Cây khèn bè (Khène)

Version française

English version  

Chúng ta  thường đặt câu hỏi về nguồn gốc của nhạc cụ mà được gọi là khèn bè.  Có nhiều nhà khoa học cho rằng nhạc cụ nầy đến từ nước Lào. Nhưng cũng không ít người ngần ngại và hoài nghi. Đó là trường hợp  của nhà nghiên cứu Pháp Noël Péri của  Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO). Đối với ông nầy, nếu người  dân Việt không dùng nhạc cụ nầy  như người Lào nhưng nhạc cụ mà được trông thấy  thường ở người Muờng, một dân tộc rất gần gũi với người Việt về văn hóa và tập quán và người Hmong,  cũng giống  như khèn bè của người Lào. Hơn nửa nhạc khí nầy được thể hiện không những ở trên các trống và thạp đồng mà còn ở các vật dụng của văn hóa Đồng Sơn. Đó là trường hợp cái cán của một cái môi bằng đồng được trang trí với một nhân vật nam giới ngồi đang thổi khèn bè và được trưng bày  hiện nay  ở bảo tàng viện lịch sữ ở Saïgon.

Chúng ta  dẫn đến đến kết luận và  khẳng định một cách quả quyết  là nhạc khí nầy có từ thời đồ đồng  (giữa 3000 và 1200 trước công nguyên ở Đông Nam Á) và được sáng chế bỡi người thuộc chủng Nam Á (austro-asiatique) trong đó có các dân tộc Lào,  Hmong,  Mường, Việtnam và Mnong vân vân… mà chúng ta thường gọi là đại tộc Bách Việt. Cũng không nên quên có một thời điểm nào trong quá khứ dân tộc Lào (chi nhánh Tây Âu) và dân tộc Việt (chi nhánh Lạc Việt) cùng nhau hiệp  sức trong việc thành lập nước Âu Lạc của Thục Phán và  chống cự lại  quân Tần của  Tần Thủy Hoàng.  Theo bà khảo cứu Pháp Madeleine Colani thì các khèn bè nầy không bao giờ vượt qua dãy núi Hy Mã Lập Sơn và thung lũng Bramahpoutre của Ấn Độ.  Tuy nhiên cũng có ngoại lệ.

joueur_khen2

Khène

 Đó là truờng hợp  các khèn bè của dân tộc Dayak ở đảo Bornéo (Nam Dương) vì trước khi họ định cư trên đão nầy, họ đã sống trước đó dọc theo bờ biển phía đông của Đông Dương.  Dựa trên khèn bè của người thuộc chủng Nam Á, người Trung Hoa cũng sáng chế một nhạc cụ thường gọi là lusheng mà được nhắc đến trong kinh nhạc của Đức Khổng Tử.

Theo nhà nghiên cứu Victor Goloubew, người Đồng Sơn tức là tổ tiên của người Việt hiện nay cũng biết thổi khèn bầu.

Khèn bè được xuất hiện dưới nhiều hình dạng mà theo bà Madeleine Colani thi khèn bè của dân tộc Lào xem  là  óng chuốt và tao nhã nhất.  Nói chung thì  cây khèn bè  thông thường có một cấu tạo ống theo số chẵn,  làm bằng tre và ở mỗi cái ống có một lỗ nhỏ  thường gọi là lỗ thổi và  bên trong ống có một  lưỡi gà bằng đồng hay bạc giát mỏng. Các ống nầy được lắp ráp theo cặp với  chiều dài giống nhau, theo thứ tự  và giảm dần từ miệng của cái bầu khèn được cung  cấp không khí bởi hơi thổi của người chơi khèn. Chiều dài của các ống xác định độ cao của nốt. Cây khèn càng dài thì âm điệu càng thấp. Số ống dùng để thổi không có cố định và còn có liên hệ đến truyến thống văn hóa của mỗi dân tộc.  Như người Hmong ở các dãy núi phiá bắc Việtnam hay là người Mnong ở Tây Nguyên, thì  trên cây khèn chỉ có thấy 6 ống mà thôi. Còn với người Thái ở vùng Mai Châu, số ống  lên đến 14.

Khèn có  6 ống (hay Mbuot) của dân tộc Mnong ở Tây Nguyênm_buot  

Còn khèn của nguời Lào thì số ống có thể biến đổi: hoặc 6 ống với chiều dài có thể lên  đến 40 cm thì gọi là khène hot hoặc là 14 ống với   khène jet

hoặc là  16 ống với   khène baat.  Khèn nầy được trọng dụng nhiều nhất ở Lào.  Để phát âm tiếng, nguời chơi khèn phải  giữ giữa hai bàn tay nhạc cụ  mà  ở nơi đó  có miệng khèn   dùng để thổi và đưa không khí vào khèn, xem như là nơi để tụ không khí.   Cùng lúc đó người thổi  khèn phải bịt ở đầu các ống với các ngón tay khiến làm rung chuyển các lưỡi gà phù hợp  qua sự  hít vào hay thở ra của mình.

khenz_bambou

Khèn lào (16 ống)

Khèn thường có liên hệ mật thiết với các nghi lễ tôn giáo và các sự kiện quan trọng ( hội chợ, đám cưới, tang lễ vân vân …).  Có thể thổi khèn một mình hay là  với một nhóm người  nhằm để kèm theo các điệu nhảy  hay ca hát.  Mỗi dân tộc có sự tích cá biệt về khèn.   Tiếng khèn cũng làm cho  thế giới con người  đến   gần với thế giới tâm linh. Đối với dân tộc Lào cũng như các dân tộc thiểu số ở Vietnam (Hmong, Thái vân vân…), cây khèn bè biểu tượng  bản sắc văn hóa. Đối với dân tộc Hmong, có một cây khèn trong nhà là niềm hảnh diện được có một người đàn ông tài hoa và khí phách trong gia đình.

Trong ngạn ngữ của người  Lào, muốn được xem là người Lào đích thực, thì phải biết thổi khèn, ăn cơm nếp với cá ươn  (padèk) và ở nhà sàn.

Dù có một vai trò rất  quan trọng như các cồng chiền Tây Nguyên (Việtnam), cây khèn bè tiếp tục bị bỏ rơikhene_laotien  theo ngày tháng bỡi giới trẻ  vì muốn   thông thạo trong việc thổi khèn bè thì không những cần có sự kiên nhẫn mà cần có khiếu về  âm nhạc. Bỡi vậy khèn bè không phải ai cũng thổi được mà cần phải biết diễn xuất một số giai điệu căn bản và biết nhảy hòa nhịp  theo tiếng khèn. Một số giai điệu có thể gợi lên các khía cạnh của thiên nhiên và cuộc sống. Có hơn 360 giai điệu dành cho tang lễ. Chính vì thế cây khèn bè có một vị trí quan trọng trong đời sống dân gian và tinh thần của các dân tộc thiểu số.


Tài liệu tham khảo

Essai d’ethnographique comparée. Madeleine Colani, BEFEO, 1936,Vol 36, N°1, pp. 214-216
Hà Văn Tấn: Nouvelles recherches préhistoriques et protohistoriques au Vietnam.
Rapport sur une mission officielle d’étude musicale en Indochine. Péri Noël, G. Knosp. BEFO. 1912. Tome 12, pp 18-2
Pour continuer d’entendre le son du khèn des Hmongs. Hoàng Hoa. Courrier du Vietnam, 24.03.2012

 

Photos de Jean Marie Duchange

 

Version française

Cũng như ông Henri Oger với các bộ sưu tập tranh mộc bản, ông Jean Marie Duchange rất yêu chuộng người dân Việt nhất là đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên. Trong ba năm ông làm ở vụ y tế ở miền núi,  ông không ngần ngại gian nan những lúc rãnh rỗi cưỡi voi, đi bộ, dùng thuyền đôc mộc  hay xe jeep đến các vùng núi  để chụp các ảnh nầy với máy ảnh reflex 6×6 bi objectif. Nhưng cuối cùng  ông cũng không thực hiện  được  ý định  xuất  hành  cuốn album  vì ông ra đi ở tuổi 88. Dự định in ấn cũng đành hoãn lại. Tuy nhiên để tưởng nhớ và thực hiện hoài bão của ông, con gái ông Evelyne Duchange và cháu ngọai  Nadège Bourgoin  cống hiến cho hai bảo tàng, một ở Paris là Quai  Branly (Paris)  và hai là bảo tàng dân tộc học ở Hànội  các tác phẩm ảnh của ông bằng négatif. Nhờ vậy mới  có dịp  chụp  lại được   ở bảo tàng dân tộc học  các ảnh nầy  để cùng chung  khám phá các tập tục nghi lễ trong những năm 50 của thế kỳ 20. Các tác phẩm ảnh nầy  là một  nhân chứng vô  giá  của ông về  cuộc sống linh động hằng ngày của các đồng bào thiểu số mà nay không còn thấy nửa ở Tây Nguyên.

Version française

Analogue à Henri Oger avec ses estampes en bois, Jean Marie Duchange  avait de l’estime pour  le peuple vietnamien, en particulier pour  les ethnies des Hauts Plateaux du Centre.  Profitant des trois années passées à la direction de santé  publique des populations montagnardes du Sud Indochinois, il n’hésita pas à parcourir   les régions montagneuses à dos d’éléphant, en jeep , en pirogue ou encore  à pieds avec difficultés pour réaliser ces photos avec son appareil  reflex 6×6 bi objectif quand il  avait du temps libre. Mais à la fin, il n’arriva pas à accomplir son rêve de réaliser un album car il fut décédé à l’âge de 88 ans. Son projet d’édition fut  abandonné aussi. Pour honorer sa mémoire et pour perpétuer le beau travail d’un passionné de la photographie, sa fille Evelyne Duchange et sa petite fille Nadège Bourgoin  ont décidé de faire le don de ses négatifs aux deux musées, l’un à Paris au musée Quai Branly et l’autre à Hanội, au musée d’ethnologie.  Grâce à ce  don, j’ai eu l’occasion  de passer une journée à ce dernier musée pour faire ces photos et pour nous permettre de découvrir ensemble toutes les coutumes et les traditions  dans les années 50 du XXème siècle. Ces photos constituent son  témoignage inestimable sur la vie journalière des ethnies qu’il est impossible de retrouver aujourd’hui aux Hauts Plateaux du Centre.

Le voyage à Hà Giang, Cao Bằng ( Chuyến đi Hà Giang, Cao Bằng)

Le voyage à Hà Giang et Cao Bằng

Devant la chute d’eau impressionnante de Bản Giốc (Cao Bẳng)

Version vietnamienne

Je n’ai aucun moment de visiter jusque-là tant d’endroits durant mon séjour au Vietnam comme je viens de le faire cette fois. Cela vient peut-être de mon ambition ancrée en moi depuis longtemps mais aussi de mon âge assez élevé. Si je ne fais pas cette fois une excursion à Hà Giang, je pense que je n’ai plus d’occasion pour y aller même si j’ai tant d’argent. En prenant habituellement un circuit touristique, on n‘est jamais gâté car on n’a pas l’occasion de faire des photos à l’endroit désiré mais on est obligé de respecter les horaires imposées par le guide. De plus on a besoin de justifier qu’on est en bonne santé et qu’on est accompagné par des proches durant le voyage. Grâce à l’aide apportée par le patron d’un hôtel situé dans la vieille ville de Hanoi, Mr Trung et à l’encouragement de mes enfants, je suis plus motivé pour réaliser ce projet. La veille de notre départ, tout le monde me recommande d’y renoncer car les routes de Hà Giang ont été dévastées par le typhon Sơn Tinh la semaine précédente. Mais je suis entêté dans ma décision car je pense que chacun de nous a son destin et Dieu continue à soutenir ma volonté d’y parvenir. En arrivant à Hà Giang, je m’aperçois qu’il y a tellement de tronçons de route sinueux dévastés. La pluie continue à tomber à des endroits où le nuage s’assombrit et la route est très dangereuse pour moi et mes proches. Il ne faut pas oublier de remercier le jeune chauffeur Minh tellement doué dans la conduite et aimable que ma peur s’estompe au fil de mon voyage malgré la succession des pentes particulièrement plus raides que celles trouvées en Corse (France). Minh ne cesse pas de répondre à mon attente et de me permettre à faire des photos à mon gré malgré sa fatigue visible sur son visage à cause de son assiduité pour parer à toute éventualité. Il faut reconnaître que j’ai la chance d’avoir des gens extrêmement gentils et d’être dans cette région. C’est aussi une occasion pour moi d’admirer la beauté naturelle et grandiose, une caractéristique de la forêt du nord-ouest semblable à un tableau naturel du créateur, de pouvoir visiter la vieille ville Đồng Văn, grimper les 384 marches de l’escalier pour voir le drapeau flottant à Lũng Cú, admirer les chutes d’eau impressionnantes de Bản Giốc (Cao Bằng) occupées en grande partie aujourd’hui par les gens du Nord dans une région jusque-là défendue vaillamment par nos ancêtres avec des larmes et du sang. Je suis à la fois triste et heureux quand je rencontre à Lũng Cú deux jeunes garçons routards vietnamiens âgés à peu près de 16 à 18 ans venant de la région Thái Nguyên avec leur moto. Leur but est de pouvoir réaliser quelques photos avec la tour du drapeau flottant à Lũng Cú en grimpant comme moi les 300 marches de l’escalier. Ce geste m’émeut tellement que je ne retiens pas mes larmes. Je me rends compte de l’amour intense de la jeunesse vietnamienne face à la menace des gens du Nord.

Galerie des photos

Chuyến đi Hà Giang, Cao Bằng

Chưa có bao giờ tôi về Việt Nam mà đi tham quan nhiều nơi như vậy có lẻ vì hoài bão mà mình có từ lâu ở nơi mình nhưng cũng có phần nào vì tuổi tác của mình. Nếu không đi thì không bao giờ đi được nửa dù có tiền đi nửa. Đi tour thì không thích thú chi cho mấy không được chụp những nơi mình thích mà còn vô cùng vội vã tranh thủ thì giờ theo lịch trình của hướng dẩn viên . Vã lại còn phải bảo đảm không bệnh hoạn có bảo hiểm và có người thân đi chung khi đi tour. Vi thế nhờ biết cháu Trung, nguời quản lý của khách sạn mình ở và quen biết từ lâu và nhờ có các con cháu đi chung mà mình mới có động lực thực hiện được hoài bão nầy. Trước ngày đi, mọi người khuyên bỏ ý đinh nầy đi đang sạt lở đường xá ở Hà Giang với bão Sơn Tinh tuần trước. Nhưng mình nhất định đi vì mình nghĩ rằng mỗi người đều có số mạng vã lại Trời không phụ ý định tâm quyết của mình đấy. Khi đến Hà Giang, mình mới nhận thấy sạt lở ở những đoan đường quanh co, mưa vẫn còn khi có mây đen ở từng đoạn đường, rất cực kỳ nguy hiểm cho mình và mọi người. Cũng phải cảm ơn Minh, cháu tài xế trẻ lái rất giỏi và rất dễ thương khiến sự sợ hải của mình không còn nửa nhất là đèo nầy vừa qua thì đèo khác lại tới còn hơn ở đảo Corse của Pháp nhiều lắm. Chú ơi, chú muốn ngừng ở đâu chụp, cháu ngừng ở nơi đó dù đôi khi Minh tỏ ra mệt mỏi đau lưng vì quá chăm chỉ. Thật sự tôi có duyên với mọi người nhất là với mãnh đất nầy. Mới có dip nhìn thấu tận vẽ đep cực kỳ hùng vĩ đặc trưng của rừng Tây Bắc như một bức tranh thiên nhiên của tạo hóa, có dip đến tham quan làng cổ Đồng Văn, leo 384 bậc thang lên xem cột cờ Lũng Cú, đến nhìn thác Bản Giốc(Cao Bằng) hùng vĩ nay bị mất đi một phần ở mãnh đất đia đầu của Tổ Quốc được bao lần giữ gìn bởi ông cha chúng ta. Rất vui buồn lẫn lộn khi thấy hai đứa trẻ cở chừng 16, 18 tuổi chạy xe gắn máy từ Thái Nguyên ngủ bờ ngủ bụi đi phượt để trèo lên như mình qua 300 bậc thang để chụp hình cột cờ Lũng Cú rồi quay về Thái Nguyên, một niềm hảnh diện của tuổi trẻ làm mình chảy nước mắt vì tinh thần yêu nước của tui trẻ nầy vẫn còn nồng nàn, vẫn còn mãnh liệt trước hiểm họa của người phương bắc.
Hà Giang ngày 24/7/2018

The Hmong (English version)

French versiondantoc_hmong

The Hmong are divided into local  sub-groups: the Green Hmong, the Red Hmong, the variegated Hmong, the Black Hmong and the Na Mieo.

The Hmong (The Miao or Miêu in vietnamese) actually  living in Vietnam are  descendants of emigrants from South China. Around the end of 18th century and the beginning of 19th century, the Hmong emigrated to Indochina peninsula (Laos, Vietnam and Thaïland)  and settled  away from plains already occupied by  majority ethnic group  in mountainous areas of Hà Giang and Lào Cai provinces.

Their migration story was closely related to the insubordination to the Chinese culture and the policy of asssimilation practiced by northerners. According to mythic tales passed down from generation to generation, their ancestors lived in snow and  ice covered regions where the night lasted almost 6 months. That is why, being accustomed to living in tropical regions and not having the opportunity to see the snow, the Hmong use terms such as « nước cứng » (or solid water) and « cát trắng mịnh » (or fine white sand) to designate respectively the ice and the snow. According to historians, their origin would be in Siberia (Tây Bá Lợi Á) and in vast plateaus of Mongolia. Some Caucasian proeminent traits are detected among the Hmong today. Others preferably opt for Tibet because shamanic rituals.  One has speculations more than certainties about the accuracy of the Hmong geographic origin. In the Chinese writings, the Hmong were designated under the Miao name including initially all the  ethnic peoples non han living in South West China. Today,  this name is reserved to the population group specifically identified and distinct gathering together the Hmong living in Indochina peninsula and  the Miao ethnic minority populations  (The Hmong, the Hmou, the Qoxiong and the Hmau)  closely related at the linguistic and cultural level in China.

Originally related to the drawing of  rice field (Điền) above which is added the pictogram Thảo” (cỏ) (herb)(key 140), the Chinese character Miao (or Miêu in vietnamese) clearly shows the way that the Chinese adopt  to call  the people knowing  the rice cultivation with their language. Being initially rice farmers, the Miao  had  the sedentary lifestyle in plains. As the Miao were chased by successive waves of the Chinese who dispossessed them of their  arable land and their rice field, they were forced to become highlanders  and stayed until today. Being rushed to high altitudes in inaccessible and hostile mountain areas, they were forced to adapt themselves to each environment where they looked  for an agricultural model allowing them to practice the rice cultivation (rice terraces). In spite of that, the Chinese had the habit of traiting them as the barbarians. The Chinese have gone as far as making a distinction between the shu Miao ( or the  cooked Hmong) and the sheng Miao (the uncooked Hmong), that means the assimilated  Hmong  and the  diehard Hmong  on the margins of Chinese civilization.  They  had the task of transforming these sheng Miao into shu Miao.  Myths and facts are not miss to enrich the history of the Miao (or the Hmong).  The latter is punctuated by endless conflicts with the Chinese since time immemorial. This long history of resistance to oppression gives them a particular reputation: they cannot be assimilated and very belligerent.

A people in search of freedom

The Miao ( or the Hmong ) lived together with Hsia(1) tribes since prehistoric times in the middle of Yellow River  Basin (Honan or Hà Nam in vietnamese).  Being associated with Chi You ( Suy Vưu ), they engaged the first confrontation leading to failure with the death of the latter at Zhuolu (Trác Lộc) in Heibei province (Hồ Bắc) (approximatively 2690 before J.C.).They were  henceforth  repelled by Yellow emperor Huang Yuan (Hiên Viên) and Yu the Great (Ðại Vũ) in the Bai Yue territory at  the Yang Tsé Basin River. Other conflicts were evoked with Miao groups in Chinese historical writings  of Shan and Zhou dynasties (1121 – 256 before J.C.). In the middle course of Yang Tsé River (Dương Tữ Giang), they exercised  significant influence over the political and social life of the Chu kingdom (Sỡ Quốc). The latter was considered as one of three principalities fighting among themselves for supremacy  during the Warring States period (Thời Chiến Quốc)In addition to the soul recalling, we noted the close ties between the  Chu culture and the Miao on the various cultural  traits (lifestyle, habitat, language etc…)(2). They constituted probably the force majeure in the Chu population with the Luo Yue (the Proto-Vietnamese) and the ancestors of Thaï today (The Si Ngeou or Tây Âu).  This force majeure became the first bulwark of Yue and Miao tribes in the committed fight against the Chinese.

 
Pictures of Hmong women


img_8504

 

 

Being in hemp, silk or cotton, the  Hmong pleated skirt whose decoration is own to every group, requires more than 20 meters for the length of the fabric. The method of pleating is one of the characteristics of Hmong women skirt.

 

© Đặng Anh Tuấn

After the disappearance of this kingdom, the Miao continuated to be repelled in Guizhou (Quí Châu), Sichuan and Yunnan mountains.  Other military conflicts had emerged with Miao groups in the era of the first dynasty of the Han (140 – 87  before  J.C.) and during Five Dynasties (140 – 87 before  J.C.).  The Miao name was forgotten temporarily in Chinese writings until the establishment of Chinese suzerainty on these provinces by the Yuan ( or the Mongols of China). Then it was regularly mentionned again under the Ming dynasty. Because the Chinese strong demographic growth  ( from 100 millions to 450 millions between  13th and 18th centuries), the Chinese of the Ming dynasty continued to deprive the Hmong of their plateaus and their rice fields, which caused simultaneously the exodus and the fight engaged by the Hmong in the defense of their land. Some Hmong took up arms.  Other preferred to seek refuge in Indochina pensula, in particular in Vietnam by three  successive waves of which the most important was maked by  the  Taiping mystical insurrection   known under the name of Tai Ping Tian Guo (Thái Bình Thiên Quốc)  against the Qing  (from  1840 to 1868). The Hmong thus became a minority ethnic group of Vietnam since three centuries.


(1): There is the ancient name given to the Chinese.
(2): First  symposium on the history of  Chu kingdom (Jingzhu, Hubei, december 1981).

 
 

 

 

The Bai Yue ( Bách Việt)

bachviet1

 
French version

Vietnamese version

The Bai yue were probably the heirs of  Hoà Bình culture, a discovery extremely important from French archeologist Madeleine Colani in the Hoa Bình province (Vietnam). They were a people of skilled farmers: They grew rice on burned land and flooded fields and raised buffaloes and pigs. At the time of the first contact with the nomad folks from the North of Turco-Mongolian origin,  ancestors of the Han (or Chinese) called them by the name of « Yue ». There are people having the habit of using the ax in rice cultivation and in the fighting. The ancestors of the Vietnamese (or the Luo Yue) were part of these Bai Yue, owners of the bronze drums.

The Bai Yue (or Bách Việt in Vietnamese) lived scattered in the south of the Blue River basin (or Dương Tử Giang), from Zhejiang (Triết Giang) until Jiaozhi ( Giao Chỉ )( the northern Việt-Nam today ). They were devoted to rice cultivation and distinguished themselves from Chinese people accustomed to cultivate millet and wheat. They drank infused water with the leaves of a plant known as « tea » they gathered in the forest. They liked dancing, working while singing and alternated their reply in the songs. They often disguised themselves in the dance with leaves and plants. They were found at that time in the current provinces of Southern China: Foujian (Phúc Kiến), Hunan(Hồ Nam), Guizhou (Qúi Châu), Guangdong (Quảng Ðông), Jiangxi, Guangxi ( Quảng Tây), Yunnan (Vân Nam) and in the northern Vietnam today.

Bronze drum shown in Guimet museum (Paris)

icon_tambour

Characteristic features of the Bai Yue

1°) The practice of cutting hair short and tattooing.
2°) The construction of houses on piles ( construction Ganlan ).
3) Dress in loincloth and turban.
4) Blackening or grinding front teeth ( canine teeth )
5) Eating clams and amphibians in diet.
6) Bronze casting and using bronze drums in rituals.
7) Foretelling future using bird bones
8) Totemic cult (birds, reptiles and amphibians)
9) Practice burying on cliffs
10°) Greater involvement by fathers in their son’ birth and education and the return of the woman in rice acitivities.
11°) A highly developed technology of weaving
12°) Intensive use of small boats and expertise in the art of maritime warfare.

 

Đại tộc Bách Việt

Buôn Ma Thuộc ( Highland Center )

French version

Land of Montagnard minorities

Being known for beauty of nature characterized by its waterfalls and lakes, Buôn Ma Thuộc is the  capital of Dak Lak province in Higland Center. The development of tourism is essentially based on elephant ride, visit of ethnic minorities or that of waterfalls. Formerly, it is the country of the Êdê and Bahnar. It is distingued from other regions by its   plantations (coffee, rubber, pepper, cashew and durian fruit).

 

 

 

 

Ethnic minority housing (Nhà của đồng bào thiểu số)

 

maisons_minorites

 

 

French version

Ethnic minority housing

The richness of ethnic minorities living in the Central Highlands (Tây Nguyên) of Vietnam is measured by the number of jars of rice beers found inside of their houses. These jars are distinguished by their forms, sizes and colors. Some are engraved with the bas-reliefs often illustrated by flowers or dragons.

 

 

Pictures gallery

The Lôlô (Dân tộc Lô Lô)

French version

Being known in China under the name « Yi », the Lô Lô are  also called Mùn Di, Màn Di, La La, Qua La, Ô Man, Lu Lộc Mà by the Vietnamese. They belong to the Tibeto-Burman ethno-linguistic group.  A large number live in the highland areas of China  (Sichuan, Yunnan, Guizhou et Kouang Si) except a little minority native of Yunnan installed  in the Upper Tonkin at the time of migratory flows which were appeared in the 15th and 18 th centuries. At present, the population of this ethnic group amounts to about 4000 individuals in Vietnam. According to  ethnologists, the Lô Lô are descendants of the nomadic people and sheep farmer Qiang (Khương tộc ) who emigrated from the  South East of Tibet for taking up permanent residence  in Sichuan (Tứ Xuyên) and Yunnan (Vân Nam).

© Đặng Anh Tuấn

The one of 54 ethnic minorities in Vietnam                      

dantoc_lolo_1

burstani 

At the period of Chunqiu (or Spring and Autumn period)(Xuân Thu in Vietnamese), this people was always at war with the inhabitants of Yellow River (Hoàng Hạ),  ancestors of the Chinese. Their expansion was stopped by the duke Mu of the Qin  state (Tần Mục Công) which  ruled between -660 et -621 and was one of five famous  hegemons (Bá chủ) at this time thanks to the contribution made by his talented chancellor Baixi Li ( Bá Lý Hệ).

In the ethnic group Lô Lô, there are two small groups: the coloured Lô Lô  (Lô Lô hoa )  and the black  Lô Lô  (Lô Lô đen). They live by using   traditional irrigated rice method and slashand-burn agriculture with  most important plants as  corn, sticky rice and ordinary rice. That is what we see in Đồng Văn et Mèo Vạc districts on the fields and milpas.  By contrast, in the Bảo Lạc district, except the permanents milpas, they use  the field terraces. Their main food is the maize flour immersed in boiling water. The broth is not missing in their meal, which  always requires the use of  bowls and  spoons in wood.

彝族  (Dân tộc Lô Lô)

In general, their homes are conveniently located in high  and dry areas overlooking the valleys. They prefer to live near dense forests because forests and streams are considered by them as living spaces of the soil genius. They are just people who like to live in harmony with nature. They use the hoods with two shoulder straps  in rattan or a variety of bamboo (giang) for transporting their possessions. They prefer to be married  with people of their sample ethnic.  They  also practice exogamy just in case the marriage takes place  between people from different parentages. The Lô Lô  are monogamous. The young bride lives in the family of his  husband.  The adultery is condemned in their traditions. However, the levirate marriage is tolerated because the little brother of the deceased can take for the  spouse his sister-in-law. Similarly, the son of   the parternal aunt is allowed to be married with the daughter of the maternal uncle (cô cậu) but it is strictly forbidden to do the opposite.

In the family, everything is decided by the husband. The daughters inherit jewelry of their mother and receive upon their marriage a dowry. About the heritage itself,  the beneficiaries are male children in the family. When a person is died,  his family organises a ritual ceremony in the intention of helping  his  soul to find   the path towards  his ancestors. Being known under the name  » dance of the spirits », this  rhythmic manifestation is led by his son-in-law carrying on his shoulders a bag containing a cloth ball representing the head of the deceased. Sometimes,   instead of this ball, we find  a piece of wood or a squash on which is drawn the figure of the deceased. This shows that the traces of the practice  of headhunting remain vivacious among the Lô Lô. During the funeral, this son-in-law must carry one of the extremities of the coffin. It is him and brothers of the widow to throw the first handfuls of earth in the tomb of the deceased.

The Lô Lô  clearly distinguish between close ancestors (in less than 5 generations) and distant ancestors (beyond six generations).  For close ancestors, there is always an own altar in each family while for distant ancestors, the ritual takes place in the home of the  lineage head (trưởng tộc).  Like the Vietnamese people, the Lô Lô have the bronze drums which are used only during the funeral. These drums   are always in pairs: a male and a female. They are placed in the supports next to feet of the deceased so that their eardrums are  opposing each other. Then a player stands between them and strikes them alternatively with a unique drum stick. A  beat for the male drum followed by  another  beat for the female drum, all of this is in a regular cadence.

The player must be  single or a married man whose the wife is not pregnant at the funerals. Being a sacred instrument, the drum is buried or hidden in a place which is simultaneously clean and discreet. There is only the familial lineage head  who  knows this emplacement.

For the Lô Lô, there is a legend concerning the bronze drum:

Once upon a time, the country and its inhabitants were swallowed by the flood. Having had compassion for young girls who were dying, God provided assistance to them by putting respectively the big sister in the great bronze drum and the younger in the small drum. The drums were not drowned by the flood, which saved two young girls. After the deluge, they taked refuge in the mountains and were married. They had thus become the ancestors of ressurected humans.

Like the Vietnamese and the Chinese, the Lô Lô celebrate their new year at which are added other rites and  festivals. The is the case of the ritual of new rice, the celebration of the 5th day of the 5th moon, that of the 15th day of the 7th moon etc.. We don’t forget to mention also the dance under the  moonlight . The latter may last all night  and assembles  either a majority of  girls and boys or  a group of young girls  or married womens. The dance  starts with  the formation of the circle carried out by the dancers who place their hands on the shoulders of others.  They are accompanied  by songs  and movements simulating the  daily activities  such as the rice pounding and   winnowing,  the fruit picking or the embroidery etc …

Being the favourite entertainment for youth, the dance under the moonlight takes place on the site near to the village and it can take up to the morning light.

butvietAlthought the Lô Lô are not numerous in Vietnam, they are distinguished from other ethnies by their flamboyant clothing and the deep attachment to nature. 

 


Bibliographic references:

  • Ethnic minorities in Vietnam. Đặng Nghiêm Vạn, Chu Thái Sơn, Lưu Hùng . Thế Giới Publishers Hànội 2010
  • Mosaïque culturelle des ethnies du Vietnam. Nguyễn Văn Huy. Maison d’édition de l’éducation. 1997
  • Notes sur quelques danses de minorités ethniques du Nord Vietnam. Phạm Thị Điền. Etudes vietnamiennes. Tome 39 n°3

 

 

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): 5ème partie

peuple_bana5

Dernière partie

Une fois le mariage célébré, les jeunes époux habitent par roulement dans leurs familles parentales au bout d’un certain temps suivant l’accord établi entre les deux familles. C’est seulement après la naissance de leur premier enfant qu’ils commencent à construire leur propre maison. Les Bahnar adoptent la monogamie. Le viol, l’inceste et l’adultère sont strictement condamnés. Au cas où l’adultère est commise par le conjoint survivant quel que soit son sexe au moment de la période d’entretien de la tombe, on dit qu’il saute par dessus le cercueil ko dang boăng. Le survivant n’est pas aussitôt délié de ses obligations envers le mort. Il est obligé de payer non pas aux ayants droit du défunt mais au défunt lui-même des indemnités qui sont réglées en un nombre de bêtes que l’on immole bơthi sur sa tombe. C’est pourquoi le conjoint survivant a l’intérêt d’écourter la période d’entretien s’il a envie de refaire sa vie. Même dans la mort, le préjudice causé au défunt par la faute de son conjoint a droit à une réparation matérielle par le nombre de bêtes qu’on immole sur sa tombe. Dans la tradition des Bahnar, chacun est « libre » sous réserve de ne pas nuire à la personne ou aux biens d’autrui. Dans le cas où la personne a été lésée dans son honneur ou matériellement dans ses biens, elle a droit à une réparation sous forme d’indemnité ou à un remboursement des frais engagés. Les Bahnar n’infligent pas la peine de mort. L’envoi de quelqu’un au bagne correspond à un bannissement. Les Bahnar savent pratiquer l’entraide en cas de disette. Dans leur maison, on ne boit jamais d’alcool de riz, on ne mange jamais de viande sans inviter les autres familles (4). Le premier riz mûr n’appartient pas seulement au propriétaire du champ mais au village tout entier. 

 

Figurines de bois
devant les maisons funéraires

bana_figurine

La liberté de choisir le conjoint ou la conjointe, la répartition des tâches dans un couple, le droit à une réparation matérielle ou morale, le respect d’autrui illustrent bien l’égalité entre hommes et femmes dans la tradition ancestrale des Bahnar. Il n’y a pas de différence essentielle entre la situation juridique de l’homme et celle de la femme. Chez les Bahnar, le mode de fonctionnement démocratique existe depuis longtemps avant que la démocratie soit découverte et pratiquée en Occident. Selon l’ethnologue français feu Georges Condominas, les « sauvages » n’attendent pas Minkowski ou Einstein pour avoir la notion d’espace-temps. En employant une expression liée à l’espace, ils indiquent une date. Ils donnent approximativement l’âge de quelqu’un par rapport à un événement saillant. Ils ne détruisent pas totalement la forêt car ils savent la laisser se regénérer des années après qu’ils l’avaient mangé dix ou vingt ans auparavant comme les Mnong de Georges Condominas. Ils ne tuent pas le gibier pour le plaisir de tuer mais ils le tuent pour manger seulement et pour savoir le partager avec leurs compatriotes.

Ils ne gardent que pour eux une part infime de leur chasse. L’épandage et l’utilisation des défoliants par les Américains durant la guerre du Vietnam, le massacre des animaux pour la pharmacopée traditionnelle, la destruction de la végétation et la déforestation liées à la démographie galopante, la stérilisation de la terre par l’utilisation excessive des engrais chimiques sont l’apanage des gens dits « civilisés ». La solidarité et l’entraide ne sont pas des mots creux.

Les Bahnar sont avant tout des « rơngơi » (ou libres). Ils sont habitués à dire: « Je suis rongơi ou kodră (maître)  » pour dire qu’ils sont libres du choix de leurs activités ou maîtres de leur destin. Sont -ils des « sauvages » comme on y pense depuis longtemps? C’est à chacun de nous d’approfondir cette question et de se servir de leur genre de vie et de leur culture comme source d’inspiration et de réflexion afin de nous permettre de vivre mieux et d’être ensemble dans le respect d’autrui et de la nature.

 

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): 4ème partie

peuple_bana4

Quatrième partie

En ce qui concerne la coiffure des Bahnar, on commence à voir souvent des hommes qui, en contact avec les Kinh et les étrangers, se coupent de plus en plus les cheveux. Normalement, l’homme bahnar enroule un turban d’étoffe et le passe dans le chignon. Par contre, une femme ne porte pas le turban et le remplace par un cordon ou un bandeau de perles de verroteries. C’est un acte de déclaration d’amour lorsqu’une fille dénoue en public le turban d’un jeune homme ou lorsqu’un homme offre à la femme ou à la fille du tabac ou une chique sortie de sa pipe. 

La vie des Bahnar est régie par un cycle annuel traditionnel avec dix mois pour la production agricole et deux mois consacrés aux festivals et aux activités variées du village: mariage, réparation ou construction de la maison, confection des vêtements etc… Dans leur société traditionnelle, la notion d’argent n’a aucune signification importante. Leurs produits de valeur tels que les gongs, les jarres, les buffles, les éléphants, les chevaux étaient utilisés comme les objets de troc dans le passé. Leur richesse se mesure au nombre de gongs, de jarres, d’esclaves trouvés dans chaque famille. Les Bahnar font du riz la base de leur nourriture. Il est cuit à l’étouffée ou à la vapeur. On remplit du riz et d’eau dans un gros bambou qu’on suspend au dessus du feu. En carbonisant le récipient, cela permet de cuire le riz. Ils se servent du riz gluant pour fabriquer une boisson fermentée (ou alcool de riz)( rượu cần en vietnamien). Ils absorbent ce liquide au moyen de longues pipettes en bambou. Ils ajoutent de l’eau lorsque le niveau du liquide baisse. Il est évident que la boisson est de moins en moins concentrée avec cet ajout.  

Les Bahnar de deux sexes se percent souvent les lobes pour porter des boucles d’oreilles mais ils ne se les distendent pas pour porter de gros anneaux comme les autres ethnies de la région. Vers quatorze ou quinze ans, ils se font araser les dents. Cette coutume de l’arasement des dents est en décroissance au fil des années. Par contre, le tatouage n’est pas pratiqué. Pour les garçons, à l’âge où ils commencent à aider leur père dans les champs, ils sont obligés d’aller coucher à la maison communale car c’est ici qu’ils reçoivent la formation, le maniement des armes et l’enseignement assumés par les anciens du village pour l’apprentissage de la vie. Ils ne peuvent rentrer qu’à la maison paternelle pour manger ou pour être soigné en cas de maladie.dantoc_bana

Chez les Bahnar, on constate que le couple des mariés n’adhère ni à la patrilocalité ni à la matrilocalité. C’est une question de convenance liée à la décision du couple. Par contre il y a une répartition de travail dans le couple: le mari s’occupe des affaires du village tandis que la femme prend en charge tous les travaux de la maison. Chez les Bahnar, on est libre de choisir son époux ou son épouse. Le mariage peut être célébré quand chacun des futurs répond aux conditions suivantes:

1°) Ils sont d’âge à cultiver un champ ( 15 à 16 ans). C’est une condition préalable pour nourrir leur famille car personne n’est prête d’apporter l’assistance même leurs parents.
2°) Il est obligatoire de contracter le premier mariage pour une jeune fille même si elle dépasse le cap de trente ans. Par contre elle peut être épousée soit comme femme de premier rang soit femme de second rang. Mais pour un veuf, un célibataire ou un divorcé, il n’est pas possible de contracter de mariage de second rang.
3°) Il n’existe pas de liens de parenté entre les futurs. C’est le cas où le consentement des parents est refusé. D’une manière générale, la participation des parents a pour but de s’assurer que les principes de tradition sont respectésLire la suite (Tiếp theo)

dantoc_bana1