Con đò (Le sampan)

 

Version française

Tình nào thổn thức đêm dài
Đò nào bến cũ tháng ngày tiếc thương
Bao năm chồng chất tóc sương
Sông nào đãi hết tỏ tường với ai

Việt Nam là một vùng  đất có một hệ thống sông ngòi chặn chịt nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy ở nơi nầy có sự phổ biến và sự đa dạng của các thuyền bè mà được người dân Việt sử dụng trong các cuộc giao thông đường thủy: từ những chiếc thuyền  nhẹ và nhỏ nhất đến các thuyền  lớn mà được tìm thấy cho đến giờ  ở các nước láng giềng như Trung Quốc hoặc Nam Dương. Qua các chiếc thuyền đóng này, mới thấy được có sự ảnh hưởng của các nước ngoài đáng kể như ở miền Bắc với người Trung Hoa còn ở miền Nam Việt Nam thì với người Nam Dương, Ấn Độ và ngay cả với người Tây Phương. Ảnh hưởng này nó được thể hiện rõ ràng nhất là ở miền Trung Việt Nam, vì nơi nầy  cho đến thế kỷ 13 là vùng đất của những người Viking ở châu Á. Đấy là những người Chămpa mà nền văn minh của họ bị suy tàn trước cuộc nam tiến của người dân Việt. Tuy nhiên trải qua kinh nghiệm sống sâu sắc trước các cuộc bão tố thường xuyên ở các  vùng bờ biển, người dân Việt có được ý thức quan sát nên biết cách kết hợp sự hài hoà  tất cả dữ liệu của các kỹ thuật khác nhau ở nước ngoài  để rồi thực hiện được một cách mỹ mãn  những chiếc thuyền dễ điều khiển hơn các mẫu được trông thấy ở Trung Quốc, Mã Lai hoặc Ấn Độ, như ông  P. Paris đã từng lưu ý lại trong cuốn sách của ông mang tựa đề « Nghiên cứu sự quan hệ của bốn chiếc thuyền Đông Dương, BIIEH, 1946 ». Vì sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cuộc đấu tranh hầu như vĩnh cửu chống lại Trung Hoa, người dân Việt buộc lòng tập trung nỗ lực chinh phục các đồng bằng. Tự giam mình trong chính sách biệt lập được phát huy mạnh mẽ ở Viễn Đông thời đó và thêm vào đó có sự hiện diện gần như thường trực của các tàu nước ngoài ở các hải cảng  như Hội An, Đà Nẵng, Sài Gòn, vân vân … khiến người dân Việt không thấy có lợi ích nào để ưu đãi sự vận tải hàng hải mặc dù họ được xem như là những người thủy thủ khéo léo nhất ở Viễn Đông. Trung Hoa đã công nhận  sự ưu thế của họ ở trên sông nước. Một ông quan cao cấp Trung Hoa thời nhà Tống, Bao Chi, đã có lần thông báo chuyện nầy qua một  bản báo cáo bí mật mà ông  có dịp trình lên cho  hoàng đế nhà Tống. Hầu hết các cuộc chiến thắng của người dân Việt chống lại Trung Quốc đều được diễn ra ở trên sông biển.

Người Việt Nam có thói quen  sử dụng thuyền làm phương tiện vận chuyển lương thực hay quân lính, đây là sự nhận xét của cha Prévost trong cuốn « Histoire des Voyages »  vào năm 1751 dựa trên sự mô tả của Samuel Baron được  xuất bản năm 1732. Hải quân Việt Nam chỉ được đạt đến đỉnh cao vào nửa đầu thế kỷ 19. Đó là thời kỳ vua Gia Long, được các trung úy người Pháp Jean-Baptiste Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng), Philippe Vannier (Nguyễn Văn Chấn), vân vân…giúp đỡ, đánh bại  quân Tây Sơn ở Qui Nhơn  nhờ có hải quân  hoàng gia bao gồm một trăm thuyền buồm lớn từ 50 đến 70 mái chèo, súng đại bác và súng bắn đá  cùng ba tàu lớn  đóng theo phong cách  Âu Châu (Phénix (tàu Phụng), Aigle (tàu Đại Bàng) và Dragon-Volant (tàu Long)). Không hơn ba tháng ở xưởng tàu, các tàu nầy được đóng một cách khéo léo  mà cha Lelabousse đã lưu ý lại  trong báo cáo của ông đề ngày Nha Trang, ngày 24 tháng 4 năm 1800.

Để xin được thụ phong tước vị làm vua ở phương Nam với hoàng đế Trung Quốc, vua Gia Long đã gửi đi vào năm 1802 nhà thơ vĩ đại Trịnh Hoài Đức. Ông nầy là  người đại biểu đầu tiên của Việt Nam dùng đường biển để đi đến Bắc Kinh. Thật không may, thời kỳ hoàng kim nầy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngũi bởi vì những người kế vị của vua Gia Long, được các quan lại Nho giáo phụ tá và vướng vào chính sách ngu dân, tiếp tục áp dụng chính sách cô lập đất nước một cách trầm trọng hơn nửa mặc dù có giác thư của học giả hiện đại Nguyễn Trường Tộ. Nhờ thế hải quân Pháp mới có dịp  thành công thả neo vài chục năm sau ở vùng biển Vietnam sau khi đánh chìm ở hải cảng Đà Nẵng (Tourane) năm chiếc thuyền bọc thép đầu tiên của hạm đội Việtnam vào ngày 15 tháng 4 năm 1847. Mặc dù người dân Việt không xem trọng  chuyện vận tải hàng hải, nhưng dầu vậy họ cũng dùng đủ mọi phương tiện trong việc  đóng thuyền. Có rất nhiều loại thuyền khác nhau được trông thấy và di chuyển dễ dàng hàng ngày ở trên sông biển vì ngoài  rừng ngập mặn được xếp hạng thứ hai sau Ba Tây trên thế giới (rừng U-Minh 1000 km2 ) ở bán đảo Cà Mau, Việt Nam còn có nhiều kinh rạch, các con sông cái như sông Hồng và sông Cửu Long và cả ngàn con sông nho nhỏ ( phụ lưu và phân lưu). Hơn nữa mạng lưới giao thông Vietnam vẫn còn thiếu thốn vào thời điểm đó.  Các chiếc thuyền của Việt Nam được phân chia ra thành hai loại:  một loại được đan với những thanh tre và được phủ lên bên ngoài với một lớp sơn mài (thuyền nan) và một loại khác được làm với các thân cây hay  hay đóng bằng gỗ (thuyền gỗ). Về loại thứ nhất, nếu là thuyền nhỏ thì thường được gọi là thuyền câu. Đấy là một chiếc thuyền rất nhỏ, có thể chứa được một người. Nếu chiếc thuyền nó nhẹ có kích thước tròn xoe, nó được gọi là « thuyền thúng » và được sử dụng thường xuyên bởi các ngư dân ở miền Trung Việt Nam.

 
img_3005

Thuyền thúng này nó có từ  thế kỷ thứ 10. Dương Vân Nga, người con gái của đất Hoa Lư, được nổi tiếng giỏi  chèo thuyền thúng này. Nhưng hôm thi đấu người thủ lĩnh của một nhóm trai tráng đối thủ ở trong làng, Đinh Bộ Lĩnh đã thành công làm bất động chiếc thuyền thúng của nàng bằng cách đục thủng thuyền qua một cây sào. Nhờ chiến thắng này  anh họ Đinh chinh phục được không những sự ngưỡng mộ mà  luôn cả tình yêu của Dương Vân Nga. Chiếc thuyền thúng này giúp sự vận chuyển mau lẹ  quân lính  qua các đầm lầy và  các kinh rạch nhỏ và đem lại cho  vợ chồng Dương Vân Nga và Đinh Bộ Lĩnh vài năm sau đó một chiến thắng vẽ vang  khi  đối phó  với  Trung Hoa. Còn loại thứ nhì, thành phần cơ bản vẫn là cây gỗ. Có vô số thuyền khác nhau nhưng nổi tiếng và được người dân Việt trọng dụng nhiều nhất là thuyền tam bản hoặc thuyền có ba ván.  Thuyền nầy thường được dùng để vượt các kinh rạch hay dùng làm đò ngang. Hầu hết những người chèo loại thuyền nầy là các cô gái trẻ. Đó là lý do tại sao có  rất nhiều câu chuyện tình yêu từ những chiếc thuyền này. Chúng ta thường được nghe nói rất nhiều về các  câu chuyện nầy,  nhất là về  vua Thành Thái với  cô lái đò. Người Vietnam hay có thói quen thường dùng đò ngang để sang sông lúc còn trẻ, một thời mà cầu cống còn hiếm hoi. Có lẽ là những lúc đó mà người khách quá giang có thể cảm thấy áy náy, nhớ lại các kỷ niệm và có những cảm xúc mãnh liệt khi có dịp trở lại bến sông. Anh ta cảm nhận bất lực  khi biết rằng cô lái đò xinh tươi duyên dáng mà anh ta tiếp tục có sự cảm tình riêng biệt và lo lắng cho số phận,  nay không còn ở đó nữa. Có lẽ, cô ấy bây giờ  đã làm mẹ của một gia đình  hay là sang thế giới bên kia. Cô không còn ở đó để chào đón anh với nụ cười duyên dáng và khéo léo. Anh cũng  không còn có dịp để nghe lại  điệp khúc của cô và nhìn thấy hai tà áo dài phất phơ trong gió, nhẹ nhàng  bay bay khi sang sông. Chính trong bối cảnh bất thường này, anh cảm thấy lòng nặng trĩu không thể diễn tả được. Anh cảm nhận có lỗi  vì đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để tìm thấy lại bến đỗ, dòng sông, quê hương và quên đi từ lâu nay sự quyến rũ vĩnh cửu của con đò và Việt Nam trước kia.

Nhà đạo diễn nổi tiếng nhất hiện nay ở Việt Nam, Đặng Nhật Minh, không ngần ngại thể hiện trường hợp ngược lại, một tình yêu kín đáo của cô lái đò trẻ sống  ở trên sông Hương, với công chúng nước ngoài và Việt Nam qua bộ phim của ông mang tựa đề « Cô gái trên sông (1987)». Đây là câu chuyện về  cô lái đò tên Nguyệt.  Dù tính mạng bị đe dọa, Nguyệt đã không ngần ngại cứu một chàng  thanh niên bị thương  mà cảnh sát miền nam Việtnam được biết đến bởi các hoạt động phản động của anh ta trong thời chiến tranh. Cô cố gắng giấu anh ta  trong  thuyền của mình. Một khi hòa bình được trở lại, chàng trai trẻ này trở thành một cán bộ cộng sản quan trọng. Cô gái nầy cố gắng tìm lại anh nầy vì cô vẫn tiếp tục giữ tình cảm sâu đậm với anh. Thật không may, cô cảm thấy đau khổ và bị phản bội vì anh chàng này giả vờ phớt lờ cô và không muốn nhớ lại thời gian khó khăn của cuộc đời mình. Cô cố gắng lập lại cuộc đời  của mình với người yêu cũ Sơn mà cô đã từ chối vài năm trước và người nầy đã bị đi học tập vài năm ở trại cải tạo vì anh đã sai lầm gia nhập quân đội miền Nam Việt Nam.Mặc dù được đóng với các vât liệu giản dị và tầm thường, các đò ngang vẫn tiếp tục quyến rũ người dân Việt. Họ không ngần ngại trọng dụng nó trong cuộc sống hằng ngày mà còn nhắc đến nó qua các bài hát và các bài thơ.

Những tác phẩm như « Con Thuyền Không Bến » của Đặng Thế Phong và « Đò Chiều » của Trúc Phương từng có niên đại từ nhiều thập kỷ và nhiều thế hệ, vẫn  tiếp tục được sự yêu chuộng và thể hiện  được  sự gắn bó sâu sắc của tất cả người dân Việt với con đò. Còn những bài thơ miêu tả các con đò, chỉ có ai là người dân Việt và có dịp đi đò mới nhận thấy được  sự tinh tế và vẻ đẹp được tìm thấy trong các câu thơ. Có thể khám phá qua  những bài thơ này  một đoạn đường đời của mình.  Nó chìm đắm trong ký ức với nhiều cảm xúc và nỗi buồn hơn là niềm vui và hạnh phúc. Cũng như câu ca dao  của người miền Trung dưới đây:

Trăm năm đã lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.

người đọc có thể nhận ra cũng như bao nhiêu người Việt khác bị níu trở về với những kỷ niệm  mà tưởng chừng đã xóa bỏ được nhiều năm qua trong ký ức. Cũng không thể tiếp tục buồn rầu như lúc còn trẻ và yêu đương qua hai câu thơ như sau:

Tương tư thuyền nhớ sông dài
Tương tư là có hai người nhớ nhau

Mà đến lúc phải có can đảm quên đi và bền lòng ra đi khi con đò đó không còn nữa.

Vô duyên đã lỗi hẹn hò
Mong làm chi nữa con đò sang sông
Thôi đành chẳng gặp là xong
Nhớ thương bền chặt bền lòng ra đi.

Cô ấy bây giờ ra sao? Cô ấy đã qua đời hay sống có hạnh phúc? Cô ấy có xứng đáng với cuộc sống mà cô ấy có không? Có được như một cô lái đò trẻ tuổi, chị Thắm, người đã từng cứu nhiều người thoát chết và chết đuối mà không có ai giúp đỡ cô ấy về sau  trong câu chuyện « Chảy đi sông ơi (1988) » của nhà văn tài ba Nguyễn Huy Thiệp? Hay là cô ấy giống như người phụ nữ trẻ tuổi Duyên, tiếp tục ngân nga một bài hát cho đứa con của mình ngủ:Nước chảy đôi dòng …Con sông Thương … Nước chảy đôi dòngvà  không bao giờ tự hỏi về cuộc sống của mình cũng như con sông lặng lẽ theo dòng nước ra biển  trong « Nước chảy đôi dòng của Nhất Linh (1932)»?. Đây cũng là những câu hỏi khiến người đọc tự hỏi trong lòng mình với các kỷ niệm riêng tư. Đó cũng là nỗi buồn sâu thẳm, nỗi đau sâu sắc của một người không còn cơ hội để tìm lại được thời tuổi trẻ của mình với con đò ngang và bến sông.  Rồi cũng nghĩ rằng với thời gian, có thể xóa đi tất cả những ký ức như dòng nước sông được khơi lại trong bài rất lạ mà chị Thắm thường hát  trên bờ sông trong câu chuyện ngắn « Chảy đi sông ơi (1988)  » của Nguyễn Huy Thiệp:

Chảy đi sông ơi
Băn khoăn làm gì ?
Rồi sông đãi hết
Anh hùng còn chi ? …

Vương quốc Phù Nam (Royaume du Founan)

founan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Version française

Vương quốc Phù Nam

Cho đến đầu buổi bình minh của thế kỷ 20, mới có sự  thông báo về vương quốc Hindu cổ này trong vài văn bản chữ Hán. Vương quốc cổ nầy được đề cập lần đầu tiên vào thời Tam Quốc (220-265) qua một văn bản  chữ Hán vào lúc có sự thiết lập quan hệ ngoại giao của nhà Đông Ngô  với các nước ngoại bang. Trong báo cáo này, người ta có biên chép rằng thống đốc của hai tỉnh Quãng Đông và Bắc Kỳ tên là Lu-Tai có cử các đại diện (congshi) đến các vùng ở phía nam của nước ông. Các vua ở các vùng nầy trong đó có nước Phù Nam, Lâm Ấp và Tang Ming (một quốc gia được xác định ở phía bắc của Chân Lạp vào thời nhà Đường), cũng có từng gửi một sứ giã đến cống vật cho Lu Tai. Sau đó, nước Phù Nam cũng được nhắc đến trong các biên sử từ nhà Tấn cho đến nhà Đường. Tên Phù Nam đây là phiên âm của từ cổ bhnam (núi) của người Khờ Me trong chữ Hán. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra sự dè dặt và nỗi e ngại của một số chuyên gia về việc giải thích từ « Phù Nam » với  từ « núi ». Họ nhận thấy từ Phù Nam theo nghĩa « gò » nó  đúng hơn trong sự biện minh bởi vì với thời gian gần  đây, trong các cuộc nghiên cứu dân tộc học [Martin 1991; Porée-Maspero 1962-69] người Khờ Me thường có thói quen thực hành các nghi lễ xung quanh các gò nhân tạo. Người Hoa không biết phong tục này nên họ ám chỉ đến cách thức thực hành này để chỉ định vương quốc này. Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ bắt đầu vào năm 1944 tại Óc Eo thuộc tỉnh An Giang ở miền nam Việt Nam hiện nay dưới sự hướng dẫn của ông Louis Malleret  thì không còn sự nghi ngờ  nào nữa về sự tồn tại và thịnh vượng của vương quốc Ấn Độ hóa này. Những kết quả thu thập từ các cuộc khai quật này đã được ghi chép trong luận án tiến sĩ của ông, sau đó còn được công bố  trong một cuốn sách có tựa đề là « Khảo cổ học của đồng bằng sông Cửu Long ». Nó bao gồm được 6 tập.

Điều đó mới có thể xác minh được các dữ liệu của người Hoa và càng làm rõ ràng hơn  trong việc giới hạn địa phận của vương quốc nầy. Vì tìm ra được rất nhiều các vật khảo cổ bằng thiếc nên nhà khảo cổ Pháp Louis Malleret không ngần ngại dùng tên Óc Eo để chỉ định văn hóa đồ thiếc nầy. Bây giờ  mới bắt đầu có một ánh sáng rực rỡ trên vương quốc này cũng như về các mối quan hệ bên ngoài của nó trong quá trình nối lại các chiến dịch khai quật được thực hiện với các é-kip Việt Nam (Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, Lê Xuân Diêm) cũng như với é-kip Pháp-Việt dưới sự hướng dẫn của Pierre-Yves-Manguin từ năm 1998 đến 2002 trong các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Long An, những nơi mà tìm ra được nhiều di tích của văn hóa Óc Eo. Được biết Óc Eo là một hải cảng quan trọng của vương quốc này và là trung tâm thương mại một mặt giữa bán đảo Mã Lai và Ấn Độ và mặt khác giữa sông Mê Kông và Trung Quốc. Khi những chiếc thuyền của khu vực không thể đi được quãng đường dài và phải đi dọc theo bờ biển, Óc Eo trở thành vì thế một lối đi bắt buộc và cũng là một chặng chiến lược trong suốt 7 thế kỷ sung túc và thịnh vượng của  xứ Phù Nam.  Vương quốc nầy có một chu vi hình tứ giác giữa vịnh Thái Lan và miền tây của đồng bằng sông Cửu Long (Transbassac) ở miền nam Việt Nam. Nó được bao bọc ở phía tây bắc bởi biên giới Kampuchia và về phía đông nam bởi các thị trấn Trà Vinh và Sóc Trăng. Những bức ảnh được người Pháp chụp từ trên không vào những năm 1920 mới tiết lộ rằng Phù Nam là một đế chế hàng hải (hay một cường quốc hải dương).Theo các tác giả Trung Hoa, các thành phố tự trị nầy được bao bọc bởi các thành lũy và các mương đầy cá sấu, nối tiếp kề nhau và được chia ra thành nhiều khu nhờ sự rẻ nhánh các kênh rạch và các đường giao thông. Người ta có thể hình dung được những ngôi nhà cùng các cửa hàng nhà sàn có ở chung quanh các thuyền đậu như ở thành phố Ý Venise hay ở các thành phố của miền bắc Âu Châu. Qua mạng lưới đáng kinh ngạc này được tạo thành từ các dãy kênh rạch được bố trí dọc thẳng  theo hướng đông bắc /tây nam (từ sông Hậu ra biển)  và liên lạc thông qua với nhau, ngừời ta khám phá được vai trò quan trọng của sông Hậu trong việc sơ tán được nước lũ ra biển. Nhờ vậy mới có thể rửa sạch đất bị phèn, đẩy lùi sự xâm nhập của  các vùng nước lợ qua các trận lũ của sông Hậu, ưu đãi  việc trồng lúa nổi và bảo đảm được việc cung cấp  hàng hóa trong nước đến từ Trung Hoa, Mã Lai, Ấn Độ mà còn có luôn cả vùng Địa Trung Hải. Việc phát hiện ra các đồng tiền vàng với hình nộm của hoàng đế La Mã Antonin le Pieux, có từ năm 152 sau Công nguyên hay hoàng đế Marc Aurèle và các bức phù điêu của các vị vua Ba Tư dẫn  chứng cho vai trò quan trọng của vương quốc này trong việc trao đổi hàng hóa ở  đầu kỷ nguyên công giáo. Thậm chí còn có một kênh lớn nối từ thành phố hải cảng Óc Eo đến biển một mặt và mặt khác từ sông Mê Kông đến thành phố cổ  Angkor Borei nằm ở thượng nguồn 90 cây số trên lãnh thổ Cao Miên. Đây có lẽ là thủ đô của xứ Phù Nam trong thời kỳ suy tàn. Đối với nhà khảo cổ học người Pháp Georges Coedès, sự nghi ngờ  nầy  không còn nữa vì vị trí của Angkor Borei tương ứng chính xác với Na-fou-na, được mô tả trong các văn bản Trung Quốc là thành phố mà các vị vua Phù Nam ẩn cư sau khi họ bị trục xuất ra khỏi cố đô của Phù Nam, Tö-mu. Thành phố nầy được xác định là thành phố Vyādhapura và nằm trong vùng Bà Phnom thuộc lãnh thổ Cao Miên bởi  Georges Coedès. Sự phong phú của địa điểm khảo cổ này và sự đa dạng của các di tích cổ tìm thấy chứng minh được sự xác nhận của ông. Nhờ các vật thể được phát hiện qua các chiến dịch khai quật  ở các địa điểm của văn hóa Óc Eo, chúng ta có thể nói rằng vương quốc này đã có được  ba thời kỳ quan trọng trong quá trình tồn tại của nó:

  • Thời kỳ đầu tiên, kéo dài từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ ba, được nỗi bật bởi các đồ làm với đất nung (đồ gốm, gạch, ngói), các đồ thủy tinh (ngọc trai và dây chuyền), các đồ kim hoàn (nhẫn, hoa tai), các loại đá được khắc (con dấu, vòng mặt nhẫn, ngọc hòn) và các đồ vật làm bằng đồng, sắt và đặc biệt nhất là thiếc.Chúng ta được chứng kiến ​​sự chiếm đóng đầu tiên của con người trên các gò đất ở đồng bằng Óc Eo và trên các sườn núi thấp của núi Ba Thê. Môi trường sống ở đây là nhà sàn bằng gỗ. Việc chôn cất trong chum thường phổ biến ở Đông Nam Á vẫn còn được thực hiện. Công trình Ấn Độ hóa vẫn chưa có với sự vắng mặt của các di tích làm bằng tượng và tôn giáo. Nhưng vẫn có sự liên lạc thường xuyên giữa vương quốc này và Ấn Độ. Sự trao đổi thương mại được củng cố nhờ các cuộc liên minh địa phương và sự xuất hiện các tu sĩ Ấn Độ. Được giữ lại lâu hơn ở vương quốc này vì lúc có gió mùa, những người này tiếp tục dẫn dạy và thuyết giáo  (Bà La Môn giáo, Phật giáo). Họ bắt đầu thuyết phục được những người bản địa và giúp họ thiết lập một mạng lưới thủy lực để giúp họ cách thức làm thoát nước ở  đồng bằng mà cho đến tận bây giờ  họ xem như kẻ thù nghịch với lũ lụt và làm cho nó trở nên « hữu ích » cho sự trồng trọt, môi trường sống và luôn cả việc chỉnh đốn vương quốc. Người Ấn được biết họ là những người thực hiện một cách tinh vi các công trình thủy lực nông nghiệp và trồng trọt. Đây là những gì chúng ta đã thấy được ở đất nước của người dân Ta-Mun (tamoul) dưới triều đại Pallava chẳng hạn. Việc trồng lúa nổi được chứng minh nhờ các dấu vết mà họ để lại trong việc sử dụng loại lúa này như là một chất tẩy dầu mỡ cho các đồ gốm. Đối với nhà nghiên cứu Pháp J.Népote, người chuyên nghiệp về bán đảo Đông Dương, vương quốc Phù Nam đã thu thập được cốt yếu của tất cả nguồn lực nông nghiệp của mình trong kỹ thuật trồng lúa nổi. Không cần phải canh tác hoặc phải gieo đất, cũng đừng nói đến việc cấy cây lúa vào thời điểm đó bởi vì các rìa bờ biển của Phù Nam là những  khu vực  đất lấn biển (polders). Cây lúa tự phát triển cùng với mực nước, nó có thể đạt tới ba mét chiều cao. Lúa sau đó nó được gặt  thu hoạch bởi những chiếc thuyền. Đối với việc canh tác lúa nổi, sự ràng buộc duy nhất  bị đòi hỏi là  sự điều chỉnh và phân phối lũ lụt thông qua việc đào  các kênh để quản lý nước tưới được  tốt hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện giao thông.

 

  • Thời kỳ thứ hai của lịch sử Phù Nam  (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 7) được đánh dấu bằng việc phát hiện ra một số lượng lớn các di tích tôn giáo và Phật giáo Vishnu trên các gò của đồng bằng Óc Eo và trên các sườn núi Ba Thê. Các nhân vật biểu tượng của Ấn Độ ( như  thần Shiva, Vishnu, Brahma, Nanin, Ganesha và Đức Phật)  đã được khai quật. Đây cũng là thời kỳ mà các nhà sàn bằng gỗ  được dời đi từ các gò đến các vùng ngập nước và các sườn núi dốc thấp của núi Ba Thê.Việc Ấn Độ hóa vương quốc được diễn ra khi một người Ấn Độ tên là Chu Tchan-t’an viết theo chữ Hán, sống vào khoảng năm 357, có thể là người gốc Xi-tơ (scythe) và thậm chí cũng có thể là gốc Kanishka, trị vì ở vương quốc Phù  Nam [The Founan: Paul Pelliot, trang 269]. Có thể  đây là sự giải thích việc thành công của giáo phái Surya và biểu tượng của nó trong nghệ thuật của người dân Phù Nam. Một người Bà la môn khác tên Trung Hoa là Kiao-Tchen-Jou (hay còn gọi là Kawa-Jayavarma) được  kế vị sau đó và cai trị Phù Nam trong khoảng thời gian từ 478 đến 514. Đây là thời kỳ nổi tiếng nhờ có những văn khắc địa phương viết bằng tiếng Phạn. Ngay cả huyền thoại về việc thành lập vương quốc cũng được xuất phát từ Ấn Độ: Một người dũng sĩ Bà La môn tên là Kaundinya trong một giấc mơ có được một cây cung ma thuật trong một ngôi đền và  hướng dẫn thuyền đến các bờ biển mà anh ta thành công đánh bại một  người phụ nữ tên là Soma, con của một vị vua đang cai trị vùng bản địa được xem như là vua Naga (một con rắn tuyệt vời). Sau đó anh kết hôn với cô nầy để cai trị đất nước này. Có thể nói rằng trong thời kỳ này, vương quốc Phù Nam đã đạt đến đỉnh cao và duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc.Sự phát triển thương mại của Phù Nam không thể chối cãi được khi phát hiện ra một số lượng lớn các vật thể không phải của Ấn Độ được tìm thấy ở trên bờ của Phù Nam: những mảnh gương bằng đồng có từ thời Tây Hán, các tượng phật bằng đồng được gán cho nhà Ngụy, một nhóm vật thể thuần túy La Mã, các bức tượng theo phong cách Hy Lạp, đặc biệt là một đại diện bằng đồng của  thần Poseidon. Những đồ vật này có lẽ đã được trao đổi để lấy hàng vì người dân Phù Nam chỉ biết mậu dịch đổi hàng. Để mua hàng hóa có giá trị, họ  sử dụng các thỏi vàng và bạc, ngọc trai và nước hoa. Họ được biết đến như những thợ kim hoàn xuất sắc. Vàng đã được gia công một cách  tinh xảo với nhiều biểu tượng Bà la môn. Những đồ nữ  trang (bông tai bằng vàng với cái móc  tinh tế, những sợi vàng đáng ngưỡng mộ,  các hạt thủy tinh, các đá màu chạm hình vân vân..) được trưng bày ở các bảo tàng của Đồng Tháp, Long An và An Giang chứng minh không những  bí quyết và tài năng của họ mà còn là sự ngưỡng mộ của người Trung Hoa qua những câu chuyện mà họ có dịp tiếp xúc với người dân Phù Nam.

 

  •  Thời kỳ cuối cùng tương ứng với sự suy tàn và sự kết thúc của vương quốc Phù Nam. Một thay đổi quan trọng đã được báo cáo trong thời kỳ Cheng-kuan (627-649) tại vương quốc Founan trong biên niên sử Trung Quốc. Vương quốc Chen-la (Chân Lạp) (Campuchia tương lai) nằm ở phía tây nam Lâm Ấp (Champa tương lai) và là quốc gia chư hầu của Phù Nam xâm chiếm và chinh phục  Phù Nam. Sự thật này đã được báo cáo không những trong lịch sử mới của nhà Đường (618-907) bởi nhà sử học Trung Hoa Ouyang Xiu, mà còn trên một bản khắc chưa được công bố của Sambor-Prei Kuk, trong đó nhà vua của Chân Lạp  Içanavarman  nhận được  sự chúc mừng vì ông đã thành công mở rộng lãnh thổ của bố mẹ ông. Các khu nhà ở và các nơi tôn giáo ở đồng bằng Óc Eo đang bị bỏ hoang vì sự hình thành chính trị mới đến từ phương Bắc đang di chuyển tách  rời bờ biển và tiếp cận dần dần địa điểm Angkor, thủ đô tương lai của Đế quốc Khơ Me. Đối với nhà nghiên cứu J. Népote, người Khơ Me đến từ miền Bắc nước Lào xuất hiện dưới dạng các nhóm người Giéc Ma Ni với đế chế La Mã , cố gắng tạo thành ở nội địa một vương quốc thống nhất với tên là Chân Lạp. Họ không thấy có lợi ích để giữ kỹ thuật trồng lúa nổi vì họ sống xa bờ biển. Họ cố gắng kết hộp việc kiểm soát các hồ chứa nước riêng tư của mình (barays) với phần bổ sung trong khoa học thủy lực của người Ấn để phát triển  qua nhiều thử nghiệm, một hệ thống thủy lợi phù hợp hơn với hệ sinh thái của vùng nội địa và các giống lúa địa phương. Mặc dù có những khám phá gần đây xác nhận sự tồn tại của vương quốc này, nhiều câu hỏi vẫn chưa được có  câu trả lời. Chúng ta không biết ai là người bản địa ở vương quốc này. Chúng ta chắc chắn một điều: họ không phải là người Việt Nam chỉ đến đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỷ 17. Có phải họ là tổ tiên của người Khơ Me? Một số người tin chắc là vậy lúc thời điểm mà Louis Malleret bắt đầu khai quật vào những năm 40 bởi vì tên tuổi của khu vực hoàn toàn là tiếng Khơ Me. Vào thời Phù Nam, chúng ta vẫn chưa biết rõ họ là ai. Mặt khác, nhờ việc nghiên cứu về  các di tích xương ở bán đảo Cà Mau, chúng ta  tìm thấy được  một dân số rất gần gũi với người Nam Á. Sự đóng góp của người Môn Khmer ở ​​phía bắc của vương quốc này có thể nghĩ đến để  mang lại cho Phù Nam  sự kề nhau và hợp nhất của hai tầng lớp không xa nhau chi cho mấy  trước khi trở thành chủng tộc Phù Nam. Trong giả thuyết được chấp nhận thường xuyên này, người dân Phù Nam là tổ tiên hoặc là người anh em họ của người Khơ Me. Sự gia nhập một thành phố từ bán đảo Mã Lai (được gọi là Dunsun theo các nguồn báo cáo của Trung Quốc) trong một khu vực mà ảnh hưởng của người Môn-Khmer không thể phủ nhận được ở thế kỷ thứ ba bởi Phù Nam là một trong những yếu tố  chính dẫn đến sự ủng hộ giả thuyết này. Trong điều kiện nào Óc Eo bị biến mất? Tuy nhiên, Óc Eo đóng một vai trò kinh tế quan trọng trong việc trao đổi thương mại suốt bảy thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Kitô giáo. Các nhà khảo cổ tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân của sự biến mất của thành phố hải cảng này: lũ lụt, hỏa hoạn, đại hồng thủy, dịch bệnh v.v … Vương quốc Phù Nam có phải là một quốc gia thống nhất với một quyền lực trung ương mạnh mẽ hay là một liên đoàn các trung tâm quyền lực chính trị được đô thị hóa và tự trị trên bán đảo Đông Dương như trên bán đảo Mã Lai  để được gọi là các quốc gia thành phố?  P.Y. Manguin đã nêu câu hỏi nầy tại một hội nghị chuyên đề do trung tâm Copenhagen Polis tổ chức tại các quốc gia ở ven biển Đông Nam Á vào tháng 12 năm 1998. Thủ đô của Phù Nam nằm  ở đâu nếu quyền lực trung ương được nhấn mạnh nhiều lần bởi người Trung Quốc trong văn bản của họ? Angkor Borei, Bà Phnom có ​​thực sự là thủ đô cổ của vương quốc này như đã được Georges Coèdes xác định? Cho đến nay, những gì đã được tìm thấy không cung cấp được câu trả lời mà  chỉ làm tăng thêm gấp đôi sự mong muốn và khao khát của các nhà khảo cổ để tìm thấy trong những năm tới bởi vì họ có cảm giác  có được một nền văn minh rực rỡ của đồng bằng sông Cửu Long.

Références bibliographiques

Georges Coedès: Quelques précisions sur la fin du Founan, BEFEO Tome 43, 1943, pp1-8
Bernard Philippe Groslier: Indochine, Editions Albin Michel, Paris 
Lê Xuân Diêm, Ðào Linh Côn,Võ Sĩ Khai: Văn Hoá Oc eo , những khám phá mới (La culture de Óc Eo: Quelques découvertes récentes) , Hànôi: Viện Khoa Học Xã Hội, Hô Chí Minh Ville,1995 
Manguin,P.Y: Les Cités-Etats de l’Asie du Sud-Est Côtière. De l’ancienneté et la permanence des formes urbaines. 
Nepote J., Guillaume X.: Vietnam, Guides Olizane 
Pierre Rossion: le delta du Mékong, berceau de l’art khmer, Archeologia, 2005, no422, pp. 56-65.

 

Pagode Senso-ji (Chùa Asuka)

Version française

Viếng thăm ngôi chùa cổ kính Senso-ji (Tokyo)
Ngày thứ hai của cuộc hành trình ở Nhật Bản

Đến Nhật Bản thường dễ nhận thấy cổng Torii ở trong các thành phố. Cổng nầy là biểu tượng của thần đạo, một tôn giáo bản địa của người dân Nhật. Đây cũng là cổng để phân chia rõ rệt giữa thế giới trần tục và không gian thiêng liêng của Thần đạo. Theo tư tưởng của đạo nầy, vạn vật dù là vật đó sống hay chết ở trong tự nhiên đều có thần (kami) cư ngụ. Có thể vì Nhật Bản là một quốc gia có nhiều thiên tai như các siêu bão, sóng thần, động đất vân vân… khiến người dân ở nơi nầy họ nghĩ rằng có một sức mạnh vô hình nào đến từ những thần linh khiến làm họ lúc nào cũng lo sợ, buộc lòng họ phải kính thờ và thân thiện. Bởi vậy trong mỗi nhà của người dân Nhật thường thấy có một bàn thờ tổ tiên hay là của một vị thần nào quen thuộc. Tổ tiên của vị thiên hoàng Nhật Bản hiện nay cũng cho mình là con cháu của nữ thần mặt trời Amaterasu Omikami. Với tầng lớp nông dân ở xứ Nhật thời đó,vai trò của nhà vua rất quan trọng vì ông là người có khả năng cầu xin nữ thần để được mùa màng. Chính nhờ tư duy thần đạo nầy mà đế chế Nhật Bản vẫn được bảo tồn qua nhiều thế kỷ nhất là vai trò thiêng liêng của thiên hoàng không bao giờ bị tướt đoạt dù quyền lực đã rơi nhiều lần vào các gia đình có thế lực mạnh (Kamakura, Muromachi và Tokugawa). Nước Nhật có đến hiện nay 80.000 thần xã (jinja) (hay đền của Thần đạo) thường nằm trên đồi hay ven vệ đường. Rất ít người Nhật hiện nay theo thần đạo nhưng những thói quen như óc thẩm mĩ tối giản, chân phương hay thanh tẩy đều bắt nguồn từ thần đạo. Trước khi nhận Phật gíáo làm quốc giáo vào thế kỷ thứ 6 với hoàng tử Shotoku Taishi của dòng dõi Yamato thì người dân Nhật họ đã có thần đạo. Bởi vậy Phật giáo đột nhập vào Nhật Bản, đã có lúc đầu một cuộc xung đột ít nhiều với thần đạo nhưng về sau nhờ có sự hỗn hợp và hoà đồng của hai đạo khiến Phật giáo đã bắt rễ ăn sâu cho đến hiện nay vào đời sống của người dân Nhật. Phật giáo thể hiện được không những tính liên tục hài hoà với thần đạo qua các lễ hội quan trọng (matsuri) mà còn có những nét đặc điểm trong tôn giáo và văn hóa Nhật Bản nhất là về vũ trụ quan và đạo lí nhân sinh. Khi xâm nhập vào Nhật Bản, Phật giáo được biến hóa theo nhu cầu cần thiết và cứu tế của người dân Nhật. Sự hoà nhập Phật giáo vào tín ngưỡng dân gian Nhật Bản cũng được xem tương tự như ở Vietnam với những người theo đạo Phật thờ cúng tổ tiên. Ở đất nước nầy Thần là Phật mà Phật cũng là Thần. Cụ thể là nữ thần Kannon của Senso-ji (Thiền Thảo Tự) trở đi về sau thành Quan Âm bồ tát khi Phật giáo gia nhập xứ Nhật. Đây cũng là một sự kết hợp tính cứu tế của Quan Âm truyền thống với tính phồn thực thấy ở nữ thần Nhật Bản trong tín ngưỡng dân gian bản đia. Bởi thế Quan Âm Nhật Bản còn là vị thần se duyên và phụ sản nữa.
Sáng nay, ngày thứ hai, phái đoàn cùng mình được đi viếng thăm một chủa cổ kính tên là Senso-ji (Thiền Thảo Tự) nằm ở phía bắc của Tokyo. Muốn chỉ chùa chiền, người dân Nhật thường dùng chữ ji hay dera ở cuối tên chủa. Chùa nầy còn có tên là Chùa Quan Âm Asuka vì vào năm 628, có hai người dân chài kéo lưới được một pho tượng của nữ thần Kannon bằng vàng từ sông Sumida. Được biết chuyện nầy, lãnh chúa vùng nầy mới thuyết phục được hai người dân chài và cùng nhau xây một miếu thờ nữ thần Kannon Rồi đến năm 645 có một sư tăng Shokai xây chùa tại đây để thờ phượng. Nhờ sự cúng dường một phần đất lớn cho chùa của Mạc phủ Tokugawa Iaetsu mà diện tích của chùa được tăng thêm. Chùa được nổi tiếng từ đó và trở nên ngày nay là một quần thể chùa đền mà du khách đến tham quan Tokyo không thể bỏ qua vì nó được sùng tu lại và giữ được phong cách kiến trúc cổ kính của thời Edo (Tokyo xưa) dù bị tàn phá trong thế chiến thứ hai. Đến chùa nầy, mọi người phải đi qua cổng chính Kaminarimon thường được gọi là « Cổng sấm »(Lôi Môn). Nơi nầy có hai vị thần gác cổng, một người tên là Fujin (Phong thần bên phải) và Raijin (Lôi thần bên trái). Cổng nầy đựơc du khách chú ý nhất là nhờ có một lồng đèn giấy to tác treo ở giữa cổng nhất là ở dưới đáy có chạm khắc một con rồng rất tinh xảo. Lồng nầy không thay đổi qua bao nhiều thế kỷ theo dòng lịch sử. 

Phiá sau các thần nầy, còn có hai tượng thần Kim Long và Thiên Long một nữ, một nam, cả hai là thần nước để nhắc đến có sự liên quan mật thiết với sông Sumida, nơi mà tìm ra Phật mẫu. Khó mà chụp hình rõ ràng vì có lẽ người dân Nhật sợ thất lễ phạm thượng nhất đây là các thần (kami) của Thần đạo. Sau cùng, du khách sẻ găp ngay đường Nakamise-dori dài 250 thước. Đường nầy có rất nhiều mặt hàng bán đồ đặc sản và thủ công truyền thống làm rất tinh xảo như đai lưng obi, quạt giấy, lược chải tóc, búp bê Nhật vân vân … Gần cuối đường, du khách sẽ gặp một một đỉnh đốt nhang (joukoro) lúc nào cũng có người đứng xung quanh đốt nhang, khói bốc nghi ngút. Họ cầu nguyện mong đựợc sức khoẻ hay may mắn. Bên phải của đỉnh đốt nhang thì có các máy xin xăm (omikujis) . Đây là một loại giấy tiên đoán tương lai mà du khách bỏ tiền vào máy kéo bắt thăm. Một dạng loto. Còn phiá bên trái của đỉnh nhìn về đằng xa sẽ thấy một ngôi chùa 5 tầng, nơi giữ tro cốt của Đức Phật Thích Ca. Sau đó du khách sẻ đến cổng Hozomon (hay là Bảo Tạng Môn) trước khi vào chùa Sensoji thật sự. Cổng nầy được xây lại vào năm 1964 bằng bê tong cột thép có hai tầng và có một căn nhà chứa rất nhiều kinh Phật chữ Hán ở thế kỷ 14. Nơi nầy, trước cổng có bố trí hai tượng Kim Cương lực sĩ và có một lồng đèn (chochin) nặng 400 kilô kèm theo hai toro ở hai bên với vật liệu bằng thau trông rất xinh đẹp, mỗi toro nặng có một tấn. Sau cổng Hozomon, du khách sẻ đến điện chính nơi thờ nữ thần Kannon hay Quan Thế Âm Bồ Tát. Điện nầy có hai gian. Gian truớc dành cho tín đồ Phật tử còn gian sau thì dành cho cúng kiến Phật mẫu và không được vào. Một khi vào bên trong của gian ngoài của điện thì sẽ thấy một ngôi miếu mạ vàng hiện ra nơi thờ bức tượng Quan Âm đã có từ thưở xưa. Các tín đồ thể hiện lòng kính có thể đốt nhan và ném tiền xu. Rất ít có thì giờ cho mình để ngắm nghiá, chỉ vỏn vẹn mua vài đôi đũa và chụp hình để lưu niệm (45 phút mà HDV dành cho đoàn trong thời gian tham quan). Một kỷ niệm khó quên, một ngôi chùa quá đẹp của thời Edo, một khu phố náo nhiệt và sầm uất trong một không gian tôn nghiêm và tĩnh lăng ….
Đến xử Phù Tang mới biết thêm một chuyện về các nhà sư « ăn thịt lấy vợ ». Các ông nầy có quyền lập gia đình và có quyền giữ chức vụ cha truyền con nối để trù trì, thật là một chuyện khó tin nhưng thật sự là vậy. Làm sư có rất nhiều tiền lắm vì có nhiều lợi tức trước hết là nhờ có đất chùa từ bao nhiêu thế kỷ nên cho các tiệm buôn bán thuê mướn truớc chùa hay là lo việc buôn bán đất mộ táng. Sỡ dĩ chùa có nhiều đất đó là nhờ các lãnh chúa cúng dường một thuở xa xôi cho chùa xem như đó là một thứ lễ vật để cầu phúc hay sám hối. Vì thế đất trở nên sở hữu của chùa và trở thành một lợi tức không nhỏ cho việc sinh sống của nhà sư. Đất chật ngưòi đông như ở Nhật Bản nên đất làm mộ táng là một loại kinh doanh siêu lợi nhuận. Người Nhật lúc còn sống thì theo đạo thần, công giáo hay vô đạo. Lúc về già gần chết thì muốn theo đạo Phật để về Tây Phương cực lạc. Vì vậy nhất định theo đạo Phật, tốn cả triệu Yên để mua miếng đất mộ táng ở chùa mà muốn vậy thì phải là Phật tử tức là phải trải qua các nghi thức của chùa để có pháp danh mới có quyền mua đất ở chùa. Bao nhiêu tiền được sư thu thập không có đóng thuế nhất là còn thêm tiền chăm sóc các mộ táng mỗi năm và tiền đi ra ngoài làm Phật sự những lúc có người cần đến. Bởi vậy lấy sư là có một tương lai rực rỡ cùng nghề làm võ sĩ sumo. Đây là hai nghề được các cô yêu chuộng hiện nay nhất ở Nhật Bản. Hướng dẩn viên Ngọc Anh nói đến chuyện các sư Nhật làm mình cười nhớ đến sư trù trì của chùa Ba Vàng ở miền bắc Vietnam. Người dân Nhật họ có một tư cách hành sự vô cùng phức tạp về tôn giáo nhất là họ có đầu óc rất thực tiễn: họ đi lễ của thần đạo vào năm mới, đến chùa chiền của đạo Phật vào lúc mùa xuân và tổ chức tiệc tùng và tặng quà cho nhau theo đạo Kitô lúc Noël.

Version française

La pagode Senso-ji de Tokyo 

En débarquant de l’avion au Japon, le touriste a l’habitude de voir fréquemment les toriis de couleur vermillon dans les villes. Ces portails sont le symbole caractéristique du Shintoïsme, une religion locale des Japonais. Ils reflètent aussi la délimitation de la frontière entre le monde profane et l’espace sacré du sanctuaire shintoïste. Selon la pensée de cette religion, tout être vivant ou mort dans la nature doit être habité par un esprit maléfique ou bénéfique (kami). À cause des calamités fréquentes comme les typhons, tsunamis, séismes etc… au Japon, cela inspire profondément à ses habitants la certitude d’une force interne (ou énergie) invisible venant des esprits (kamis). C’est pour cela qu’ils sont constamment peureux et angoissés face à ces esprits et ils sont obligés de les vénérer dans le but de les apprivoiser et les remercier de leur protection dans une vie éphémère soumise au temps. Dans chaque maison japonaise, il y a toujours un autel réservé pour les ancêtres ou pour un « kami » familier. Les ancêtres de l’actuel empereur japonais ont reconnu d’être les descendants de la déesse du Soleil Amaterasu Omikami. Pour les paysans japonais de cette époque, le rôle de l’empereur est très important car il a la possibilité de demander les faveurs auprès de la déesse pour avoir de bonnes récoltes. C’est grâce au shintoïsme que l’empire japonais est préservé durant des siècles. Le rôle sacré de l’empereur n’est pas confisqué non plus malgré que le pouvoir de décision était revenu plusieurs fois aux mains des shoguns.(Kamakura, Muromachi và Tokugawa). Le Japon a aujourd’hui 80.000 temples shintoïstes (jinja) situés sur les collines ou au bord des routes. Peu de Japonais sont aujourd’hui shintoïstes mais les habitudes telles que l’esprit esthétique minimaliste, la purification ou la sincérité sont empruntées dans le shintoïsme. Avant de reconnaître le bouddhisme comme la religion d’état au 6ème siècle avec le prince Shotoku Taishi de la lignée Yamato, les Japonais ont déjà eu le shintoïsme. C’est pourquoi une fois implanté au Japon, le bouddhisme est au début, en situation de conflit plus ou moins prononcé avec le shintoïsme mais il y a à la fin une sorte de syncrétisme s’opérant entre les deux religions lorsque le bouddhisme réussit à s’enraciner jusqu’à aujourd’hui dans la vie quotidienne des Japonais. Le bouddhisme montre non seulement sa voie à une intégration harmonieuse avec le shintoïsme à travers les fêtes importantes (matsuris) mais aussi ses traits caractéristiques dans la religion et la culture du Japon, notamment dans le cosmos et la moralité humaine. Lors de son invasion au Japon, le bouddhisme s’est transformé en fonction des besoins d’aide nécessaires apportés aux Japonais. L’intégration du bouddhisme dans les croyances populaires japonaises est similaire à celle du Vietnam où les adeptes du bouddhisme vénèrent leurs ancêtres. Dans ce pays, la divinité est un Bouddha et inversement. La preuve est que la déesse Kannon du temple Senso-ji est devenue plus tard un Boddhisattva quand le bouddhisme réussit à s’implanter au Japon. Cela montre la combinaison d’un Boddhisattva traditionnel et du caractère de fertilité de la déesse japonaise dans la croyance populaire locale. C’est pourquoi le Boddhisattva japonais est aussi une déesse de mariage et de procréation. Au matin du deuxième jour, le groupe de touristes et moi, nous allons visiter la pagode Senso-ji située dans le nord de la capiale Tokyo. Quand le nom d’un monument est terminé par ji ou dera, il s’agit bien d’une pagode. Cette pagode est connue aussi sous le nom « Asuka » car elle est située dans un quartier très animé Asuka. En 628, il y avait deux pêcheurs réussissant à capturer dans leur filet une statue en or représentant la déesse Kannon dans le fleuve Sumida. Étant au courant de ce fait, un seigneur local réussît à les convaincre et à réaliser ensemble un autel dédié à cette déesse. Puis en 645, un moine de nom Shokai décida de construire à la place de cet autel un temple bouddhiste. C’est la pagode Senso-jì. Grâce aux donations de terrain effectuées par le shogun Tokugawa Iaetsu, la pagode commença à grandir et à changer d’aspect pour devenir jusqu’à aujourd’hui un complexe de pagodes et de temples shintoïstes dont le touriste ne peut pas se passer lorsqu’il a l’occasion de visiter la capitale Tokyo. C’est aussi une très ancienne pagode connue pour son charme et sa beauté retrouvée de l’époque Edo malgré la destruction provoquée durant la deuxième guerre mondiale. Pour entrer dans cette pagode, tout le monde doit emprunter le porche principal connu sous le nom « Kaminarimon » (ou porte de tonnerre) et protégé par deux divinités Fujin (déesse du vent) et Raijin (dieu de la foudre). L’attention des touristes est retenue par la présence d’une lanterne gigantesque suspendue au milieu du porche et dont le fond contient un beau dragon sculpté en ronde bosse. Cette lanterne ne subit pas des modifications majeures au fil des siècles de l’histoire de la pagode. 

Derrière ces divinités shintoïstes, il y a encore un couple d’esprits de l’eau ( une déesse Kim Long et un dieu Thiên Long) rappelant le lien intime avec le fleuve Sumida où a été trouvée la statue Bodhisattva en or.. C’est difficile de bien faire les photos car les Japonais ont mis la grille métallique autour de ces kamis dans le but de les protéger et de ne pas les offenser. Puis le touriste se retrouve dans la rue marchande Nakamise-dori longue de 250 mètres. Celle-ci a plusieurs boutiques spécialisées dans la pâtisserie et dans l’artisanat traditionnel avec des produits de qualité comme les peignes, ceintures Obi, éventails, poupées etc…Cette rue se termine sur un parvis où trône un joukoro (un brûleur d’encens) autour duquel il y a toujours des gens continuant à brûler des encens dans un atmosphère rempli de fumée pour demander la bénédiction de la déesse. Sur la droite de ce parvis, on trouve des machines destinées à imprimer des omikujis. Ceux-ci sont des papiers sacrés que l’on récupère par tirage au sort pour prédire l’avenir du demandeur. C’est une sorte de loterie sacrée. Sur la droite de ce parvis, on voit apparaître la pagode à cinq étages où les cendres de Siddharta Gautama sont soigneusement conservés. Le deuxième porche monumental est connu sous le nom de Hozomon. Celui-ci a été gardé à son entrée par deux dieux gardiens impressionnants et construit en béton avec les colonnes en acier dans les années 1964. Hozomon a deux étages dont le deuxième est destiné à contenir des sutras écrits en chinois et datant du 14ème siècle. C’est ici qu’on trouve un chochin (une sorte de lanterne) de 400 kilos entouré de chaque côté par un beau toro en laiton, chacun pesant au moins une tonne. Derrière ce porche monumental, c’est le bâtiment principal (Kannon-do) de la déesse Kannon. Il est divisé en deux parties: la partie extérieure est réservée aux fidèles tandis que la partie intérieure est interdite au public car il y a l’autel doré de la déesse Kannon. Notre groupe dispose seulement de 45 minutes pour visiter Senso-ji car après cette visite, nous devons participer à un cours d’initiation au thé japonais. Un souvenir inoubliable, une belle pagode de l’époque Edo, un quartier très animé dans un espace serein.

 
 

Du ngoạn 6 ngày ở xứ sở Phù Tang (Version vietnamienne)

Du ngoạn 6 ngày ở xứ sở Phù Tang
6 jours de visite au pays du Soleil-Levant

Version française

Đây là cái duyên của mình được viếng thăm đất nước mặt trời mọc chớ lúc đầu dự định đi Lệ Giang cổ trấn, một thành phố tuyệt đẹp ở tỉnh Vân Nam nhưng khi thăm dò thì phải mất 10 ngày để xin visa ở sứ quán TQ (Hànội) thêm vào đó phải trả tiền phí khá đắt nhất là mình công dân Pháp thì còn đâu thì giờ để tham quan VN. Vì vậy đổi hướng đi Nhật Bản không cần visa không tốn xu nào cả. Có điều là phải đặc cọc tiền giữ tour 20 triệu tiền VN và nếu tour có hơn 15 người thì mới đựợc thực hiện còn dưới sẻ hoàn tiền lại. Cho đến hôm về tới Hànội mới biết mình được đi. Thật là mình có duyên để đến xứ sở Phù Tang nầy. Thành thật cám ơn cháu Trung và cháu Ngân tận tình giúp chú để chú thực hiện được chuyến tham quan nầy. Tuy rất ít ngày (6 ngày) nhưng thật thú vị vì học được biết bao chuyện về văn hóa, tập quán cũng như con người của đất nước manga và origami nầy. Một đất nước để lại cho mình nhiều ấn tượng nhất là sự biết tôn trọng tài sản của người khác cũng như biết giữ gìn môi trường sinh sống đôi khi làm mình vừa khâm phục và khiếp sợ các qui tắc mà mình được trông thấy và tuân theo trong suốt cuộc hành trình. Khi đến sân bay quốc tế Haneda vào lúc 3 giờ rưởi trưa và sau khi làm xong thủ tục quan thuế, du khách của đoàn đi tour cùng mình được đưa về một khác sạn ở vùng lân cận. Đây là một khách sạn của hãng hàng không Japan Airlines tuy không hoành tráng nhưng rất đầy đủ tiên nghi. Chính ở nơi nầy mình mới khám phá ra người Nhật thích sống tối giản. Mình rất bỡ ngỡ khi khám phá bồn cầu vệ sinh họ thông dùng mỗi ngày. Họ đã tính toán từ chi tiết để vật liệu không những phù hợp với môi trường mà còn nhiều cách lựa chọn như sấy khô, khử mùi, rửa massage với vòi nước, bệ ngồi sưởi ấm vân vân … Không thấy sự bám bụi hay nấm mốc chi cả ở bồn cầu. Chỉ tiếc rằng cách sử dụng đều viết tiếng Nhật chỉ đôi khi thấy có tiếng Anh ở vài nơi mà thôi. Còn máy điều hoà cũng thế với nhiều options. Phòng tuy nhỏ cho hai người nhưng quá sạch khiến mình phải thốt lên nói với cháu hướng dẫn viên phòng quá sạch so với khách sạn VN hay ở Paris với cái giá tương đương. Khi ra đường cũng thế. Mình nhớ lại câu nói của HDV Ngọc Anh nói với mình rằng: Người Nhật từ thưở nhỏ khi đi học, họ đã học đem rác về nhà chớ không như dân mình đem rác bỏ trước ống cống của đường để mưa xuống làm ngập đường. Được chỉ dạy từ thưở nhỏ ở trường, ăn xong tự dẹp rửa bát quét dọn ở căng-tin nên không bao giờ ở Nhật có lao động ở căng-tin hay trường như ở Paris. Chúng phải tự vệ sinh lớp học và phòng tắm. Đây là một thể thức để chia sẻ trách nhiệm, phát triển sự tôn trọng và quan tâm lẫn nhau. Cũng là thời điểm mà ông bà ta thường nói qua câu tục ngữ: uốn tre phải uốn lúc còn non. Ăn cơm xong buổi chiều, anh chị em trong đoàn cùng mình đi dạo một vòng ở gần khách sạn. Đường xá nó sạch quá chừng, mình mới chụp các ảnh để minh chứng những gì mình trông thấy. Ngoài đường mọi người lặng lẽ mà đi. Không có tiếng kèn quen thuộc như ở Vietnam hay tiếng xe rú trong đêm ở Paris và ngoại ô. Các tiệm buôn bán rau cải rất sạch sẽ, giá cả rất rõ ràng không có trông hình dong mà nói giá cả như ở Vietnam. Ở Nhật họ rất trọng dụng các máy tự động bán hàng. Họ rất tiết kiệm thì giờ để làm việc. Vì thế họ yêu thích sự tiện lợi. Cụ thể là tầng nào của khách sạn cũng có máy tự động bán hàng nầy nhưng được tọa lạc trong một căn phòng nhỏ có cửa đóng để phòng ngừa trường hợp có động đất hay hỏa hoạn. Ở Nhật đi khuya không sợ ăn cướp trộm như Vietnam hay ở Paris. Không có lo sợ khi đi mua đồ ở chổ đông đúc. Nhật Bản là một trong các nước có tỉ lệ vụ giết người thấp nhất luôn cả các tội phạm khác. Đây là những ấn tượng mình đến đất nước mặc trời mọc ngày đầu.

Version française

J’ai le bonheur et la chance de pouvoir rendre visite au pays du Soleil-Levant car au début j’ai l’intention d’aller à la vieille ville de Lijiang dans la province Yunnan en Chine. Après les renseignements recueillis à l’ambassade de Chine à Hanoï, je dois attendre au moins dix jours et payer une somme assez élevée pour obtenir le visa du fait que je suis de nationalité française. Cela ne me permet pas d’avoir d’autres jours de vacances pour visiter le Vietnam. C’est pour cela que je décide d’aller au Japon sans avoir besoin du visa et sans dépenser aucun sou. Par contre je dois verser assez longtemps un acompte au Vietnam pour la réservation du billet à une agence vietnamienne de voyage. La seule contrainte que j’ai eue c’est que l’agence de voyage peut annuler le voyage au cas où il n’y a pas assez de participants (15 au minimum). Une fois arrivé à Hanoi le mois dernier, je suis informé que le voyage organisé au Japon est maintenu. Je remercie vivement la contribution de Mr Trung et Mme Ngân dans la réalisation de mon voyage au Japon. Malgré le nombre de jours de séjour limité, je suis très content de découvrir un tas de choses sur le pays des mangas et origamis, en particulier sa culture, ses traditions et son peuple. C’est un pays qui me laisse beaucoup d’impressions en me montrant sa façon de respecter les biens des autres et l’environnement. Cela me donne à la fois l’admiration et la crainte face à ses règles habituelles découvertes et respectées durant mon séjour. Arrivés à l’aéroport international Haneda à 3h 30 de l’après-midi, nous sommes emmenés (moi et les autres participants) dans un hôtel de Japan Airlines situé aux alentours de Tokyo pour y passer la nuit. La petite chambre de l’hôtel est très confortable. C’est ici que je découvre l’art de vivre des Japonais. Je suis un peu déboussolé en découvrant leur wc dont ils se servent tous les jours. Ils sont tellement attachés aux détails dans le choix du matériel pour être adapté non seulement à l’environnement mais aussi à l’hygiène nécessaire avec un tas d’options trouvées sur l’abattant du wc: séchage, filtration des odeurs, fonction massage, siège chauffant etc … Aucune présence de poussière ou de champignons n’est visible sur le wc. Il est regrettable que le mode d’emploi est écrit en japonais. C’est rare de trouver l’explication en anglais. Idem pour la climatisation avec un lot d’options. Notre petite chambre est réservée pour deux personnes mais elle est tellement propre que je dois dire à mon guide, celui qui partage la chambre avec moi : Elle est propre et comparée à celle que j’ai l’occasion de louer dans les hôtels vietnamiens ou français. Dans les rues, la propreté est visible. Je rappelle ce qu’a dit mon guide vietnamien Ngọc Anh ayant passé quelques années au Japon: Un japonais dès son jeune âge à l’école, apprend à ramener les ordures à la maison et à ne pas les laisser dans la rue. Eduqué très tôt à l’école, le jeune japonais doit savoir tout faire : laver la vaisselle, rendre propre la cantine, nettoyer la salle d’étude etc… Il n’y a pas des femmes de ménage comme les cantines à Paris. C’est une façon de responsabiliser les enfants, de leur montrer à la fois le respect des autres et l’entraide mutuelle. C’est aussi la période que nos ancêtres sont habitués à souligner à travers un proverbe : Il faut courber le bambou tant qu’il est encore une jeune pousse. Après le repas du soir, nous faisons un tour aux alentours de l’hôtel. Les rues sont tellement propres que je n’hésite pas à prendre quelques photos pour prouver ce fait. Dans la rue, tout le monde marche silencieusement. Aucun klaxon agaçant ne résonne comme cela a lieu tous les jours au Vietnam ou le ronronnement du moteur se fait entendre souvent dans la nuit parisienne. Les boutiques de fruits et légumes du coin sont très propres avec la clarté dans l’affichage des prix. Les Japonais ont l’habitude de se servir des automates distributeurs pour économiser leur temps dans le travail quotidien. Ils aiment bien la commodité. Plus concrètement, c’est ce que je découvre dans chaque étage de l’hôtel. Il y a toujours un automate distributeur enfermé dans une petite pièce. Sa porte est toujours fermée pour prévoir le feu et séisme. Au Japon, de jour comme de nuit, on n’a pas peur d’être agressé ou de se voir dérober de l’argent par des délinquants comme à Paris ou au Vietnam. Le Japon est l’un des pays ayant le taux de criminalité et de vol très bas. C’est l’impression du premier jour de mon voyage au pays du Soleil-Levant.

Thách thức (Le défi)


Version française

Thách thức

Từ nầy không xa lạ đối với người dân Việt. Mặt khác, nó còn đồng nghĩa với sự kiên trì, kháng cự, khéo léo và đối đầu dành cho những người mảnh khảnh nầy mà chân lúc nào cũng chôn vùi dưới bùn ở các ruộng lúa kể từ buổi ban sơ. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, họ đã không ngừng chấp nhận mọi thách thức áp đặt bởi một thời tiết khắc nghiệt của một môi trường sống không bao giờ thuận lợi và một nước Trung Hoa mà họ vừa xem như là một người anh cả láng giềng mà cũng là kẻ thù truyền kiếp của họ. Đối với đế chế Trung Hoa nầy, họ lúc nào cũng có sự ngưỡng mộ đáng kinh ngạc nhưng đồng thời họ thể hiện sự kháng cự không thể tưởng tượng được vì lúc nào ở nơi họ cũng có sự quyết tâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc và những đặc thù văn hóa mà họ đã có từ 4 nghìn năm. Đế chế Trung Hoa đã cố gắng hán hóa bao lần Việt Nam suốt thời kỳ Bắc thuộc có đến nghìn năm nhưng chỉ thành công làm mờ nhạt đi một phần nào các đặc điểm của họ mà thôi và nhận thấy mỗi lần có cơ hội thuận lợi, họ không ngớt bày tỏ sự kháng cự và sự khác biệt hoàn toàn. Họ còn tìm cách đương đầu với người Trung Hoa trên lãnh vực văn hóa mà được nhắc lại qua những câu chuyện còn được kể lại cho đến ngày nay trong lịch sử văn học Việt Nam. Theo dao ngôn được truyền tụng trong dân gian, sau khi thành công chế ngự được cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng (Trưng Trắc Trưng Nhị) và chinh phục xứ Giao Chỉ (quê hương của người dân Việt), Phục Ba tướng quân Mã Viện của nhà Đông Hán truyền lệnh dựng cột đồng cao nhiều thước ở biên thùy Trung-Việt vào năm 43 và có được ghi chép trên cái bảng treo như sau:

Ðồng trụ triệt, Giao Chỉ diệt
Ðồng trụ ngã, Giao Chỉ bị diệt.

Để tránh sư sụp đổ của đồng trụ, người dân Việt cùng nhau vun đấp bằng cách mỗi lần đi ngang qua mỗi người vứt bỏ đi một cục đất nho nhỏ khiến đồng trụ huyền thoại nầy biến mất dần dần theo ngày tháng để trở thành một gò đất. Cố tình trêu nghẹo và mĩa mai trên sự sợ hải và nổi kinh hoàng mất nước của người dân Việt, vua nhà Minh Sùng Trinh ngạo mạng đến nỗi không ngần ngại cho cận thần ra câu đối như sau với sứ thần Việt Nam Giang Văn Minh (1582-1639) trong buổi tiếp tân:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Cột đồng đến giờ đã xanh vì rêu.

để nhắc nhở lại sự nổi dậy của hai bà Trưng bị quân Tàu tiêu diệt.
Không lay chuyển trước thái độ lố bịch nầy, sứ thần Giang Văn Minh trả lời một cách thông suốt lạ thường nhất là với lòng quyết tâm cứng cỏi:

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng
Sông Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu

để nhắc nhở lại với vua nhà Minh những chiến công hiển hách của người dân Việt trên sông Bạch Đằng.
Không phải lần đầu có cuộc thi văn học giữa hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Ở thời đại của vua Lê Đại Hành (nhà Tiền Lê), nhà sư Lạc Thuận có cơ hội làm cho sứ giã nhà Tống Lý Gi ác tr ầm trồ ngư ỡng mộ bằng cách giã dạng làm người lái đò tiển đưa Lý Giác sang sông. Khi Lý Giác khám phá ra được hai con ngỗng đang đùa cợt trên đỉnh sóng và ngâm hai câu thơ đầu của bài tứ tuyệt như sau:

Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Ngữa mặt nhìn trời xanh

thì Lạc Thuận không ngần ngại đối lại qua hai câu thơ cuối như sau:

Nước biếc phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh khua

Trong bốn câu thơ nầy, người ta nhận thấy không những có sự ứng khẩu nhanh chóng của sư Lạc Thuận mà còn có cả sự tài tình của ông trong việc dàn dựng song song những thuật ngữ và ý kiến tương đồng trong bài tứ tuyệt nầy.

Hình ảnh nhà thờ Giang Văn Minh và văn miếu

Nhưng nói công lao trong việc đối đầu thì phải dành dĩ nhiên cho học giả Mạc Đĩnh Chi vì ông nầy trong thời gian ở Trung Quốc, đã thể thể hiện được khả năng chống cự mà còn có tài năng vô song để biết đối đáp lại một cách khéo léo tất cả mọi câu hỏi và tránh được mọi cạm bẫy. Ông được gửi đi sang Tàu vào năm 1314 bởi vua Trần Anh Tôn sau khi vua đánh bại quân Mông Cổ của Hốt Tất Liệt với tướng Trần Hưng Đạo. Do sự chậm trể vô tình, ông không có đến trình diện đúng giờ trước cổng thành ở biên giới Trung-Việt. Ông quan giữ cỗng thành chịu mở cửa nếu ông trả lời được một cách thích hợp câu hỏi mà người quan nầy đưa ra mà trong câu hỏi đó gồm có bốn chữ “quan”:

Quá quan trì, quan quan bế,
nguyện quá khách quá quan
Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng,
mời khách qua đường qua cửa quan.

Không có chút nào nao núng cả trước sự thách thức văn học, ông trả lời ngay cho quan cổng với sự tự nhiên đáng kinh ngạc:
Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

Ra câu đối dễ, đối câu đối khó
xin tiên sinh đối trước.

Trong lời đối đáp nầy, ông dùng chữ “đối” cũng 4 lần như chữ “quan” và nó được dựng lên ở vị trí của chữ “quan”. Mạc Đỉnh Chi còn điêu luyện biết giữ vần và những luật lệ âm điệu trong thơ để cho quan cổng biết là ông ở trong hoàn cảnh khó xữ với đoàn tùy tùng. Quan cổng rất hài lòng vô cùng. Ông nầy không ngần ngại mở cổng và đón tiếp Mạc Đỉnh Chi một cách linh đình. Chuyện nầy được báo cáo lên triều đình Bắc Kinh và làm nô nức biết bao nhiêu quan lại văn học Trung Hoa muốn đo tài cao thấp với ông trong lĩnh vực văn chương. Một ngày nọ, tại thủ đô Bắc Kinh, ông đang đi dạo với con lừa. Con nầy đi không đủ nhanh khiến làm một người Trung Hoa khó chịu đang theo sát ông trên đường. Quá cáu bởi sự chậm chạp này, quan lại nầy quay đầu nói lại với ông ta với một giọng kiêu ngạo và khinh bỉ:

Xúc ngã ky mã, đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã?
Chạm ngựa ta đi là người rợ phương Ðông hay là người rợ phương Tây?

Ông quan lại lấy cảm hứng từ những gì ông đã học được trong cuốn sách Mạnh Tử để mô tả người những người man rợ không có cùng văn hóa với đế chế Trung Hoa bằng cách sử dụng hai từ  » đông di « . Ngạc nhiên trước lời nhận xét tổn thương này khi ông biết rằng Trung Hoa bị cai trị vào thời điểm đó bởi các bộ lạc du mục (người Mông Cổ), Mạc Đỉnh Chi mới trả lời lại với sự hóm hỉnh đen tối của mình:

Át dư thừa lư, Nam Phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư
Ngăn lừa ta cưởi, hỏi người phương Nam mạnh hay người phương Bắc mạnh?

Một hôm, hoàng đế nhà Nguyên đã không ngần ngại ca ngợi sức mạnh của mình ví nó với mặt trời và làm cho Mạc Đỉnh Chi biết rằng Việt Nam chỉ được so sánh với mặt trăng, sẽ bị hủy diệt và thống trị sớm bởi người Mông Cổ. Điềm nhiên, Mạc Đỉnh Chi trả lời một cách kiên quyết và can đảm:

Nguyệt cung, kim đạn, hoàng hôn xa lạc kim
Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời.

Hoàng đế Kubilai Khan (Nguyễn Thê ‘Tổ) phải công nhận tài năng của ông và trao cho ông danh hiệu « Trạng Nguyên đầu tiên » (Lưỡng Quốc Trạng Nguyên) ở cả Trung Hoa và Việt Nam, khiến một số quan lại ganh tị. Một trong số người nầy cố tình làm bẽ mặt ông ta vào một buổi sáng đẹp trời bằng cách ví ông ta như một con chim bởi vì âm điệu đơn âm của ngôn ngữ, người dân Việt khi họ nói cho cảm giác người nghe như họ luôn luôn hót líu lo:

Quích tập chi đầu đàm Lỗ luận: tri tri vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri
Chim đậu cành đọc sách Lỗ luận: biết thì báo là biết, chẳng biết thì báo chẳng biết, ấy là biết đó.

Đây là một cách để khuyên Mạc Ðỉnh Chi nên khiêm tốn hơn và cư xử như một người đàn ông có phẩm chất Nho giáo (Junzi). Mạc Đỉnh Chi trả lời bằng cách ví anh nầy như một con ếch. Người Trung Hoa thường có thói nói to  và tóp tép lưỡi  qua tư cách họ uống rượu.

Oa minh trì thượng đọc Châu Thư: lạc dữ đọc lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc.
Châu chuộc trên ao đọc sách Châu Thu: cùng ít người vui nhạc, cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui hơn.

Đó là một cách để nói lại với người quan lại nầy nên có một tâm trí lành mạnh để hành xử một cách công bằng và phân biệt nghiêm chỉnh.
Tuy rằng có sự đối đầu trong văn học, Mạc Đỉnh Chi rất nổi tiếng ở Trung Quốc. Ông được Hoàng đế của nhà Nguyên ủy nhiệm việc sáng tác bài văn tế để vinh danh sự qua đời của một công chúa Mông Cổ. Nhờ sự tôn trọng truyền thống của Trung Hoa dành cho những người tài năng Việt Nam, đặc biệt là các học giả có tài trí thông minh nhanh chóng và học hỏi mau lẹ mà Nguyễn Trãi đã được cứu bởi đại quản gia Hoàng Phúc. Trong tầm mắt của tướng Tàu Trương Phụ, Nguyễn Trãi là người phải giết, một người rất nguy hiễm cho chính sách bành trướng của Trung Hoa ở Việt Nam. Ông bị giam giữ bởi Trương Phụ trong thời gian ở Ðồng Quang (tên xưa của Hànội) trước khi ông theo Lê Lợi về sau ở Lam Sơn. Không có cử chỉ hào hiệp và bảo vệ của hoạn quan Hoàng Phúc, Lê Lợi không thể trục khỏi quân nhà Minh ra khỏi Việt Nam vì Nguyễn Trãi là cố vấn quan trọng và chiến lược gia nổi tiếng mà Lê Lợi cần dựa vào để lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích trong thời gian mười năm đấu tranh chống lại Trung Quốc.

Cuộc đối đầu văn học này phai nhạt dần dần với sự xuất hiện của người Pháp tại Việt Nam và chấm dứt vĩnh viễn khi vua Khải Định quyết định chấm dứt hệ thống cuộc thi quan lại ở Việt Nam theo mô hình của người Trung Quốc dựa chủ yếu vào tứ thư Ngũ Kinh của Đức Khổng Tử.

Cuộc thi quan lại cuối cùng được tổ chức tại Huế vào năm 1918. Một hệ thống tuyển dụng kiểu Pháp khác đã được đề xuất trong thời kỳ thuộc địa. Do đó, Việt Nam không còn cơ hội để đối đầu văn học với Trung Quốc nửa và biểu hiện được sự khác biệt cũng như sự phản kháng trí tuệ và các đặc thù văn hóa.

La voie du thé japonaise (Chanoyu)

La voie du thé japonaise

Version vietnamienne

Avant de parler de la voie du thé japonaise (ou chanoyu), il est souhaitable d’évoquer l’origine du thé. Le thé est-il découvert par les Chinois ? Probablement non car on ne découvre aucun théier sauvage en Chine. Par contre on trouvé cette plante primitive de la même famille que celle de la Chine (Camellia Sinensis) dans la région nord-est de l’Inde (Assam). Puis on l’a décelé ensuite à l’état naturel dans les régions frontalières de la Chine comme le Tibet, la Birmanie, Sichuan, Yunan, Vietnam etc….Il est intéressant de rappeler que Sichuan était le royaume de Shu et Yunan celui de Dian ayant un lien très intime avec la tribu Loyue ( les ancêtres des Vietnamiens d’aujourd’hui). Plus tard, ces régions Sichuan et Yunan ainsi que le Vietnam ont été conquises et annexées par les Chinois à l’époque des Qins et des Han. On est amené à conclure que le théier n’est pas le produit des Chinois mais ces derniers avaient le mérite de domestiquer ce théier pour que ce dernier eût eu son plein arôme délicieux. Au début, le thé était employé par les Chinois comme un médicament mais il n’était pas adopté dans aucun cas comme un boisson. Sa diffusion à un grand nombre d’utilisateurs eut lieu sous la dynastie des Tang (à partir de 618). Le thé devint plus tard un boisson classique répandu dans la société chinoise lors de l’apparition du livre intitulé « Le classique du thé » de Lu Yu (733-804) et destiné à faire apprendre aux Chinois la préparation du thé. C’est Lu Yu lui-même qui a précisé dans son livre: « le théier est une plante précieuse trouvée dans le sud de la Chine … ». Le sage Confucius avait l’occasion parler du peuple Bai Yue dans les « Entretiens » à ses disciples : Le peuple Bai Yue vivant dans le sud du fleuve Yang Tsé a un mode de vie, un langage, des traditions, des mœurs et une nourriture spécifique…. Ils se consacrent à la riziculture et se distinguent des nôtres habitués à cultiver le millet et le blé. Ils boivent de l’eau provenant d’une sorte de plante cueillie dans la forêt et connue sous le nom « thé ». Il est intéressant de rappeler qu’il exista à partir de l’époque des Qin-Han, une institution impériale composée des lettrés locaux (les fanshi) considérés comme des magiciens spécialisés dans les rites aux étoiles et dans les recettes du gouvernement. Leur rôle consistait à recueillir chacun dans son territoire propre, les procédés rituels, les croyances, les médecines locales, les systèmes de représentations, les cosmologies, les mythes, les légendes au même titre que les produits locaux et à les soumettre à l’autorité politique. Celle-ci pouvait les retenir ou non et les incorporer sous forme de règlements dans le but d’augmenter la puissance impériale dans une nation ethnologiquement très diversifiée et de donner à l’empereur les moyens de sa vocation divine. C’était pour cela qu’il y avait des légendes chinoises sans fondement sur le théier, l’une avec Bodhidharma, le fondateur légendaire de la religion zhen chinoise et l’autre avec Shen Nong, l’agriculteur divin chinois. Pour résister à son assoupissement durant sa méditation, le premier se coupa les paupières et les jeta par terre. De ce lambeau de chair, naquit aussitôt le premier théier de l’humanité. Il est sûr que les moines zen étaient les premiers à utiliser le thé pour résister au sommeil et avoir un esprit détendu et serein durant leur méditation. En ce qui concerne Shen Nong, c’est par hasard qu’au moment de sa détente sous l’ombre d’un arbuste (théier), quelques feuilles de ce dernier tombèrent dans son bol d’eau chaude. De ce jour, il sut préparer du thé (à peu près 3000 ans avant J.C) dans son très ancien ouvrage « Bencao jing » dédié à la médecine chinoise. Mais ce livre a été écrit à l’époque des Han (25 – 225 après J.C.). De plus on sait qu’il était enterré à Chansha dans la région des Bai Yue. Était-il vraiment d’origine chinoise? Il était impossible pour lui de se déplacer à cette époque s’il l’était. Il faisait partie évidemment des Bai Yue car son nom, bien qu’il soit écrit en caractère chinois, garde encore une structure venant des Yue (il faut écrire normalement Nong Shen en caractère chinois).

Tencha

Les Chinois accordent une grande importance à la qualité du thé. Ils prennent la préparation du thé comme un art. C’est pourquoi ils s’intéressent non seulement à la sélection des thés de la meilleure qualité mais aussi à celle d’accessoires nécessaires à la préparation (théières, eau de source, eau filtrée ou potable etc …) dans le but d’avoir un goût spécifique, délicieux et léger. Quant aux Japonais, la préparation du thé est considérée comme un rituel car ils ont connu le thé et sa préparation de la part des moines zen. Ils élèvent la préparation du thé comme « un art de vivre zen » tout en gardant plus ou moins l’influence shintoïste. Avec les quatre principes fondamentaux de la voie du thé: Harmonie (wa), Respect (Kei), Pureté (Sei), Tranquillité (Jaku), l’invité a l’occasion de se libérer totalement en gardant un partage harmonieux non seulement avec la nature, les accessoires dans la préparation du thé, le lieu de la cérémonie mais aussi avec l’hôte et ses autres invités. En franchissant le seuil de la porte du lieu de la cérémonie portant la superficie de 4 tatamis, l’invité peut parler plus aisément à n’importe qui (pouvant être soit un moine soit un noble ou même une divinité) sans distinguer sa classe sociale dans un esprit égalitaire. L’invité reconnaît la quiddité de la vie, en particulier la vérité de sa personne elle-même par le respect vis-à-vis de tout le monde et de toutes choses (instruments de chanoyu par exemple). Son amour-propre n’est plus présent en lui mais il n’y reste qu’une sorte de sentiment de considération ou de respect envers les autres. Son état d’esprit sera serein lorsque ses cinq sens ne sont plus souillés. C’est le cas où il contemple un tableau (kakemono) dans le creux de la pièce (tokonoma) ou les fleurs dans un pot (ikebana) avec ses yeux. Il sent l’odeur aromatique agréable grâce à son nez. Il entend le bruit provoqué par l’eau chauffée sur un réchaud à charbon. Il manie d’une manière ordonnée les instruments de chanoyu (écope à thé, chasen, bol à thé (chawan) etc …) et s’humecte la bouche par des gorgées de thé. Tous ses cinq sens deviennent ainsi propres. La tranquillité (jaku) est le résultat que le buveur de thé trouve à la fin de ces trois principes fondamentaux évoqués ci-dessus, une fois son état d’esprit trouvant refuge entièrement dans la sérénité à présent malgré qu’il vive au milieu de la foule ou non. La tranquillité est interprétée comme une vertu dépassant le cycle de la vie. Cela lui permet de vivre et contempler la vie dans un monde ordinaire où sa présence n’est plus nécessaire. L’invité s’aperçoit que la voie du thé n’est pas si simple du fait qu’ elle comporte beaucoup de règles pour pouvoir boire du bon thé ou non mais elle est aussi le moyen efficace de faire régner la tranquillité dans son esprit pour le permettre d’atteindre l’illumination intérieure dans la méditation.

Sen no Rikyu

Pour le maître du thé Sen no Rikyu, celui ayant le mérite de mettre en place les protocoles pour la préparation du thé, la manière de boire du thé est très simple: on fait bouillir de l’eau, puis on fait le thé et on le boit d’une manière correcte.

La voie du thé est une séquence d’événements organisés d’une manière scrupuleuse et soigneuse. Cette cérémonie a au maximum 4 invités et un hôte. Ils doivent parcourir le jardin du lieu où la cérémonie se déroule. Ils doivent accomplir la purification (laver les mains, rincer la bouche) avant d’entrer dans une chambre cubique modeste située dans la plupart du temps au coin du jardin à travers une porte très basse. Tous les invités doivent baisser leur tête pour pouvoir y entrer avec respect et humilité. Autrefois, pour franchir le seuil de cette porte, le samouraï dut laisser son épée à l’extérieur de la porte avant de rencontrer l’hôte. C’est ici que tous les invités peuvent admirer l’intérieur de la chambre ainsi que les instruments de la préparation du thé. Ils peuvent suivre les phases protocolaires de la préparation du thé. Chaque événement est porteur d’une signification si particulière que l’invité reconnaît à chaque moment important de la cérémonie. On peut dire que la voie du thé apporte l’harmonie entre l’hôte et ses invités et raccourcit non seulement la distance séparant l’homme du ciel mais aussi celle entre les invités. C’est pourquoi dans le monde des samouraïs, on trouve le proverbe suivant : « Une fois, une rencontre »(Ichigo, ichie) car aucune rencontre n’est la même. Cela nous permet d’être comme les samouraïs d’autrefois, dans le moment présent pour savourer et ralentir chaque instant avec nos proches et nos amis.

Tài liệu tham khảo

Nguyễ Đức Chính: Đọc Kim Dung. Tìm hiểu văn hóa Trung Quốc. Nhà xuất Bản Trẻ.
H.E. Plutschow : Historical Chanoyu. The Japan Times ltd, Tokyo, 1986
Vũ Thế Ngọc: Trà Kinh. Nhà sách Tự Điển Bách Khoa 2013
Suzuki Daisetsu: Zen and the art of tea.Dịch chú: Nguyễn Nam Trân

 

Chanoyu (Trà đạo)

Trà đạo

Version francaise

Trước khi nói đến trà đạo của người Nhật thì cũng nên nhắc lại nguồn gốc của trà. Trà có phải là  người Trung Hoa tìm ra không? Có thể là không vì người ta không tìm thấy cây trà hoang nào ở Trung Quốc cả mà ngược lại đã thấy một loại  cây trà nguyên thủy cùng chủng và cùng gốc với cây trà Trung Hoa (Camellia Sinensis ) ở vùng Assam (Đông Bắc Ấn Độ). Sau đó còn tìm được cây trà rừng trạng thái thiên nhiên ở các vùng biên giới như Tây Tạng, Miến Điện, Tứ Xuyên, Vân Nam, Việtnam vân vân ..Nên nhớ là Tứ Xuyên là đất của người nước Thục  và  Vân Nam thưở xưa là vùng của nước Điền cùng có liên hệ mật thiết với bộ tộc Lạc Việt (tổ tiên của người Việt Nam hiện nay). Sau nầy các nước nầy như Tứ Xuyên, Vân Nam bị người Hoa thôn tính luôn cả Việtnam dưới các triều đại Tần và Hán. Như vậy trà không phải thổ sản của người Trung Hoa nhưng họ có công thuần hoá cây trà nên  hương vị nó được thơm hơn. Họ dùng trà lúc đầu trà như  một vị thuốc chớ không được coi như là một thức uống. Trà được phổ biến sau đó dưới thời nhà Đường (từ năm 618). Trà được xem như là món đồ uống phổ thông trong xã hội nhất là  về sau khi có quyển Trà kinh của Lục Vũ ra đời dạy cho tất cả mọi người biết cách uống trà. Chính Lục Vũ còn xác nhận trong Trà Kinh là : «Trà là một loại cây quí ở phương nam …. ».  Chính Đức Khổng Tử còn nói với các đệ tử trong « Luận Ngữ » về đại tộc Bách Việt như sau: Người Bách Việt  ở phía nam sông Dương Tử có một lối sống, ngôn ngữ, truyền thống, tập quán và thực phẩm cụ thể. Họ trồng lúa và khác biệt với chúng ta thì quen canh tác kê và lúa mì. Họ uống nước  từ một loại cây đuợc hái trong rừng mà được biết với cái tên « trà »  vân vân …. Cũng nên nhớ lại dưới thời thống trị của Tần-Hán, có một tổ chức  của triều đình gồm có những sĩ phu địa phương (Fanshi). Họ được xem như là các pháp sư chuyên về nghi lễ và  thu nhập của triều đình. Vai trò của họ là ghi nhận tất cả quy trình nghi lễ, tín ngưỡng, thuốc địa phương, vũ trụ học, thần thoại, truyền thuyết, các sản phẩm địa phương. Họ  trình lên cho chính quyền trung ương những chuyện nghe thấy để chọn lọc, kết hợp  lại  tất cả cái hay dưới dạng các quy định với chủ đích tăng cường quyền lực  của vua ở những vùng đất mới được thôn tính. Chính vì thế mới có những truyền thuyết bịa đặt không có cơ sở của người Trung Hoa về cội nguồn của cây trà. Có hai truyền thuyết về cây trà với Bồ Đề Đạt Ma và Thần Nông, ông tổ nông nghiệp Trung Hoa. Biết rằng Đạt Ma tổ sư (Bodhidharma) là ông tổ sư của phái thiền tông Trung Hoa nhưng ông vì không muốn ngủ  đã cắt hai mí mắt vứt xuống đất nên nảy sinh ra cây trà.  Chắc chắn các thiền sư là những người đầu tiên dùng trà để quên buồn ngủ, tinh thần thỏa mái trong lúc thiền. Còn Thần Nông, ông vô tình uống nồi nước đang đun sôi có lá trà rơi vào. Từ đó ông là nguời biết dùng trà (khoảng 3000 năm TCN) trong quyển sách Bản Thảo, một cuốn sách cổ nhất về y học của Trung Quốc. Nhưng cuốn nầy được viết sau Công Nguyên dưới nhà Hán (25 -225 SCN). Thêm vào đó được biết Thần Nông  khi chết được chôn ở  Trường Sa (Chansha), trong địa phận của đại tộc  Bách Việt. Vậy  làm sao ông người dân phương bắc được (Trung Hoa). Không thể nào được vì thời đó ông di chuyển như sao nếu ông là người Trung Hoa ở phương bắc? Tất nhiên ông phải là người phương nam nhất là tên ông dù là tiếng Hán  vẫn còn giữ được cấu trúc Việt ngữ (theo chữ Hán thì phải Nông Thần).

Tencha

 Người Tàu rất chú trọng về phẩm chất của trà. Họ xem uống trà là một nghệ thuật. Họ cần không những các loại trà siêu phẩm mà  cả trà cụ, nước lọc, nước suối vân vân … và cách pha để trà có một hương vị riêng đặc biệt, thơm ngát  và thanh thoát. Còn người Nhật thì xem việc  uống trà  như là một nghi lễ vì họ được biết trà và  tiếp nhận thể thức uống trà  từ các thiền sư. Họ nâng việc uống trà lên thành một « lối sống thiền »  chịu ít nhiều ảnh hường thần đạo trong nghệ thuật. Với 4 nguyên tắc cở bản của trà đạo : Hoà  (Wa), Kính (Kei),Thanh (Sei),Tịch (Jaku)  nầy, người uống trà có cơ hội giải thoát toàn diện bằng cách hòa mình với thiên nhiên, mọi người, trà thất và các dụng cụ pha trà. Qua ngưỡng cửa trà thất nầy với diện tích bằng 4 tấm chiếu (tatami), trà nhân có thể tiếp xúc nói chuyện thoả mái với mọi giai cấp từ thầy tăng, quí tộc cho đến  cả thần thánh trong tinh thần bình đẳng. Trà nhân còn nhận diện ra bản thể cuộc sống nhất là sự trung thực của  chính bản thân mình qua sự  kính trọng đối với mọi vật và mọi người. Bản ngã cũng không còn hiện diện mà chỉ còn ở nơi mình một thứ tình cảm không dám coi thường người khác, một thứ tình cảm khiêm cung  đối với tha nhân. Tâm lúc đó sẽ được thanh tịnh khi ngũ quan không còn bị ô uế: mắt ngắm tranh treo (kakemono)  trong hốc phòng (tokonoma) hay hoa tươi trong chậu cắm hoa (ikebana), mũi ngữi làn hương thơm, nghe tiếng nước sôi (trong ấm), tay cầm trà cụ ngay ngắn và miệng nhấp từng ngụm trà, tất cả giác quan sẽ trở nên trong sạch. Tịch (jaku) đây là kết quả mà trà nhân sẽ được nhận thấy cuối cùng một khi tâm an trú hoàn toàn  ở hiện tại dù có sống giữa chốn muôn người hay không. Tịch đây xem như là một đức tính vượt ra khỏi vòng sinh tử  khiến  trà nhân có thể ngắm nhìn đời và sống trong một thế giới bình thường mà sự hiện diện không còn cần thiết. Trà nhân sẽ cảm nhận được việc uống trà không có đơn thuần vì nó vừa là một con đường có rất nhiều qui tắc  để có thể  uống được trà ngon hay không ngon mà nó còn là một phượng tiện hữu hiệu trong việc tu tâm dưởng tính giúp con người  được giác ngộ trong thiền đạo.

Sen no Rikyu

Đối với trà sư Sen no Rikyu, người có công nghi thức quá trà đạo việc uống trà nó rất đơn giản: trà không có gì khác hơn là việc đun nước nóng,  pha trà và uống cho đúng điệu.  

Lễ trà là một chuổi các sự kiện được sắp đặt một cách chu đáo và kỷ lưỡng. Lễ nầy gồm tối đa là 4 vị khách được mời cùng chủ nhân. Họ đi qua sân của trà thất. Họ phải thực hiện lễ thanh tẩy (rửa tay, súc miệng), bước vào một căn phòng hình hộp đơn sơ giản dị thường nằm ở một gốc vườn qua một  cửa  rất  thấp. Mọi người buộc lòng phải cuối đầu xuống mới bước vào được với sự cung kính. Thưở  xưa  ở ngưỡng cửa nầy, võ sĩ đạo  phải để kiếm của mình lại ở bên ngoài mới gặp chủ nhân ở trong  trà thất. Nơi nầy, các vị khách chiêm ngưỡng cách bố trí của trà thất lẫn các trà cụ. Họ theo dõi các nghi thức pha trà và dùng thức ăn với trà. Mỗi sự  kiện mang tính biểu tượng khiến làm vị khách nhận thức được  mỗi thời khắc quan trọng  trong buổi lễ trà. Có thể nói trà đạo đem lại sự hoà hợp giữa chủ nhân và các vị khách và thu ngắn lại khoảng cách không những giữa nhân và thiên mà giữa người với người. Bởi vậy trong giới võ sĩ đạo có câu thành ngữ như sau: « Nhất kì nhất ngộ (ichigo,ichie). Không có cuộc uống trà nào giống nhau cả, xem như đó là cái duyên mới gặp gỡ nhau được. 

Tài liệu tham khảo

Nguyễ Đức Chính: Đọc Kim Dung. Tìm hiểu văn hóa Trung Quốc. Nhà xuất Bản Trẻ.

H.E. Plutschow : Historical Chanoyu. The Japan Times ltd, Tokyo, 1986

Vũ Thế Ngọc: Trà Kinh. Nhà sách Tự Điển Bách Khoa 2013

Suzuki Daisetsu: Zen and the art of tea.Dịch chú: Nguyễn Nam trân

Những loại hoa được yêu chuộng trong nền văn hóa Vietnam

Version française

Version vietnamienne

img_6909

Những loại hoa được yêu chuộng trong nền văn hoá Vietnam.

Trong truyền thống văn hóa, người dân Việt rất coi trọng các loại hoa. Họ thường thích chọn và dành tên của các loại hoa cho giới phụ nữ. Thậm chí còn có một câu chuyện về  cái tên mà vua vĩ đại Lý Thánh Tôn của triều Lý, chọn cho bà cung phi Ỷ Lan mà đựợc     biết sau nầy dưới cái tên là Linh Nhân Hoàng Hậu. Một hôm, trên đường về kinh, đang được các dân làng nô nức  đón tiếp thì vua nhận ra có một cô con gái hái dâu vẽ đẹp phi thường rụt rè đang bên cạnh gốc lan và  nhìn ông từ đằng xa. Mong muốn được biết nàng, vua mới triệu nàng đến trước  mặt. Vì yêu vẽ đẹp và trí thông minh của nàng, vua mới đem nàng về kinh, kết  hôn cùng nàng và đặt cho nàng cái tên đầu tiên « Ỷ Lan » («Ỷ là dựa, Ỷ Lan là dựa gốc cây lan »). Sau đó nàng được biết đến trong lịch sữ Việtnam là một trong những bà hoàng hậu  thực hiện được nhiều biện pháp xã hội cho những người bất hạnh nhất là giới phụ nữ. Tuy nhiên có một cái tên là « Hoa » mà không ai có quyền chọn dùng  dưới triều nhà Nguyễn. Đó là tên của bà thiếp Hồ Thị Hoa của thái tử Nguyễn Phước Đảm tức là hoàng đế Minh Mạng về sau nầy. Mất sớm, nàng nầy là con gái của quan Hồ Văn Bôi và được xem là con dâu hiếu thảo với cha mẹ chồng, tức là vua Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu.   Để lưu danh muôn thưở nổi đau đớn nhất là tình thương mà nhà Nguyễn dành cho cô dâu nầy, họ truyền lệnh cấm từ  tất cả mọi người thân thuộc cũng như dân chúng không được dùng chữ Hoa mà luôn cả các nơi công cộng. Bởi thế chợ Đông Hoa ở Huế trở thành Đông Ba. Tỉnh Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa. Cầu qua sông Thị Nghè ở Saigon buộc lòng phải đổi tên và lấy tên là Cầu Hoa Bắc. Tuy nhiên « Hoa » vẫn  là chữ được thường trọng dụng nhiều nhất ở trong kiệc tác Kim Vân Kiều  của Nguyễn Du. Có ít nhất 130 câu thơ có chữ Hoa trong kiệt tác nầy. Ngoài ra còn có một số lượng không ít trong các thuật ngữ và cách diễn đạt với ý nghĩa Hoa trong văn học Vietnam như sau:

Hoa diện, mặt hoa: có một khuôn mặt đẹp

Hoa chúc: đèn ở trong phòng cô dâu chú rể

Hoa niên: tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất trong đời người.

Hoa tay: có múp ở đầu ngón tay ới hình bông (Khéo léo).

Số đào hoa: được sinh dưới bông hoa đào (người được các phụ nữ hâm mộ).

Người tài hoa: người có tài năng.

Hoa tai: đồ nữ trang đeo tai có hình hoa.

Hoa đèn: đầu bấc đèn đã cháy thành than của cây đèn dầu.

Hoa khôi: Hoa được đứng hàng đầu (người đẹp nhất).

Hoa đá: san hô.

Hoa vương: hoa mẫu đơn.

Có một giai thoại liên quan đến hoa đá đó  là lúc đất nước Viêtnam bị loạn lạc, có những cuộc chiến không ngừng giữa hai gia đình cầm quyền là Trịnh và Nguyễn. Đây cũng là một trong những trò đùa của một vị quan Nguyễn Huỳnh phục vụ chúa Trịnh Cương mà thường được gọi là Cống Quỳnh hay Trạng Huỳnh. Chúa Trinh Cương người rất ham ăn và tham lam. Ông chỉ nghĩ sống trong việc giàu sang và đồi trụy. Bởi vậy Cống Quỳnh cố gắng khuyên nhũ Trịnh Cương về với lý trí và đạo lý.  Ông nói ông biết nấu một món ăn rất ngon tên là Hoa đá. Nghe vậy, ch úa Trịnh yêu cầu ông chuẩn bị nấu món ăn nầy. Nhưng ông nói với lãnh chúa rằng phải đợi ít nhất 2 ngày mới được thưởng thức món nầy vì ông phải đun nhỏ lửa trong thời gian nầy. Chúa Trịnh hớn hỡ chấp nhận đề nghị nầy. Về nhà, ông kêu người hầu đi chợ mua rong biển ăn được và đun sôi với nước. Đói khát vì đợi chờ quá lâu, chúa Trịnh nhận ra món ăn nầy được chế biến bởi Cống Quỳnh rất ngon miệng dù chỉ chứa rau sau khi nếm. Có một số tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng mang tên chữ Hoa. Đây là trường hợp của các tập thơ  như « Nhị độ Mai » (Hoa mai nở hai lần) và « Hoa Tiên ». Tập đầu tiên thuộc về một tác giả khuyết danh. Nó gồm có được 2826 câu thơ chữ nôm viết bằng lục bát và biên soạn từ một tác phẩm của Trung Hoa. Nó ca ngợi không những lòng trung thành với nhà vua mà còn sự hiếu thảo, biết ơn và tình yêu nữa. Còn tập thứ nhì thì được sáng tác bởi học giã Nguyễn Huy Tự.  Cuốn tiểu thuyết nầy gồm có hơn 1770 câu thơ. Đây là một bài thơ lãng mạn đầu tiên của Vietnam nhưng  tác giã vẫn còn giữ  được tư tưởng nho giáo.Tuy rằng có  rất nhiều loại hoa được tìm thấy ở Vietnam, người dân Việt vẫn không che giấu  được sở thích cûa họ đối với một số cây nhất định. Họ không ngần ngại phân các cây nầy vào một loại cây cao sang trong đó thấy có:

Mai, Lan, Cúc, Sen, Mẫu đơn và hoa hồng. 

Những cây hay hoa nầy đều mang một  ý nghĩa đặc biệt và có liên hệ mật thiết với đạo đức trong truyền thống của người dân Việt. Cây mai là biểu tượng của người đàn ông thượng đẳng.  Cây nầy nó cố gắng chống chọi với thời tiết lạnh và khắc nghiệt của thiên nhiên. Nó tiếp tục nở hoa vào tháng hai. Điều nầy cho phép nó tượng trưng  mùa xuân trong bốn mùa (Tứ thì). Vào dịp Tết,  đối với người dân Việt, không bao giờ có thể thiếu trên bàn thờ  của tổ tiên  một số cành hoa mai (hay hoa đào) được chọn để hoa nở đúng lúc trong ngày lễ hội. Hoa mai được các học giã và các nhà trí thức Vietnam ngưỡng mộ. Một người có cá tính độc lập như Cao Bá Quát, không bao giờ biết qui phục cái tù túng của thời quan liêu còn phải thốt lên trong suốt cuộc đời ông, ông chỉ biết cúi đầu trước hoa mai mà thôi.

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai

Suốt đời chỉ cúi đầu trước hoa mai.

Một học giã khác, Đào Tấn, cha đẻ của những vở kịch ở vùng Bình Định ở miền trung Vietnam, cũng hi vọng ngày nào đó sẻ chết giữa những cây mai. Đó là lý do tại sao trong suốt cuộc đời, ông thường dùng bút danh « Mộng Mai (Mơ với hoa mai)». Ông có cơ hội bày tỏ trạng thái tâm trí của ông qua hai câu thơ được tìm thấy trong một bài thơ của ông:

Núi mai rồi giữ xương mai nhé

Ước mộng hồn ta là đoá mai

Đó cũng không phải là một điều vớ vẫn đối với ông bởi vì thời điểm ông qua đời (tháng 7 năm 1907), ông đã đuợc chôn cất ở núi Huỳnh Mai, cách vườn mai vài cây số. Không giống người Trung Hoa, hoa mai và hoa sen rất được phổ biến hơn hoa mẫu đơn. Đây là lý do tại sao sao các hoa nầy được gọi là Hoa khôi. Người ta thường thích hoa mai vì hoa sen thường dành cho Phật giáo dù biết rằng  hoa sen vẫn tượng trưng người quân tử trong đạo Khổng.(junzi). Sen là loại cây mà sĩ phu Mạc Đỉnh Chi lựa chọn để bộc lộ tài năng xuất chúng và thiên tài chưa từng thấy. Vua Trần Anh Tôn ngần ngại phong ông làm « tiến sỹ » đầu tiên vì ông quá xấu xí vào thời điểm ông nhận bằng. Để thuyết phục nhà vua, ông tự ví mình như hoa sen trong giếng ngọc.  Ông liền làm ngay bài thơ có tựa đề « Ngọc tỉnh liên phú » (Hoa sen trong giếng ngọc) như sau :

 

Giống quý ấy ta đây có sẳn

Tay áo nầy ta chứa đã lâu

Phải đâu đào, lý thô màu

Phải đâu mai trúc dãi dầu tuyết sương

Cũng không phải tăng phường câu kỷ

Cũng không là Lạc Thủy mẫu đan

Cũng không là cúc, là lan

Chính là sen ở giếng vàng đầu non.

 

Mạc Đỉnh Chi có cơ hội soạn một bài văn tế khi ông được cử đi làm sứ thần để tham dự tang lễ của một công chúa Mông Cổ. Ngày hôm đó, trước triều đình nhà Nguyên, ông nhận được tờ giấy trong đó có bốn hàng, mỗi hàng đã có  một chữ « một » duy nhất. Đây là một vinh dự cho ông làm bài thơ nầy bằng cách bổ sung  mỗi hàng với cảm nghĩ của ông  để   bày tỏ sự tôn vinh sâu sắc đối với ký ức của cô công chúa nầy.

Chẳng nao núng chút nào,  ông làm xong bài thơ truớc sự ngạc nhiên và khâm phục của triều đình nhà Nguyên  bằng cách chỉ định cô công chúa nầy  như một bông hoa:

Trời xanh một đám mây

Lò hồng môt giọt tuyết

Vườn thượng uyển môt cành hoa

Cung quảng hàn (2) một vầng nguyệt

Than ôi! Mây tan! Tuyết tiêu!

Hoa tàn! Trăng khuyết !

Đối với hoa cúc, nó không những chỉ là cá tính của muà thu mà còn biểu tượng cho sự thư thản và sự thờ ơ của con người trước công danh và vinh quang. Tương tự như  hoa mai, hoa lan thường  biểu tượng vẽ đẹp của nữ tính. Thường được nhắc như cô gái trong các tác phẩm thơ. Tuy rằng hoa mẫu đơn được xem như hoa cao sang nhưng nó không có được một tầm quan trọng đáng kể như ở Trung Hoa. Có lẽ vì bị ảnh hưởng của Trung Hoa nên tục lệ nầy còn giữ đối với hoa nầy. Hoa mẫu đơn thường được trông thấy trong nghệ thuật trang trí của người dân Việt hay trong các truyền thuyết. (Chuyện thần tiên Từ Thức Giáng Hương chẳng hạn). Còn hoa hồng thì nó là biểu tượng cho tình yêu và tình thương. Nó là hoa tặng mẹ, hoa tặng vợ, hoa tặng thầy cô  bạn bè vân vân…Muốn biết ý nghĩa mà người dân Việt dành cho hoa nầy, chúng ta  cần phải đọc quyển sách của thiền sư  Thích Nhất Hạnh “Bông Hồng cài áo”. Thiền sư  nhắc nhở chúng ta chỉ một người mẹ mà thôi mà đôi khi chúng ta quên đi bổn phận vì sự thăng trầm trong cuộc sống. Chúng ta quên rằng nếu chúng ta còn mẹ đó là một báo vật mà Thượng đế thương yêu dành cho chúng ta đấy. Chúng ta có may mắn còn mẹ. Để chứng tỏ sự trìu mến với mẹ, chúng ta có quyền tiếp tục cài trên áo một bông hồng. Chúng ta còn có niềm vui vô tận và khó tả được mà biết  bao nhiêu người không còn có nữa. Không thấy từ lâu rồi trên quê hương nầy những  hoa Sim màu trắng mà các cô gái trẻ tuổi thường để lại trên mộ của các  người tình của họ, những người nằm xuống để bảo vệ lý tưởng hay quê hương nầy. Họ không có may mắn nhìn thấy hoà bình trở lại. Chính nhờ những người dũng cảm nầy, tất cả người dân Việt muốn tặng cho họ một bông hồng, một tình yêu mà họ dành thật sự cho đất nước nầy. Nhờ họ mà đất nước nầy còn giữ được cho đến hôm nay độc lập, bản sắc văn hóa và  truyền thống dân tộc.       

 

 

Hoàng thành Thăng Long (Cité impériale Thăng Long)

 

thang_long

 

Version française

Do những sự kiện lịch sử, hoàng thành Thăng Long dường như bị phai mờ theo thời gian trong ký ức tập thể của người dân Việt với những di tích chôn vùi giữa lòng vùng đất Hànội xưa. Các nhà khảo cổ Việtnam có rất nhiều trở ngại để tìm kiếm vị trí của hoàng thành mặt dù có một loạt các cuộc khai quật khảo cổ bắt đầu ở Quần Ngựa và khu vực lăng mộ của Hồ Chí Minh vân vân… kể từ năm 1970. Chỉ đến năm 1988 họ mới tìm ra được ở khu vực địa lý gần Hậu Lâu liên kề với đường Hoàng Diệu và Bắc Môn (cổng phía bắc thời Nguyễn), các cột trụ và cột đá với các họa tiết hoa sen cùng các cổ vật khác được sản xuất từ thời Hậu Lê. Năm 2000, họ được phép khai quật ở bên trong của Đoan Môn (cánh cửa duy nhất của hoàng thành). Nhờ thế mà tìm ra được con đường hoàng gia (ngự đạo) của thời nhà Trần. Với các cuộc khai quật khảo cổ khác được bắt đầu từ tháng 12 năm 2002 đến 2004 ở phía bên đường số 18 Hoàng Diệu, các di tích khác có từ thời kỳ trước Thăng Long được tìm thấy. (trước thế kỷ 11). Nhờ cuốc của các nhà khảo cổ Vietnam mà hoàng thành Thăng Long bắt đầu tiết lộ những bí mật của nó. Vai trò chính trị, hành chánh và văn hóa của nó cũng không còn là một nghi vấn nào nửa ở trong thời kỳ gồm có gần 13 thế kỷ (dưới đời nhà Lý, nhà Trần và nhà Tiền Lê). Các tàn tích kiến trúc như nền móng, nền tảng của các cột trụ, các khúc đường hoàng gia bằng gạch, các hệ thống dẫn thoát nước, các giếng nước vân vân …được trưng bày trong hoàng thành Thăng Long, minh chứng không thể chối cãi được sự phức tạp kiến trúc của các cung điện ở thời đó. Sư tồn tại của các cung điện nầy được chứng thực nhờ sự khám phá và hiện diện của một số loại gốm chất lượng cao với các họa tiết tinh xảo bao gồm luôn cả thời kỳ Lê. (các ký tự viết chữ Hán và các họa tiết với rồng 5 móng và phượng hoàng).

map_thang_long
Các đồ gốm nầy chỉ dành riêng cho vua chúa và hoàng hậu. Nhờ cuộc khai quật khảo cổ nầy, người ta dẫn đến một kết luận như sau: những di tích kiến trúc của Lý-Trần-Lê mà kiếm được đều chất chồng lên trên địa tảng của thời Tống Bình-Đại La (thế kỷ thứ 7 – thứ 9). Sự nhận xét nầy nó cũng không có tạo lại cho đến ngày nay một nghi vấn nào về tầm quan trọng và ảnh hưởng của chiếu dời đô Thăng Long mà Lý Công Uẩn, người sáng lập nhà Lý (mà thường biết đến với cái tên là Lý Thái Tổ), công bố vào mùa xuân Canh Tuất 1010. Sau khi loại trừ được Lê Long Đĩnh, (một vị vua Néron của nhà Tiền Lê?), Lý Thái Tổ sau vài năm trị vị, đã nhận ra Hoa Lư, thủ đô của Vietnam thời đó được xây cất ở trên một vùng đất khó mà mà tiếp cận để đảm bảo sự thịnh vượng, duy trì vận mệnh quốc gia và trường kỳ cho muôn đời sau.

Ông phải dời kinh đô về Đại La, nơi mà tiết độ sứ nhà Đường Cao Biền dùng để làm thủ phủ thời kỳ đô hộ An Nam. Thành phố nầy có thể giúp dân chúng tránh được lũ lụt với một địa hình rất thuận lợi trong sự định hướng núi sông (phong thủy) nhất là nó có một vị trí phù hợp với rồng cuộn hổ ngồi. Để tránh sự bất mãn của quần chúng, ông không ngần ngại lợi dụng lòng nhẹ dạ của dân cũng như cố vấn của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thực hành về sau trong thời kỳ chống giặc Minh. Ông phao tin rằng ông thấy rồng vàng bay lên ở Đại La trong cơn mơ. Vì vậy mà Đại La được gọi là Thăng Long tức là Rồng bay. Như bao vị vua khác, ông có thể dùng chính sách bức chế với dân chúng nhưng ông lợi dụng sự mê tính của người dân mà phao tin đây là ý trời để thực hiện một công trình tuyệt vời cho một nước Việtnam độc lập.

 

 

Triều đại của ông được gọi là “Thuận Thiên” (theo ý trời). Mồ côi, ông sống ở trong chùa và được dạy dỗ bởi sư Vạn Hạnh. Lớn lên duới bóng của thiền sư nầy, ông sớm trở thành một vị vua vĩ đại của Vietnam vì ông được thấm nhuần triết lý đạo Phật trong thời gian ông ngự trị. Người ta tìm thấy ở nơi ông không những sự khôn ngoan, đối thoại, thấu thị, khoan dung mà còn có ý chí đóng góp không thể chối cãi về việc củng cố đất nước Vietnam (một hệ thống hành chính tập trung cao độ, một chế độ thuế má rất mềm mỏng, Phật giáo được xem là quốc giáo, ưu tiên dành cho nền giáo dục vân vân…). Chính với ông mà Vietnam được công nhận lần đầu tiên là một vương quốc An Nam. Các tác giả trong quyển sách tưa đề “Đại Việt Sử ký toàn thư” có những lời khen ngợi không ngớt về triều đại của ông. Chính nhà sử học Ngô Thi Sĩ miêu tả về sau triều đại của ông là một triều đại khoan hồng (Triều Lý nhân Ái). Nhờ Việt Sử lược ở thế kỷ 14, người ta mới biết rằng cung Càn Nguyên mà được gọi sau nầy là Thiên An và đổi tên cuối cùng là Kinh Thiên bởi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) tọa lạc ở giữa lòng của hoàng thành Thăng Long được xây cất vào năm 1010 bởi Lý Thái Tổ. Trong vùng lân cận của cung điện nầy, ở phía đông có cung Tập Hiền và cửa Phi Long, phía tây có cung Giáng Vũ và cửa Đan Phượng, phía nam có cung Cao Điện và hiên Long Trì với các hành lang ở hai bên và phía bắc có hai điện Long An và Long Thụy chưa nói đến ở phía đông và tây của các điện nầy còn có thêm cung Nhật Quang và Nguyệt Minh. Ngoài ra còn có chùa Hưng Thiên và tháp Sao Ngũ Phượng. Năm 1011, cung Thái Thanh, chùa Vạn Tuế và thư viện Phật giáo Tần Phúc được xây cất (Việt sử lược, được dịch và biên chép lại bởi Trần Quốc Vượng trang 70-71). Dựa trên kế hoạch của hoàng thành dưới thời Lê, các nhà khảo cổ Vietnam đã phân định hoàng thành như sau: phía bắc xung quanh phố Phan Đình Phùng, phía nam thì nằm ở đường Trần Phú, phía tây thì vượt ra phố Ông Ích Khiêm và phiá đông thì xung quanh phố thuốc bắc. Diện tích của địa điểm nầy ước chừng khoảng 140 ha dưới thời nhà Lê nhưng lại ít hơn một tí dưới triều đại nhà Lý và Trần. Mặt khác dưới nhà Nguyễn, thành Hànội không vượt quá 100 ha.Trong các cuộc khai quật khảo cổ, có một số vật liệu kiến trúc được trang trí với các chủ đề vô cùng đa dạng. Các họa tiết trang trí là hoa sen, hoa cúc hoặc các đầu của các loại động vật thần thoại với những nét sần sùi và hung dữ dưới thời kỳ Đại La (thể kỷ 7-9). Sau đó,trong thời kỳ của các triều đại Tiền Lê và Lý thì thấy có những bông sen và những đôi uyên ương. Cuối cùng dưới triều đại Lý thì nghệ thuật trang trí thông qua các con rồng, phượng, lá và hoa dẫn đến sự hoàn hảo và đạt đến đỉnh cao của vẽ đẹp. Mặc dầu vẫn duy trì các yếu tố trang trí cơ bản của triều đại nhà Lý, nghệ thuật nầy có xu hướng tìm lại sự đơn giản và bền vững dưới thời nhà Trần. Đối với thời kỳ nhà Hậu Lê thì có một sự thay đổi quan trọng trong việc trang trí một cách đơn giản các ngói gạch của cung điện với nhiều chủ đề được thêm vào nếu so với thời đại của hai triều đại Lý và Trần. Các di tích và cổ vật được tìm thấy ở hoàng thành Thăng Long là bằng chứng không thể phủ nhận được đến từ một nền văn hóa dân tộc và có mang tính độc đáo điạ phương. Ngoài con rồng của triều đại Lý có mào trên đầu mà không được tìm thấy ở các con rồng Trung Hoa, chúng ta còn khám phá được những mái nhà của thời Lý-Trần với các ngói bò đất nung kềm theo lá trang trí hay phù điêu rồng hay phượng mà không quen tìm thấy được ở cung điện của các nước láng giềng. Người ta có thể nói hoàng thành Thăng Long thuộc về di sản văn hóa vô giá đối với Vietnam nhất là đối với thủ đô Hànội. Được đưa vào danh sách di sản văn hóa của nhân loại, hoàng thành Thăng Long là một đia điểm mà du khách không thể bỏ qua nếu có dịp đến viếng thăm thủ đô Hànội.

Vietnam qua dòng lịch sữ (Histoire du Vietnam)

 

Vietnam qua dòng lịch sữ

English version

French version

Vietnam được biết đến từ thế kỷ 19 khi vua Gia Long quyết định đổi tên nước Nam Việt. Marco Polo có nhắc đến xứ nầy trong cuộc hành trình của ông với quyển sách tựa đề là « Những kỳ quan của thế giới » dưới tên là Giao Chỉ. (Caucigui). Có thể tóm gọn lịch sữ xứ nầy qua vài lời như sau: chiến đấu để dành độc lập, chinh phục những « đất mới » và thống nhất đất nước. Người dân Việt được nhắc đến ở thời kỳ đồ đồng (Văn hóa Đồng sơn). Những bộ tộc Việt sống rãi rác ở miền nam nước Trung Hoa và miền bắc Vietnam, có lẽ họ là một dân tộc thuờng thích đi săn. Vì vậy họ thưòng di chuyển liên tục ra khỏi biên thùy. Chữ Nam (hay nan tiếng quan thoại) thường dùng để ám chỉ họ và để phân biệt họ với những nguời Việt sống ở Trung Hoa. Còn chữ Việt (hay Yue) thì được dùng đến dưới thời đại nhà Châu (1050-249 trước công nguyên) để chỉ những vùng đất ở phiá nam nước Trung Hoa. Những người dân Việt ở nơi nầy, họ đã hình thành các vương quốc từ cuối niên kỷ thứ hai. Các vương quốc nầy dưới các triều đại huyền thoại (thời Hùng vương) thường nằm ở miền bắc Vietnam và được mang các tên như Văn Lang, Âu Lạc. Ở niên kỷ thứ 10, ở đồng bằng sông Hồng thường được xem là cái nôi của dân tộc người Việt, khởi đầu bằng một cuộc Nam Tiến. Quốc gia nầy không ngừng sinh sản các « tế bào mới » ở các vùng đất nào thuận lợi cho phương thức canh tác và trên phương diện chính trị, còn dựa vào các hộ dân nho nhỏ độc lập mà được tạo thành từ những người lính nông dân. Các hộ nầy đôi khi còn được củng cố bỡi chính quyền trung ương nên được hành xữ dần dần để hình thành một đảo san hô to tác, rồi bao vây sau đó và đồng hóa cuối cùng các vùng đất mới đó khiến nhờ thế bờ cỏi Vietnam mới được mở rộng thêm. Đây là một lợi thế không thể phủ nhận được cho chính sách bành trướng nhưng phải cần có một chính quyền trung ương mạnh mẽ. Đức Không Tử thường nhắc đến các ngừời Việt trong Kinh Lễ. Nhờ có năng lực bám giữ ngón chân cái tách rời được các ngón chân khác nên họ vượt sông leo núi rất dễ dàng mà chẳng bao giờ biết mệt cả.

Lịch sữ Vietnam không phải là lịch sữ của các triều đại vua chúa hay là những phong trào tư duy vĩ đại. Mà nó là lịch sữ của những người nông dân bền bỉ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, làm việc vất vã ở ngoài đồng và thường hay để lại dấu ấn của họ trên quan cảnh. Chỉ cần sự nới giản của chính quyền trung ương thì đất nước nầy dễ dàng bị phân chia. Bỡi vậy đó là một trong những lý do chính, thể hiện lịch sữ Vietnam thường có tình trạng bất ổn và chiến tranh thường xuyên. Nó được lợi thế là nhờ có ba cấu trúc dân tộc thích hợp như sau: một bộ máy hành chánh dựa trên mô hình nho giáo dưới triều đại vua chúa (người có thiên mệnh), gia đình và làng mạc xem như đến từ một nền văn hóa nông dân mà mỗi người dân Việt lúc nào cũng cảm nhận có sự gắn bó mật thiết của họ với tổ tiên và đất nước. Nhờ chính sách ngặm nhấm của con tầm mà người dân Việt mới chiếm được những mảnh đất của người dân Cao Miên và Chàm. Những di tích của những người nầy thường đựơc thấy ở miền trung hiện nay (Phan Thiết, Phan Rang, Đà Nẵng vân vân …) và đồng bằng sông Cửu Long đã minh hoạ được sự chinh phục của người dân Việt. Họ đã bao lần chứng minh trong quá khứ và chiến tranh Vietnam sự gắn bó thâm sâu của họ với nền độc lập dân tộc. Họ phải chịu qua bao nhiêu thế kỷ chiến đấu, giặc dã và đau thương để Vietnam trở thành hiện nay môt con rồng con ở Á Châu. Người ta tìm thấy trong lịch sữ của người dân Việt có 2000 năm đấu tranh không ngừng đối chọi với thiên nhiên và nước. Vì thế người nông dân Việt lúc nào cũng gắng bó mật thiết với mảnh đất nầy mà còn có sự thỏa thuận sâu sắc với thiên nhiên. Nhà học giã Pháp Paul Mus không ngần ngại nhấn mạnh chuyện nầy trong quyển sách mang tựa đề là « Vietnam, sociologie d’une guerre, Paris, Le Seuil 1952 » (hay là Vietnam, xã hội học của một cuộc chiến tranh, Ba Lê, nhà xuất bản Le Seuil 1952). Chính sự thỏa thuận mật thiết nầy khiến ở đâu đi nửa mà có cơ hội thuận tiện thì khó mà có ai có thể chống lại được sự bành trướng của họ mà luôn cả lực lượng ngoại bang cũng không thể thắng họ khi có đụng chạm với họ trên mảnh đất nầy. Bất chấp sự đô hộ bỡi người Trung Hoa có một ngàn năm, người dân Việt, thấm nhuần nền văn hóa của họ, đã giữ được ngôn ngữ của họ dù biết rằng ngôn ngữ nầy bị phiên âm bằng tiếng Trung Hoa và latin hóa sau nầy khi thầy tu dòng jésuite Alexandre de Rhodes đến Vietnam. Nếu người dân Việt không từ chối bất kỳ sự đóng góp nào từ nước ngoài là vì họ đã thành công việt nam hóa và giữ được tất cả những gì qúi giá mà mọi người ở trên thế giới đều có đó là các truyền thống dân tộc mà được truyền lại từ thế hệ nầy sang thế hệ sau và từ những người mảnh khảnh, chân vùi chôn trong bùn của các ruộng lúa.

Làm thể nào để không gắn bó với Việt Nam, một đất nước mà sự hy sinh không phải là một từ rỗng. Sự hy sinh nầy đã bao lần tìm thấy trong các biên sữ của Vietnam. Thà làm qủi nước nam chớ không thèm làm vương đất Bắc, đó là lời nói dũng khí của danh tướng Trần Bình Trọng trước khi ông bị giặc Nguyên giết chết vào năm 1257. Cuộc đời là một trò chơi may rủi. May mắn nó không đến với chúng ta. Bây giờ tốt hơn là chết cho đất nước và để lại một tấm gương hy sinh cao cả, đó là lời nói của nhà lãnh đạo Nguyễn Thái Học trước khi bị chém đầu vào ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại Yên Bái. Làm thế nào để xóa trong ký ức tập thể khuôn mặt ngây thơ của một hoàng đế trẻ bi gian cầm Hàm Nghi, bị lưu đày lúc 18 tuổi ở Algérie, nước mắt lưng tròng ? Làm thế nào để quên đi các chết bi thảm của một vị vua trẻ Duy Tân (một tai nạn máy bay tại OuBangui-Chari ở Châu Phi) mà sự trở về Vietnam của ông có lẽ thay đổi những sự kiện đáng tiếc của lịch sữ Việt Nam trong những thập niên vừa qua vào năm 1945 ? Làm thế nào để không nuối tiếc Viêtnam quê hương tôi, một mảnh đất không bao giờ được bình yên ? Đó là là ấn tượng mà nhà văn Huỳnh Văn Nhường cảm nhận được qua cuốn sách nổi tiếng của ông tựa đề là: « The Land I lost » dành cho giới trẻ và được biên tập bởi nhà xuất bản Castor Poche Flammarion.

Một đất nước mà tôi yêu thương có bao giờ còn tồn tại qua dòng lịch sữ không?