Hốt Tất Liệt (Kubilai Khan)
Version française
Version anglaise (in translation)
Bibliographie
Vào thế kỷ XII, vùng đất Trung Hoa hình thành cục diện chân vạc chia cắt giữa ba thế lực lớn: Nam Tống (người Hán ở phía nam với thủ đô Hàng Châu), nhà Kim (người Nữ Chân ở miền bắc Trung Hoa, thủ đô là Băc Kinh) và Tây Hạ (người Đảng Hạng ở vùng Tây Bắc, thủ đô Hưng Khánh, Ngân Xuyên). Với ý định thôn tính Trung Hoa, Thành Cát Tư Hãn mới khởi binh đánh Tây Hạ trước hết nhưng ông bị lâm bệnh, qua đời và được thay thế bởi người con trai thứ ba của ông, Oa Khoát Đài (Ögedeï). Ông trở thành Đại Hản thứ hai trong đế chế Mông Cổ.
Sau khi chinh phục được Tây Hạ. Cùng với đại quân, Oa Khoát Đài tiến từ Sơn Tây xuống Hà Nam để tấn công tỉnh này từ phía bắc, trong khi người em trai Đà Lôi (Toloui) đánh vào hậu phương nhà Kim bằng cách tiến về phía tây qua miền nam Thiểm Tây. Chiến thuật này đã tạo điều kiện để bao vây và tiêu diệt nhà Kim. Kinh đô Khai Phong của họ bị Tốc Bất Đài (Subutai) chiếm đóng, và vị vua nhà Kim phải tự sát để tránh bị quân Mông Cổ ngược đãi. Kể từ nay miền bắc Trung Hoa nằm trong tay của người Mông Cổ vào năm 1234.
Hốt Tất Liệt, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, con trai của Đà Lôi (con út của Thành Cát Tư Hãn), và là anh em với Húc Liệt Ngột (Hulègu) cùng Mông Kha (Mongka)—đã được Mông Kha (Đại Hãn thứ ba) giao quyền chỉ huy phần phía đông của Đế quốc Mông Cổ từ năm 1252. Sau khi Mông Kha qua đời, Hốt Tất Liệt mới được tôn làm Đại Hãn (ngày 6 tháng 5 năm 1260), nhưng phải đối mặt với sự thách thức từ người em trai A Lý Bất Ca (Arikbögè). Người này mãi đến năm 1264 mới chịu quy phục.
Muốn xâm chiếm Nam Tống thì Hốt Tất Liệt phải mất rất nhiều thời gian vì theo sử gia người Pháp René Grousset người Mông Cổ cần phải tiến hành chiến tranh theo kiểu người Hoa. Phải cần có các lực lượng bộ binh đông đảo với pháo binh đầy đủ và các loại máy công thành. Nam Tống bị chia cắt bởi vô số sông ngòi và núi non hiểm trở, rất có nhiều trung tâm đô thị khiến làm những kỵ sĩ thảo nguyên mất đi phương hướng và không quen lối vận hành như vầy. Hốt Tất Liệt phải mất đến 10 năm để tiêu diệt nhà Tống và thống nhất nước Trung Hoa. Sau khi Quảng Đông qui phục vào năm 1260, Hốt Tất Liệt mới dời đô về Bắc Kinh và xây dựng một thành phố mới được gọi là Khan balik (thành phố của Hãn). Chớ thành phố cũ Khai Phong hay Bắc Kinh hoàn toàn bi thiêu hủy khi quân Mông Cổ xâm chiếm.
Quân nầy nổi tiếng là hung bạo và hủy diệt tất cả những nơi họ đi qua chớ họ không biết đây là tài sản của họ từ đây. Họ nghĩ họ là dân du cư không thích ở vĩnh viển một nơi. Chính sự việc nầy cho thấy Hốt Tất Liệt rất khoan dung và nhân đạo trong việc hành sự của ông đối với kẻ thù cũng như với tôn giáo. Ông cấm quân Mông Cổ không được cướp bóc nhà cửa của dân Trung Hoa.
Theo sự nhận xét của sử gia người Pháp René Grousset, đây là cột mốc mà người Mông Cổ đã đạt được kể từ thời Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) . Chỉ trong vòng hai thế hệ, từ những kẻ bán khai, họ đã vươn lên ngang tầm với các dân tộc văn minh cổ xưa. Chính nhờ đó ông mới thành công hiện thực được giấc mơ chinh phục toàn nước Trung Hoa. Đây là một kỳ tích mà chưa bộ tộc du mục nào từng làm được.
Từ đây Hốt Tất Liệt trở thành thiên tử, con của Trời. Ông ngự trị ở Bắc Kinh thay vì ở Karakoroum, thủ đô của đế Mông Cổ nhất là ông hán hóa triều đình của ông khiến làm biết bao nhiêu người Mông Cổ bất mãn, làm họ mất đi cuộc sống ở thảo nguyên. Chính vì vậy họ ngã theo lúc đầu ủng hộ em trai của ông là A Lý Bất Ca (Arikbögè) nhưng sau cuộc qui thuận của A Lý Bất Ca, họ quay về ủng hộ người em họ của ông là Qaïdou, cháu nội của Oa Khoát Đài.
Từ năm 1267, Qaïdou dành được toàn vùng Turkestan mà thường gọi là Hãn quốc Sát Hợp Đài (Khanat de Djaghataï). Theo lời tường thuật của thương nhân Marco Polo, Koubilai Khan phá vỡ liên minh chống ông vào năm 1287 và phải nhờ cháu nội ông là Đại Hãn Temur mới chấm dứt về sau cuộc chiến với Qaïdou. (1301).
Sau khi diệt được Nam Tống, Hốt Tất Liệt đối xử một cách nhân đạo đối với vị vua trẻ bị giam giữ, Tống Cung Đế (4 tuổi) Vị vua trẻ nầy được đưa đến xứ Thổ Phồn (Tây Tạng), bắt phải cắt tóc đi tu. Còn hoàng hậu nhiếp chính được chào đón một cách đầy trân trọng trước khi bà lui về một tu viện Phật giáo, đó là lời chứng được kể lại của thương gia người Ý Marco Polo trong quyển sách có tựa đề « Livre des Merveilles (Marco Polo du ký) lúc ông đang phục vụ tại triều đình Hốt Tất Liệt.
Còn về tôn giáo, ngoài tín ngưỡng Shaman, ông còn thể hiện thái độ thân thiện bao dung đối với các giáo phái khác nhau. Là một nhà chính trị lỗi lạc, Hốt Tất Liệt hiểu rõ lợi thế của việc đặt giới tăng lữ dưới quyền kiểm soát của mình. Số lượng hiệp ước tương ứng với số lượng các tôn giáo được công nhận chính thức. Các tổ chức Phật giáo và Đạo giáo được tổ chức như cơ quan nhà nước. Tuy nhiên theo lời tường thuật của Marco Polo thì ông nghiên về Phật giáo nhất là Phật giáo Tây Tạng. Bởi vậy có sự lạm dụng, dung túng khiến tạo không ít sự bất mãn về sau cho triều đình nhà Nguyên-Mông. Phật giáo trong truyền thống Tây Tạng cũng theo gót quân Nguyên lui về thảo nguyên sa-mạc sau khi triều đại Nguyên Mông sụp đổ. Còn Công giáo Nestorus (Cánh Đông Kinh hay Cứu thế giáo) được bành trướng mạnh mẽ nhờ chính sách dung dưỡng tôn giáo và sự liên minh hôn nhân của Đế quốc Mông Cổ, đặc biệt dưới thời đại hưng thịnh của nhà Nguyên-Mông do Hốt Tất Liệt lập ra. Các bộ lạc du mục như Kereit (Khắc Liệt), Naiman, và Ongud đã tiếp nhận đạo Nestorus từ thế kỷ 11 và mang theo đức tin này khi phục vụ dưới trướng Đại Hãn. Đấy là trường hợp mẹ ông là công chúa Toa Lỗ Hốt Tha Ni (Sorghaghtani Beki), người có công không ít trong việc truyền bá đạo nầy.
Nhờ cuộc chinh phạt của người Mông Cổ, các tín đồ Kitô giáo mới có thể khởi hành đi từ Bắc Kinh để hành hương đến Jerusalem, đi theo lộ trình Con đường Tơ lụa cổ xưa, vốn đã bị đóng cửa từ thế kỷ 11 do sự bành trướng của Hồi giáo và cũng nhờ đó mà Marco Polo mới có thể đến Trung Hoa, mới gặp được Hốt Tất Liệt và được ông ủy thác các nhiệm vụ như sứ thần đặc mệnh ở các vùng đất xa xôi như Miến Điện, Ấn Độ, Tây Tạng và các tỉnh miền Nam Trung Hoa hay là Quan sát viên để về báo cáo với Đại Hãn những vùng được chinh phục.
Dựa trên lời tường thuật của Marco Polo thì thời đó có *Örtöö* hay còn gọi là *Yam*. Đây là một mạng lưới trạm cho phép truyền tải nhanh chóng thư từ và thông tin từ các trinh sát và gián điệp, đồng thời giúp giám sát sự an toàn của những nhân vật quan trọng khi họ di chuyển. Bộ luật nhà Nguyên hướng tới việc cải thiện đời sống của nô lệ, lao động nông nghiệp và tá điền làm việc tại các điền trang lớn. So với luật pháp thời Tống, bộ luật nhà Nguyên mang lại cho những tầng lớp thấp kém này sự bảo vệ tốt hơn trước các hành vi tùy tiện của chủ nhân; ngay từ giai đoạn đầu của triều đại, luật đã quy định hình phạt một trăm lẻ bảy gậy đối với bất kỳ địa chủ nào đánh chết những người này.
Sau khi làm chủ Trung Hoa, Hốt Tất Liệt đòi hỏi sự thần phục từ các quốc gia chư hầu ở Viễn Đông. Triều Tiên đã chấp nhận quyền thống trị của ông. Ngược lại các đạo quân mà Hốt Tất Liệt phái đi đánh Đại Việt và Chiêm Thành vào các năm 1283, 1285 và 1287 đã hoàn toàn thất bại vì không quen phong thổ và địa lợi nhất là Đại Việt có một nhà quân sự kiệt xuất Trần Hưng Đạo và một liên minh chính trị đặc biệt giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Tuy nhiên Đại Việt, Chiêm Thành cũng như Miến Điện cũng phải hoà hoãn cầu hoà và thừa nhận quyền bá chủ của nhà Hốt Tất Liệt. Cũng dưới thời ngự trị của Hốt Tất Liệt, Nhật Bản bị xâm lược hai lần vào các năm 1274 và 1281. Lần đầu một hạm đội gồm 900 tàu và gần 30.000 binh sĩ đã đổ bộ lên đảo Kyushu. Một cơn bão dữ dội đã phá hủy một số tàu và buộc quân Mông Cổ phải rút lui. Còn lần thứ nhì thì cùng
một hạm đội khổng lồ với hơn 140.000 binh sĩ. Các võ sĩ samurai đã kiên cường cố thủ suốt nhiều tuần lễ, trước khi một cơn bão lớn ập đến và phá hủy hạm đội của quân Mông Cổ.
Theo thương nhân Marco Polo, Hốt Tất Liệt rất xứng đáng làm hoàng đế nước Trung Hoa vì từ thời ông Adam đến giờ chưa có hoàng đế nào đóng vai nghiêm túc như ông để chữa lành những vết thương của một thế kỷ chiến tranh với số người chết quá cao. Nên nhớ lại, vào 1125 nước Trung Hoa có được 100 triệu dân nay chỉ còn 59 triêu dân.
Thành tựu vĩ đại nhất của Hốt Tất Liệt có lẽ không phải là việc trở thành người đầu tiên trong lịch sử chinh phục toàn bộ Trung Quốc, mà là việc bình định được vùng đất này.
Au XIIème siècle, la Chine était partagée entre trois puissances majeures: les Song du Sud (Hans du sud, avec pour capitale Hangzhou), la dynastie Jin (Jurchens du nord de la Chine, avec pour capitale Pékin) et les Xia occidentaux (Tangoutes du nord-ouest, avec pour capitale Xingqing/Yinchuan). Déterminé à conquérir la Chine, Gengis Khan lança d’abord une campagne contre les Xia occidentaux. Toutefois, il tomba malade et mourut, et son troisième fils, Ögedei, lui succéda pour devenir le deuxième Grand Khan de l’Empire mongol.
Après avoir conquis les Xia occidentaux, Ögedei mena son armée principale de Shanxi vers le Henan pour attaquer la province par le nord, tandis que son frère cadet Tolui frappa les arrières de la dynastie Jin en progressant vers l’ouest à travers le sud du Shaanxi. Cette stratégie permit d’encercler et d’anéantir la dynastie des Jin. Leur capitale, Kaifeng, fut prise par Subutai, et le souverain Jin se suicida pour échapper aux mauvais traitements des forces mongoles. En 1234, la Chine du Nord était passée sous la domination mongole.
Kubilaï Khan, petit-fils de Gengis Khan, fils de Tolui (le plus jeune fils de Gengis Khan) et frère de Houlagou et de Möngke, s’était vu confier par Möngke (le troisième Grand Khan) le commandement de la partie orientale de l’Empire mongol à partir de 1252. Après la mort de Möngke, Kubilaï fut proclamé Grand Khan (le 6 mai 1260), mais il dut faire face à la contestation de son frère cadet, Ariq Böke, qui ne se soumit qu’en 1264.
La conquête de la dynastie des Song du Sud fut une entreprise de longue haleine pour Kubilai Khan ; comme l’a souligné l’historien français René Grousset, les Mongols durent adopter un mode de guerre à la chinoise. Cela nécessitait d’importants effectifs d’infanterie dotés d’artillerie et d’engins de siège. Le territoire des Song du Sud était sillonné d’innombrables rivières et de montagnes escarpées, et parsemé de nombreux centres urbains, un environnement qui déconcertait les cavaliers des steppes, peu habitués à de telles conditions. Il fallut une décennie entière à Kubilai Khan pour vaincre la dynastie des Song et unifier la Chine. Après la reddition de la ville Guangdong en 1260, Kubilai Khan transféra sa capitale à Pékin et fit bâtir une nouvelle ville nommée Khanbaliq (la « Ville du Khan »), les anciennes cités de Kaifeng et de Pékin ayant été entièrement détruites lors de l’invasion mongole.
Ces troupes étaient tristement célèbres pour leur brutalité et pour les destructions qu’elles semaient sur leur passage, sans réaliser que les terres qu’elles traversaient finiraient par leur appartenir. Elles se percevaient comme des nomades, réticentes à toute sédentarisation durable. Ce contexte met en lumière la tolérance et l’humanité remarquables dont fit preuve Kubilai Khan dans ses relations tant avec ses ennemis qu’avec les groupes religieux. Il interdit formellement à ses troupes mongoles de piller les foyers des populations chinoises.
Comme l’a souligné l’historien français René Grousset, cela marqua une étape décisive pour les Mongols depuis l’époque de Gengis Khan. En l’espace de deux générations seulement, ils étaient passés d’un état semi-barbare à un rang d’égalité avec des nations anciennes et civilisées. C’est précisément cette transformation qui lui permit de concrétiser le rêve de conquérir la Chine tout entière, un exploit sans précédent pour des tribus nomades.
Dès lors, Kubilaï Khan devint le Fils du Ciel. Il gouverna depuis Pékin plutôt que depuis Karakorum, la capitale de l’Empire mongol — et, le fait notable, il sinisa sa cour. Cette attitude aliéna de nombreux Mongols, qui avaient le sentiment de perdre leur mode de vie traditionnel lié à la steppe. Par conséquent, bien qu’ils aient initialement soutenu son frère cadet Arikbögè, ils reportèrent leur allégeance sur son cousin Qaidu, petit-fils d’Ögedei après la reddition d’Arikbögè.
À partir de 1267, Qaidu s’assura la maîtrise de toute la région du Turkestan, communément appelée le khanat de Djaghataï. Selon le récit du marchand célèbre Marco Polo, Kubilai Khan brisa l’alliance formée contre lui en 1287, bien qu’il ait fallu attendre l’époque de son petit-fils, le Grand Khan Temur, pour terminer la guerre contre Qaidu (1301).
Après avoir conquis la dynastie des Song du Sud, Kubilai Khan traita avec humanité le jeune monarque captif, l’empereur Gong des Song, alors âgé de quatre ans. L’enfant empereur fut envoyé au Tibet et contraint de se raser la tête pour devenir moine. Parallèlement, l’impératrice régente fut accueillie avec un grand respect avant de se retirer dans un monastère bouddhiste. Ce récit était consigné par le marchand italien Marco Polo dans son *Livre des merveilles* (ou *Devisement du monde*), alors qu’il était au service de la cour de Kubilai Khan.
En matière de religion, au-delà du chamanisme, il fit également preuve d’une attitude bienveillante et tolérante envers diverses confessions religieuses. Etant homme d’état brillant, Kubilaï Khan saisit parfaitement les avantages qu’il avait en plaçant le clergé sous son contrôle. Le nombre de concordats correspondait au nombre de religions officiellement reconnues.
En matière de religion, au-delà du chamanisme, il fit également preuve d’une attitude bienveillante et tolérante envers diverses confessions religieuses. Etant homme d’état brillant, Kubilaï Khan saisit parfaitement les avantages qu’il y avait en plaçant le clergé sous son contrôle. Le nombre de concordats correspondait au nombre de religions officiellement reconnues.
Les organisations bouddhistes et taoïstes étaient structurées de manière analogue aux institutions étatiques. Toutefois, les récits de Marco Polo laissent entrevoir une inclination particulière pour le bouddhisme, et plus précisément pour le bouddhisme tibétain. Cette situation donna lieu à des abus et à une certaine complaisance officielle, suscitant par la suite un vif ressentiment à l’encontre de la cour mongole des Yuan.
Après la chute de la dynastie mongole des Yuan, le bouddhisme tibétain se replia vers les steppes et les déserts, suivant le mouvement de retrait des forces mongoles. Parallèlement, le christianisme nestorien (ou Église de l’Orient) connut une expansion vigoureuse, favorisé par la politique de tolérance religieuse et les alliances matrimoniales de l’Empire mongol, notamment durant l’apogée de la dynastie mongole des Yuan fondée par Kubilai Khan.
Des tribus nomades telles que les Kéraïtes, les Naïmans et les Ongüts adoptèrent le christianisme nestorien dès le XIème siècle et propagèrent cette foi alors qu’elles servaient le Grand Khan. Ce fut notamment le cas de sa mère, la princesse Sorghaghtani Beki qui joua un rôle majeur dans la diffusion de cette religion.
Basé sur les récits de Marco Polo, l’*Örtöö* — également connu sous le nom de *Yam* — existait à cette époque. Il s’agit d’un réseau de relais permettant la transmission rapide de la correspondance et des informations provenant d’éclaireurs et d’espions, tout en contribuant à assurer la sécurité des personnalités importantes lors de leurs déplacements.
Le code juridique des Yuan visait à améliorer le sort des esclaves, des travailleurs agricoles et des métayers employés dans les grands domaines. Par rapport à la législation de la dynastie Song, le code des Yuan offrait à ces classes inférieures une meilleure protection contre l’arbitraire de leurs maîtres. Dès l’avènement de la dynastie, la loi prévoyait une peine de 107 coups de bâton pour tout propriétaire terrien ayant battu à mort de telles personnes.
Après avoir pris le contrôle de la Chine, Kubilai Khan exigea la soumission des États vassaux d’Extrême-Orient. La Corée accepta son autorité. En revanche, les armées que Kubilai Khan envoya pour envahir le Đại Việt et le Champa en 1283, 1285 et 1287 essuyèrent un échec cuisant et total. Ses troupes n’étaient pas habituées au climat et au terrain locaux. Le fait déterminant est que le Đại Việt disposait d’un chef militaire exceptionnel en la personne de Trần Hưng Đạo, ainsi que d’une alliance politique inédite avec le Champa. Néanmoins, le Đại Việt (Dai Yue), le Champa et la Birmanie finirent par être contraints de rechercher la paix et de reconnaître l’hégémonie de la dynastie de Kubilai Khan.
Sous le règne de Kubilai Khan, le Japon fut envahi à deux reprises, en 1274 et en 1281. Lors de la première invasion, une flotte de 900 navires transportant près de 30 000 soldats débarqua sur l’île de Kyushu. Toutefois, une violente tempête détruisit une partie des navires et contraignit les forces mongoles à battre en retraite. La seconde invasion mobilisa une flotte encore plus imposante, forte de plus de 140 000 soldats. Les samouraïs opposèrent une résistance acharnée durant plusieurs semaines avant qu’une puissante tempête se soit battu sur la flotte mongole et l’ait détruit.
Selon le marchand Marco Polo, Kubilaï Khan était véritablement digne d’être empereur de Chine . En effet, depuis l’époque d’Adam jusqu’à ce jour, aucun empereur ne s’était attaché avec autant de sérieux à guérir les plaies d’un siècle de guerres ayant coûté la vie à tant de personnes. Il est convenu de rappeler qu’en 1125, la Chine eut 100 millions d’habitants, alors qu’aujourd’hui elle n’en compta que 59 millions.
Le plus grand accomplissement de Kubilai Khan n’est peut-être pas de devenir la première personne de l’histoire à conquérir la Chine tout entière, mais plutôt de la pacifier.















