Kubilai Khan (Hốt Tất Liệt)

 

Hốt Tất Liệt (Kubilai Khan)

Version française
Version anglaise (in translation)
Bibliographie

Vào thế kỷ XII, vùng đất Trung Hoa hình thành cục diện chân vạc chia cắt giữa ba thế lực lớn: Nam Tống (người Hán ở phía nam với thủ đô Hàng Châu), nhà Kim (người Nữ Chân ở miền bắc Trung Hoa, thủ đô là Băc Kinh) và Tây Hạ (người Đảng Hạng ở vùng Tây Bắc, thủ đô Hưng Khánh, Ngân Xuyên). Với ý định thôn tính Trung Hoa, Thành Cát Tư Hãn mới khởi binh đánh Tây Hạ trước hết nhưng ông bị lâm bệnh, qua đời và được thay thế bởi người con trai thứ ba của ông, Oa Khoát Đài (Ögedeï). Ông trở thành Đại Hản thứ hai trong đế chế Mông Cổ.

Sau khi chinh phục được Tây Hạ. Cùng với đại quân, Oa Khoát Đài tiến từ Sơn Tây xuống Hà Nam để tấn công tỉnh này từ phía bắc, trong khi người em trai Đà Lôi (Toloui) đánh vào hậu phương nhà Kim bằng cách tiến về phía tây qua miền nam Thiểm Tây. Chiến thuật này đã tạo điều kiện để bao vây và tiêu diệt nhà Kim. Kinh đô Khai Phong của họ bị Tốc Bất Đài (Subutai) chiếm đóng, và vị vua nhà Kim phải tự sát để tránh bị quân Mông Cổ ngược đãi. Kể từ nay miền bắc Trung Hoa nằm trong tay của người Mông Cổ vào năm 1234.

Hốt Tất Liệt, cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, con trai của Đà Lôi (con út của Thành Cát Tư Hãn), và là anh em với Húc Liệt Ngột (Hulègu) cùng Mông Kha (Mongka)—đã được Mông Kha (Đại Hãn thứ ba) giao quyền chỉ huy phần phía đông của Đế quốc Mông Cổ từ năm 1252. Sau khi Mông Kha qua đời, Hốt Tất Liệt mới được tôn làm Đại Hãn (ngày 6 tháng 5 năm 1260), nhưng phải đối mặt với sự thách thức từ người em trai A Lý Bất Ca (Arikbögè). Người này mãi đến năm 1264 mới chịu quy phục.

Muốn xâm chiếm Nam Tống thì Hốt Tất Liệt phải mất rất nhiều thời gian vì theo sử gia người Pháp René Grousset người Mông Cổ cần phải tiến hành chiến tranh theo kiểu người Hoa. Phải cần có các lực lượng bộ binh đông đảo với pháo binh đầy đủ và các loại máy công thành. Nam Tống bị chia cắt bởi vô số sông ngòi và núi non hiểm trở, rất có nhiều trung tâm đô thị khiến làm những kỵ sĩ thảo nguyên mất đi phương hướng và không quen lối vận hành như vầy. Hốt Tất Liệt phải mất đến 10 năm để tiêu diệt nhà Tống và thống nhất nước Trung Hoa. Sau khi Quảng Đông qui phục vào năm 1260, Hốt Tất Liệt mới dời đô về Bắc Kinh và xây dựng một thành phố mới được gọi là Khan balik (thành phố của Hãn). Chớ thành phố cũ Khai Phong hay Bắc Kinh hoàn toàn bi thiêu hủy khi quân Mông Cổ xâm chiếm.

Quân nầy nổi tiếng là hung bạo và hủy diệt tất cả những nơi họ đi qua chớ họ không biết đây là tài sản của họ từ đây. Họ nghĩ họ là dân du cư không thích ở vĩnh viển một nơi. Chính sự việc nầy cho thấy Hốt Tất Liệt rất khoan dung và nhân đạo trong việc hành sự của ông đối với kẻ thù cũng như với tôn giáo. Ông cấm quân Mông Cổ không được cướp bóc nhà cửa của dân Trung Hoa.
Theo sự nhận xét của sử gia người Pháp René Grousset, đây là cột mốc mà người Mông Cổ đã đạt được kể từ thời Thành Cát Tư Hãn (Gengis Khan) . Chỉ trong vòng hai thế hệ, từ những kẻ bán khai, họ đã vươn lên ngang tầm với các dân tộc văn minh cổ xưa. Chính nhờ đó ông mới thành công hiện thực được giấc mơ chinh phục toàn nước Trung Hoa. Đây là một kỳ tích mà chưa bộ tộc du mục nào từng làm được.

Từ đây Hốt Tất Liệt trở thành thiên tử, con của Trời. Ông ngự trị ở Bắc Kinh thay vì ở Karakoroum, thủ đô của đế Mông Cổ nhất là ông hán hóa triều đình của ông khiến làm biết bao nhiêu người Mông Cổ bất mãn, làm họ mất đi cuộc sống ở thảo nguyên. Chính vì vậy họ ngã theo lúc đầu ủng hộ em trai của ông là A Lý Bất Ca (Arikbögè) nhưng sau cuộc qui thuận của A Lý Bất Ca, họ quay về ủng hộ người em họ của ông là Qaïdou, cháu nội của Oa Khoát Đài.

Từ năm 1267, Qaïdou dành được toàn vùng Turkestan mà thường gọi là Hãn quốc Sát Hợp Đài (Khanat de Djaghataï). Theo lời tường thuật của thương nhân Marco Polo, Koubilai Khan phá vỡ liên minh chống ông vào năm 1287 và phải nhờ cháu nội ông là Đại Hãn Temur mới chấm dứt về sau cuộc chiến với Qaïdou. (1301).

Sau khi diệt được Nam Tống, Hốt Tất Liệt đối xử một cách nhân đạo đối với vị vua trẻ bị giam giữ, Tống Cung Đế (4 tuổi) Vị vua trẻ nầy được đưa đến xứ Thổ Phồn (Tây Tạng), bắt phải cắt tóc đi tu. Còn hoàng hậu nhiếp chính được chào đón một cách đầy trân trọng trước khi bà lui về một tu viện Phật giáo, đó là lời chứng được kể lại của thương gia người Ý Marco Polo trong quyển sách có tựa đề « Livre des Merveilles (Marco Polo du ký) lúc ông đang phục vụ tại triều đình Hốt Tất Liệt.

Còn về tôn giáo, ngoài tín ngưỡng Shaman, ông còn thể hiện thái độ thân thiện bao dung đối với các giáo phái khác nhau. Là một nhà chính trị lỗi lạc, Hốt Tất Liệt hiểu rõ lợi thế của việc đặt giới tăng lữ dưới quyền kiểm soát của mình. Số lượng hiệp ước tương ứng với số lượng các tôn giáo được công nhận chính thức. Các tổ chức Phật giáo và Đạo giáo được tổ chức như cơ quan nhà nước. Tuy nhiên theo lời tường thuật của Marco Polo thì ông nghiên về Phật giáo nhất là Phật giáo Tây Tạng. Bởi vậy có sự lạm dụng, dung túng khiến tạo không ít sự bất mãn về sau cho triều đình nhà Nguyên-Mông. Phật giáo trong truyền thống Tây Tạng cũng theo gót quân Nguyên lui về thảo nguyên sa-mạc sau khi triều đại Nguyên Mông sụp đổ. Còn Công giáo Nestorus (Cánh Đông Kinh hay Cứu thế giáo) được bành trướng mạnh mẽ nhờ chính sách dung dưỡng tôn giáo và sự liên minh hôn nhân của Đế quốc Mông Cổ, đặc biệt dưới thời đại hưng thịnh của nhà Nguyên-Mông do Hốt Tất Liệt lập ra. Các bộ lạc du mục như Kereit (Khắc Liệt), Naiman, và Ongud đã tiếp nhận đạo Nestorus từ thế kỷ 11 và mang theo đức tin này khi phục vụ dưới trướng Đại Hãn. Đấy là trường hợp mẹ ông là công chúa Toa Lỗ Hốt Tha Ni (Sorghaghtani Beki), người có công không ít trong việc truyền bá đạo nầy.

Nhờ cuộc chinh phạt của người Mông Cổ, các tín đồ Kitô giáo mới có thể khởi hành đi từ Bắc Kinh để hành hương đến Jerusalem, đi theo lộ trình Con đường Tơ lụa cổ xưa, vốn đã bị đóng cửa từ thế kỷ 11 do sự bành trướng của Hồi giáo và cũng nhờ đó mà Marco Polo mới có thể đến Trung Hoa, mới gặp được Hốt Tất Liệt và được ông ủy thác các nhiệm vụ như sứ thần đặc mệnh ở các vùng đất xa xôi như Miến Điện, Ấn Độ, Tây Tạng và các tỉnh miền Nam Trung Hoa hay là Quan sát viên để về báo cáo với Đại Hãn những vùng được chinh phục.

Dựa trên lời tường thuật của Marco Polo thì thời đó có *Örtöö* hay còn gọi là *Yam*. Đây là một mạng lưới trạm cho phép truyền tải nhanh chóng thư từ và thông tin từ các trinh sát và gián điệp, đồng thời giúp giám sát sự an toàn của những nhân vật quan trọng khi họ di chuyển. Bộ luật nhà Nguyên hướng tới việc cải thiện đời sống của nô lệ, lao động nông nghiệp và tá điền làm việc tại các điền trang lớn. So với luật pháp thời Tống, bộ luật nhà Nguyên mang lại cho những tầng lớp thấp kém này sự bảo vệ tốt hơn trước các hành vi tùy tiện của chủ nhân; ngay từ giai đoạn đầu của triều đại, luật đã quy định hình phạt một trăm lẻ bảy gậy đối với bất kỳ địa chủ nào đánh chết những người này.

Sau khi làm chủ Trung Hoa, Hốt Tất Liệt đòi hỏi sự thần phục từ các quốc gia chư hầu ở Viễn Đông. Triều Tiên đã chấp nhận quyền thống trị của ông. Ngược lại các đạo quân mà Hốt Tất Liệt phái đi đánh Đại Việt và Chiêm Thành vào các năm 1283, 1285 và 1287 đã hoàn toàn thất bại vì không quen phong thổ và địa lợi nhất là Đại Việt có một nhà quân sự kiệt xuất Trần Hưng Đạo và một liên minh chính trị đặc biệt giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Tuy nhiên Đại Việt, Chiêm Thành cũng như Miến Điện cũng phải hoà hoãn cầu hoà và thừa nhận quyền bá chủ của nhà Hốt Tất Liệt. Cũng dưới thời ngự trị của Hốt Tất Liệt, Nhật Bản bị xâm lược hai lần vào các năm 1274 và 1281. Lần đầu một hạm đội gồm 900 tàu và gần 30.000 binh sĩ đã đổ bộ lên đảo Kyushu. Một cơn bão dữ dội đã phá hủy một số tàu và buộc quân Mông Cổ phải rút lui. Còn lần thứ nhì thì cùng
một hạm đội khổng lồ với hơn 140.000 binh sĩ. Các võ sĩ samurai đã kiên cường cố thủ suốt nhiều tuần lễ, trước khi một cơn bão lớn ập đến và phá hủy hạm đội của quân Mông Cổ.

Theo thương nhân Marco Polo, Hốt Tất Liệt rất xứng đáng làm hoàng đế nước Trung Hoa vì từ thời ông Adam đến giờ chưa có hoàng đế nào đóng vai nghiêm túc như ông để chữa lành những vết thương của một thế kỷ chiến tranh với số người chết quá cao. Nên nhớ lại, vào 1125 nước Trung Hoa có được 100 triệu dân nay chỉ còn 59 triêu dân.

Thành tựu vĩ đại nhất của Hốt Tất Liệt có lẽ không phải là việc trở thành người đầu tiên trong lịch sử chinh phục toàn bộ Trung Quốc, mà là việc bình định được vùng đất này.

Version française

Au XIIème  siècle, la Chine était partagée entre trois puissances majeures: les Song du Sud (Hans du sud, avec pour capitale Hangzhou), la dynastie Jin (Jurchens du nord de la Chine, avec pour capitale Pékin) et les Xia occidentaux (Tangoutes du nord-ouest, avec pour capitale Xingqing/Yinchuan). Déterminé à conquérir la Chine, Gengis Khan lança d’abord une campagne contre les Xia occidentaux.  Toutefois, il tomba malade et mourut, et son troisième fils, Ögedei, lui succéda pour devenir le deuxième Grand Khan de l’Empire mongol.

Après avoir conquis les Xia occidentaux, Ögedei mena son armée principale de Shanxi vers le Henan pour attaquer la province par le nord, tandis que son frère cadet Tolui frappa les arrières de la dynastie Jin en progressant vers l’ouest à travers le sud du Shaanxi. Cette stratégie permit d’encercler et d’anéantir la dynastie des Jin. Leur capitale, Kaifeng, fut prise par Subutai, et le souverain Jin se suicida pour échapper aux mauvais traitements des forces mongoles. En 1234, la Chine du Nord était passée sous la domination mongole.

Kubilaï Khan, petit-fils de Gengis Khan, fils de Tolui (le plus jeune fils de Gengis Khan) et frère de Houlagou et de Möngke, s’était vu confier par Möngke (le troisième Grand Khan) le commandement de la partie orientale de l’Empire mongol à partir de 1252. Après la mort de Möngke, Kubilaï fut proclamé Grand Khan (le 6 mai 1260), mais il dut faire face à la contestation de son frère cadet, Ariq Böke, qui ne se soumit qu’en 1264.

La conquête de la dynastie des Song du Sud fut une entreprise de longue haleine pour Kubilai Khan ; comme l’a souligné l’historien français René Grousset, les Mongols durent adopter un mode de guerre à la chinoise. Cela nécessitait d’importants effectifs d’infanterie dotés d’artillerie et d’engins de siège. Le territoire des Song du Sud était sillonné d’innombrables rivières et de montagnes escarpées, et parsemé de nombreux centres urbains, un environnement qui déconcertait les cavaliers des steppes, peu habitués à de telles conditions. Il fallut une décennie entière à Kubilai Khan pour vaincre la dynastie des Song et unifier la Chine. Après la reddition de la ville  Guangdong en 1260, Kubilai Khan transféra sa capitale à Pékin et fit bâtir une nouvelle ville nommée Khanbaliq (la « Ville du Khan »), les anciennes cités de Kaifeng et de Pékin ayant été entièrement détruites lors de l’invasion mongole.

Ces troupes étaient tristement célèbres pour leur brutalité et pour les destructions qu’elles semaient sur leur passage, sans réaliser que les terres qu’elles traversaient finiraient par leur appartenir. Elles se percevaient comme des nomades, réticentes à toute sédentarisation durable. Ce contexte met en lumière la tolérance et l’humanité remarquables dont fit preuve Kubilai Khan dans ses relations tant avec ses ennemis qu’avec les groupes religieux. Il interdit formellement à ses troupes mongoles de piller les foyers des populations chinoises.

Comme l’a souligné l’historien français René Grousset, cela marqua une étape décisive pour les Mongols depuis l’époque de Gengis Khan. En l’espace de deux générations seulement, ils étaient passés d’un état semi-barbare à un rang d’égalité avec des nations anciennes et civilisées. C’est précisément cette transformation qui lui permit de concrétiser le rêve de conquérir la Chine tout entière,  un exploit sans précédent pour des tribus nomades.

Dès lors, Kubilaï Khan devint le Fils du Ciel. Il gouverna depuis Pékin plutôt que depuis Karakorum, la capitale de l’Empire mongol — et, le fait notable, il  sinisa sa cour.  Cette attitude aliéna de nombreux Mongols, qui avaient le sentiment de perdre leur mode de vie traditionnel lié à la steppe. Par conséquent, bien qu’ils aient initialement soutenu son frère cadet Arikbögè, ils reportèrent leur allégeance sur son cousin Qaidu,  petit-fils d’Ögedei après la reddition d’Arikbögè.

À partir de 1267, Qaidu s’assura la maîtrise de toute la région du Turkestan, communément appelée le khanat de Djaghataï. Selon le récit du marchand célèbre Marco Polo, Kubilai Khan brisa l’alliance formée contre lui en 1287, bien qu’il ait fallu attendre l’époque de son petit-fils, le Grand Khan Temur, pour  terminer  la guerre contre Qaidu  (1301).

Après avoir conquis la dynastie des Song du Sud, Kubilai Khan traita avec humanité le jeune monarque captif, l’empereur Gong des Song, alors âgé de quatre ans. L’enfant empereur fut envoyé au Tibet et contraint de se raser la tête pour devenir moine. Parallèlement, l’impératrice régente fut accueillie avec un grand respect avant de se retirer dans un monastère bouddhiste.  Ce récit était consigné par le marchand italien Marco Polo dans son *Livre des merveilles* (ou *Devisement du monde*), alors qu’il était au service de la cour de Kubilai Khan.

En matière de religion, au-delà du chamanisme, il fit également preuve d’une attitude bienveillante et tolérante envers diverses confessions religieuses. Etant homme d’état brillant, Kubilaï Khan saisit parfaitement les avantages qu’il avait  en plaçant le clergé sous son contrôle. Le nombre de concordats correspondait au nombre de religions officiellement reconnues.

En matière de religion, au-delà du chamanisme, il fit également preuve d’une attitude bienveillante et tolérante envers diverses confessions religieuses. Etant homme d’état brillant, Kubilaï Khan saisit parfaitement les avantages qu’il y avait  en plaçant le clergé sous son contrôle. Le nombre de concordats correspondait au nombre de religions officiellement reconnues.

Les organisations bouddhistes et taoïstes étaient structurées de manière analogue aux institutions étatiques. Toutefois, les récits de Marco Polo laissent entrevoir une inclination particulière pour le bouddhisme, et plus précisément pour le bouddhisme tibétain. Cette situation donna lieu à des abus et à une certaine complaisance officielle, suscitant par la suite un vif ressentiment à l’encontre de la cour mongole des Yuan.

Après la chute de la dynastie mongole des Yuan, le bouddhisme tibétain se replia vers les steppes et les déserts, suivant le mouvement de retrait des forces mongoles. Parallèlement, le christianisme nestorien (ou Église de l’Orient) connut une expansion vigoureuse, favorisé par la politique de tolérance religieuse et les alliances matrimoniales de l’Empire mongol, notamment durant l’apogée de la dynastie mongole des Yuan fondée par Kubilai Khan.

Des tribus nomades telles que les Kéraïtes, les Naïmans et les Ongüts adoptèrent le christianisme nestorien dès le XIème siècle et propagèrent cette foi alors qu’elles servaient le Grand Khan. Ce fut notamment le cas de sa mère, la princesse Sorghaghtani Beki qui joua un rôle majeur dans la diffusion de cette religion.

Basé sur les récits de Marco Polo, l’*Örtöö* — également connu sous le nom de *Yam* — existait à cette époque. Il s’agit d’un réseau de relais permettant la transmission rapide de la correspondance et des informations provenant d’éclaireurs et d’espions, tout en contribuant à assurer la sécurité des personnalités importantes lors de leurs déplacements.

Le code juridique des Yuan visait à améliorer le sort des esclaves, des travailleurs agricoles et des métayers employés dans les grands domaines. Par rapport à la législation de la dynastie Song, le code des Yuan offrait à ces classes inférieures une meilleure protection contre l’arbitraire de leurs maîtres. Dès l’avènement de la dynastie, la loi prévoyait une peine de 107 coups de bâton pour tout propriétaire terrien ayant battu à mort de telles personnes.

Après avoir pris le contrôle de la Chine, Kubilai Khan exigea la soumission des États vassaux d’Extrême-Orient. La Corée accepta son autorité. En revanche, les armées que Kubilai Khan envoya  pour envahir le  Đại Việt et le Champa en 1283, 1285 et 1287 essuyèrent un échec cuisant et  total.  Ses troupes n’étaient pas habituées au climat et au terrain locaux. Le fait déterminant  est que  le  Đại Việt disposait d’un chef militaire exceptionnel en la personne de Trần  Hưng Đạo, ainsi que d’une alliance politique inédite avec le Champa. Néanmoins, le Đại Việt (Dai Yue), le Champa et la Birmanie finirent par être contraints de rechercher la paix et de reconnaître l’hégémonie de la dynastie de Kubilai Khan.

Sous le règne de Kubilai Khan, le Japon fut envahi à deux reprises, en 1274 et en 1281. Lors de la première invasion, une flotte de 900 navires transportant près de 30 000 soldats débarqua sur l’île de Kyushu.  Toutefois, une violente tempête détruisit une partie des navires et contraignit les forces mongoles à battre en retraite. La seconde invasion mobilisa une flotte encore plus imposante, forte de plus de 140 000 soldats. Les samouraïs opposèrent une résistance acharnée  durant plusieurs semaines avant qu’une puissante tempête se soit battu sur la flotte mongole et  l’ait  détruit.

Selon le marchand Marco Polo, Kubilaï Khan était véritablement digne d’être empereur de Chine . En effet, depuis l’époque d’Adam jusqu’à ce jour, aucun empereur ne s’était attaché avec autant de sérieux à guérir les plaies d’un siècle de guerres ayant coûté la vie à tant de personnes. Il  est convenu de rappeler qu’en 1125, la Chine eut 100 millions d’habitants, alors qu’aujourd’hui elle n’en compta que 59 millions.

Le plus grand accomplissement de Kubilai Khan n’est peut-être pas de devenir la première personne de l’histoire à conquérir la Chine tout entière, mais plutôt de la pacifier.

 

 

Bibliographie

Dynastie Shang (Nhà Ân-Thương)

 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

 

Do sự bất tài và nghịch đạo, vị vua cuối cùng của nhà Hạ, Hạ Kiệt, một kẻ cai trị cực kỳ tàn bạo, đã sống cuộc đời xa hoa và trụy lạc tột độ. Ông bị chỉ đạo bởi người thiếp tên là Muội Hỉ và  bị  chìm đắm lôi cuốn vào những thú vui quái đản, chẳng hạn như việc tạo ra một hồ chứa đầy rượu (Tửu trì). Những hành động này đã khơi dậy những cơn thịnh nộ của Trời, dẫn đến thiên tai và các cuộc nổi dậy dữ dội, buộc phải phế truất ông và trao lại thiên mệnh cho một trong những bề tôi xứng đáng nhất: vua Thành Thang (Tang le Victorieux). Câu chuyện này được ghi lại trong bộ « Sử ký » (*Shiji*) của Tư Mã Thiên, người thường được ví như « Herodote của Trung Hoa ». Ban đầu vốn là tên kinh đô tổ tiên của tộc người đã đánh bại nhà Hạ, « Thương » (Shang) trở thành về sau danh xưng chỉ tầng lớp các nhà cai trị kiêm pháp sư. Họ đã lãnh đạo một liên minh gồm nhiều bộ lạc. Những nhóm vẫn duy trì các truyền thống và phong tục riêng biệt – trong suốt hơn bảy thế kỷ.

Phải đến những năm 1950, các di chỉ có niên đại thuộc văn hóa Hạ và thời kỳ đầu nhà Thương mới được phát hiện. Một ví dụ điển hình là di chỉ Nhị Lý Cương (Erligang), nằm gần thành phố Trịnh Châu (tỉnh Hà Nam); nơi đây có các nền móng chôn sâu tới 20 mét và một vòng thành bằng đất nện trải dài 7 km, bao quanh các khu nhà ở, xưởng thủ công, xưởng đúc và khu mộ táng. Mặc dù di chỉ này thể hiện sự thịnh vượng và quy mô đồ sộ, các nhà khảo cổ học đã xác định nó chính là Ao (hay Xiao) – kinh đô thứ hai của nhà Thương. Các di chỉ khác được phát hiện sau đó tại Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, An Huy và Hồ Bắc cũng được xác định có mối liên hệ với di chỉ Nhị Lý Cương (Erligan) hoặc với phần chiếm đóng   thứ tư của di chỉ Nhị Lý Đầu (Erlitou).

Tóm lại, niên đại của nhà Thương có thể được chia thành hai giai đoạn: thời kỳ Nhị Lý Đầu (Erlitou) hay Trịnh Châu (1500–1300 TCN) và thời kỳ An Dương (Anyang) (1300–1050 TCN).

Bố cục của thành phố Trịnh Châu thời nhà Thương có nét tương đồng với thành phố An Dương, nơi vốn không có tường thành bao chung quanh. Trung tâm là khu vực cung điện (thường  diễn ra các hoạt động nghi lễ và hành chính) được bao chung quanh bởi các khu dân cư và khu vực dành cho thợ thủ công : từ trung tâm này, nơi đặt trụ sở của quyền lực chính trị và tôn giáo được thấy là nhiều khu phố nhỏ, mỗi khu đảm nhận một chức năng riêng biệt. Mô hình đô thị này phản ánh một xã hội có sự phân hóa giai cấp sâu sắc. Tầng lớp này được chia thành năm nhóm: nhà vua và giới quý tộc, quân đội, thợ thủ công, nông dân và nô lệ cùng người hầu. Giới quý tộc là tầng lớp xã hội được trọng vọng nhất và chịu trách nhiệm cai quản các vùng lãnh thổ hạn chế. Những người thợ đúc kim loại, đặc biệt là những người trực tiếp thực hiện công đoạn đúc, được có vị thế đặc biệt ưu tiên. Nhờ vận dụng trình độ kỹ thuật được đúc kết trong quy trình sản xuất phức tạp, họ sử dụng kỹ thuật luyện kim đồng để chế tác các vật phẩm và đồ đựng có hình dáng tinh xảo,  hoa văn phong phú, phục vụ cho các nghi lễ tôn giáo.

Những hiện vật này thường được tìm thấy cùng với các món đồ bằng ngọc trong các ngôi cổ mộ. Tuy nhiên, vào thời kỳ An Dương, các đồ tế khí này mang đặc điểm nổi bật là có hình chạm khắc các loài vật, những mặt nạ hình thú đối xứng và  mang vẻ kỳ ảo, cùng những dòng chữ ngắn ghi lại tên chủ sở hữu hoặc người được dâng tặng. Nhờ việc phát hiện một lượng lớn văn bản ghi chép (gần 200.000 hiện vật) mô tả chi tiết hoạt động của các pháp sư trong các nghi thức bói toán và tế lễ, chúng ta biết rằng đã có ba mươi vị vua nhà Thương trị vì, tuân theo các quy tắc kế vị phức tạp dựa chủ yếu vào quan hệ huyết thống trong dòng tộc cầm quyền. Dòng dõi hoàng gia bao gồm một tầng lớp giai cấp giao sĩ–pháp sư. Nhà vua cùng các thành viên trong dòng tộc nắm giữ quyền lực về chính trị, quân sự và tôn giáo. Họ sở hữu thẩm quyền được công nhận rộng rãi trong việc giao tiếp với tổ tiên và các vị thần linh thuộc thế giới tâm linh. Khả năng giao tiếp với các thực thể này đã mang lại cho nhà vua và dòng tộc của ông một vị thế mang tính thần thánh. Trong các nghi lễ, những người chủ trì thường dùng một số lượng lớn đồ uống có cồn. Việc này giúp họ rơi vào trạng thái xuất thần để liên lạc kết nối với với những người ở bên kia.

Bói bằng xương và bói bằng yếm rùa là những hoạt động thường nhật ở triều đình, do các pháp sư đảm nhiệm  mà những lời tiên tri của họ rất được trọng vọng. Thủ  tục lấy quyết định phức tạp này luôn được bắt đầu bằng một nghi thức bói toán tại triều đình. Sau khi đọc và giải thích các vết nứt cháy trên xương bò và mai rùa, có hình chữ T tượng trưng cho lời tiên tri của tổ tiên được nhà vua truyền lại, các thư lại mới bắt đầu ghi chép lại ngày tháng, tên của thầy bói và đối tượng của việc bói toán.

Chính nhờ việc phát hiện và giải mã các mảnh xương và mai rùa dùng trong bói toán (có hơn 80.000 hiện vật), được khai quật qua nhiều đợt tại Tiểu Đồn (gần An Dương) vào cuối thế kỷ 19 mà các nhà khảo cổ đã có thể tái dựng phả hệ của triều đại này, đồng thời hiểu rõ hơn về tín ngưỡng thờ cúng các vị thần tự nhiên, tục thờ tổ tiên, các vị thần sinh sôi nảy nở.

Một số văn khắc ghi lại tên các bộ lạc sống chung quanh nhà Thương. Những tư liệu này cho thấy dưới thời trị vì của Vũ Đinh, các tộc người Tufang, Erbo và Yerbo sinh sống ở phía bắc và phía đông của vương quốc Ân Thương. Quân đội của Vũ Đinh cũng đã giao tranh với các bộ lạc khác, bao gồm có  các  bộ lạc Bafang và Chifang. Vũ Đinh là ông vua thứ 22 của nhà Thương có tư duy muốn chấn hưng nhà Thương nên ông đã tiến hành một loạt cuộc chiến tranh chống lại các nước vốn thường xuyên quấy nhiễu nhà Thương, đồng thời cũng thực hiện các cuộc viễn chinh về phía nam.

Triều đại của Vũ Đinh  gắn liền với hai sự kiện quan trọng: việc phát hiện ra khu mộ của Vương hậu và nữ tướng chỉ huy quân đội Phụ Hảo (Fu Hao), và cuộc xung đột quân sự giữa quân đội của ông với các bộ tộc Việt, một sự kiện được nhắc đến trong truyền thuyết Thánh Gióng của nước Văn Lang chúng ta. Như vậy có sự tiếp xúc giữa nước Văn Lang với văn hóa Ân Thương phải chăng đã nói lên cái lõi sự thật của truyền thuyết nhất là tìm được một số nhà chương không ít ở hai làng cổ Phùng Nguyên và Xóm Rền, hai nơi  nầy là di chỉ của văn hóa Phùng Nguyên.

Từ việc phát hiện ra lăng mộ của Phụ Hảo (Fu Hao) rằng, với tư cách là một tướng lĩnh quân sự, bà đã sử dụng loại xe ngựa hai bánh, vốn được tiếp thu từ các láng giềng vùng thảo nguyên, không chỉ xem như một vũ khí mang tính quyết định trong chiến lược quân sự mà còn như là một biểu tượng cho quyền lực của nhà Thương. Thời nhà Thương được xem là giai đoạn then chốt với những tiến bộ công nghệ vượt bậc. Bên cạnh kỹ thuật đúc đồng, các thành tựu còn bao gồm những công trình thủy lợi và sự ra đời của hệ thống chữ viết được tạo ra nhằm mục đích giao tiếp với thế giới tâm linh.  Các cuộc khai quật diễn ra từ thập niên 1970 đến 1990 đã làm sáng tỏ hơn nữa tầm ảnh hưởng văn hóa của nhà Thương. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ học cũng vô cùng kinh ngạc khi phát hiện ra những trung tâm văn minh độc đáo khác cùng thời với nhà Thương nhưng lại hoàn toàn không được nhắc đến trong các thư tịch cổ Trung Hoa. Điển hình là di chỉ Tam Tinh Đôi (Sanxingdui) tại Tứ Xuyên, nơi các nghi thức tế lễ khác biệt rõ rệt so với nhà Thương và di chỉ Ngô Thành (Wucheng) ở tỉnh Giang Tây. 

Theo sử chép thời đó có tới ngàn chư hầu, có lẽ chỉ có một số ít ở gần kinh đô mới trực thuộc nhà Thương, còn ở xa kinh đô thì là những bộ lạc tương đối độc lập. Đó là nguồn gốc của chế độ phong kiến phân quyền sẽ thấy phát triển ở đầu nhà Châu rồi suy tàn ở cuối thời đó.

À cause de l’incompétence et l’impiété du dernier souverain de la dynastie des Xia,  le souverain d’une extrême cruauté, Jie Gui (Hạ Kiệt) de la dynastie Xia,  a mené une vie de luxe excessif et de débauche,.  Il a été  dominé  par sa  concubine (Muội Hỉ) dans les jeux de distraction extrêmement bizarres. C’est le cas  du lac rempli de vin (Tửu trì) par exemple. Cela aurait provoqué la colère du Ciel  avec les calamités et les révoltes si violentes qu’il s’avéra nécessaire de le destituer et de confier la mission divine à l’un de ses vassaux les plus méritants, Tang le Victorieux (Thành Thang). C’est ce qu’a évoqué dans ses mémoires historiques (Shiji) Hérodote chinois Sima Qian.

Etant  désigné la capitale ancestrale de la population ayant défait les Xia, le nom Shang est utilisé ensuite pour désigner la caste des chamans-souverains qui durant plus de 7 siècles  régna sur une sorte de  confédération de groupes tribaux, chacun conservant ses traditions et ses coutumes.

C’est seulement à partir des années 1950 qu’on découvrit les sites remontant à la culture Xia et à la première partie de la dynastie Shang. C’est le cas du site d’Erligan découvert près de la ville Zhenzhou (Henan) (Trịnh Châu, Hà Nam)  avec des fondations enfouies jusqu’à 20 mètres de profondeur, une enceinte en terre battue s’étendant sur 7 kilomètres à l’intérieur de laquelle se trouvaient des habitations, des ateliers d’artisans, des fonderies et des sépultures. Malgré la richesse manifeste et l’aspect grandiose de ce site, les archéologues l’identifièrent  avec Ao ou Xiao la deuxième capitale des  capitales des Shang.  D’autres sites découverts entre-temps dans le Shanxi, le Shandong, le Hebei, l’Anhui et le Hubei furent rattachés aussi au site d’Erligan ou au quatrième niveau d’occupation du site d’Erlitou.

Bref, la chronologie de la dynastie Shang peut être divisée en deux phases : la période d’Erlitou ou de Zhengzhou (1500-1300 avant J.C.) et la période d’Anyang (1300-1050 avant J.C.). La structure de la cité Shang de Zhengzhou était plus proche de celle d’Anyang qui n’avait pas la mur d’enceinte avec un noyau formé de la zone des palais, siège des activités rituelles et administratives et entouré de quartiers résidentiels et artisanaux: à partir du centre, où résidait le représentant du pouvoir politique et religieux, on trouvait une multitude de petits quartiers ayant chacun une fonction particulière. Ce type de ville correspond à une société fortement hiérarchisée. Celle-ci est répartie en cinq catégories: le roi et l’aristocratie, les militaires, les artisans,  les paysans  et les esclaves et les serviteurs. Les membres de l’aristocratie constituaient la classe sociale la plus respectée et étaient chargés de gouverner des régions plus restreintes du territoire. Les artisans fondeurs étaient de part de leur production, étaient les plus privilégiés de la capitale. Grâce aux connaissances techniques élaborées dans un cycle de la production complexe,  ils se servaient de la  métallurgie du bronze  dans la fabrication des objets et des vases aux formes compliquées et richement décorés et destinés aux cérémonies religieuses. 

On les trouve souvent aux côtés des pièces de jade dans le mobilier funéraire des sépultures. Par contre dans la période d’Anyang, ces vases rituels se caractérisent par la présence des figures animales, des taotie (masques animaliers fantastiques et symétriques),  des courtes inscriptions relatant le nom du propriétaire ou celui du destinataire.  Grâce à la  mise au jour d’une masse considérable de documents écrits (près de 200000) sur les détails des activités des chamans dans les rites divinatoires et les cérémonies rituelles, on sait qu’il y avait 30 souverains Shang sur le trône, conformément  aux règles de succession assez complexes fondées essentiellement sur les rapports de parenté à l’intérieur du clan dominant. La lignée royale était constituée d’une caste de prêtres-chamans. Le roi et les membres de son clan détenaient le pouvoir politique, militaire et religieux. Ils avaient l’autorité reconnue par tous, de communiquer avec les ancêtres et les divinités de l’au-delà. Leur capacité de dialoguer avec ces dernières conféraient au roi et son lignage un caractère divin. Lors des rituels, les officiants consommaient beaucoup de boissons alcooliques. Cela leur permit d’être à l’état de transe et entrer en contact avec les gens de l’au-delà.

 La spatulomancie et la plastromancie y étaient les pratiques quotidiennes  effectuées par les chamans dont les prédictions étaient tenues en haute estime. La procédure complexe  de décision était précédée par un rite divinatoire à la cour. Après la lecture et l’interprétation des craquelures brûlées sur les omoplates de bétail et plastrons de tortue,  en forme de T matérialisant la parole des ancêtres royaux par le roi, les scribes commençaient à les noter en mentionnant la date, le nom du devin et l’objet de la divination.

C’est grâce à la découverte et le décryptage des os et des écailles de tortues divinatoires (plus de 80000 exemplaires)  lors des fouilles ayant eu lieu  successivement à la fin du 19ème siècle à Xiaotun (proche d’Anyang)  que les archéologues réussirent à connaître la généalogie de la dynastie, l’adoration d’un grand nombre d’esprits de la nature, la vénération de ses ancêtres, les dieux de fertilité.

Certaines inscriptions contenaient les noms des tribus entourant l’état Shang. On apprend qu’à l’époque de Wuding, les Tufang (Thổ Phương), les Erbo et les Yerbo vivaient  au nord et à l’est du royaume Shang. Les armées de Wuding affrontèrent d’autres tribus parmi lesquelles se trouvaient les Bafang et les Chifang. Wu Ding (Vũ Đinh), le vingt-deuxième roi de la dynastie Yin- Shang (Ân-Thương), chercha à redynamiser la dynastie. Il mena par conséquent une série de guerres contre ces tribus qui harcelaient fréquemment le territoire Shang et entreprit également des expéditions militaires vers le sud.

L’époque de Wuding s’illustre par deux faits importants : l’un lié à la découverte de la tombe de sa concubine et cheffe militaire Fu Hao (Phụ Hảo) connue   pour avoir remporté des victoires militaires contre les tribus Yi (Tộc Yi), Ba (Tộc Ba), Qiang (Tộc khương) et les grands ennemis Tufang, (Thổ Phương) l’autre l’affrontement militaire entre son armée et les tribus Yue, évoqué dans la légende vietnamienne du Saint Gióng (Thánh Gióng). Ainsi, le contact entre le royaume  de Văn Lang et la culture de Yin-Shang pourrait bien révéler la part de vérité contenue dans la légende  surtout si l’on considère la découverte d’un nombre important de « zhang» (lames cérémonielles en jade) dans les anciens villages de Phùng Nguyên et de Xóm Rền, deux sites associés à la culture Phùng Nguyên.

Lors de la découverte de la tombe de Fu Hao, on s’aperçut qu’en tant que commandante militaire,  elle a utilisé le char à deux roues emprunté  aux voisins des steppes et tiré par des chevaux, non seulement comme l’arme décisive dans les stratégies de son armée mais aussi comme l’un des instruments de la puissance des Shang. La période Shang était considérée comme l’époque charnière de rapide progrès technologique. Outre le moulage du bronze, il y avait les travaux d’irrigation, l’invention de la langue écrite destinée à la communication avec le monde spirituel. Dans les années 1970-1990, la multiplication des fouilles a révélé leur rayonnement culturel. Malgré cela, la surprise des archéologues était de taille avec la découverte d’autres foyers de civilisation contemporains des Shang, ignorés par les textes chinois et très originaux. C’est le cas de Sanxingdui  dans le bassin de Sichuan où les pratiques rituelles étaient très différentes de celles des Shang ou celui de Wucheng dans Jianxi (Giang Tây).

D’après les sources historiques chinoises, il existait alors un millier d’états vassaux à  l’époque Shang. Toutefois, seule une poignée d’entre eux,  situés à proximité de la capitale, étaient directement soumis à la dynastie Shang, tandis que les états les plus éloignés constituaient des tribus relativement indépendantes. Cette situation a jeté les bases du système féodal décentralisé qui allait prospérer au début de la dynastie Zhou avant de décliner finalement vers la fin de celle-ci.

Because of the incompetence and impiety of the last sovereign of the Xia dynasty, the extremely cruel ruler Jie Gui (Hạ Kiệt) of the Xia dynasty led a life of excessive luxury and debauchery. He was dominated by his concubine (Muội Hỉ) in extremely bizarre entertainment games. This is the case of the lake filled with wine (Tửu trì), for example. This is said to have provoked Heaven’s wrath with such violent calamities and revolts that it became necessary to depose him and entrust the divine mission to one of his most deserving vassals, Tang the Victorious (Thành Thang). This is what was mentioned in his historical memoirs (Shiji) by the Chinese Herodotus Sima Qian.
Having been designated as the ancestral capital of the people who defeated the Xia, the name Shang was subsequently used to refer to the caste of shaman-sovereigns who for more than 7 centuries ruled over a sort of confederation of tribal groups, each preserving its own traditions and customs.It was only from the 1950s onwards that sites dating back to the Xia culture and the first part of the Shang dynasty were discovered. This is the case of the Erligan site discovered near the city of Zhenzhou (Henan) (Trịnh Châu, Hà Nam), with foundations buried up to 20 meters deep, a rammed-earth enclosure extending over 7 kilometers, inside which were dwellings, artisans’ workshops, foundries, and burial sites. Despite the evident wealth and grandiose appearance of this site, archaeologists identified it with Ao or Xiao, the second capital of the Shang capitals. Other sites discovered in the meantime in Shanxi, Shandong, Hebei, Anhui, and Hubei were also linked to the Erligan site or to the fourth level of occupation of the Erlitou site.

In short, the chronology of the Shang dynasty can be divided into two phases: the Erlitou or Zhengzhou period (1500–1300 BC) and the Anyang period (1300–1050 BC). The structure of the Shang city of Zhengzhou was closer to that of Anyang, which did not have a surrounding wall, with a core formed by the palace area, the seat of ritual and administrative activities, and surrounded by residential and craft districts: starting from the center, where the representative of political and religious power resided, there was a multitude of small quarters each with a particular function. This type of city corresponds to a highly hierarchical society. This society is divided into five categories: the king and the aristocracy, the military, the artisans, the peasants, and the slaves and servants.The members of the aristocracy constituted the most respected social class and were responsible for governing more limited regions of the territory. The founder artisans, by virtue of their production, were the most privileged in the capital. Thanks to the technical knowledge developed within a complex production cycle, they used bronze metallurgy in the manufacture of objects and vases with complicated forms, richly decorated and intended for religious ceremonies.

They are often found alongside jade pieces in the funerary furnishings of tombs. By contrast, in the Anyang period, these ritual vases are characterized by the presence of animal figures, taotie (fantastic and symmetrical animal masks), and short inscriptions relating the name of the owner or that of the recipient. Thanks to the uncovering of a considerable mass of written documents (nearly 200,000) detailing the activities of shamans in divinatory rites and ritual ceremonies, it is known that there were 30 Shang sovereigns on the throne, in accordance with rather complex rules of succession based essentially on kinship relations within the dominant clan. The royal lineage was made up of a caste of priest-shamans. The king and the members of his clan held political, military, and religious power. They had the authority, recognized by all, to communicate with the ancestors and the deities of the beyond.

Their ability to converse with these beings conferred a divine character upon the king and his lineage. During rituals, the officiants consumed large quantities of alcoholic drinks. This allowed them to enter a state of trance and come into contact with people from the beyond.
Spatulomancy and plastromancy were daily practices carried out by shamans whose predictions were held in high esteem. The complex decision-making procedure was preceded by a divinatory rite at court. After reading and interpreting the burnt cracks on the cattle shoulder blades and turtle plastrons, in the shape of a T materializing the words of the royal ancestors through the king, the scribes began to note them down, mentioning the date, the name of the diviner, and the object of the divination.

It was thanks to the discovery and deciphering of the divinatory bones and turtle shells (more than 80,000 specimens) during excavations carried out successively at the end of the 19th century at Xiaotun (near Anyang) that archaeologists succeeded in learning the genealogy of the dynasty, the worship of a great number of nature spirits, the veneration of its ancestors, and the gods of fertility.Some inscriptions contained the names of the tribes surrounding the Shang state. It is learned that in the time of Wuding, the Tufang (Thổ Phương), the Erbo and the Yerbo lived to the north and east of the Shang kingdom. Wuding’s armies confronted other tribes among which were the Bafang and the Chifang. Wu Ding (Vũ Đinh), the twenty‑second king of the Yin‑Shang (Ân‑Thương) dynasty, sought to revitalize the dynasty. He therefore led a series of wars against these tribes that frequently harassed Shang territory and also undertook military expeditions to the south. 

The era of Wuding is marked by two important events: one linked to the discovery of the tomb of his concubine and military commander Fu Hao (Phụ Hảo), known for having won military victories against the Yi tribes (Tộc Yi), Ba (Tộc Ba), Qiang (Tộc Khương) and the great enemies Tufang (Thổ Phương); the other, the military confrontation between his army and the Yue tribes, mentioned in the Vietnamese legend of Saint Gióng (Thánh Gióng). Thus, contact between the kingdom of Văn Lang and the Yin-Shang culture could well reveal the element of truth contained in the legend, especially if one considers the discovery of a significant number of “zhang” (ceremonial jade blades) in the ancient villages of Phùng Nguyên and Xóm Rền, two sites associated with the Phùng Nguyên culture.

During the discovery of Fu Hao’s tomb, it was noticed that, as a military commander, she used the two-wheeled chariot borrowed from the neighboring steppe peoples and drawn by horses, not only as the decisive weapon in her army’s strategies but also as one of the instruments of Shang power. The Shang period was considered a pivotal era of rapid technological progress. In addition to bronze casting, there were irrigation works and the invention of a written language intended for communication with the spiritual world. In the years 1970–1990, the increase in excavations revealed their cultural influence. Despite this, archaeologists were greatly surprised by the discovery of other centers of civilization contemporary with the Shang, unknown in Chinese texts and highly original. This is the case of Sanxingdui in the Sichuan basin, where ritual practices were very different from those of the Shang, or that of Wucheng in Jianxi (Giang Tây). 

According to Chinese historical sources, there were then a thousand vassal states during the Shang period. However, only a handful of them, located near the capital, were directly subject to the Shang dynasty, while the more distant states were relatively independent tribes. This situation laid the foundations for the decentralized feudal system that would flourish at the beginning of the Zhou dynasty before eventually declining towards its end.

 

 

Galerie des photos

Bibliographie

Maurizio Scarpari :  Chine ancienne. Des origines à la dynastie Tang . Edition Gründ.
Corinne Debaine-Francfort : La redécouverte de la Chine ancienne. Edition Découvertes Gallimard Archéologie 1998.
Victor Sit : Xia Dynasty: Civilisation in the Early Bronze Age. Xia dynasty set the foundation for China’s civilization.
Martine Leyris:  La Chine du Dragon Impérial. Editions Robert Laffont.1982
Philippe Conrad: La Chine des premiers empereurs. Edition Atlas 1991.
Gildo. Fossati : Merveilles du monde: Chine. Editions Fernand Nathan.
Christian Deydier: Les os divinatoires d’époque Shang au Musée de Mariemont. 1974, vol. 5, pp :6-19

La Dynastie Xia (Nhà Hạ)


La Dynastie Xia (Nhà Hạ)

Version française
Version anglaise

Nhờ sự hỗ trợ của khoa học công nghệ hiện đại, sự lan rộng của nền văn minh Lương Chử cũng đã được xác nhận bởi khảo cổ học địa chất. Sự sụp đổ của nền văn hóa Lương Chử và các nền văn hóa thời kỳ đồ đá mới khác ở hạ lưu sông Dương Tử như Thạch Gia Hà là do biến đổi khí hậu và lũ lụt liên tục, buộc cư dân phải di cư. Nhiều vùng cao nguyên nội địa Trung Quốc vẫn còn tồn tại, rất thích hợp cho việc di cư nội địa của người dân khi mực nước biển dâng cao. Do đó, số lượng người sống sót sau thảm họa này vẫn còn khá lớn. Xét về địa hình sau trận biển động, một bộ phận dân cư Lương Chử đã di chuyển về phía bắc đến khu vực Nhị Lý Đầu thuộc quận Yển Sư (Hà Nam) bằng đường bộ hay bắng đường thủy với thuyền hay xuồng độc mộc được chế tạo từ  những khối gỗ lớn. Vào thời điểm này, nền văn hóa Nhị Lý Đầu  (Erlitou) đã đạt đến một quy mô nhất định với triều đại nhà Hạ. 

Đây cũng là triều đại đầu tiên được đề cập khá chi tiết trong các thư tịch cổ còn lưu truyền. Danh sách các vị vua nhà Hạ đã được ghi lại trong « Trúc thư kỷ niên » (Bamboo Annals) và « Sử ký » của Tư Mã Thiên. Có một thời, nhà Hạ và nhà Thương đều từng bị đặt dấu hỏi.  Nhưng nhờ việc phát hiện và giải mã thành công các văn tự trên giáp cốt (xương và mai rùa) trong giai đoạn 1930-1950 mà người ta mới biết rõ chi tiết về xã hội và các sự kiện quốc gia thời Thương nên tính xác thực của danh sách nhà Thương  trong sử ký không còn là môt nghi vấn nữa. Ngược lại ngoại trừ một vài ký tự tượng hình đơn lẻ khắc trên các bình đựng rượu bằng gốm người ta vẫn chưa tìm thấy bất kỳ dạng văn tự nào của thời Hạ. Vì vậy nhiều học giả phương Tây vẫn coi nhà Hạ là triều đại mang tính huyền thoại. Cũng dưới triều đại nhà Hạ nầy  chế độ nhường ngôi cho người hiền tài không còn nữa. Sự kiện này đã mở ra kỷ nguyên thể thức cai trị « cha truyền con nối » tại Trung Quốc.

Triều đại đầu tiên của Trung Quốc rất có  khả năng bắt nguồn từ một sự kiện thiên nhiên có thật trong lịch sử. Việc phát hiện các di cốt người gắn liền với thảm họa lớn này, kết hợp với phương pháp định tuổi bằng đồng vị phóng xạ (14C) và dữ liệu địa tầng, đã cho phép xác định thời điểm xảy ra sự kiện là năm 1920 TCN, qua đó giúp  sự dung hòa niên đại lịch sử và khảo cổ học. Trận lụt này cho thấy triều đại vốn được xem là huyền thoại cùng thời cai trị của vua  Đại Vũ, đã bắt đầu sớm hơn từ hai đến ba thế kỷ so với mốc thời gian 2200 TCN thường được chấp nhận trước đây. « Nếu trận đại hồng thủy này thực sự xảy ra, thì nhiều khả năng triều đại nhà Hạ đã thực sự tồn tại, » David Cohen thuộc Khoa Nhân học, Đại học Quốc gia Đài Loan tại Đài Bắc, một trong những tác giả của bài báo đăng trên tạp chí « Science (Khoa học)» (ngày 11 tháng 8 năm 2016), cho biết trong một cuộc phỏng vấn.

Lãnh địa trực thuộc nhà vua là môt « siêu quốc gia » và là trung tâm của đế chế. Nhà vua đóng vai trò là chúa tể hoặc người đứng đầu danh nghĩa của tất cả các quốc gia trong thế giới Trung Hoa. Các chư hầu và lãnh địa phong kiến ​​có nghĩa vụ cống nạp cho nhà vua và phải chầu tại triều đình khi được triệu tập. Nhà vua thực thi công lý thay mặt cho Trời (« thế Thiên hành đạo« ) và trừng phạt những kẻ bất tuân. Các chư hầu và lãnh địa này không có chủ quyền trọn vẹn. Một số người đứng đầu các lãnh địa này từng giữ chức vụ trong triều đình nhà vua. Thí dụ lãnh chúa Tiết (Xue) từng giữ chức Xa chính (phụ trách xe cộ), còn lãnh chúa Thương (Shang) từng giữ chức Tư thổ (phụ trách đất đai) và Tư thủy (phụ trách thủy lợi). Tuy nhiên, các thực thể chính trị này không thuộc quyền sở hữu của nhà Hạ, cũng không phải là chính quyền địa phương của nhà Hạ. Họ có quân đội riêng và quyền tự chủ trong các vấn đề kinh tế – xã hội, nghĩa là họ đại diện cho các nền văn hóa khác biệt cùng tồn tại song song với văn hóa Hạ. Bởi vậy qua các nghiên cứu khảo cổ  thì thấy có  sự đồng nhất đáng kể trong các di chỉ thuộc văn hóa Nhị Lý Đầu (Erlitou). Nó được phổ biến  rộng rãi trên một vùng lãnh thổ lớn, nơi từng tồn tại sáu nền văn hóa khác nhau trong thời kỳ văn hóa Long Sơn (Long Shan).

Nền văn hóa này được đặt tên theo một di chỉ được phát hiện tại thôn Nhị Lý Đầu thuộc quận Yến Sư , tỉnh Hà Nam, phổ biến rộng rãi trên địa bàn nay thuộc hai tỉnh Hà Nam và Sơn Tây, và sau đó lan đến các vùng nay thuộc các tỉnh Thiểm Tây và Hồ Bắc.  Dù Nhị Lý Đầu phát triển nhanh chóng nhưng nó chỉ trở thành một trung tâm khu vực, xong chưa phải là nền văn minh đô thị. Văn hóa Nhị Lý Đầu thuộc về Triều Hạ. Triều đại nầy tổng cộng truyền được 14 đời với 17 vua, kế tục trong khoảng 471 năm, bị triều Thương tiêu diệt 1751  trước Công Nguyên. Triều Hạ được xem là vương triều đầu tiên theo lịch sử truyền thống Trung Quốc, có địa vị lịch sử đáng kể. Vua Đại Vũ là vị vua đầu tiên của nhà Hạ. Sử gia Tư Mã Thiên có nhắc đến vị vua  nầy  trong sử ký. Ông có công trị thủy để ổn định cuộc sống và  phát triển việc cày cấy.  Khác với cha mình là Gun (Cổn), ông cố gắng bảo vệ Trung Quốc khỏi lũ lụt bằng cách xây dựng các con đê. Vũ không tìm cách giam giữ nước mà ông đã bố trí các đường thoát nước nhằm giảm thiểu tình trạng tràn bờ. Từ các kênh đào, một hệ thống tưới tiêu đã được thiết lập để thúc đẩy việc bón màu cho đất đai. Ông được vua Thuấn nhường ngôi lại lập ra nhà Hạ  (2255 TCN – 1751 TCN)  lúc mà văn hóa Lương Chử đã biến mất. Người Hán đời sau thường tự xưng là « Hoa Hạ » và  từ  nầy trở thành danh từ đại diện cho Trung Quốc.

Trong văn hóa Lý Nhị Đầu, gỗ được sử dụng rộng rãi trong việc xây dựng các cung điện. Việc lựa chọn vật liệu này nhằm mục đích  phô trương uy tín của tầng lớp thống trị dựa trên sức mạnh và sự đoàn kết của thị tộc. Vì vậy  nên không có những công trình đồ sộ mang tính chất phù du. Sự phân hóa xã hội cũng được thể hiện rõ nét qua các loại hình nhà ở và sự đa dạng của đồ tùy táng. Các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều hiện vật quan trọng tại các di chỉ có niên đại từ thời nhà Hạ. Những phát hiện này bao gồm đồ gốm có khắc các ký hiệu cho thấy sự phát triển nhất định của chữ viết, các món đồ ngọc quý dùng trong nghi lễ, cùng những vật dụng bằng đồng có kỹ thuật chế tác ở mức khiêm tốn chẳng hạn như lưỡi câu, dùi, đầu mũi tên, vũ khí có lưỡi sắc và các vật dụng tương tự. Chính ở di chỉ Nhị Lý Đầu vào năm 1973, bốn chiếc bình đồng đầu tiên, có niên đại khoảng năm 1600, được tìm thấy: đó là bốn chiếc cốc hay tước « jue » ba chân với hình dáng góc cạnh cùng thân cốc mỏng manh  và không có trang trí.

Mặc dù có vẻ ngoài hơi thô sơ, những chiếc bình nhỏ này thể hiện đầy đủ các đặc điểm riêng biệt của ngành luyện kim Trung Hoa, đặc biệt là kỹ thuật đúc ngược trong các khuôn đất sét phân đoạn. Hình dáng của chúng báo hiệu sự phát triển sau này của một nghệ thuật mang tính chuyên biệt và được quy chuẩn ở mức độ cao thông qua chất liệu đồng. Nghệ thuật này từ đó trở thành một phương thức biểu đạt ưu tiên và được trân trọng bởi một tầng lớp tinh hoa hạn chế (giai cấp các thầy tế–pháp sư) trong một xã hội ngày càng có tính thứ bậc.

Các hiện vật bằng đồng thời Nhị Lý Đầu (Erlitou) hầu như hoàn toàn không có hoa văn trang trí. Chúng được chế tác bằng phương pháp đúc thay vì gò (nện búa), mô phỏng hình dáng của các loại đồ gốm. Các hiện vật này được đúc thành từng phần riêng biệt bằng khuôn đất sét. Việc sản xuất đồ đồng đúc đòi hỏi người thợ phải có lò nung nhiệt độ cao và nguồn kim loại nguyên liệu dồi dào. Là những cổ vật lâu đời nhất từng được phát hiện tại Trung Quốc, các hiện vật bằng đồng này cho phép xác định chính xác thời điểm khởi đầu của Thời đại Đồ đồng gắn liền với văn hóa Nhị Lý Đầu (Erlitou). Giai đoạn này nổi bật với những bước tiến vượt bậc về công nghệ, đồng thời đánh dấu quá trình chuyển đổi liên tục từ thời kỳ Đồ đá mới sang thời kỳ Đồ đồng trong khuôn khổ văn hóa Nhị Lý Đầu. Do đó, dựa trên những hiểu biết hiện tại về sự phát triển của kỹ thuật luyện kim ở Trung Quốc, có thể coi Thời đại Đồ đồng của Trung Quốc tương ứng với thời kỳ Tam Đại (các triều đại Hạ, Thương và Chu) trong lịch sử nước này.

Grâce au soutien de la science et de la technologie moderne, la diffusion de la civilisation Liangzhu a également été confirmée par la géo-archéologie. L’effondrement de la culture Liangzhu et d’autres cultures néolithiques dans la région inférieure du fleuve Yangtsé comme celle de Shijiahé est dû au changement climatique et aux inondations continues, forçant  ainsi les habitants à fuir. De nombreuses zones de plateau à l’intérieur de la Chine continentale sont restées intactes, ce qui favorisait la migration interne des populations lorsque le niveau de la mer s’est élevé. Par conséquent, le nombre de survivants après cette catastrophe était encore assez important. En tenant compte de la réalité du terrain après l’inondation, une partie de la population de Liangzhou a migré vers le nord, vers la région d’Erlitou. À cette époque, la culture Erlitou avait déjà atteint une certaine envergure avec la dynastie Xia.

C’est également la première dynastie dont les détails sont assez précisément mentionnés dans les anciens documents encore conservés. La liste des rois de la dynastie Xia a été enregistrée dans les « Annales de bambou » et dans les « Shiji » (Mémoires historiques) de l’historien chinois Sima Qian. Il fut un temps où les dynasties Xia et Shang étaient toutes deux remises en question. Mais grâce à la découverte et au déchiffrement réussi des inscriptions sur les os et  les plastrons de tortue entre les années 1930 et 1950, on a pu connaître en détail la société et les événements nationaux de l’époque Shang, ce qui a levé tout doute sur l’authenticité de la liste des rois Shang dans les annales historiques. En revanche, à l’exception de quelques caractères hiéroglyphiques isolés gravés sur des vases à vin en céramique, aucun type d’écriture datant de l’époque Xia n’a encore été retrouvé. C’est pourquoi de nombreux chercheurs occidentaux considèrent encore la dynastie Xia comme légendaire. C’est également sous la dynastie Xia que le système de transmission du pouvoir aux personnes vertueuses a pris fin. Cet événement a inauguré une ère de pouvoir héréditaire en Chine.

La première dynastie chinoise trouve probablement son origine dans un événement naturel historique avéré. La découverte de restes humains liés à cette catastrophe majeure et leurs datations radiocarbones 14C, associés aux données stratigraphiques ont permis d’en fixer la date à 1920 avant notre ère, réconciliant ainsi chronologies historiques et archéologiques. Ce déluge ferait débuter cette dynastie mythique, et le règne de l’empereur Yu, deux à trois siècles avant la date traditionnellement retenue de 2200 avant notre ère. « Si cette grande crue s’est véritablement produite, il est probable que la dynastie Xia a réellement existé », a déclaré lors d’une interview David Cohen, du département d’anthropologie de l’Université nationale de Taïwan, à Taipeh, un des cosignataires de l’article publié dans Science (11 août 2016).

Le territoire directement soumis au roi était une  entité supranationale et le centre de l’Empire. Le roi jouait le rôle de seigneur ou de chef nominal de tous les pays du monde chinois. Les vassaux et fiefs féodaux avaient l’obligation de verser un tribut au roi et devaient se présenter à la cour lorsqu’ils y  étaient convoqués. Le roi rendait  la justice au nom du Ciel (« Thế Thiên Hành Đạo ») et punit les récalcitrants. Ces vassaux et territoires ne jouissaient pas d’une pleine souveraineté. Certains dirigeants de ces territoires avaient autrefois occupé des fonctions à la cour du roi. Par exemple, le seigneur Tiết (Xue) a été chargé de la fonction de chef des chars (responsable des véhicules), tandis que le seigneur Thương (Shang) a exercé la fonction de responsable des terres (Tư thổ) et de responsable de l’irrigation (Tư thủy). Cependant, ces entités politiques n’étaient pas la propriété de la dynastie Xia, ni des autorités locales de la dynastie Xia. Elles disposaient de leurs propres armées et d’une autonomie dans les affaires économiques et sociales, ce qui signifie qu’elles représentaient des cultures distinctes coexistant parallèlement à la culture Xia. C’est pourquoi, à travers les recherches archéologiques, on observe une homogénéité notable dans les sites relevant de la culture d’Erlitou (Nhị Lý Đầu). Elle s’est largement diffusée sur un vaste territoire où avaient coexisté six cultures différentes durant la période de la culture de Longshan (Long Sơn).

Cette culture tire son nom d’un site découvert dans le village d’Erlitou, situé dans le district de Yanshi (province du Henan). Elle s’étendait sur les territoires correspondant aux actuelles provinces du Henan et du Shanxi, avant de gagner des régions faisant aujourd’hui partie du Shaanxi et du Hubei. Bien que la culture d’Erlitou se soit développée rapidement pour devenir un centre régional, elle ne constituait pas une civilisation urbaine à part entière. Elle est associée à la dynastie Xia. Cette dynastie a connu dix-sept rois répartis sur quatorze générations et a duré environ 471 ans avant d’être renversée par la dynastie Shang en 1751 av. J.-C. Dans l’historiographie chinoise traditionnelle, la dynastie Xia est considérée comme la première dynastie et revêt une importance historique majeure. Yu le Grand fut le premier souverain de la dynastie Xia. L’historien chinois Sima Qian le mentionne dans ses « Mémoires historiques ». On a attribué à You  la maîtrise des crues dans le but d’améliorer les conditions de vie des gens  et développer l’agriculture.  Contrairement à son père Gun (Cổn)  qui tenta de protéger la Chine des inondations en construisant des digues, You ne chercha pas à emprisonner l’eau mais il aménagea des voies d’écoulement afin de minimiser les débordements. À partir des canaux, un système d’irrigation fut mis en place  afin de favoriser la fertilisation des terres.

C’est pourquoi l’empereur Shun lui céda le trône. Il fonda ainsi la dynastie Xia (2255 av. J.-C. – 1751 av. J.-C.), à une époque où la culture de Liangzhu avait déjà disparu. Les Han des générations suivantes se désignaient toujours eux-mêmes comme « Hua Xia ». Ce terme devient ainsi un nom représentant la Chine

Dans la culture d’Erlitou, le bois était largement utilisé dans la construction des palais. Le choix de ce matériau avait pour objectif d’afficher le prestige de la classe dominante, fondé sur la force et la cohésion du clan. Il n’existait donc pas de constructions grandioses à caractère éphémère. La stratification sociale se manifestait également très nettement à travers les types d’habitations et la diversité des objets funéraires. Les archéologues ont mis au jour de nombreux artefacts importants sur des sites datant de la dynastie Xia. Ces découvertes comprennent des poteries gravées de signes indiquant un certain développement de l’écriture, des objets précieux en jade utilisés dans les rites, ainsi que des ustensiles en bronze dont la technique de fabrication reste modeste, tels que des hameçons, des poinçons, des pointes de flèches, des armes tranchantes et des objets analogues. C’est précisément sur le site d’Erlitou qu’en 1973, les quatre premières vases en bronze, datées d’environ 1600, ont été découvertes : il s’agit de quatre coupes ou gobelets « jue » à trois pieds, aux formes anguleuses et aux parois minces et dépourvus de décor.

Malgré leur aspect un peu frustre, ces petites vases présentent tous les caractères distinctifs de la métallurgie chinoise, notamment la technique de la fonte renversée dans des moules d’argile segmentés. Leur forme préfigure le développement ultérieur d’un art hautement spécialisé et codifié à travers le bronze. Cet art est devenu ainsi  un mode d’expression privilégié et apprécié par une élite restreinte (la classe des prêtes-chamans) dans une société de plus en plus hiérarchisée.

Les objets en bronze de l’époque Erlitou sont presque totalement dépourvus de motifs décoratifs. Ils ont été façonnés par la technique de la fonte plutôt que par le martelage dans l’imitation de la forme des céramiques. Ces objets ont été moulés en différentes parties distinctes à l’aide de moules en argile. La production de bronzes moulés exigeait que l’artisan dispose de fours à haute température et de ressources abondantes en métal brut. Etant les plus anciennes antiquités jamais découvertes en Chine, ces objets en bronze permettent de déterminer le début de l’âge du Bronze lié à la culture Erlitou. Il s’agit d’une phase de profondes innovations technologiques marquant également une transition continue de l’époque néolithique à l’âge du Bronze dans la culture d’Erlitou. Ainsi, en nous fondant sur les connaissances actuelles du développement de la métallurgie en Chine, nous pouvons considérer que l’âge du Bronze chinois correspond à la période des Trois Dynasties (Xia, Shang, Zhou) dans l’histoire de la Chine.

Thanks to the support of modern science and technology, the spread of Liangzhu civilization has also been confirmed by geo-archaeology. The collapse of the Liangzhu culture and other Neolithic cultures in the lower Yangtze River region, such as Shijiahé, was due to climate change and continuous flooding, thus forcing the inhabitants to flee. Many plateau areas in inland mainland China remained intact, which facilitated internal population migration when sea levels rose. Therefore, the number of survivors after this catastrophe was still quite large. Taking into account the post-flood terrain conditions, some of the Liangzhou population migrated northwards to the Erlitou region. At that time, Erlitou culture had already reached a certain scale with the Xia dynasty.

It is also the first dynasty whose details are mentioned with sufficient precision in ancient documents that have been preserved. The list of the kings of the Xia dynasty was recorded in the “Bamboo Annals” and in the “Shiji” (Historical Records) by the Chinese historian Sima Qian. There was a time when both the Xia and Shang dynasties were called into question. But thanks to the discovery and successful deciphering of inscriptions on bones and turtle plastrons between the 1930s and 1950s, it became possible to know in detail the society and national events of the Shang period, which dispelled any doubt about the authenticity of the list of Shang kings in the historical annals. By contrast, with the exception of a few isolated hieroglyphic characters engraved on ceramic wine vessels, no form of writing dating from the Xia period has yet been found. This is why many Western scholars still consider the Xia dynasty to be legendary. It was also under the Xia dynasty that the system of transferring power to virtuous people came to an end. This event inaugurated an era of hereditary power in China.

The first Chinese dynasty probably finds its origin in a known historical natural event. The discovery of human remains linked to this major catastrophe and their 14C radiocarbon dating, combined with stratigraphic data, made it possible to fix its date at 1920 BCE, thus reconciling historical and archaeological chronologies. This flood would mark the beginning of this mythical dynasty and the reign of Emperor Yu, two to three centuries earlier than the traditionally accepted date of 2200 BCE. “If this great flood really occurred, it is likely that the Xia dynasty actually existed,” said David Cohen of the Department of Anthropology at the National University of Taiwan in Taipei, one of the co-authors of the article published in Science (11 August 2016), during an interview.

The territory directly subject to the king was a supranational entity and the center of the Empire. The king played the role of lord or nominal leader of all the lands of the Chinese world. Vassals and feudal fiefs were obliged to pay tribute to the king and had to present themselves at court when summoned. The king dispensed justice in the name of Heaven (“Thế Thiên Hành Đạo”) and punished those who defied him. These vassals and territories did not enjoy full sovereignty. Some leaders of these territories had previously held positions at the king’s court. For example, Lord Tiết (Xue) was assigned the role of chief of chariots (responsible for vehicles), while Lord Thương (Shang) held the position of overseer of lands (Tư thổ) and overseer of irrigation (Tư thủy). However, these political entities were not the property of the Xia dynasty, nor of the local authorities of the Xia dynasty. They had their own armies and autonomy in economic and social affairs, which means they represented distinct cultures coexisting alongside Xia culture. This is why, through archaeological research, one observes a notable homogeneity in the sites belonging to the Erlitou (Nhị Lý Đầu) culture. It spread widely over a vast territory where six different cultures had coexisted during the Longshan (Long Sơn) period.

This culture takes its name from a site discovered in the village of Erlitou, located in the Yanshi district (Henan province). It extended over territories corresponding to the present-day provinces of Henan and Shanxi, before reaching regions that are now part of Shaanxi and Hubei. Although the Erlitou culture developed rapidly to become a regional center, it did not constitute a fully fledged urban civilization. It is associated with the Xia dynasty. This dynasty had seventeen kings over fourteen generations and lasted about 471 years before being overthrown by the Shang dynasty in 1751 BC. In traditional Chinese historiography, the Xia dynasty is considered the first dynasty and holds major historical significance. Yu the Great was the first ruler of the Xia dynasty. The Chinese historian Sima Qian mentions him in his “Historical Records.” Yu is credited with controlling floods in order to improve people’s living conditions and develop agriculture. Unlike his father Gun (Cổn), who tried to protect China from floods by building dikes, Yu did not seek to imprison the water but instead created drainage channels to minimize overflowing. From these canals, an irrigation system was put in place to promote the fertilization of the land.

That is why Emperor Shun ceded the throne to him. In this way he founded the Xia dynasty (2255 BC – 1751 BC), at a time when the Liangzhu culture had already disappeared. The Han of later generations still referred to themselves as “Hua Xia”. This term thus became a name representing China
In Erlitou culture, wood was widely used in the construction of palaces. The choice of this material aimed to display the prestige of the ruling class, founded on the strength and cohesion of the clan. There were therefore no grandiose constructions of a temporary nature. Social stratification also manifested itself very clearly through the types of dwellings and the diversity of funerary objects. Archaeologists have uncovered many important artifacts at sites dating from the Xia dynasty.

These discoveries include pottery engraved with signs indicating a certain development of writing, precious jade objects used in rites, as well as bronze utensils whose manufacturing technique remains modest, such as fishhooks, awls, arrowheads, cutting weapons and similar objects. It was precisely on the Erlitou site that in 1973 the first four bronze vases, dated to around 1600, were discovered: they consist of four “jue” cups or goblets with three legs, angular shapes, thin walls and devoid of decoration.
Despite their somewhat rough appearance, these small vases display all the distinctive characteristics of Chinese metallurgy, notably the technique of inverted casting in segmented clay molds. Their form foreshadows the subsequent development of a highly specialized and codified art through bronze. This art thus became a privileged mode of expression appreciated by a restricted elite (the class of priest-shamans) in an increasingly hierarchical society.

The bronze objects from the Erlitou period are almost completely devoid of decorative motifs. They were shaped using casting techniques rather than hammering, in imitation of the forms of ceramics. These objects were cast in different, separate parts using clay molds. The production of cast bronzes required that the artisan have high‑temperature furnaces and abundant resources of raw metal. Being the oldest antiquities ever discovered in China, these bronze objects make it possible to determine the beginning of the Bronze Age associated with the Erlitou culture. This is a phase of profound technological innovations that also marks a continuous transition from the Neolithic period to the Bronze Age in Erlitou culture. Thus, based on current knowledge of the development of metallurgy in China, we can consider that the Chinese Bronze Age corresponds to the period of the Three Dynasties (Xia, Shang, Zhou) in Chinese history.

Bibliographie:
Maurizio Scarpari :  Chine ancienne. Des origines à la dynastie Tang . Edition Gründ
Corinne Debaine-Francfort : La redécouverte de la Chine ancienne. Edition Découvertes Gallimard Archéologie 1998.
Victor Sit : Xia Dynasty: Civilisation in the Early Bronze Age. Xia dynasty set the foundation for China’s civilization.

[Chine, Empire du Milieu]

Accrochage Hàm Nghi 2026 (Cernuschi)

Phương thuốc cho cuộc sống lưu đày
Nghệ thuật của Hoàng đế Hàm Nghi

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Triều Nguyễn có ba vị vua bị truất phế và bị lưu đày dưới thời Pháp thuộc.  Mỗi vua đều có tư cách tuyệt vời  trong thời gian ngự trị và có khí khái để hậu thế ngày nay vẫn còn ngưỡng mộ. Đó là vua Hàm Nghi, Thành Thái Duy Tân. Hôm nay, ở bảo tàng Cernuschi  (Paris), có một triển lảm về các tuyệt tác của vua Hàm Nghi  thực hiện trong thời gian ông bị lưu đày ở Alger. Sau cuộc tấn công thất bại ở Mang Cá, nơi mà quân đội Pháp của thống soái De Courcy đóng và sau hai lần xuống chiếu Cần vương, ông trở thành linh hồn còn các quân phiến loạn Cần vương là thân thể. Nếu linh hồn mất thì thân thể cũng phải tiêu tan tự nhiên. Vì vậy chính quyền thực dân Pháp mới nghĩ cách l ưu đày ông qua Alger lúc ông mới có 18 tuổi. Ở đây ông cũng không còn hi vọng trở về Việt Nam nữa. Từ đây ông tìm ra được nguồn an ủi trong một niềm đam mê khác, một cách sống khác thông qua nghệ thuật. Nhờ đó, ông trở thành học trò  của họa sĩ Marius Reynaud và nhà điêu khắc tài hoa Auguste Rodin và cho phép ông vượt qua nỗi đau buồn bất diệt của một vị hoàng đế yêu nước bị lưu đày xa quê hương cho đến khi qua đời. Trong khuôn khổ mùa hè Viêt Nam,  bảo tàng viện Cernuschi  đề nghị một cuộc triển lãm  bất đầu từ 18 Mai đến 6 septembre về các tác phẩm  của vua Hàm Nghi (từ các tranh thủy mạc đến các tạc tượng).

Version française

La dynastie des Nguyễn compta trois rois déposés et exilés durant la période coloniale française. Chacun d’eux, Hàm Nghi, Thành Thái et Duy Tân, se distingua par son caractère exceptionnel et son esprit, toujours admiré jusqu’à aujourd’hui. Le musée Cernuschi (Paris) présente aujourd’hui une exposition consacrée aux chefs-d’œuvre du roi Hàm Nghi, réalisés durant son exil à Alger. Après l’échec de l’attaque de Mang Cá, où était stationnée l’armée française du général De Courcy, et suite à deux décrets royaux appelant à la résistance, Hàm Nghi devint l’âme de la résistance, tandis que les rebelles en étaient le corps. Or, la perte de l’âme entraîne inévitablement celle du corps. C’est pourquoi le gouvernement colonial français l’exila à Alger alors qu’il n’avait que 18 ans. Là, il perdit tout espoir de retourner au Vietnam. Il trouva alors refuge dans une autre passion, un autre mode de vie, à travers l’art. Grâce à cela, il devint l’élève du talentueux peintre Marius Reynaud et du sculpteur Auguste Rodin, ce qui lui permit de surmonter le deuil sempiternel d’un empereur patriote exilé de sa patrie jusqu’à sa mort. Dans le cadre de l’été vietnamien, le musée Cernuschi propose une exposition, du 18 mai au 6 septembre, consacrée aux œuvres du roi Hàm Nghi (des peintures à l’aquarelle jusqu’aux statues).

Version anglaise

The Nguyễn dynasty had three kings who were deposed and exiled during the French colonial period. Each of them, Hàm Nghi, Thành Thái and Duy Tân, stood out for his exceptional character and spirit, still admired to this day. The Cernuschi Museum (Paris) is currently presenting an exhibition devoted to the masterpieces of King Hàm Nghi, created during his exile in Algiers. After the failure of the attack on Mang Cá, where the French army under General De Courcy was stationed, and following two royal decrees calling for resistance, Hàm Nghi became the soul of the resistance, while the rebels were its body. Now, the loss of the soul inevitably entails that of the body. That is why the French colonial government exiled him to Algiers when he was only 18 years old. There, he lost all hope of returning to Vietnam. He then found refuge in another passion, another way of life, through art. Thanks to this, he became the pupil of the talented painter Marius Reynaud and the sculptor Auguste Rodin, which allowed him to overcome the endless mourning of a patriotic emperor exiled from his homeland until his death. As part of the Vietnamese Summer, the Cernuschi Museum is offering an exhibition, from May 18 to September 6, devoted to the works of King Hàm Nghi (from watercolor paintings to statues).

Pictures gallery

[RETURN MUSEUM]

Monument de l’indépendance (Dinh Độc Lập)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Trước khi trở về chủ quyền của đất nước, dinh nầy đã được xây dựng  và thiết kế bởi thống đốc Pháp De la Grandière vào năm 23 tháng 3 năm 1868.  Dinh nầy được dùng làm nơi cư trú và chỗ làm việc của toàn quyền Đông Dương  dưới thời Pháp thuộc. Bởi vậy nó có tên cũ là dinh Norodom vì nó nằm ở trên đại lộ Norodom, một vị vua của nước Cao Miên ở thời bấy giờ. Đến năm 1954, sau khi hiệp định Genève 8 tháng 5 và sau khi phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và thành lập nước  Việt Nam Cộng Hoà, ông Ngô Đình Diệm mới lấy dinh Norodom làm dinh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà. Dinh nầy mới đổi tên từ đó  thành dinh Độc Lập. Nhưng dinh nầy bị oanh tạc bởi  hai phi công của phe đối lập, Đại Việt Quốc Dân Đảng  vào ngày 27/2/1962 khiến làm sập toàn bộ phần chính cánh trái của dinh nên việc khôi phục lại không thể thực hiện  được. Vì đó ông Ngô Đình Diệm mới  ra lệnh san bằng và nhờ kiến trúc Ngô Viết Thụ, một người Việt Nam đầu tiên đạt giải khôi nguyên La Mã thiết kế và xây lại một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ với một diện tích 12 ha.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975,  dinh  nấy mới đỗi tên một lần nữa  và mới lấy tên là dinh Thống Nhất  vào tháng 11 năm 1975 để nói lên sự thống nhất của hai miền Nam Bắc từ nay dưới quyền lãnh đạo của đảng cộng  sản Việt Nam. Dinh nầy  trở thành một trong những địa điểm du lịch không thể thiếu của mỗi người dân nước ngoài hay trong nước  khi tới thành phố Saïgon. So với dinh cũ thời Pháp thuộc, dinh Độc Lập có mang thiết kế hiện đại. Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa lịch sử, dinh còn thể hiển được không những một kiến trúc độc đáo dựa trên triết lý phương đông qua các chiết tự chữ Hán và  cá tính của dân tộc (ba gian hai chái)  được nhận thấy ở mặt tiền.

Chẳng hạn chữ Khẩu (口) để chỉ đến cái miệng, ngụ ý là tự do ngôn luận.  Còn chữ TRUNG (中) được thành hình  tử chữ Khẩu với cột cờ xuyên qua  tiêu biểu cho đức tính  trung kiên trong việc xây dựng dân chủ. Còn ba nét dọc ngang được trông thấy từ mái hiên và ban công hợp thành chữ TAM (三) đó là sự nhắc đến dân chủ hửu tam (Nhân, Minh, Võ). Đây là sự mong muốn có được người lãnh đạo có đủ phẩm chất, trí tuệ và bản lĩnh để phát triển đất nước. Còn chữ VƯƠNG (王) được hợp thành từ chữ TAM với  nét sổ dọc. Nó  biến thành chữ CHỦ (主)với lá cờ kỳ đài ở trên chót vót của dinh đến chủ quyền dân tộc.  Sau cùng chữ HƯNG (興)  được tạo thành từ cái nhìn toàn bộ mặt tiền với ban công tầng 2, tầng 3, mái hiên và hai cột gỗ. Đây là ý nguyện có được  một   đất nước Hưng Thịnh. 

Tọa lạc trong một  khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây và cao có 26 m, dinh gồm 3 tầng chính, 2 gác lửng, tầng nền, 2 tầng hầm và 1 sân thượng cho máy bay trực thăng đáp xuống. Qua các chiết tự chữ  CÁT (吉) ,  KHẨU (口), TRUNG (中), TAM (三), CHỦ (主),  VƯƠNG (王),  HƯNG (興) được thể hiện ở mặt bằng tổng thể đến mặt bằng ngôi nhà đều được bố cục một cách tĩ mĩ, kiến trúc sư  Ngô Viết Thụ muốn  gửi đến một cách thâm thúy một thông điệp  mang ý nghĩa đem lại sự tốt lành và hưng thịnh cho đất nước. Ngoài ra, trong nội thất của dinh thì các gian phòng chính quan trọng được trang trí theo các gam màu chủ đạo.

 Cũng như màu vàng được sử dụng ở phòng Đại Yến và được  kết hợp với các họa tiết thực vật khiến nó tạo ra sự ấm áp trong việc tiếp tân  đãi tiệc. Ở phòng  Đại Yến, có một bức tranh dầu do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ vẽ và biếu tặng nhân dịp ngày khánh thành dinh với 2 câu thơ chữ Hán Việt:  «Cẩm tú  sơn hà, thái bình thảo mộc» có nghĩa là «Non sông gấm vóc, cây cỏ thái bình ». Còn màu xanh lá cây  và màu đen thì được sử  dụng  ở thảm, màn và da ghế để tạo ra cảm giác mát mẻ nhất là với các cuộc hợp căng thẳng ở phòng nội các (tầng 1).

Còn màu đỏ thỉ đựơc thấy ở phòng khánh tiết hay các phòng tiếp tân tổng thống và phó tổng ở tầng 2. Cái đặc điểm của Dinh Độc Lập là rèm hoa đá bao quanh tầng 2. Đây là những đốt trúc thanh tao được lấy từ một hình ảnh  được cách điệu từ “cửa bàn khoa” của cung điện ở Cố đô Huế. Ngoài việc thẩm mỹ, rèm hoa đá còn giúp điều hoà ánh sáng tự nhiên và nó trở thành biểu tượng độc đáo của dinh độc lập.

Đã bao lần đổi tên với  sự thăng trầm của đất nước, nó trở thành ngày nay một di tích lịch sử văn hoá quốc gia, một điểm du lịch không thể bỏ qua khi đến Saigon và một công trình kiến trúc để đời của kiến trúc sư tài ba Ngô Viết Thụ.

Version française

Avant le retour à la souveraineté nationale, ce palais a été construit et conçu par le gouverneur français De la Grandière le 23 mars 1868. Ce palais servait de résidence et de lieu de travail pour le gouverneur général de l’Indochine sous l’occupation française. C’est pourquoi il portait l’ancien nom de palais Norodom, car il se trouvait sur l’avenue Norodom, du nom d’un roi du Cambodge à cette époque. En 1954, après les accords de Genève du 8 mai et après la destitution du chef de l’État Bảo Đại et la création de la République du Viêt Nam, Mr Ngô Đình Diệm a choisi le palais Norodom comme palais présidentiel de la République du Viêt Nam. Ce palais a alors été rebaptisé palais de l’Indépendance. Mais il a été bombardé par deux pilotes du parti d’opposition  « Đại Việt Quốc Dân Đảng » le 27 février 1962, ce qui a détruit toute la partie principale de l’aile gauche, rendant ainsi la restauration impossible. C’est pourquoi Mr. Ngô Đình Diệm a ordonné sa démolition et a demandé à l’architecte Ngô Viết Thụ, le premier Vietnamien à avoir remporté le prix de Rome, de concevoir et de construire un nouveau palais sur l’ancien emplacement dont la superficie est de 12ha.

Après les événements du 30 avril 1975, le palais fut rebaptisé Palais de la Réunification en novembre 1975, symbolisant ainsi la réunification du Nord et du Sud-Vietnam sous l’égide du Parti communiste vietnamien. Ce palais est devenu un site touristique incontournable pour les visiteurs vietnamiens et étrangers lors de leur passage à Saïgon. Comparé à l’ancien palais de l’époque française, le Palais de l’Indépendance présente un design moderne. Au-delà de son importance historique, il présente un style architectural unique, inspiré de la philosophie orientale, comme en témoignent ses 7 caractères chinois et son architecture typiquement vietnamienne (trois travées et deux ailes) trouvée sur la façade.  

Par exemple, le caractère *Khẩu* (口) — signifiant « bouche » — symbolise la liberté d’expression. De son côté, le caractère *Trung* (中) — signifiant « loyauté » — est formé par l’association du caractère *Khẩu* et d’un mât de drapeau le traversant, représentant la loyauté inébranlable nécessaire à l’édification de la démocratie. Les lignes horizontales et verticales visibles au niveau des avant-toits et des balcons dessinent le caractère *Tam* (三) — signifiant « trois » — en référence aux trois vertus démocratiques : l’humanité (*Nhân*), la sagesse (*Minh*) et le courage (*Võ*). Cela reflète l’aspiration à voir émerger un dirigeant doté du caractère, de l’intelligence et de la trempe nécessaires au développement de la nation. Le caractère *Vương* (王)– signifiant «roi» — est formé en ajoutant un trait vertical au caractère *Tam* ; il se transforme en caractère *Chủ * (主)— signifiant « souveraineté du pays » — lorsque l’on y intègre le drapeau situé au point culminant du bâtiment. Enfin, le caractère *Hưng* (興) — signifiant « prospérité » — apparaît dans la vue d’ensemble de la façade, englobant les balcons des deuxième et troisième étages, les avant-toits et les deux piliers en bois. Il incarne le vœu d’une nation prospère et florissante.

Situé dans un parc de 12 hectares ombragé et d’une hauteur de 26 m, le palais comprend 3 étages principaux, 2 mezzanines, un rez-de-chaussée, 2 sous-sols et une terrasse pour l’atterrissage des hélicoptères. À travers les caractères CÁT (吉), KHẨU (口), TRUNG (中), TAM (三), CHỦ (主), VƯƠNG (王), HƯNG (興)  représentés d’une manière méticuleuse du plan général au plan du palais, l’architecte Ngô Viết Thụ a voulu transmettre de manière subtile un message porteur de bonheur et de prospérité pour le pays. En outre, à l’intérieur du palais, les principales pièces importantes sont décorées selon des gammes de couleurs dominantes.Par exemple, la couleur jaune est utilisée dans la salle du Grand Banquet et combinée avec des motifs végétaux. Elle crée ainsi une atmosphère chaleureuse pour l’accueil et les réceptions. Dans la salle du Grand Banquet, il y a une peinture à l’huile réalisée et offerte par l’architecte Ngô Viết Thụ à l’occasion de l’inauguration du palais, accompagnée de deux vers en caractères sino-vietnamiens: « Cẩm tú sơn hà, thái bình thảo mộc » qui signifie « Montagnes et rivières somptueuses, herbes et arbres paisibles ». Quant au vert et au noir, ils sont utilisés pour les tapis, les rideaux et le cuir des sièges afin de créer une sensation de fraîcheur, surtout lors des réunions importantes  de tension extrême dans la salle du cabinet (1er étage).

Quant à la couleur rouge, elle est visible dans la salle de réception ou dans les salons de réception du président et du vice-président au deuxième étage. La caractéristique du Palais de l’Indépendance est la frise florale en pierre qui entoure le deuxième étage. Ce sont des tiges de bambou élégantes, inspirées d’une image stylisée de la “Porte Bàn Khoa” du palais de l’ancienne capitale de Huế. En plus de l’aspect esthétique, la frise florale en pierre aide à réguler la lumière naturelle et elle est devenue un symbole unique du Palais de l’Indépendance.

Ayant changé de nom à plusieurs reprises au gré des vicissitudes du pays, il est aujourd’hui un monument historique et culturel national, un site touristique incontournable lors d’une visite à Saigon et une œuvre architecturale mémorable du talentueux architecte Ngô Viết Thụ.

Version anglaise

Before the return to national sovereignty, this palace was built and designed by the French governor De la Grandière on March 23, 1868. This palace served as the residence and workplace for the Governor General of Indochina during the French occupation. That is why it bore the former name Norodom Palace, as it was located on Norodom Avenue, named after a Cambodian king at that time. In 1954, after the Geneva Accords of May 8 and after the removal of Head of State Bảo Đại and the creation of the Republic of Vietnam, Mr. Ngô Đình Diệm chose Norodom Palace as the presidential palace of the Republic of Vietnam. The palace was then renamed Independence Palace. But it was bombed by two pilots from the opposition party « Đại Việt Quốc Dân Đảng » on February 27, 1962, which destroyed the entire main part of the left wing, making restoration impossible. That is why Mr. Ngô Đình Diệm ordered its demolition and asked architect Ngô Viết Thụ, the first Vietnamese to win the Rome Prize, to design and build a new palace on the old site, which covers an area of 12 hectares.

After the events of April 30, 1975, the palace was renamed the Reunification Palace in November 1975, thus symbolizing the reunification of North and South Vietnam under the leadership of the Vietnamese Communist Party. This palace has become a must-see tourist site for both Vietnamese and foreign visitors when passing through Saigon. Compared to the old palace from the French era, the Independence Palace features a modern design. Beyond its historical significance, it displays a unique architectural style, inspired by Eastern philosophy, as evidenced by its 7 Chinese characters and its typically Vietnamese architecture (three sections and two wings) found on the façade.

For example, the character *Khẩu* (口) — meaning « mouth » — symbolizes freedom of expression. Meanwhile, the character *Trung* (中) — meaning « loyalty » — is formed by combining the character *Khẩu* and a flagpole passing through it, representing the unwavering loyalty necessary for the establishment of democracy. The horizontal and vertical lines visible at the eaves and balconies outline the character *Tam* (三) — meaning « three » — in reference to the three democratic virtues: humanity (*Nhân*), wisdom (*Minh*), and courage (*Võ*). This reflects the aspiration to see a leader emerge who possesses the character, intelligence, and resolve necessary for the nation’s development. The character *Vương* (王) — meaning « king » or « sovereign » — is formed by adding a vertical stroke to the character *Tam*; it transforms into the character *Chủ* (主) — meaning « national sovereignty » — when the flag at the building’s highest point is incorporated. Finally, the character *Hưng* (興) — meaning « prosperity » — appears in the overall view of the façade, encompassing the balconies of the second and third floors, the eaves, and the two wooden pillars. It embodies the wish for a prosperous and flourishing nation.

Located in a 12-hectare shaded park and standing 26 meters high, the palace comprises 3 main floors, 2 mezzanines, a ground floor, 2 basements, and a terrace for helicopter landings. Through the characters CÁT (吉), KHẨU (口), TRUNG (中), TAM (三), CHỦ (主), VƯƠNG (王), HƯNG (興) meticulously represented from the general plan to the palace layout, architect Ngô Viết Thụ sought to subtly convey a message of happiness and prosperity for the country. Furthermore, inside the palace, the main important rooms are decorated according to dominant color schemes.
For example, yellow is used in the Grand Banquet Hall and combined with plant motifs. This creates a warm atmosphere for welcoming and receptions. In the Grand Banquet Hall, there is an oil painting created and offered by architect Ngô Viết Thụ on the occasion of the palace’s inauguration, accompanied by two verses in Sino-Vietnamese characters: “Cẩm tú sơn hà, thái bình thảo mộc” which means “Magnificent mountains and rivers, peaceful grasses and trees.” As for green and black, they are used for carpets, curtains, and the leather of the seats to create a sense of freshness, especially during important meetings of extreme tension in the cabinet room (1st floor).

As for the color red, it is visible in the reception hall or in the reception rooms of the president and vice president on the second floor. The characteristic feature of the Independence Palace is the floral stone frieze that surrounds the second floor. These are elegant bamboo stems, inspired by a stylized image of the “Bàn Khoa Gate” of the palace of the former capital of Huế. In addition to its aesthetic aspect, the floral stone frieze helps to regulate natural light and has become a unique symbol of the Independence Palace.

Having changed its name several times according to the vicissitudes of the country, it is today a national historical and cultural monument, an essential tourist site when visiting Saigon, and a memorable architectural work by the talented architect Ngô Viết Thụ.

Galerie des photos

[Return SAIGON]

Roseraie de l’Hay-Les-Roses

La roseraie de L’Haÿ-les-Roses

Vườn Hồng L’Haÿ-les-Roses

Version vietnamienne
Version anglaise
Galerie des photos
Etant considérée comme le jardin public mondialement connu, la roseraie de l’Hay les Roses possède une collection unique de plus de 2900 variétés de roses. A la fin du XIXème siècle, l’homme d’affaires Jules Gravereaux fait construire dans sa propriété un jardin de roses à la demande de sa femme dans un petit village connu de l’Hay. Grâce à l’aide de l’architecte Edouard André, ils réussirent à créer un jardin à la française  avec un nouveau style de jardin: la roseraie.  Aujourd’hui, ce jardin devient le conservatoire vivant de rose au cœur d’un parc boisé de 14 ha. Près de 3000 espèces et variétés y sont entretenues et conservées. Certaines espèces de roses n’existent plus dans le commerce.

Được xem là một khu vườn công cộng nổi tiếng thế giới, vườn hồng L’Haÿ-les-Roses tự hào sở hữu bộ sưu tập độc đáo với hơn 2.900 giống hồng. Vào cuối thế kỷ 19, doanh nhân Jules Gravereaux đã cho xây dựng một vườn hồng trên khu đất của mình ở ngôi làng nhỏ L’Haÿ-les-Roses theo sự  yêu cầu của vợ ông. Với sự giúp đỡ của kiến ​​trúc sư Édouard André, họ đã thành công trong việc tạo ra một khu vườn kiểu Pháp với một yếu tố thiết kế mới: vườn hồng. Ngày nay, khu vườn này đóng vai trò như một nhà kính sống động bảo tồn hoa hồng nằm giữa một công viên cây xanh rộng 14 ha. Gần 3.000 loài và giống hồng được trồng và bảo tồn ở nơi nầy . Một số giống hồng hiện có không còn được bán ở trên thị trường.

Considered as the world-renowned public garden, the Roseraie of l’Haÿ-les-Roses possesses a unique collection of more than 2,900 varieties of roses. At the end of the 19th century, the businessman Jules Gravereaux had a rose garden built on his property at the request of his wife in a small village known as l’Haÿ. With the help of the architect Edouard André, they succeeded in creating a French-style garden with a new type of garden: the rose garden. Today, this garden has become a living conservatory of roses at the heart of a 14-hectare wooded park. Nearly 3,000 species and varieties are maintained and preserved there. Some species of roses no longer exist on the market.

Galerie des photos

La vieille ville de Lijiang (Yunnan)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Được mệnh danh là « Tiểu Venice của phương Đông », phố cổ Lệ Giang, nằm ở tỉnh Vân Nam, tây nam Trung Quốc, dưới chân núi Ngọc Long Tuyết Sơn, nổi bật với vẻ đẹp quyến rũ như tranh vẽ. Vẻ đẹp này đến từ sự hiện diện của hàng trăm con kênh phân nhánh từ ba con sông  trên núi. Những con kênh này uốn lượn qua các con phố hẹp và đan chen lấn  với  nhau khiến tạo cho du khách có cảm tưởng đang thất  lạc ở trong mê cung.  Năm 1997,  phố cổ  Lệ Giang  được ghi vào danh sách  Di sản Thế giới với tư cách là « một thành phố cổ kính nổi bật nằm trong khung cảnh ngoạn mục ». Từ thế kỷ 12, phố cổ Lijiang đã là một trung tâm thương mại quan trọng giữa Tứ Xuyên, Vân Nam và Tây Tạng, cho phép phần phía nam của Con đường Tơ lụa kết nối với các tuyến đường trà và ngựa cổ xưa.

Đến đây, du khách sẽ ngẩn ngơ trước vẻ đẹp hoài cổ  của viên ngọc qúi kiến trúc Mộc Phủ, nơi đây đã từng là dinh thự của dòng họ Mộc, những người cai trị vùng Lệ Giang suốt 470 năm từ thế kỷ 13 đến đầu thế kỷ 20. Chỉ cần đi một vòng ở phố cổ, bạn sẽ bị cuốn hút bởi các mái ngói nhà cổ kính, các  cầu gỗ, những con ngõ  hẽm nhỏ lát đá, tràn ngập sắc hoa và  các đèn lồng đỏ. 

Đây cũng là nơi sinh sống của người Nạp Tây (Naxi), một dân tộc thiểu số trong 56 dân tộc thiểu số của Trung Hoa ngày nay. Người Nạp Tây có nguồn gốc từ  những người Khương sống du cư ở vùng đất Tậy Tạng  vào thời cổ . Chính vì vậy trong văn hóa của họ thường thấy có sự pha trộn văn  hóa của người Tạng với người Hán nhất là trong âm nhạc. Họ còn  hệ thống chữ viết tượng hình Đông Ba  duy nhất trên thế giới còn được sử dụng cho đến ngày nay, gắn liền với văn hóa và tín ngưỡng của họ.

Người Nạp Tây sinh ra cho đến khi qua đời, đều sống trong nhà của mẹ tức là họ là những người theo chế độ mẫu hệ.  Vì có cấu trúc gia đình mẫu hệ nên sau khi hôn nhân  thì người chồng cư trú bên vợ, người thừa kế tài  sản là phụ nữ.

Surnommée la « Petite Venise de l’Orient » et  située dans la province du Yunnan, au sud-ouest de la Chine, au pied de la montagne enneigée du Dragon de Jade, la vieille ville de Lijiang, est réputée pour sa beauté pittoresque. Celle-ci tient à la présence de centaines de canaux prenant leur source dans les trois rivières de montagne. Ces canaux serpentent à travers d’étroites ruelles et s’entrelacent, ce qui donne aux visiteurs l’impression de se perdre dans un labyrinthe. En 1997, la vieille ville de Lijiang a été inscrite sur la Liste du patrimoine mondial en tant que « ville ancienne exceptionnelle dans un cadre spectaculaire ». Depuis le XIIème siècle, la vieille ville de Lijiang est un important carrefour commercial entre le Sichuan, le Yunnan et le Tibet, permettant  la partie sud de la Route de la Soie de rejoindre  les anciennes routes du thé et des chevaux. C’est ici que les visiteurs seront captivés par la beauté empreinte de nostalgie du manoir de la famille Mu, un joyau architectural précieux servant jadis de résidence à la famille Mu, qui régna sur Lijiang durant 470 ans, du XIIIème  au début du XXème  siècle. Une promenade dans la vieille ville vous enchantera avec ses anciens toits, ses ponts de bois, ses ruelles pavées et étroites débordant de fleurs et de lanternes rouges.

Cette région est abritée également par le peuple Naxi, l’une des 56 minorités ethniques de  la Chine d’aujourd’hui. Les Naxi sont issus  du peuple nomade Qiang qui vivait autrefois au Tibet. C’est pourquoi  leur culture présente souvent un mélange d’influences tibétaines et chinoises Han, notamment dans leur musique. Ils possèdent également le système d’écriture pictographique unique Dongba, le seul de son genre au monde encore utilisé aujourd’hui et étroitement associé à leur culture et à leurs croyances.

Les Naxi vivent dans la maison de leur mère de la naissance jusqu’à la mort, ce qui correspond à un système matriarcal. De ce fait, après le mariage, ils vivent  toujours chez leur épouse et l’héritage revient aux filles.

 

Nicknamed the « Little Venice of the East » and located in Yunnan province, in southwestern China, at the foot of the snow-capped Jade Dragon Mountain, the old town of Lijiang is renowned for its picturesque beauty. This is due to the presence of hundreds of canals originating from the three mountain rivers. These canals wind through narrow alleys and intertwine, giving visitors the impression of getting lost in a labyrinth. In 1997, the old town of Lijiang was inscribed on the World Heritage List as an « exceptional ancient town in a spectacular setting ». Since the 12th century, the old town of Lijiang has been an important trading hub between Sichuan, Yunnan and Tibet, allowing the southern part of the Silk Road to join the ancient tea and horse routes.

Here, visitors will be captivated by the nostalgic beauty of the Mu family mansion, a precious architectural gem that once served as the residence of the Mu family, who ruled Lijiang for 470 years, from the 13th century to the early 20th century. A stroll through the old town will enchant you with its ancient roofs, wooden bridges, narrow cobbled streets overflowing with flowers and red lanterns.

This region is also home to the Naxi people, one of the 56 ethnic minorities in China today. The Naxi descend from the nomadic Qiang people who once lived in Tibet. That is why their culture often presents a mix of Tibetan and Han Chinese influences, especially in their music. They also possess the unique Dongba pictographic writing system, the only one of its kind in the world still in use today and closely associated with their culture and beliefs.

The Naxi live in their mother’s house from birth until death, which corresponds to a matriarchal system. As a result, after marriage, they always live at their wife’s home and inheritance goes to the daughters.

Picture gallery

 

 

[Return CHINA]

Grottes du saut du tigre (Yunnan)

 

Hổ Khiêu Hiệp

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Hổ Khiếu Hiệp mà người Hoa gọi là hẻm núi hổ nhảy được hình thành trên dòng sông Kim Sa (Jinsha), một nhánh của sông Dương Tử. Nó là một danh thắng nổi tiếng nằm cách xa thành phố Lệ Giang 60 cây số về phía bắc thuộc tỉnh Vân Nam và xa Trung Đạo (Zhong Dao) nay là Shangrila một trăm cây số. Nó dài khoảng 16 cây số nằm giữa hai núi Tuyết Ngọc Long (Yulong Xue Shan) cao 5596 thước và núi tuyết Cáp Ba (Haba Xue Shan) cao 5396 thước với một loạt 18 ghềnh thác được bao quanh bởi những vách đá dựng đứng, vực sâu hun hút, có 2000 thước, và được cho là hẻm núi sông sâu nhất thế giới.

Truyền thuyết còn kể rằng có một con hổ đã nhảy từ bờ này sang bờ kia để thoát khỏi một thợ săn… nhưng lối đi hẹp nhất hiện nay chỉ là 30 thước. Khi bạn nhìn thấy sức mạnh của dòng sông cuồn cuộn ở phía dưới chân bạn thì bạn sẽ hiểu vì sao cú nhảy ấy nó lại trở thành huyền thoại.

Dân cư sống ở nơi nầy là người Nạp Tây (Naxi). Đây là một trong 56 dân tộc thiểu số sống ở Vân Nam và tộc người duy nhất còn dùng hình tượng chữ (dongba). Họ có nguồn gốc từ người Khương sống định cư trên cao nguyên Tây Tạng vào thời cổ. Họ sống rải rác ở các làng mạc của các thị trấn và mưu sống bằng nghề sản xuất ngũ cốc và du lịch ngày nay. Chớ trước đó họ cùng người Hán, người Tạng hay thường dùng qua nhiều thế kỷ các con đường mòn dành cho lừa đi về những nơi tiêu thụ trà và các hàng hóa khác như lông thú, xạ hương,muối vân vân.. ở các vùng cao nguyên Tây Tạng và Trung Quốc (Đại Lý, Lệ Giang và Đức Kinh (Shangrila). Bởi vậy màng lưới của các con đường mòn nầy nó mới có tên gọi là đường trà hay trong tiếng quan thoại chámgudào dù nó không nổi tiếng như con đường tơ lụa mà chúng ta biết nhưng phong cảnh nó rất ngoạn mục theo lời kể của những người thích đi bộ đường dài (trekking).

Etant connues sous le nom chinois 虎跳峡 (Hu tiào xiá), les gorges du Saut du Tigre,  se sont formées sur la rivière Jinsha, un affluent du Yangtsé. Ce site pittoresque se situe à 60 kilomètres au nord de Lijiang, dans la province du Yunnan, et à 100 kilomètres de Zhongdao (aujourd’hui Shangri-La). Longues d’environ 16 kilomètres, elles s’étendent entre le Yulong Xue Shan ( 5596 mètres d’altitude) et le Haba Xue Shan (5396 mètres d’altitude), offrant un série de 18 rapides et de cascades entourés de falaises abruptes et d’une gorge profonde de 2000 mètres, ce qui leur vaut d’être considérées comme les gorges fluviales les plus profondes du monde.

La légende raconte qu’un tigre aurait sauté d’une rive à l’autre pour échapper à un chasseur… mais le passage le plus étroit ne mesure que 30 mètres de large. Face à la puissance de la rivière tumultueuse, on comprend aisément pourquoi ce saut est devenu légendaire.

Les habitants de cette région sont les Naxi. Ils font partie des 56 minorités ethniques du Yunnan et sont les seuls à utiliser encore l’écriture Dongba (pictogramme). Ils descendent du peuple Qiang, installé sur le plateau tibétain depuis l’Antiquité. Ils vivent dispersés dans les villages des bourgades, et tirent leurs revenus de la production céréalière et du tourisme. Autrefois, ils empruntaient, avec les Han et les Tibétains, les sentiers muletiers pour se rendre sur les marchés du plateau tibétain et de la Chine (Dali, Lijiang et Dejing/Shangrila) avec leurs produits (fourrure, musc, sel, thé etc. Ce réseau de sentiers est ainsi appelé la Route du Thé, ou « chámgudào » en mandarin. Bien que moins célèbre que la Route de la Soie, elle offre des paysages à couper le souffle, selon les amateurs de la randonnée.

Being known in pinying 虎跳峡 (Hu tiào xiá) by the Chinese, Tiger Leaping Gorge was formed on the Jinsha River, a tributary of the Yangtze River. It is a famous scenic spot located 60 kilometers north of Lijiang City in Yunnan Province and 100 kilometers from Zhong Dao, now Shangrila. It is about 16 kilometers long, situated between two mountains: Jade Dragon Snow Mountain (Yulong Xue Shan) at 5596 meters and Haba Snow Mountain (Haba Xue Shan) at 5396 meters, featuring a serie of 18 rapids surrounded by steep cliffs and a deep abyss of 2000 meters, considered the deepest river gorge in the world.

Legend has it that a tiger once jumped from one bank to the other to escape a hunter… but the narrowest passage today is only 30 meters. When you see the power of the rushing river below your feet, you will understand why that leap became a legend.

The inhabitants of this region are the Naxi. They are part of the 56 ethnic minorities of Yunnan and are the only ones still using the Dongba script. They descend from the Qiang people, who settled on the Tibetan plateau since ancient times. They live scattered in villages of small towns, earning their income from cereal production and tourism. In the past, they, along with the Han and Tibetans, used mule trails to reach the markets of the Tibetan plateau and China (Dali, Lijiang, and Dejing/Shangrila) with their products (fur, musk, salt, tea, etc.). This network of trails is thus called the Tea Horse Road, or « chámgudào » in pinying. Although less famous than the Silk Road, it offers breathtaking landscapes, according to hiking enthusiasts.

Galerie des photos

[Return Shangrila]

Nụ Tầm Xuân

Nụ tầm xuân (Saule Marsault pleureur)

Version française
Version anglaise

Nụ tầm xuân là tên gọi của một loài cây thuộc chi Liễu, có tên là Liễu tơ (Pussy willow) hay Liễu dê (Salix caprea). Sở dĩ có tên gọi này là vì hoa của nó mọc ra các sợi lông tơ mềm mại như lông mèo. Nụ tầm xuân thường được xem là biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở, đâm chồi nảy lộc, thịnh vượng và may mắn. Những nhánh cây nụ tầm xuân với hoa nhỏ mọc quanh thân đại diện cho sự khởi đầu vẹn tròn, thuận lợi và tràn đầy hy vọng.

Trên thực tế, nụ tầm xuân chỉ mang sắc trắng thuần khiết, vô cùng tinh khôi. Nhưng khi chiêm ngưỡng những nhánh nụ tầm xuân được trưng bày trong các hội chợ hoa xuân ngày Tết, bạn sẽ bắt gặp những bó tầm xuân với nhiều màu sắc rực rỡ như: đỏ, vàng, cam, xanh, hồng, tím,…

Nụ tầm xuân est le nom d’une plante appartenant au genre Saule, appelée Saule marsault (Pussy willow) ou Saule des chèvres (Salix caprea). Ce nom vient du fait que ses fleurs produisent des poils doux et soyeux semblables à ceux d’un chat. Ses bourgeons sont souvent perçus comme  le symbole de croissance, d’épanouissement, de prospérité et de chance. Les branches de cette plante, avec leurs petites fleurs qui s’épanouissent autour de la tige, représentent un nouveau départ prometteur, propice  et plein d’espoir.

En réalité, ces bourgeons  sont d’un blanc immaculé, d’une pureté exceptionnelle. Mais en admirant les branches de cette plante en fleurs exposées lors de la visite marchés aux fleurs printaniers durant le nouvel an lunaire, on découvre des bouquets de fleurs aux couleurs éclatantes : rouge, jaune, orange, vert, rose, violet, et bien d’autres encore.

Nụ tầm xuân is the name of a plant belonging to the willow genus, called Pussy willow or Goat willow (Salix caprea). This name comes from the fact that its flowers produce soft and silky hairs similar to those of a cat. Its buds are often seen as the symbol of growth, blossoming, prosperity, and luck. The branches of this plant, with their small flowers blooming around the stem, represent a promising and hopeful new beginning.

In reality, these buds are immaculate white, of exceptional purity. But when admiring the flowering branches of this plant displayed at spring flower markets during  the Lunar New Year, one discovers bouquets of flowers in bright colors: red, yellow, orange, green, pink, purple, and many more.

Hồ Thị Kỷ

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Cái tên Hồ Thị Kỷ ít ai để ý nói đến nhiều như Chợ Lớn của người Hoa nhưng với việt kiều ở Cao Miên thì tên nầy rất quen thuộc vì từ sau năm 1975 thì nơi nầy cùng chợ trở nên địa điểm tựu hợp rất nhiều dân Việt ở Cao Miên hay thường đựợc gọi là khu Pétrus Ký. Nay thì nó được khách du lịch nước ngoài ưa thích vì nó không những là thiên đàng ẩm thực mà còn là vườn hoa Đà Lạt thu nhỏ  giữa lòng  thành phố Saigon. Đến đây bạn có thể lựa chọn nhiều món ăn lắm nhưng bạn có dám ăn hay không ? Từ c ác món ăn vặt đến các món ăn chính, từ các món ăn Cao Miên, Thái Lan  đến các món ăn của người Việt hay người Hoa. Có những món ăn trở thành đặc sản hiếm có  ở Saigon như các loại khô cá Biển Hồ, bún num bo chóc, bánh lọt xào, chè xôi xiêm hay chè bí. Nhiều khách đến đây lúc đầu để ăn trãi nghiệm nhưng sau đó lại thích trở lại ăn trong đó có mình nữa như món xôi xiêm nước dừa hay chè bí của em Có. Những ngày trước Tết chợ bán hoa đông người không  đếm xuể, không có lối đi vào chợ. Giá cả cũng phải chăng so với những nơi khác. Đây là một nơi bạn không thể bỏ qua khi bạn đến thành phố Saïgon.

Le nom Hồ Thị Kỷ est moins souvent mentionné que Cholon des Chinois, mais pour les Vietnamiens vivant au Cambodge, il est très familier car depuis 1975, cet endroit et le marché sont devenus un lieu de rassemblement de nombreux Vietnamiens rentrés du Cambodge, souvent appelé le quartier Pétrus Ký. Aujourd’hui, il est très apprécié par les touristes étrangers car ce n’est pas seulement un paradis culinaire, mais aussi un jardin floral de Đà Lạt en miniature au cœur de la ville de Saïgon. Ici, vous pouvez choisir de nombreux plats, mais osez-vous les manger ou non? Des snacks proposent des plats simples jusqu’aux  plats principaux, des plats cambodgiens,  thaïlandais jusqu’aux plats vietnamiens ou chinois. Certains plats sont devenus des spécialités « rares » à Saïgon, comme les différents types de poisson séché du Grand Lac Tonlé Sap, le bún num bo chóc, le bánh lọt sauté, le chè xôi xiêm ou le chè bí. Beaucoup de visiteurs viennent d’abord ici pour goûter, mais ils aiment  y revenir ensuite. C’est  aussi mon cas pour des plats comme le xôi xiêm au lait de coco ou le chè bí de Madame Có. Les jours précédant le Tết, le marché aux fleurs est bondé de gens. Il est  impossible de trouver un passage pour y entrer. Les prix sont aussi raisonnables comparés à d’autres endroits. C’est un lieu que vous ne pouvez pas manquer lors de votre passage à Saïgon.

The name Hồ Thị Kỷ is mentioned less often than Cholon by the Chinese, but for Vietnamese people living in Cambodia, this name is very familiar because since 1975, this place and the market have become a gathering spot for many Vietnamese returning from Cambodia, often called the Pétrus Ký neighborhood. Today, it is highly appreciated by foreign tourists because it is not only a culinary paradise but also a miniature Đà Lạt flower garden in the heart of Saigon city. Here, you can choose many dishes, but do you dare to eat them? Snacks offer simple dishes up to main courses, Cambodian, Thai dishes up to Vietnamese or Chinese dishes. Some dishes have become rare specialties in Saigon, such as the various types of dried fish from the Great Tonlé Sap lake, bún num bo chóc, sautéed bánh lọt, chè xôi xiêm, or chè bí. Many visitors come here first to taste, but then they like to return, including me, for dishes like xôi xiêm with coconut milk or chè bí of Mrs Có. In the days leading up to Tết, the flower market is crowded with people. It is impossible to find a passage to enter. The prices are also reasonable compared to other places. It is a place you cannot miss when you visit Saigon.

Pictures gallery