lương (kim) và bình (Thổ). Họ  lưu ý đến  chuyện  bù đấp tương tác và kết hợp của các nguyên liệu và  gia vị trong việc chế biến  các thức ăn. Có một bản liệt kê  rau cỏ và gia vị   được ghi nhận lại   nhờ các công thức nấu ăn của người  Việt.  Được  dùng để trị các chứng bệnh phong hàn (ho, cúm vân vân ..),  gừng  (thuộc về Dương)   thường thấy được xử dụng nhiều  ở trong các món ăn có xu hướng mang tính chất hàn (lạnh): bí đao, cải bắp,  rau cải hay cá. Ớt (thuộc về Dương) có hương vị cay  thường được dùng ở các món ăn  có xu hướng mang tính chất lạnh hay ôn (hải sản, cá hấp vân vân…). Nguời ta có thói quen ăn trứng gà hay vịt lộn   (thuộc về Âm) nên thường  ăn với rau răm (thuộc về Dương). Cũng như dưa hấu (thuộc về Âm)  thường ăn lúc nào cũng có muối (thuộc về Dương).  Nước chắm  đặc biệt của người dân Việt vẫn là nước mắm. Trong cách pha nước mắm, thường thấy có 5 hương vị được xếp theo ngũ hành của Âm Dương: mặn với nước mắm, đắng với vỏ chanh, chua với nước chanh hay  giấm,  cay với ớt ghiền nát hay thái nhỏ và ngọt với đường bột.  Năm mùi  vị (mặn, đắng, chua, cay, ngọt) nầy  phối hợp và  được tìm thấy trong nước mắm tương ứng hoàn toàn với 5 hành chỉ định trong lý thuyết Âm Dương (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ).

2°) Sự thăng bằng Âm Dương  trong cơ thể con người.

Các thức ăn  người Việt   dùng thường được xem như là một vị thuốc hữu hiệu với chủ đích để bổ khuyết  loạn năng gây ra bỡi sự thiếu thăng bằng Âm Dương trong cơ thể con người. Đối với người Việt,  kịch bản mà thường thấy ở trong tạo hóa hay tái diễn lại trong cơ thể của họ.  Khi một bộ phận có « âm » nhiều quá thì con người sẻ cảm nhận có sự suy giảm chuyển hóa sinh lý ngay (cảm giác lạnh,  nhỉp tim chậm lại, tiêu hóa khó khăn vân vân…). Còn ngược lại nếu có « dương » nhiều quá thì sẻ có sự tăng nhanh  chuyển  hóa sinh lý (cảm giác nhiệt nhiều,  nhịp tim đập mau, sự tăng động thất thường thể xác hay trí tuệ vân vân…). Bỡi vậy cần có lại  sự thăng bằng  Âm Dương để duy trì cuộc sống và đảm bảo sức khỏe. Để khôi phục lại sự thăng bằng nầy, một người bệnh có nhiều « âm » quá phải cần dùng các thức ăn có tính chất dương. Ngược lại với một người bệnh có « dương » nhiều thì phải chửa bệnh với các thức ăn mang nhiều tính chất « âm ». Đối với người Việt , ăn tức là tự chữa bệnh. Nguời bị chứng táo bón ( bệnh thuộc về dương)  được khỏi bệnh với các thức ăn có tính chất âm (chè đậu, chè đậu xanh vân vân …). Nguợc lại bị tiêu chảy hay đau bụng (bệnh thuộc về âm) thì chỉ trị có hữu hiệu với các thức ăn có nhiều gia vị (gừng, riềng vân vân mang tính chất dương). Người bị cảm lạnh chỉ tìm được giải pháp qua một tô cháo có nhiều khoanh gừng.

3°) Sự thăng bằng Âm Dương với môi trường.

Người  dân Việt hay thường nói : Ăn ở theo mùa. Câu tục ngữ nầy phản ánh thái độ của người dân Việt lúc nào cũng muốn có sự hài hòa với thiên nhiên và môi trường  trong các thức ăn. Mùa hè nóng nực  thì có rất nhiều rau cỏ, hải sản và cá. Người  Việt thường thích cá và rau cỏ.  Họ quen nấu nước để luộc rau, làm dưa hay làm gỏi. Các món ăn có nước cũng được ưa chuộng nhất là phở, món ăn truyền thống của người dân Việt. Các vị đắng và chua cũng không thể thiếu  được trong thức ăn của người Việt. Đó là  món canh chua  thường  được nấu với cá hay tôm, me (hay dứa) và cà chua.  Nguợc lại  với mùa đông, để chống lạnh,  người Việt  thích ăn thịt và các món ăn thường  có mỡ (thuộc về Dương).  Việc sử dụng các dầu thực vật hay động vật  và nhiều thứ gia vị như gừng, ớt, tỏi, tiêu vân vân … cũng  không ít. Rim thịt với nước mắm,  xào hay rán là những phương pháp nấu chín thường thông dụng và đáp ứng với sự thay đổi thời tiết. Việtnam là một nước nhiệt đới (thuộc về Dương) nên có rất nhiều món ăn mang tính chất «lạnh ». (thuộc về Âm). Đây là sự nhận xét mà ông tổ của ngành y học cổ truyền Việtnam, Hải Thương Lãn Ông (Lê Hữu Trác) có dịp ghi lại trong quyển sách mang tên là Nữ Công Thắng Lãm. Trên 120 thực phẩm liệt kê, ông đã  chứng minh có  một trăm thực phẩm có tính chất Âm.  Sự nhận xét nầy  làm sáng tỏ sự ưa thích hiển nhiên của người Việt với  các món ăn có tính chất Âm trong cấu trúc ăn uống truyền thống   và sự quan tâm của họ trong việc tìm kiếm thăng bằng với môi trường và thiên nhiên.

Ở Tây Phương,  số  người thích ăn  các món ăn việt càng ngày càng nhiều.  Ngược lại các món ăn ngoại quốc mà nước sốt  giữ một vai trò quan trọng,  các món ăn việt chỉ dùng rất nhiều các rau cỏ và gia vị mà còn được xem là  các món ăn nhẹ nhàng và   dễ tiêu.  It mỡ so với các món ăn của người Trung Hoa nhưng nhờ  có nét độc đáo và  tinh tế nên  cũng có  được đến 500 món ăn mà mọi người  biết nhiều  nhất là món  chã giò. 

Chính trong các món ăn việt nầy người ta tìm thấy không những  sự hài hoà của các hương vị và các biến đổi tinh tế chung quanh bát cơm mà còn có sự hòa hợp sâu sắc và mật thiết với thiên nhiên và môi trường. 

Âm Dương  không mất đi sinh lực  cũng như

người dân Việt tâm hồn và tính khí.

 

Việt Nam Quê Hương tôi

intro

Version française

English version

Việt Nam là một quốc gia  mà người dân rất yêu chuộng hoà bình, độc lập và tự do. Là người con Việt  thì phải có khả năng kháng cự lại trước hết việc đồng hóa hay là tư tưởng ngoại bang và hảnh diện có mang ở trong tĩnh mạch dòng máu của cha Rồng. Đối với người dân Việt, không còn sự  hoài nghi nào cả vì qua truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có từ thuở nào, họ là con cháu của  cha Rồng mặc dầu họ biết rõ  từ nay nguồn gốc qua các công trình khoa học. Họ là người thừa kế của nền văn hóa Hòa Bình và thuộc về đại tộc Bách Việt, những bộ tộc sống rải rác ở phía nam sông Duơng Tử. Nuớc ở nơi nầy nó thấm nhuần với đất vì có thể là vậy nên quốc gia nầy thường được gọi là Đất Nước. Cũng  trên mãnh đất của đồng bằng sông Hồng nầy đã qua bao nhiêu thế kỷ trước Công Nguyên có một vương quốc sáng lâp một triều đại với các vua Hùng huyền thoại (nước Văn Lang). Sau đó được thay  thế bởi nước Âu Việt của An Dương Vương (Thục Phán) mà thành trì Cổ Loa là thủ đô, một bằng chứng cụ thể của vương quốc nầy bị thôn tính về sau bởi  Triệu Đà, một danh tướng của hoàng đế Trung Hoa Tần Thủy Hoàng. Ông nầy sáng lập ra nước Nam Việt (Nan Yue) bị thôn tính về sau bởi quân Tàu của danh tướng Mã Viện (Ma Yuan) dưới thời  Hán Quang Vũ Đế (Guagwudi) với một nghìn năm bắc thuộc  trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của tuớng Ngô Quyền. Trong thời kỳ đô hộ, văn hóa Đồng Sơn bị hủy diệt. Người ta tìm thấy trong văn hóa nầy các thạp đồng và nhất là cái trống đồng uy nghiêm biểu hiệu quyền lực và đặc tính của dân tộc Việt đã bao lần suýt bị hủy diệt bởi đế  chế Trung Hoa theo dòng lich sữ.  Đây không phải  là lịch sữ của các triều đại vua chúa hay các phong trào tư tưởng mà chính đây là lịch sữ của dân tộc nông dân bền bỉ từ biên cương Việt Trung đến mũi Cà Mau, vất vã khó nhọc để lại dấu ấn cho quang cảnh của mãnh đất nầy. Sự hy sinh của họ không phải là một từ vô ích. Các hào kiệt của họ thà làm qủi phương nam thay vì làm các vương công phương Bắc. Còn các nữ kiệt cũng không ngần ngại đáp lời sông núi. Đó là hai bà Trưng Trắc Trung Nhị, Triệu Ẩu, Nguyễn Thị Giang (Cô Giang), Nguyễn thị Minh khai vân vân. Không người con Việt nào có thể quên câu nói bất diệt của Nguyễn Thái Học trước cái chết :

Chết vì Tổ Quốc.

Đây là số mệnh quá cao thượng,  đáng khen ….

Trên chiến trường, không có lực luợng  ngoại bang nào có thể  đánh bại  khi có chạm trán với người dân  Việt. Chính họ dành được  sự thắng lợi  nhờ ba yếu tố nầy: Thiên Thời, Đia Lợi và Nhân Hòa. Chính yếu tố sau cùng  nầy nó  đem lại sự khác biệt trong cuộc chiến tranh tiêu hao. Nguyễn Trãi đã có dip nói rằng thà chinh phục nhân tâm hơn là chiếm đoạt thành trì. Hiên ngang trước quân giặc mạnh  hơn họ thì họ cần phải kiên nhẫn nghĩ đến các thể thức thường được áp dụng trong lý thuyết Âm Dương : Lấy Yếu chống Mạnh hay Lấy Cụt chống Dài. Chính nhờ mưu lược nầy mà Nguyễn Trãi dành phần thắng lợi  trong cuộc chống giặc nhà Minh của hoàng đế Vĩnh Lạc và xua đuổi quân Tàu ra khỏi Việtnam vào năm 1428. Dùng chiến thuật di quân (Dương) trước sự bất động của quân nhà Thanh (Âm) phù hợp hoàn toàn với địa lợi, vua Quang Trung  đánh bại  chớp nhoáng quân địch vào năm 1788 trong 5 ngày Tết  để lấy lại Thăng Long. Chính cũng Quang Trung lợi dụng sự không biết đia thế của quân địch mà dành phần thắng lợi thần tốc ở  rạch Gầm-Xoài Mút (Mỹ Tho) với quân Xiêm La của tướng Chakri  khi ông nầy gởi sang 50 vạn binh tiếp viện cho vua Gia Long. Không có dân tộc nào có thể cưởng lại trước sự  bành trướng  của người dân Việt trong cuộc Nam Tiến. (hai vương quốc Chămpa và Chân Lạp). 

Dù bị nghìn năm bắc thuộc và  có sự đóng góp văn hóa ngọai bang, những người nông dân con Việt  mảnh khảnh  nầy, chân vùi dưới bùn giữa các ruộng lúa, đã  gìn giữ được  những gì qúi giá nhất của các dân tộc trên thế giới. Đó là những truyền thống  và tiếng Việt dựa trên chữ Hán sau nầy dùng chữ Latinh với ông thầy tu Alexandre de Rhodes. Chỉ còn bộ tộc Lạc Việt duy nhất  thuộc đại tộc Bách Việt không bị hán  hóa qua nhiều  thế kỷ. Chính Đức Khổng Tử  đã có từng  so sánh sinh lực  có ở nơi người Trung Hoa và người Lạc Việt, tổ tiên của người Việtnam ngày nay : cang đảm và vũ lực thuộc về người Trung Hoa, còn Lạc Việt thì khoan dung và  nhân từ. Tuy nhiên người dân Việt luôn luôn gắn bó sâu đậm với đất nước khiến họ không nhường bộ trong cuộc đấu tranh vì thế theo sự suy luận của một nhóm người, họ là những kẻ đi chinh phục tàn nhẫn và đáng sợ nhưng còn nhóm người khác thì  họ là những người bảo vệ chính đáng trong công cuộc chiến  dành lại độc lập và tư do. Dù sao họ đã hy sinh quá nhiều trong quá khứ về sinh mạng cho hai khái niệm: độc lập và tự do mà họ  không có quen để lựa chọn hay tách biệt. Chính vì  vậy họ vẫn trong tình trạng khổ tâm không ít. Rồi họ cũng  có lần lượt  hai khái niệm nầy với  cái giá  mạng người quá đắt. Việc ý thức tập thể bất đầu thành hình qua nhiều năm với Nguyễn An Ninh. Mặc dầu ba vị vua trẻ Việt Nam Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân bị lưu đày ở Algérie và La Réunion và việc xử trảm nhiều nhà cách mạng trong đó  có một chàng trai trẻ tài ba Nguyễn Thái Học, người dân Việt vẫn  không mất nhuệ khí trong các cuộc nổi dậy và dành lại độc lập với chiến thắng ở Điên Biên Phủ vào năm 1954. Việc  thả ba trăm tấn bom (265 kí cho mỗi người dân Việt)  và 60 triệu lít chất làm rụng lá cũng không làm nản lòng người dân Việt trên con đường thống nhất  lại đất nước vào năm 1975 sau đó dẫn đến việc đày  biết bao nhiêu người lính miền nam đến trại học tập và cuộc di tản  chưa từng thấy, có rất nhiều người  chết đuối  và bị hảm hại bởi hải tặc ở biển Đông và vịnh Thái Lan để đi tìm tự do. Theo lời tường thuật của nhiều tác giả Tây Âu, (Barry Wain, Magali Barbieri) có dịp nghiên cứu về vấn đề nầy thì có ít nhất  tổi thiểu là 250.000 người Việt vượt biên chết  ở biển. Theo sự dự tính của cơ quan HCR (Haut  Commissariat pour les Réfugiés), từ 1975 đến 1991, trong 16 năm, có gần một triệu người dân Việt mà trong đó có 8 trăm nghìn người di tản đã lìa bỏ Việtnam. Con đường hòa giải dân tộc rất còn xa vời vì nó đầy gian nan, cạm bẩy và vụng về sau ba thập niên chiến tranh và đau khổ. Một trang lịch sữ đã khép lại  nhưng Việtnam phải trả  giá rất đắt không những trên phương diện con người và môi trường bởi vì vẫn tiếp tục nhận  những hậu quả không  ước lượng nổi của bao nhiêu thập niên chiến tranh (chất độc da cam chẵng hạn). Theo tờ báo thông tin của Unesco ghi lại tháng năm năm 2000, một tổ chức làm việc dưới sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc, ước tính có một phần năm rừng ở miền nam bị hủy hoại bởi các thuốc diệt cỏ của Hoa Kỳ.

Người trai trẻ Việtnam ngày nay không biết hận thù  và cũng không có nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh. Nhưng thách thức  nghèo đói  vẫn   còn rình rập đeo đuổi. Bóng ma chiến tranh nó vẫn còn đó theo dòng ngày  tháng  ở biển Đông với các đảo Hoàng Sa bị cưởng đoạt  năm 1974 và Trường Sa gần đây bởi người phương Bắc mà  mối đe dọa càng ngày càng quá khiêu khích. Trước tham vọng quá đỗi của Trung Quốc, bài thiên sữ thi « Nam Quốc Sơn Hà » của tướng Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm, khẳng định lại chủ quyền của Việtnam, nó trở lại ám ảnh tâm trí và vang âm trong trái tim của người con Việt.  Tuy rằng với bao nỗi lo âu và cuộc sống quá tồi tệ, không ai có thể quên đi  được mãnh đất  nầy mà người con Việt thường gọi là Quê Hương vì  chỉ ở nơi  nầy  có thể tìm lại kỷ niệm của tuổi ấu thơ, mái trường xưa và  quá khứ. Mặc dầu mãnh đất nầy  nó đồng nghĩa với chữ nghèo nàn và khổ cực, nó là lý lẽ sống đấy vì ông cha ta  tranh đấu và giành được từ  khi lập nước với mồ hôi, nước mắt và xương máu. Cũng như mẹ, mỗi người con dân Việt  chỉ có một người mẹ duy nhất trong đời không ai có thể thay thế được. Ngoài làng ra, hình ảnh đình, con trâu hay cây tre không bao giờ xoá mờ trong kí ức tập thể của người con Việt cả. Đối với những người con Việt viễn xứ, đây chỉ là một khoảng thời gian tạm thời thôi   chớ nó không phải là một kết cục chính. Hình bóng Quê Hương nó vẫn  đeo đuổi mãi  họ với biết bao trìu mến và luyến tiếc.

Những bài mới viết gần đây

Paysage époustouflant du Vietnam

Version vietnamienne

 

Le  paysage du Vietnam est vraiment magnifique et exceptionnel.  L’eau est omniprésente partout et en osmose avec la terre. C’est pour cela que les deux mots Terre-Eau sont employés  pour désigner cette contrée.  Pour un passionné de la photographie, c’est l’endroit  idéal où on peut  faire de beaux clichés  pour immortaliser son voyage. Du nord jusqu’au sud, le paysage est tellement contrasté qu’l est impossible de rester indifférent   devant l’étonnante beauté de la nature.

Dans le nord, on est émerveillé par les pics ahurissants et majestueux  émergeant des eaux limpides et les îlots de formes diverses dans les baies d’Along et Hoa Lư  et par les rizières en étages pratiquées par les minorités ethniques au cœur des montagnes (Sapa, Mộc  Châu, Hà Giang, Cao Bẳng). Au centre, dans les zones montagneuses et les basses plaines côtières, outre les grottes stalactites de Phong Nha-Kẻ Bàng  et Sơn Động et les patrimoines mondiaux de l’Unesco (Huế, Mỹ Sơn, Hội An), il y a de belles plages d’un bleu azur ( Mỹ Khê, Hội An, Nha Trang, ) et des parcs nationaux de Yok Don et Nam Cát Tiên. Dans le sud, la beauté de la nature n’est pas moindre, en particulier dans le delta du Mékong. C’est ici que  grâce à la main de l’homme, des panoramas se révèlent magnifiques: des vastes champs de rizières à perte de vue, des vergers luxuriants (Bến Tre, Mỹ Tho, Cái Bè)  et des beaux villages traditionnels tout le long des arroyos (cours d’eau) sans  oublier les mangroves de la péninsule de Cà Mau et de Châu Đốc

 Phong cảnh hữu tình của đất nước 

Phong cảnh ở Việtnam thực sự nó quá tráng lệ và phi phàm. Nước ở đâu cũng có và  được thấm nhuần với đất từ thưở nào nên hai chữ Đất Nước mà người Việt thường dùng để chỉ định  Quê Hương.  Đối  với một người đam mê chụp ảnh, đây là nơi lý tưởng mà có thể tạo ra những tấm ảnh tuyệt vời để lưu niệm cuộc hành trình của mình. Từ Bắc đến Nam, phong cảnh nó tương phản đến đổi mà không ai có thể dửng dưng được trước nét đẹp tuyệt vời, một tác phẩm nghệ thuật  tạo hình thiên nhiên  của tạo hóa. Ờ miền Bắc, thì có những chỏm núi vôi  uy nghi  làm ta sửng sốt  nhô lên  khỏi mặt nước  và các đảo đá hình thù đa dạng ở vịnh Hà Long và Hoa Lư,  những cánh đồng lúa bậc thang của các dân tộc thiểu số ở giữa núi rừng (Sapa, Mộc  Châu, Hà Giang, Cao Bẳng). Ở miền Trung,  ngoài các  hang động thạch nhũ của Phong Nha-Kẻ Bàng và Sơn Động và những di tích thế giới Unesco (Huế, Mỹ Sơn, Hội An), thì  ở những vùng miền núi và những nơi đất thấp ven theo bờ biển, có những bãi biển với màu xanh biếc ( Mỹ Khê, Lang Cô, Hội An, Nha Trang ) và các vuờn quốc gia Yok Don và Nam Cát Tiên. Ở miền Nam,  nét đẹp cũng không kém nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Chính ở đây nhờ bàn tay của con người mà quang cảnh vô cùng ngoạn mục:  những cánh đồng lúa ngút tầm mắt, những vuờn cây ăn quả sum sê (Bến Tre, Mỹ Tho, Cái Bè vân vân ) và những ngôi  làng truyền thống dọc theo các con kênh mà cũng không nên quên  nhắc đến các rừng  đước  của Châu Đốc và Cà Mau.

Les Mayas (Nền văn minh Maya): Partie 2

 

Version vietnamienne

Version française

Malgré cela, une percée significative dans le déchiffrement de l’écriture maya eut lieu dans les années 1950 grâce aux travaux du linguiste russe Yuri Knorosov. Ce dernier parvint à prouver que l’écriture utilisée par les Mayas pour la transcription de leur langue, était de type logo-syllabique (de 900 à 1200 signes) comparable à l’égyptien classique (734 signes). Puis en 1978, l’épigraphiste américain de l’université Stanford, J. Justeson introduisit dans sa thèse consacrée à l’écriture maya, l’idée de compléments phonétiques. Même une grammaire se constitua récemment dans les années 1980-1990 avec les travaux de L. Schele (1982), B. Macleod (1983) et V. Bricker (1986). Cela facilite la meilleure compréhension de la tradition écrite par des Mayas.

Aujourd’hui, on peut dire que l’écriture maya est de type logo-phonétique. Grâce à cette avancée dans le décryptage et dans les fouilles archéologiques, on est obligé de modifier la vision qu’on a eue à l’égard des Mayas en saisissant tout ce qu’ils avaient laissé dans le corpus hiéroglyphique composé actuellement de plus de dix mille textes.

 

 Cho đến năm 1950, nhờ  nhà ngôn ngữ nga Yuri Knorosov mà  hệ thống chữ viết Maya được giãi mã.  Ông nầy đã  chứng minh  lối  viết của người Maya trong việc phiên âm là loại logo âm tiết (từ 900 đến 1200 dấu) so với lối viết của người Ai Cập (734 dấu). Rồi đến 1978, nhà nghiên cứu  văn khắc người Mỹ, ông J. Juteson của đại học Stanford đưa vào trong luận án dành về văn tự của người Maya, một ý niệm về việc bổ sung ngữ âm. Có luôn cả văn phạm của người Maya được cung cấp gần đây trong những năm 1980-1990 với các công việc của L. Schele (1982), B. Macleod (1983) và  V. Bricker (1986). Nhờ đó mà sự hiểu biết về lối viết của người Maya đuợc thông suốt từ đây. Ngày nay, có thể khẳng định là chữ viết của người Maya là loại logo âm tiết.  Nhờ viêc tiến triển trong việc giãi mã và các cuộc khai quật mà  cái nhìn về người Maya cũng được thay đổi nhất là với những gì họ để lại trong kho tàng tượng hình gồm có hiện nay hơn mười ngàn  văn bản.

Les Mayas (Nền văn minh Maya): Partie I

Version vietnamienne

Qui sont ces mayas?

Selon certains archéologues, les Mayas ont leur origine asiatique avec leurs traits. On pourrait penser à l’arrivée, sur le territoire vierge d’Amérique, de leurs ancêtres, des chasseurs venus d’Asie, à la poursuite du gibier en franchissant le détroit de Behring au cours de la dernière période glaciaire. Cette théorie reste séduisante et convaincante dans la mesure où on trouve chez les Mayas des techniques rencontrées en Asie: céramique, filage et tissage ainsi que certains concepts d’ordre religieux (chamanisme) et cosmique comme les associations de couleurs et d’animaux célestes aux quatre points cardinaux. (Ngũ hành). Grâce à la découverte des monuments de la ville de Copán (Honduras) envahis par la végétation dans les vapeurs de la jungle tropicale par l’explorateur américain John Lloyd Stephens et son compagnon illustrateur Frederick Catherwood en 1840, on recommence à s’intéresser à leur civilisation, leur mode de vie, leurs connaissances scientifiques (astronomie, mathématiques, architecture, agriculture etc…) et surtout leur écriture glyphique. Celle-ci est un système d’écriture complexe et incompréhensible qui n’est pas conçu pour les transactions commerciales comme les autres écritures anciennes. Elle n’est pas destinée à la basse couche de la société maya mais elle est un moyen pour les nobles et les scribes de s’adresser aux dieux et de légitimer le pouvoir de leurs souverains considérés à l’égal des dieux. Cela décourage un grand nombre de savants et de chercheurs qui qualifiaient avec résignation dans le passé cette écriture maya de « problème insoluble ». Leur déchiffrement devient de plus en plus ardu car lors de l’arrivée des conquistadors espagnols sur le territoire des Mayas, la plupart de leurs manuscrits (ou codex) furent brûlés sur un bûcher par l’évêque Diego de Landa à Mani (Yucatan). 

Ce dernier trouva dans ces codex des formules de rituel avec une écriture glyphique incompréhensible, une entrave à sa mission de christianisation et un caractère de superstition et de mystification du démon. On estime qu’il fit détruire 70 tonnes de témoignages écrits par les Mayas ainsi que 5000 idoles. Pourtant il fut l’un des meilleurs chroniqueurs de la civilisation maya. Beaucoup de gens eurent du mal à croire, à cette époque, que ces Indiens misérables vivant à côté des ruines mystérieuses de Copán découvertes par John Lloyd Stephens et Frederick Catherwood, étaient les descendants des bâtisseurs de cette civilisation. Pourtant ils furent, à l’époque précolombienne, le seul peuple d’Amérique centrale à avoir poussé aussi loin l’exploration d’un système complexe d’écriture dans le but de donner cohésion et unité à leur culture autant diverse que variée, d’une région à une autre, au niveau de la composition ethnique et matérielle. Malgré un grand nombre élevé de dialectes (une trentaine en tout), on a retrouvé les mêmes hiéroglyphes, la même écriture en divers points de l’Amérique centrale soit sur les basses terres de tout le Yucatan soit dans les hautes terres du Guatemala ou dans le territoire traversé par les rivières Usumacinta et Sarstoon. Analogues aux Egyptiens avec le papyrus et aux Chinois avec la fibre de mûrier, les Mayas ont réussi à fabriquer le papier avec les fibres d’une espèce de figuier. Cela leur permit d’enregistrer leurs rites religieux, leurs observations scientifiques et leurs annales dans des codex présentés sous la forme des grandes feuilles de papier plissées verticalement en accordéon. À cause de l’autodafé de livres mayas organisé par Diego de Landa, il ne reste aujourd’hui que 4 codex mayas dont les trois premiers sont: le Codex de Dresde (Codex Dresdensis), le Codex Tro Cortesianus (ou Manuscrit de Madrid), le Codex Peresianus (ou Manuscrit de Paris) dans les bibliothèques de Dresde, de Madrid et de Paris et le quatrième connu comme le Codex Grolier découvert en 1971 par Michael Coe, un chercheur américain de l’université Yale.(Suite: Partie 2)

Người Maya

Theo các nhà khảo cổ học, người Maya có nguồn gốc đến từ Châu Á nếu dựa trên nét mặt. Có thể nghĩ rằng trên mảnh đất hoang sơ của Châu Mỹ, ông cha họ đến khi còn là những người đi săn bắn đến từ Châu Á . Vi đeo đuổi các thú rừng nên họ vượt qua eo biển Behring trong thời kỳ cuối băng hà. Giả thuyết nầy có vẽ thuyết phục và hấp dẫn vì chúng ta nhận thấy ở những người Maya có những kỹ thuật thường được trông thấy ở Châu Á : gốm, việc xe sợi và dệt vải, những khái niệm mang tính chất tôn giáo (saman giáo) và vũ trụ cũng như sự kết hợp các màu và động vật thiên ở bốn phương (Ngũ hành). Nhờ nhà thám hiểm người Mỹ, ông John Lloyd Stephens cùng bạn đồng hành họa sỹ Frederick Catherwood khám phá vào năm 1840, các công trình của thành phố Copán (Honduras) bị bao phủ bởi cây cối và chìm đắm trong sương mù của rừng nhiệt đới mà văn minh của người Maya được quan tâm lại nhất là lối sống của họ, những kiến thức khoa học ( thiên văn, toán học, kiến trúc, canh nông và nhất là chữ viết của họ. Lối viết nầy rất phức tạp không dùng trong việc buôn bán cũng như các văn tự cổ khác. Nó không dành cho giới hạ tầng cũa xã hội mà nó là một phương tiện cho giới qúi tộc và các biện lại để tiếp cận với thần thánh và hợp pháp hóa quyện lực của vua chúa được xem như ngang hàng với các thần thánh. Chính vì vậy biết bao nhiêu nhà khảo cứu xem vặn tự của họ là một vấn đề nan giải nhất là với sự xâm nhập của đoàn viễn chinh Tây Ban Nha trên lãnh thổ của người Maya thì bao nhiêu sách vỡ (hay codex) ở Mani (Yucatan) đều bị giám mục Diego de Landa đốt cả. Qua những công thức nghi lễ được tìm thấy trong các codex với lối viết theo những họa tiết không thể hiểu nổi, ông cho rằng đây là một trở ngại trong việc truyền bá đạo công giáo và nó có tính chất dị đoan mê tín. Có ít nhất 70 tấn tang chứng văn tự của người Maya bị tiêu hủy cùng 5000 thần tượng.

Tuy nhiên ông Diego de Landa là một trong những nguời thời luận xuất sắc về văn hóa Maya. Rất nhiều người không nghỉ rằng ở thời đó có những bộ tộc nghèo đói sống ở vùng đất hoang tàn Copán mà được John Lloyd Stephens và Frederick Catherwood khám phá là con cháu của những người xây dựng một nền văn minh Maya cổ. Tuy nhiên ở thời kỳ tiền Colombo, họ là một dân tộc duy nhất ở Trung Mỹ đã khảo sát tĩ mĩ một hệ thống chữ viết phức tạp để mang lại sự liên kết chặt chẽ và thống nhất cho nền văn hóa của họ nhất là nó rất phong phú và khác nhau từ vùng nầy qua vùng kia trên phương diện sắc tộc và vật chất. Mặc dầu có 30 thổ ngữ, người ta vẫn tìm thấy một loại chữ viết tượng hình như nhau ở khắp nơi vùng Trung Mỹ dù nơi đó là đồng bằng Yucatan hay là vùng cao nguyên của Guatemala hoặc là vùng đất có các con sông Usumacinta và Sarstoon. Cũng như người Ai Cập với giấy cói và nguời Trung Hoa với sợi dâu, người Maya họ tìm ra trong việc chế tạo giấy với sợi của cây vả ( hay cây sung). Nhờ vậy họ ghi chép lại tất cả lễ nghi tôn giáo, các cuộc quan sát khoa học cùng các biên sử trong các codex dưới dạng các tấm giấy lớn được gấp dựng đứng như đàn phong cầm. Vì sự thiêu hủy sách vở do ông Diego de Landa đề xướng, chỉ còn hiện nay 4 codex của người Maya: codex de Dresde, codex Tro Cortesianus (hay là bản thảo Madrid) và codex Peresianus (hay là bản thảo Paris) thì thuộc về các  thư viện Dresde, Madrid và Paris còn  codex thứ tư được gọi là codex Grolier khám phá vào năm 1971 bởi Michael Coe, một nhà nghiên cứu Mỹ của đại học Yale. (Tiếp theo)

Passages couverts de Paris (Các hành lang cổ kính của Ba Lê)

Passage Colbert

Version vietnamienne

Méconnus jusqu’à une date récente, les passages de Paris redeviennent aujourd’hui l’un des attraits touristiques et architecturaux de Paris. Dans les années 1850, Paris possède au moins 150 passages couverts et exporte le modèle vers d’autres villes françaises (Bordeaux, Nantes etc …) et vers l’étranger (Italie, Turquie, Grande-Bretagne etc …). C’est aussi  un modèle importé de Paris, le passage Eden dans lequel on était habitué à flâner à Saïgon (Vietnam) dans les années 1970.  Ces passages parisiens se regroupent sur la rive droite de la Seine, en particulier dans le quartier des Grands Boulevards. Plusieurs passages ont été démolis au profit de l’urbanisation entamée par les grands travaux du baron Haussman et de l’essor de grands magasins ( Le Bon Marché, la Samaritaine, le Printemps etc …). Il ne reste qu’une vingtaine de passages aujourd’hui à Paris. Ils font partie désormais du patrimoine architectural et mémoriel de la capitale.

Một cuộc du ngoạn thú vị ở Paris
qua các hành lang

 

Les passages couverts  de Paris

  • Passage  Choiseul  (Rue Saint Augustin)
  • Passage Colbert (Rue des Petits Champs)
  • Passage Vivienne (Rue Vivienne)
  • Passage des Panoramas ( Boulevard Montmartre)
  • Passage Jouffroy (Boulevard Montmartre)
  • Passage des princes (Boulevard des Italiens) 
  • Passage du Grand-Cerf ( Rue du Saint Denis ) 
  • Passage Brady ( Rue du Faubourg Saint Denis) 
  • Passage Verdeau (rue de la Grange-Batelière) etc…..

Version vietnamienne

Ít được biết đến trong thời gian qua, các hành lang của Paris trở lại hiên nay là một trong những nơi thu hút du khách ngoại quốc khi đến Paris. Trong những năm 1850, Paris có ít nhất 150 hành lang bao phủ và xuất khẩu mô hình nầy qua nhiều thành phố khác của Pháp như (Bordeaux, Nantes vân vân …) và các nước ngoài như Ý Đại Lợi, Thổ Nhi Kỳ, Anh Quốc vân vân….  Cũng với mô hình nầy mà hành lang Eden được xây cất có một trăm năm và người Saïgon có dip đến đây du ngoạn trong thập niên 70. Các hành lang Paris nầy được tập trung ở hữu ngạn của sông Seine, nhất là trong khu vực được gọi là « Les Grands Boulevards ». Nhiều hành lang bị phá hủy sau nầy trong việc thực hiện các công trình đồ sộ của bá tước Haussman và đáp lại sự phát triển của các cửa hàng lớn như Le Bon Marché, la Samaritaine, le Printemps vân vân … Nay chỉ còn lại khoảng chừng 20 hành lang ở Paris. Các hành lang nầy đươc xem hiện nay là di sản kiến trúc và lưu niệm của thành phố Paris.

Pyramide du Louvre (Kim tự tháp kính Louvre)

 


La pyramide du Louvre au milieu de la cour Napoléon du musée Louvre

Version française

Theo lời yêu cầu của cố tổng thống Pháp François Mitterand vào năm 1983, kim tự tháp kính  Louvre được xây bằng kính và kim loại ở giữa sân Napoléon của bảo tàng Louvre. Đây là tác phẩm của kiến trúc sư người Mỹ gốc Hoa , ông Ieoh Ming người được nhận nhiều giải mà  trong đó có giải Pritzkert thường đựợc xem là giải Nobel về kiến trúc. Kim tự tháp kính Louvre có bề cao là  20,6 thước với đáy  hình vuông  mỗi cạnh là 35 thước. Toàn bộ kim tự tháp được xây bằng kính cùng các khớp nối bằng kim loại , gồm có tất cả là  603 tấm kính hình thoi (losange)   và 70 tấm hình tam giác (triangle). Lúc đầu kim tự tháp là môt đề tài tranh luận sôi nổi vì  có người cho rằng không phù hợp với khung cảnh cổ kính của cung điện Louvre nhất là  với  phong cách vị lai. Nhưng cuối cùng sự kết hợp của hai phong cách kiến trúc cổ đại và hiện đại nó đem lại không những một kết quả mỹ mãn mà còn đem lại một nét đẹp độc nhất ở giữa thành phố Paris, một viên kim cương hoàn hảo của điện Louvre . Kim tự tháp kính  Louvre trở thành hiện nay một trong những  biểu tượng tham quan không thể thiếu xót cùng tháp Eiffel và nhà thờ Notre Dame de Paris khi ai có dịp đến tham quan Paris.

Version française

À la demande du feu président français François Mitterand en 1983, la pyramide du Louvre a été conçue et réalisée en verre et en acier au milieu de la cour  Napoléon du musée Louvre. C’est l’oeuvre de l’architecte américain d’origine chinoise  Ieoh Ming  ayant reçu plusieurs prix parmi lesquels figure le prix d’architecture Pritzker considéré jusqu’alors comme le prix Nobel de l’architecture.  La pyramide du Louvre s’élève à 21,64 mètres sur une base  carrée  de 35,42 mètres de côté. Étant réalisé  avec une structure métallique en acier et en aluminium, le tout de la pyramide comporte 603 losanges et 70 triangles en verre. Au début de sa construction, la pyramide du Louvre est l’objet d’âpres  controverses  car selon certains, la pyramide est mal incorporée  dans le classicisme du palais Louvre avec un style futuriste. Mais finalement l’association de deux styles d’architecture classique et futuriste apporte non seulement un franc succès mais aussi un charme unique au cœur de la ville de Paris, un joyau d’architecture  parfait du palais Louvre.  La pyramide du Louvre devient aujourd’hui l’une des attractions touristiques qu’il est impossible de manquer avec la tour d’Eiffel et l’église  Notre Dame lorsqu’on a l’occasion de visiter Paris. (8,9 millions en 2011)

Aristide Maillol (Jardin des tuileries)

Aristide Maillol

Version vietnamienne

Presque à 40 ans, Aristide Maillol commence à être connu à travers ses chefs-d’œuvre de la sculpture en bronze non pas sur la peinture. Chaque fois de passage au jardin des Tuileries en face de la pyramide du Louvres, je ne tarde pas à prendre quelques photos sur ses sculptures en bronze de femmes nues car elles sont vraiment très belles sur la façon de faire apparaître la beauté du corps féminin. Maillol avec Rodin ce sont deux personnages auxquels le philosophe français Michael Paraire attribue le mot « génie » entre le 19 et 20 ème siècle, chacun ayant un style différent. Rodin se penche vers le réalisme et prône le caractère particulier de chaque personnage dans ses œuvres qualifiées sublimes par Michael Paraire. Rodin se sert de l’argile. Quant à Maillol, il se sert du bronze comme matériau dans ses réalisations qualifiées « beau » par le même philosophe, en particulier ce qui a trait  à la beauté du corps féminin. Ses œuvres sont visibles au jardin des Tuileries, au musée d’art moderne de New York ou au musée Maillol que sa muse Dina Vierny dans les années 1930 a fondé en 1995 à Paris.

 

Version vietnamienne

Mãi đến gần 40 tuổi , ông Maillol mới nổi tiếng qua những tác phẩm điêu khắc chứ không phải qua hội họa. Mỗi lần đến vườn hoa Tuileries ngang mặt Pyramide của bảo tàng viện Louvres thì mình không thể không dừng lại chụp các bức tượng khỏa thân điêu khắc của ông vì nó quá đẹp làm nỗi bật thân thể của người phụ nữ. Ông cùng nhà điêu khắc Rodin đuợc một nhà triết gia Pháp Michael Paraire gọi là hai kẻ thiên tài giữa thế kỷ 19 và 20, mỗi người một phong cách khác nhau. Ông Rodin thì thiên hẳn về lối hiện thực, ca ngợi cá tính riêng của mỗi nhân vật.trong các tác phẩm của ông đươc Michael Paraire gọi là tuyệt vời (sublime). Ông nầy thường dùng đất sét. Còn ông Maillol thì thường sử dụng chất liệu đồng trong các kiệt tác của ông đuợc Michael Paraire gọi là quá đẹp nhất là cái đẹp hoàn mỹ của thân người phụ nữ. Các tác phẩm thường được trưng bày ở vườn hoa Tuileries, bảo tàng nghệ thuật hiện đại ở New York hay ở bào tàng Maillol mà được người mẫu của ông là Dina Vierny ở những năm 1930, thành lâp vào năm 1995 ở Paris.

Sa Huynh culture (Văn Hóa Sa Hùynh)

Văn Hóa Sa Hùynh

 
sahuynh_titreFrench version

Reputed for its salt marshes and its beautiful beach , Sa Huỳnh (*) located in Quảng Ngãi province ( Center of Vietnam) is also the region where French archeologist M. Vinet discovered in 1909  not far An Khê swamp (Long Thành) , an  strange depot composed of 200 funerary jars originating from a brilliant maritime civilization thanks to a Champa inscription.  Having a happy concurrence of circumstances and interested in archeology, the spouse of an controller of the customs  local office,  Mrs  Labarre , had  the opportunity to take over the   archaeological excavation in 1923. She did not take long to rediscover at the top of coastal dunes an other depot of 120 earthenware jars being still intact and near the village of  Phú Khương in the same region. A third site of 187 jars  which  was later reported by French archeologist  Madeleine Colani  in 1934 was at Tràng Long on a sand dune  locally known under the name of « 

 Un troisième site de 187 jarres rapporté plus tard par l’archéologue française Madeleine Colani en 1934 se trouvait à Tràng Long sur une dune de sable appelée localement sous le nom du « plateau des colliers » à cause d’une quantité énorme de colliers trouvés sur place.