Mù Cang Chải (Yên Bái) Phần 2

 

Version française

Rất mất nhiều thì giờ sáng hôm 11/9 để đi Nghĩa Lộ trước khi đến Tú Lệ qua đèo Khâu Phạ. Mưa rơi không ngừng khiến xe không chạy mau và mình cũng không săn ảnh được ở đèo Khâu Phạ. Đến Tú Lệ thì thấy ở ven đường bà con làm cốm đem bán rất nhiều. Vì thế mình mới ghé hỏi mua cốm ăn thử để xem mùi vị nhất là cốm ở đấy nổi tiếng lắm. Bà vợ người Thái đề nghị bán cho mình một kí với giá tiền phải chẳng. Mình cười chỉ mua ăn một tí để xem coi có ngon không mà thôi. Vì thế hai vợ chồng đồng ý bán cho mình một tí với giá 20.000 đồng. Mình nhờ ông chồng tái diễn lại cái màn giã cốm để mình chụp hình. Tiện đó mình mới biết họ là người Thái trắng nên mình mới hỏi ông chồng rằng: Anh, vậy Thái trắng và Thái đen khác nhau chổ nào vậy ? Mình biết họ khác nhau qua cách trang phục. Anh chàng Thái nầy tiếu lâm lắm vừa trả lời vừa cười khác nhau ở cái mông. Mình cười xoè nhìn thấy bà vợ cũng cười. Mình cũng sợ nên không dám hỏi tiếp nửa đấy. Người Thái họ thường ở nhà sàn. Còn người Hmong nhà cửa của họ thường ở cheo leo giữa rừng hoang vắng. Cho đến trưa trời mới tạnh mưa thì cũng là lúc mình chọn một quán cùng cháu tài xế Huân ăn cơm. Ở núi rừng phong cảnh rất hữu tình nhưng về thức ăn khó mà tìm được món ăn vừa khẩu vị lắm. Nguời ở miền núi họ ít có ăn rao cải lắm. Họ ăn có vẽ khô khan lắm khiến thời gian ở miền núi là một vấn đề cho ai thích ăn ngon. Chạy xe ở miền núi phải cẩn thận vì trâu bò gà vịt qua đường rất thường phải biết né và kiên nhẫn. Cán các con vật nầy thì có lắm chuyện phiền phức vì phải bù đền cho chủ nhân số tiền họ muốn. Đó là điều cần phải biết khi lái xe ở miền núi. Tuy nhiên ở miền núi không bao giờ có chuyện ăn trộm gà vịt như ở thành phố vì người miền núi họ không có gian dối ăn cắp như ở các thành phố. Trời lại chuyển mưa tiếp và sầm uất tối khiến tụi nầy phải tìm kiếm khách sạn mô hình sinh thái mà mình được biết trước địa chỉ khi còn ở Paris tìm qua internet. Trên đường đất mòn cong quẹo không ngừng đến nhà trọ sinh thái nầy, trời nó tối om, đèn không có, một bên là vực thẩm, còn bên còn lại là vách đá còn đằng xa thì có vài cái nhà có đèn leo lét. Mình hơi lo nên cứ hỏi Huân tới chưa hoài. 20 cây số từ ở ngoài thảnh phố đến đây. Khi đến thấy xung quanh nhà trọ sinh thái toàn là các ruộng bậc thang. Xe phải bỏ ở trước cỗng cùng Huân đi bộ vào trong cũng có mấy trăm thuớc mới đến nhà trọ. Tên của nó là: Mù Căng Chải Ecolodge. Đến đây mới biết hết các phòng ngủ riêng chỉ còn phòng ngủ tập thể mà thôi nên mình cũng ok vì quá mệt. (400.000 đồng một giường). Ở nhà trọ nầy, thức ăn cũng giới hạn. Chỉ có hai món: gà xào xã và bò xào ăn vơi khoai. Khách sạn nầy khá sạch sẽ và lúc nào cũng đầy du khách ngọai quốc. Suốt đêm mình cũng hơi lo vì ngày đầu mà mưa như thế nầy tuy rằng đôi khi trời lại nắng có thể săn hình mà chả được là bao nhất là ngày mai theo thời tiết dự đoán 15 ngày trước sẻ mưa nữa vì độ ẩm nó rất cao 80% thôi thì cũng đành chịu .

Sáng lại thấy nắng soi qua hiên cửa mới biết là ngày hôm nay trời rất đẹp, mới biết mình có duyên với mảnh đất nầy. Sau đó còn biết được ở Lã Pán Tấn còn các mâm xôi, lúa chưa chín nên chưa có gặt qua lời kể của cháu hướng dẩn viên của một đoàn người Ý. Chú chỉ đi bộ vài cây số khi đến Lã Pán Tấn thì rồi sẽ gặp các mâm xôi. Vì vậy mình và Huân tìm đường đến Lã Pán Tấn. Đến đây, đậu xe giữa đường vì trên đó không có chổ đậu xe, tìm đường lên đến đồi mâm xôi. Đi hoài chả thấy đồi nào cả mà mình thì mệt vì trên vai lúc nào cũng mang túi xách khá nặng (hơn 5 kilô) nào thuốc nào ống kín và máy chụp ảnh. Thấy hai vợ chồng người Hmong ngồi trước tiệm sửa xe mới hỏi họ nơi nào có mâm xôi. Họ bảo còn xa lắm chú ơi phải đi 8 cây số nữa mới đến mà đường dóc quá cheo leo nhất là trời lại nắng. Mình mới bảo với cháu bé trai người Hmong : chú trả tiền cho tụi con, chở chú lên đó có được không ?. Hai vợ chồng trẻ người Hmong vui vẽ bằng lòng chở tụi nầy đi bằng xe gắng máy hai bận đi và về, mỗi người 100.000 đồng. Mình ngồi xe ôm với người chồng còn cháu tài xế ngồi với cô vợ vì cô nầy theo lời kể của người chồng khi trò chuyện mới biết cô bé nầy yếu tay lái. Mẹ cha ơi lên ngồi mới biết nó chạy xe rất giỏi rất mau với tốc độ mình đoán không lầm chừng cở 50 cây số một giờ mà đường thì quanh co lên dóc xuống dóc không ngừng. Nó chạy xe như cá lội trong nước như rồng trên mây mình thì chưa bao giờ nghỉ ra cảnh nầy quá nguy hiểm. Mình mới nhận ra là nếu có tai nạn thì sẽ chết ngay vì bên cạnh là vực sâu thăm thẵm, đường đất thì còn ướt vì cơn mưa đêm. Mình mới thỏ thẻ với nó con bớt ga lại chú đau tim nhé. Nó rất dễ thương bảo chú đừng sợ con quen chạy đường cả rồi từ thưở bé. Nghĩ lại thấy đúng vì người Hmong thường ở nhưng nơi cheo leo giữa rừng nên họ quen chạy xe rồi. Cũng là cái duyên của mình vì khi lên trên cao mới thấy mênh mông các ruộng lúa bậc thang, mới thấy được cái hùng vĩ của đất nước. Nhờ cháu bé trai Hmong nầy mình mới vào những nơi mà xe không thể tới được. Không có Huân không có cặp vợ chồng người Hmong nầy và nhất là còn tùy thời tiết nửa thì dù có muốn chụp hình cũng không được mà còn tuỳ duyên của mình nữa đấy. Sau đó tụi nầy đi ăn cơm rồi khới hành đi Sapa dọc theo quốc lộ dẫn đến Lai Châu và dãy núi Hoàng Liên Sơn.

Một kỷ niêm khó quên nhất là giữa đường mình xuống xe chạy ngang đường để chụp dãy núi Hoàng Liên Sơn. Lúc đó mình đang mê mẫn chụp hình thì có con rắng dài hơn một thước chạy ngang đường. Huân chạy theo và nắm được đuôi nó. Mình sợ quá mà bảo cháu nên thả nó, nếu không nó mổ là chết vì độc của nó. Huân nói không có sao vì đây là con rắn lục, con thường bắt nó lúc con còn nhỏ ở Ninh Bình để nấu cháo ăn ngon lắm chú. Mình nghe hết hồn thả nó đi con. Huân buôn nó ra thì nó chạy vào bụi cây biến mất. Với hai ngày ở Mù Căng Chãi, rất thú vị để lại cho mình biết bao nhiêu kỷ niệm của vùng sơn cước.

Version française

 

À cause des travaux de réparation sur la nationale, nous perdons beaucoup de temps le matin 11/9 pour arriver à Nghĩa Lộ avant d’atteindre Tú Lệ en passant par le col Khâu phạ. La pluie continue à tomber abondamment. Cela ne me permet pas de capturer les photos au col Khâu Phạ. Une fois arrivés à Tú lệ, nous nous apercevons qu’au bord de la route, beaucoup de gens vendent des « cố m », une sorte de riz gluant connu très parfumé et glutineux, une spécialité de la région. La plupart des vendeurs sont des Thai. Ils sont habitués à vivre dans des maisons sur pilotis tandis que les Hmong préfèrent d’habiter dans des endroits presque inaccessibles au milieu de la forêt. Jusqu’au moment où la pluie cesse de tomber, c’est aussi le moment où nous commençons à avoir faim et nous allons chercher une gargote sur la route. Il est difficile de bien manger ici car les plats ne correspondent à notre goût. Les gens de la montagne mangent peu de légumes. Ils ont l’air d’avoir une nourriture peu variée et à peine suffisante, ce qui crée un souci majeur pour ceux qui sont gourmets comme moi malgré une superbe vue sur un paysage typique avec des rizières en terrasses. À la montagne, il faut garder toujours un pied sur la pédale de frein car les animaux familiers tels que les buffles, les canards, les poulets etc … ont l’habitude de traverser souvent la route car en cas d’accident, il faut payer au propriétaire la somme réclamée. Par contre, aucun animal n’est volé même s’il est égaré loin de la maison du propriétaire de quelques kilomètres.

La pluie recommence à tomber. Le ciel s’assombrit très vite. Il est temps pour nous d’aller chercher l’auberge écologique dont je trouve l’adresse sur Internet : Mù Căng Chải Ecolodge. Sur le chemin de terre tortueux bordé de la paroi abrupte de la falaise d’un côté et du précipice de l’autre côté menant jusqu’à l’auberge, il fait noir et aucune lumière n’est visible dehors. Je commence à m’inquiéter et ne cesse pas de demander à mon chauffeur Huân: Quand serons-nous arrivés?. 20 kilomètres c’est la distance que nous devons parcourir de la ville jusqu’à l’auberge. Une fois arrivé sur place, je m’aperçois qu’aux alentours de cette auberge il n’y a que des rizières en terrasses. On est obligé de laisser la voiture au parking et on doit marcher à pied quelques centaines de mètres avec les affaires. Comme le nombre de chambres individuelles est très limité (7 en tout), on est obligé de dormir dans un dortoir collectif avec chacun son lit séparé (17 euros par jour). Même la bouffe est aussi limitée. On ne propose que deux plats : poulet sauté aux citronnelles et bœuf sauté mangé avec pommes de terre et la sauce mayonnaise. L’auberge est assez propre et remplie toujours de touristes étrangers.

Je continue à m’inquiéter toute la nuit car la pluie continue à être perceptible dehors. Je me demande comment je peux faire des photos si la pluie continue de cette façon car le premier jour de mon voyage, je ne capture pas beaucoup de photos. Selon la météo prévisible pour 15 jours, demain sera le jour où le taux d’humidité est de 80%. Je commence à me résigner à mon sort. Le matin de bonne heure, la lueur d’un rayon de soleil traverse la fenêtre du dortoir. Cela me rend fou de joie et d’espoir. Je sais qu’il fait beau aujourd’hui. Puis le guide d’un groupe de touristes italiens rencontré me donne l’information: la récolte n’a pas lieu encore du côté de Lã Pán Tấn. Il y a la possibilité de faire des photos sur les « mâm xôi » à 1 ou 2 kilomètres de Lã Pán Tấn. Moi et Huân nous décidons d’y aller et de garer la voiture au pied d’une colline. Après un kilomètre de marche, nous ne trouvons aucun plateau « mâm xôi ». Je commence à m’épuiser sous un soleil accablant car je porte un sac rempli d’un appareil photographique, des objectifs et de médicaments, le tout pesant au moins 5 kilos. Je m’arrête devant une boutique de réparation des motos où un jeune garçon Hmong est en train de réparer un scooter avec sa femme. Je lui demande: combien de kilomètres à parcourir encore pour atteindre les « mâm xôi ». Il me répond : 8 kilomètres encore. Cela me décourage complètement. Je lui propose de nous emmener jusqu’au sommet de la montagne pour voir les « mâm xôi ». Sans hésitation, il est d’accord avec sa femme pour nous emmener tous les deux pour un prix dérisoire. C’est superbe et très gentil de leur part.

Sans ce couple Hmong, sans Huân mon chauffeur et mon compagnon de voyage, je ne pense pas que je pourrais faire des photos si je n’ai pas en plus ce jour là le temps clément et ensoleillé. Je dis que j’ai la chance d’avoir le bonheur d’être avec cette contrée lointaine. Je suis ravi d’être au sommet de la montagne, de voir non seulement l’immensité des rizières en terrasses mais aussi la splendeur de mon pays natal….Quel bonheur, quelle surprise pour ce voyage mémorable.

 

La tristesse de l’automne doré (Buồn tàn thu)

 

 

 

 

 

 

Buồn tàn thu (Văn Cao)

La tristesse de l’automne

Nhưng năm tháng qua dần mùa thu chết bao lần
Thôi tình em đấy như mùa thu chết
Rơi theo lá vàng….


Au fil des années et des mois, l’automne est mort tant de fois
Ton amour ressemble ainsi à sa fin avec les feuilles jaunes flétries….

Galerie des photos

Thu về rải rác lá vàng
Một mình lặng lẽ lang thang trên đường….

Paris à Las Vegas (Ba Lê ở Las Vegas)

Dans sa splendeur

 

Version française

En 1990 étant de passage à Las Vegas, il n’y avait pas encore la tour Eiffel. Maintenant de retour à Las Vegas, c’était triste de ne pas avoir une photo sur la tour Eiffel (Las Vegas). Etant fier d’être toujours parisien, c’était intolérable de ne pas faire la photo. C’est pour cela que j’étais accompagné par mon ami intime d’aller chercher la tour Eiffel le long de l’avenue principale de Las Vegas. Épuisé, je dis à mon ami: Si on ne trouve pas la tour Eiffel au delà du pont, on va retourner à l’hôtel. À l’approche du pont, la tour Eiffel apparut dans toute sa splendeur, ce qui me donna une joie indescriptible. C’est une chance pour moi de la retrouver au bon moment sans oublier la gentillesse de mon ami de vouloir me plaire malgré sa fatigue. L’avenue principale était inondée de gens avec une chaleur suffocante à 23 h du soir. Je remercie infiniment mon ami à cause de la tour d’Eiffel. Hi Hi…

Version vietnamienne

Hồi moa đi Las Vegas năm 1990 thì tour Eiffel chưa có nay trở lại Las Vegas mà không có tấm ảnh Tour Eiffel ở Las Vegas kỳ nầy thì rất buồn vì bao nhiêu năm mình ở Paris còn nhiều hơn ở bên nhà mà không có tấm ảnh tour Eiffel ở Las Vegas thì hổ thẹn lắm nhất là lúc nào cũng tự cho mình là parisien. Anh bạn thâm tình đi bộ dẫn dắt không ít nhất là nguyên ngày ngồi xe nên đi gần hết đường chánh mà tour Eiffel vẫn không có moa mới nói: Thôi đến cầu không có đi về. Gần đến cầu tháp Eiffel nó hiện ra đẹp lộng lẫy khiến moa vui không xiết nói chụp xong tháp Eiffel đi về. Đấy là duyên của moa công thêm cái tính trọng bạn của anh bạn nên moa mới có các tấm ảnh ở Eiffel. Có ít 7, 8 cây số đi bộ đông người nhất là trời rất nóng. Merci anh bạn thương bạn vô cùng cũng vì tháp Eiffel. Hi hi.

 

Montréal ( Province de Québec)

 

Version vietnamienne

Contrairement aux villes Toronto et Ottawa, la ville Montréal est considérée comme la deuxième ville ayant la population francophone au monde après Paris mais c’est aussi la ville importante de la province du Québec. Montréal est encore le principal port reliant les 5 grands lacs d’Amérique du Nord et l’Atlantique. Outre les influences de deux cultures française et anglaise, Montréal a encore des immigrants venant d’Amérique du sud, Italie, Portugal, Europe de l’Est etc …, ce qui fait d’elle une ville cosmopolite. Considérée comme une ville importante de l’Amérique du Nord, Montréal est orientée vers le commerce, la politique, le tourisme et la culture. C’est au centre de la ville qu’on trouve pas mal des gratte-ciels d’affaires mais aussi des magnifiques trésors architecturaux datant du 18 ou 19 ème siècle et des vestiges anciens de la commune Ville-Marie. La particularité de Montréal réside dans la construction d’un réseau sous-terrain permettant l’interconnexion entre les centres d’affaires, les universités, les gratte ciels et les organismes gouvernementaux et facilitant la circulation des piétons sans que ces derniers soient obligés de marcher dans un froid glacial (-25°C au moins en hiver) ou en été sous une chaleur accablante.

Version vietnamienne

Khác với các thành phố Toronto và Ottawa, thành phố Montréal là thành phố thứ nhì sau Paris có số người nói tiếng Pháp mà cũng là thành phố lớn nhất của tỉnh bang Québec. Montréal còn là hải cảng chính nối liền Ngũ Đại Hồ và Đại Tây Dương.  Ngoài ảnh hưởng của hai nền văn hóa Pháp và Anh, Montréal còn có các dân cư đến từ các  nơi khác như Nam Mỹ, Ý, Bồ Đào Nha, Đông Âu vân vân khiến Montréal được xem như là một thành phố đa ngôn ngữ. Được xem như là một thành phố quan trọng của Bắc Mỹ, Montréal hướng về thương mại, chính trị, du lịch và văn hóa. Chính ở giữa lòng thành phố  thấy không ít nhà chọc trời kinh doanh mà cũng có nhiều kiến trúc cổ từ thế kỷ 18 hay 19  và nhiều di tích cũ của thị trấn Ville-Marie. Cái đặc điểm ở Montréal mà du khách đến đây trông thấy là các cơ sở thương mại,  trường đại học, các nhà cao ốc, các cơ quan chính phủ đều được nối với nhau bằng đường hầm và rất sạch.

La bourgade de Đồng Văn (Phố cổ Đồng Văn)

Version française

Nằm ở giữa lòng thung lũng của cao nguyên đá Đồng Văn, phố nầy lúc ban đầu có khoảng chừng 40  cái nhà mà thôi. Khu phố nầy được thành hình vào đầu  thế kỷ 20 dưới chân núi  với vài gia đình người Hmong, người Tày và người Hoa. Bởi vì được xây cất với các thợ  được thuê đến từ Tứ Xuyên nên các nhà ở đây mang dấu ấn  khá  sâu đậm của người Hoa qua lối kiến trúc hai tầng trình tường, mái  ngói âm dương và trước cửa nhà có đèn lồng treo cao. Nay trở thành một địa điểm quan trọng mà du khách không thể bỏ qua được khi đến Hà Giang. Nhà cửa ở đây cũng xây cất lại, nhà trọ cũng có nhiều, giá cả cũng  phải chẵn, du khách ngoại quốc nhất là dân đi phượt cũng đông cuối tuần và thích ngủ nhà sàn. Rất tiếc chiều hôm đó, mưa quá to nên chụp hình không được nhiều. Chỉ sáng hôm sau, trời lại nắng nên mới có vài tấm ảnh để lưu niệm nhưng cũng có dịp viếng thăm một nhà cổ của người Hmong nay thành nhà trọ và có dịp chứng kiến cách thức dùng nước suối rửa cây linh (lin)  trước khi dệt vãi.  Đi miền núi như tớ rất mệt nhưng  học hỏi rất nhiều về tập quán nhất là Hà Giang có đến 22 dân tộc thiểu số  và rất thích thú trong cuộc hành trình nầy. 

Située au cœur de la vallée du plateau karstique de Đồng Văn, cette bourgade avait  seulement au moment de sa construction  une quarantaine de maisons.  Elle prit forme au début  du XX ème siècle au pied des montagnes rocheuses avec quelques familles Hmong, Tày et Hoa (ou Chinois).  Comme ses maisons ont été construites par des ouvriers recrutés  venant de Sichuan, cette bourgade continue à garder  une  profonde empreinte chinoise à travers son architecture typique à deux étages, son toit avec des tuiles tubulaires âm dương et ses lampions suspendus devant l’entrée. Aujourd’hui, elle devient un passage obligatoire pour ceux qui visitent Hà Giang.  La plupart de ses maisons sont rénovées et ses « homestay » (logement chez l’habitant) sont nombreux avec un prix assez raisonnable. Les touristes étrangers  sont en majorité des routards ou des gens aimant l’aventure de l’extrême et préférant dormir dans des maisons sur pilotis   et ils sont nombreux à la fin de la semaine.   C’est regrettable pour nous d’avoir la pluie torrentielle le soir de notre arrivée. C’est seulement le lendemain avec le retour du soleil que je peux faire quelques photos ci-dessus. J’ai aussi l’occasion de visiter une vieille maison devenant aujourd’hui un  « logement chez l’habitant » et d’apprendre la façon de laver le lin avec l’eau de source  avant le tissage des vêtements pratiqué par les Hmong.  L’excursion à la montagne est épuisante   mais elle me permet d’avoir des choses à apprendre en particulier les coutumes et les traditions lorsque la région Hà Giang a 22 minorités ethniques. Je suis très content de ce voyage mémorable. 

Huế city (English version)

 

titre_hue 

Version française

For the majority of Vietnamese, Huế always remains the intellectual and artistic foyer of Vietnam. It always looks like a sleeping princess. It knows how to keep its charm and grace that it has had since the Champa occupation with its citadel, the Perfume river and above all the famous Thiên Mụ ( or The Celeste Lady ) pagoda . The cruel beauty of its women wearing the white tunic ( áo dài ) accompanied by a conical hat (or nón bài thơ) , the fineness of its poetry, the union of its parks and pagodas with varnished tiles, the culture of its madarinal court make it more charming, noble, and majestuous.

One remembers Hue through the follwing two famous popular verses:

Gió đưa cành trúc là đà
Tiếng chuông Thiên  Mụ, canh gà Thọ-Xương

While the wind smootly moves the bamboo branches 
One hears the Thiên Mụ bell, and the Thọ-Xương rooster’s song

Before becoming the imperial capital of the Nguyễn, it was first the strong place of Chinese Jenan’s command of emperorQin ShiHuangDi in 3rd century B.C., then it was gradually integrated in the kingdoms of Lin Yi and Champa since 284 of our era. Then it was the object of greed of the Chinese and the Vietnamese when the latter  gained their independence. It was partially controlled by the Vietnamese in 1306. This control was only wholly when Hue became a dowry from king Chế Mẫn of Champa to the Vietnamese in exchange of his marriage with princess Huyền Trân.

Cố Đô Huếtucam

It was the imperial capital of a reunified Vietnam from 1802 to 1945 and knew no less than 13 emperors of the Nguyễn dynasty, of whom the founder was Nguyễn Ánh known under the name of  » Gia Long ». On the left bank of the Perfume river, in the middle of the city center, three surroundding walls circumscribe the imperial city and protect the forbidden purple city whose orientation was set in relationship with four cardinal points by geomancers of the court. As an admirer of the Ming dynasty, emperor  Gia Long did not hesitate to give Huế a striking resemblance of the Forbidden City of Peking.

Pictures gallery

The royal tombs were built  at the exit of the city, along the river. Hue was the target of several conquests, French first in 1885, Japanese next in 1945 and then French in 1946. It was the witness of deadly combats during the Mậu Thân Tết offensive in 1968. Many times, it was also the actor of nationalist resistance in colonial time and during the last five decades.

Despite its aristocratic appearance, Huế knows how to conserve in difficult time the history of Vietnam that is to say the Vietnamese soul.

Mandarin road (English version)

Version française

Mandarin road

If a tourist has a chance to travel by car from Saigon to Hanoï, he has got to take the « mandarin route » (or route No.1 ) as it is the only one that exists on the road network in Vietnam. We owe the name of « mandarin route » to the French who named it in 19th century because it is certain that it was the road taken by mandarins and high functionaries to travel rapidly and easily between the capital and their provinces. This route is born in the swamps of  Mekong delta infested with mosquitoes. It begins at Cà Mau and ends at the post of Ðồng Ðằng on the Sino-Vietnamese border in the region close to Lạng Sơn. It is often said that this route is the country’s backbone that looks like a sea horse. This route is 1730km long, linking several cities, in particular Saigòn, Phan Thiết, Nha Trang, Qui Nhơn, Hội An, Ðà Nẵng, Huế, Ðồng Hới, Hà Tịnh, Thanh Hóa and Hanoï.

It is generally covered with asphalt, but often on some sections, it was badly paved and weighed down by a multitude of trucks, bicycles, pedestrians, buffaloes, cows, and troops of ducks walking on. The bitumen often breaks, causing the grandmother perching side-saddle on the baggage carrier and girls leaning on too big bikes, to jump. Those are the familiar scenes often encountered on this road.

One also finds harvested rice and manioc left to dry on asphalt heated by the sun in the North. On this route, one can see on a side of Sa Huynh, the salt fields or mounds of salt recovered from the foliage and set up alongside of the road. The further one goes north, the more one sees peaceful landscapes of flooded rice paddies.

One often crosses children leading herds of buffaloes daubed with mud. At the edge of Hoa Lư, the ancient capital of Viet Nam, silhouettes of rocky hills emerge from the bluish mist.

Despite its bad condition especially in North Vietnam, it continues to be the axle road vital to Vietnam. For those who like to know the history of Vietnam, the history of the long march towards the South, it is suggested that this route be borrowed because one would find not only the vestiges of a lost civilization in the whirlwind of history, the kingdom of Champa, but also the marks and traces that Vietnamese settlers, for the past decades, succeeded in carving during their passage.

Pictures gallery

Quốc lộ số 1

To know this route is to know not only the immense rice paddies, rubber tree plantations, beautiful sightseeing points on the coast of Vietnam, very beautiful panoramic views from one delta to another, superbs passes (in particular the Hải Vân pass) and wooded hills, almost desolate waste lands, but also an intensity of a Vietnamese agricultural life through hamlets located alongside of the route.

 

To know this route is to also know the Hiền Lương bridge. It was built by the French in 1950, destroyed by an American airplane in 1967, 178 meters long. It certainly evokes an episode when Viet Nam was divided and when one-half of the bridge was painted red and the other half yellow. It is located at the 17th parallel, in a zone where one of its sections, known during the Indochina war as « the Road without Joy » as French troops encountered fierce resistence there.

To know this route is to know the Hải Vân pass. It is located at 28km north of Ðà Nẫng ( or Tourane ) and only 495m high. As its name indicates, it is always in the clouds because it is close to the sea, which allows it to receive important masses of humid air. In the old days, it marked the frontier between the North and the South and protected the Chams from the Vietnamese appetite for land.

Composer Phạm Duy has evoked this route through his work entitled « Con Ðường Cái Quan« .

 

Dalat (English version)

Version française

  Thành phố sương mù

Located on the Vietnam’s Central Highlands, about 250 kilometers from Saigon and  1500 meters above sea level, Dalat continues to keep the charm of the 1920s.

In 1893, the discoverer of the plague bacillus and the Pasteur’s disciple, Alexandre Yersin has founded at the Lang Bian mountain plateau  a fertile ground for the establishment of a sanatorium. His project was followed several years later by that of Governor Paul Doumer in transforming Dalat into  the  most select climate  resort of South East Asia.
Here is found the little Paris of the Viet Nam with its buildings erected during the colonial era:  high school Yersin, convent of the sisters named “Couvent des Oiseaux”, private villas whose style is borrowed from Basque country, as well as from to  Savoy and Normandy.

The railway station of Đà Lạt is a replica of the Deauville train station in miniature. Even the small red and white iron lady, the small Eiffel Tower is there to remind its Parisian colleague.

 Little Paris in Vietnam

Pictures gallery 

Thanks to the temperate climate (10 degrees in  winter) and 25 degrees in  summer, one can cultivate here  all citrus fruits and vegetables. That allows Dalat to become the  leading vegetable provider of the country. Flowers greenhouses are also in the honour  for the region. Known as  « the city of eternal spring », Dalat is characterized by a large number of « no »: no air conditioning, no traffic lights, no cycle ricksaws, no cops in  the streets, no supermarkets, no motorcycle taxis (xe ôm) etc..

Capital Hanoï (Vietnam)

Version française

 ha_noi

As indicated by its name Hà Nội means « The city on this side of the river » (Hà means river, Nội means inside). Contrary to other cities in Vietnam, Hanoï has a long agitated history. Its destiny is that of the Vietnamese people. It experienced a long period of disgrace when Nguyễn Ánh arrived at founding the Nguyen dynasty in 1802 after 20 years of fighting the Tây Sơn and decided to transfer the capital to Huế (or Phú Xuân). It witnessed several decisive battles in the reclaim of independence, in particular the Đống Đa battle run by Emperor Quang Trung in 1789. Thanks to the blitzkrieg upon Chinese troops of Qing, and to Quang Trung’s scheme to choose the date of the Vietnamese new year to surprise the Chinese enemy, Hanoï was thus liberated as well as Vietnam. It was also chosen by Hồ Chí Minh to proclaim Vietnam’s independence on September 2, 1945 at Ba Đình Square.

It was also on one of its lakes under the name of Hồ Gươm where Lê Lợi, future king Lê Thái Tổ, after his victory over the Ming, according to a Vietnamese legend, returned his magic sword to a golden tortoise which gave him this sword during a walk. Thanks to this sword, Lê Lợi succeeded in chasing Chinese troops of Ming out of Viet Nam after 10 years of fighting a guerilla warfare. That is why the lake is known as « Lake of Returned Sword » (or Hồ Hoàn Kiếm).

It was also at Hanoï that the unique one-pillar pagoda (Chùa Một Cột) was erected in 1049 by king Lý Thái Tông on a strong wooden pillar in the style of ancient temples of ancestors. According to legend, the king afflicted by not having a descendant, saw in his dream Quan Âm, the Goddess of Compassion. Sitting on a lotus flower, she gave him a son. Shortly after that, a young country girl that he made favorite, gave him an heir. In witness of his gratitude, he had this pagoda erected in the middle of a pond of lotus flowers.

Because of its proximity to the Red river, every year Hà Nội is victim of floodings caused by the cresting of this river and by violent monsoon rain and typhoons.

In spite of that, Hà Nội continues to remain the capital of a unified Vietnam. No one dares to contest the political and cultural heritage it has left to the Vietnamese people. It represents not only for the majority of Vietnamese the symbol of national unity but also the pride of a people of peasants who know how to valiantly resist the changes of nature and the ambitions of invaders.

Hànội vắng những cơn mưa

Saxophoniste Quyền Văn Minh

Pictures gallery

Thăng Long muôn thưở

Before becoming the capital city of Việt-Nam, Hà Nội was the seat of the Chinese administration in 607 and bore the name of « Tống Bình« . In 866, this seat was surrounded by the wall of Ðại La whose some vestiges still exist. It was chosen by the founder of the Lý dynasty, king Lý’ Công Uẩn, in 1010 as a new capital of Vietnam at the place of Hoa Lư.

According to legend, in his dream the king saw a golden dragon flying over that locality. That is why Hà Nội was called at that time « Thăng Long » (ascending dragon)« .

This site was deemed favorable in comparison with other sites because it is located between « hà » and « sơn », waters and mountains, in the middle of rice paddies and protected from flooding by dikes. In 15th century, Hà Nội took the name of Ðông Kinh. Then it retook the name of Thăng Long until the transfer of the royal residence to Huế. Next, it took the name of Thành Tích then Bắc Thành before becoming Hà Nội only in 1931. It became the capital of North Viet-Nam after the Geneva Accord in 1954 and since the events of 1975, the capital of reunified Viet-Nam.

Hà Nội covers 913km2. Its interior (or nội thành 40km2) is divided into four urban districts (or Quận): Quận Hoàn Kiếm, Quận Hai Bà Trưng, Quận Ðống Ða, and Quận Ba Ðình. It also includes six suburban districts (or Huyện) and several villages located within its limits.

One finds the soul of Hà Nội through its old city. Poetess Bà Huyện Thanh Quan, a poetess of 19th century evoked it in one of her works.
What retains the most in that old city are the 36 streets that are often known as Hàng (or merchendise in English). There, each cratfsman makes his specialty object and each street was baptized following the craft that was practiced there: street of Silk, street of Drums, street of Potteries etc… Novelist Thạch Lam talked about it in his novel « Hà Nội, 36 Phố Phường« . Hà Nội is also the Vietnamese city which keeps more colonial traits compared to other cities. It can be said that it is the conformed copy of a French town in the structure of Arcachon, with its governor’s palace, opera house, post office and park. The bridge Long Biên (or Paul Doumer) recalls not only the first work of art of French builders on the Red river in 1902 but also the traces of American bombings during the Vietnam War.

In spite of that, Hanoï, from the past few years begins to change its face and look. Constructions have been multiplied at such a rhythm that there is not one square meter unoccupied. It tries to catch up with its late economy and to fill in the incoming vacuum left by the return of Hong Kong to China.