Le roi Lý Thái Tông ( ou Lý Phật Mã)

 

Version française 
Lý Thái Tông Phật Mã (1000 – 1054)

Không có đời nào mà các vua  có độ lượng khoan hồng đối với những kẻ địch, thân thích hay dân chúng như đời nhà Lý. Đấy là lời nhận xét của nhà học giả Hoàng Xuân Hãn trong bài ông viết có tựa đề là « Đạo Phật đời Lý ». Phải sẵn có từ tâm nên các vua nhà Lý mới có thể khoan hồng dễ dàng và có những cử chỉ đáng kính để có lợi cho con đường chính trị  của mình như Lý Thái Tông. Vua nầy  được sách « Đại Việt Sử Ký Toàn Thư »  của Ngô Sĩ Liên nói ông là người có  tài trí và thông lục nghệ mà còn ví ông như Hán Quang Vũ Đế đánh đâu được đấy và công tích được sánh với Đường Thái Tông (hay Lý Thế Dân) ở Trung Hoa. Vậy Lý Thái Tông là vị vua như thế nào mà được  người dân Việt ngưỡng mộ?

Vua là con trưởng của Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn), tên là Lý Phật Mã và sinh ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư vào năm Canh Tý (1000).  Mẹ là hoàng hậu Lê Thị Phất Ngân, con gái của vua Lê Đại Hành và Dương Vân Nga. Ông được lập làm Đông cung thái tử, lên ngôi hoàng đế khi Thái Tổ băng hà, trị vì 27 năm và thọ được 55 tuổi.

 Vừa chuẩn bị lên ngôi thì Lý Phật Mã phải đối phó với loạn Tam Vương do ba hoàng tử Vũ Đức Vương, Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương đem quân vây thành Thăng Long để tranh giành ngôi vua. Nhưng nhờ  có các quan trung thành như Lý Nhân Nghĩa và tướng quân Lê Phụng Hiếu mà giết được Vũ Đức vương ở trận tiền và thu hàng  Dực Thánh Vương và Đông Chinh Vương. Sau đó Lý Phật Mã  còn phải xuất binh đi dẹp loạn ở phủ Trường Yên (Hoa Lư) nơi mà Khai Quốc Vương bất bình  làm phản. Một khi dẹp loạn xong cả, ông lại xuống chiếu tha tội các vương và cho phục hồi tước vị. Ngày 1 tháng tư năm 1028 (Kỷ Hợi),  Lý Phật Mã mới lên ngôi, tức là vua Lý Thái Tông và lấy niên hiệu là « Thiên thành ». Vì sự phản nghịch của các thân vương nên vua Lý Thái Tôn mới lập ra một lệ cứ  hàng năm các quan cùng các người thân thích của vua phải đến Đồng Cổ ở làng Yên Thái  Hànội cùng nhau tuyên thệ làm tôi phải trung thành với vua nhờ qủi thần chứng giám. Ai  không đến thề bị phạt 50 trượng. 

 

Ngài còn dùng chính sách khéo léo là không đặt các quan trấn giữ ở các châu mà còn liên minh với các người châu mục bằng cách gả các công chúa (Kim Thành gả cho châu mục Châu Phong là Lê Thuận Tôn chẳng hạn)  cho cho họ khiến họ lúc nào cũng trung thành với nhà Lý. Nhờ  có  tính thao lược và quen việc dùng binh, ngài thường thân chinh đi đánh giặc nhất là có giặc Nùng còn có hai nước lân bang như Ai Lao và Chiêm Thành hay thường cho người sang quấy nhiểu. Ở châu Quảng Nguyên có m ột người Nùng tên là Nùng Tôn Phúc làm phản, tự xưng là Chiêu Thánh hoàng đế,  đặt quốc hiệu là  Tràng Sinh quốc rồi đem quân đánh phá mọi nơi. Năm kỷ mão (1039), vua Thái Tôn thân chinh đi đánh bắt được Nùng Tôn Phúc cùng con cả là Nùng Trí Thông, đem về kinh thành xử tội. Năm 1041, con của Nùng Tôn Phúc là Nùng Trí Cao và mẹ là A Nông trở về lấy châu Đảng Đo gần Quảng Nguyên lập nước gọi là Đại Lịch quốc. Vua Thái Tôn sai tướng lên bắt Nùng Trí Cao  đem về kinh thành cùng mẹ nhưng nghĩ trước đã giết cha là Nùng Tôn Phước và anh là Nùng Trí Thông nên tha tội mà còn phong cho tước Thái-bảo.

 Còn nước Chiêm Thành, vua ở xứ nầy hay cho người  sang cướp bóc dân ở ven biển và không chịu qui phục. Vua Thái Tông buộc lòng phải ngự giá đi đánh Chiêm Thành năm 1044. Quân địch thua to. Tướng Chàm Quách Gia Di chém quốc vương Sạ Đẩu (Jaya Simhavarman II), vua cuối cùng của triều đại Chămpa Indrapura  và đem đầu xin hàng. Ba vạn quan quân Chàm bị giết  ở kinh thành  Phật Thệ (Vijaya, Bình Định) khiến vua Thái Tôn thướng xót nên ra lệnh cấm không được giết nguời Chàm. Nếu quân lính không tuân lệnh thì phải chịu hình phạt. Qua cuộc viễn chinh nầy, vua có mang về vợ của vua Chàm Sạ Đẩu tên là Mị Ê cùng các tỳ thiếp.  Đến sông Lý Nhân, vua sai người triệu bà sang chầu. Nàng giữ trinh tiết không chịu, quấn chiên trầm mình xuống sông tự tử. Vua biết được cho người lập bàn thờ bà và phong cho nàng làm « Hiệp chính Hựu thiện phu nhân » (Femme très chaste et très douce). 

Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, vua Thái Tôn tuy chinh chiến liên miên, ngài không quên việc  cải cách thể  chế ở trong nước. Ngài lúc nào cũng để lòng thương dân. Mỗi lần đánh giặc về hay có thiên tai thì ngài lại giãm thuế cho dân hai đến ba năm. Ngài còn sửa lại luật phép để cho người dân có thể lấy tiền mua chuộc tội trừ khi phạm tội thập ác (1). Bởi vậy ngài đổi lại niên hiệu là Minh đạo (1042). Thái Tôn còn hạ chiếu cấm không cho ai được mua hoàng nam làm nô lệ (1043). Còn ở trong cung thì số cung nữ và hậu phi được định lại như sau: hậu và phi 13 người,  ngự  nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người. Tất cả cung nữ đều phải biết thêu dệt vóc gấm. Còn gấm vóc của nhà Tống ở trong kho thì đem ra may áo ban cho các quan ở triều và từ đó không dùng gấm vóc  của nhà Tống nữa.  Dưới triều đại của ngài, chùa Diên Hựu (Chùa Một Cột)  được khởi công xây dựng vào năm Kỷ Sửu (1049). Theo truyền thuyết kể lại, ngài  nằm mơ thấy Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen. Khi tỉnh dậy vua bèn kể lại chuyện nầy cho bày tôi nghe thì có nhà sư Thiện Tuệ khuyên ngài nên làm  chùa dựng cột đá ở giữa ao, làm toà sen của Phật bà  đặt trên cột đá như trong mộng và các sư đi chung quanh tụng kinh cầu cho vua được sống lâu. Bởi vậy chùa  mới có tên Diên Hựu.

Mặc dù các sử thần Lê Văn Hưu đời nhà Trần hay Ngô Sĩ Liên theo quan điểm Nho giáo trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư  chê  ngài  có lòng nhân từ,  mê  thuyết từ ái của nhà Phật mà tha tội cho những kẻ phản thần (các thân vương hay Nùng Trí Cao) nên ngài quên đi pháp quyền và cái nghĩa lớn của người làm vua nhưng cũng có những tác giả như Lê Văn Siêu trong « Việt Nam Văn Minh Sử  Cương » cho rằng việc hậu đãi Nùng Trí Cao là thâm ý của ngài kiểu « Thất cầm Mạnh Hoạch ở Vân Nam » của Gia Cát Lượng ở thời Tam Quốc khiến Nùng Trí Cao cảm kích và kính phục.  Chính cũng nhờ cử chỉ cao thượng của ngài mà dân tộc Nùng cùng  thủ lĩnh Nùng Tông Đản có công lớn tham gia trong việc đánh phá Ung Châu về sau để chận đứng âm mưu thôn tính Đại Việt của nhà Tống với danh tướng Lý Thường Kiệt. 

Nhìn lại lịch sử mới thấy Lý Thái Tông là một vua rất giỏi cũa nhà Lý. Chính nhờ ngài mà Đại Việt trở nên vững mạnh ở trong vùng. Ngài đã thành công trong việc ổn định đất nước, tránh được những nguy cơ bạo loạn,  xâm lấn, qui phục các nước lân bang (Ai Lao, Chân Lạp và Chiêm Thành)   và thu phục được lòng dân khiến dựng cơ nghiệp nhà Lý có được hơn hai trăm năm. (Lý Bát Đế).

(1) Mười tội phạm.

Version française

Il n’y a aucune  dynastie où les rois sont aussi indulgents envers les ennemis, les proches  ou les gens comme  c’est le cas  la dynastie des Lý. C’est la remarque laissée par l’érudit vietnamien  Hoàng Xuân Hãn dans son article intitulé « Le bouddhisme de l’époque des Lý ». Dotés de la conscience et de  la bonne moralité,  les rois de la dynastie des Lý peuvent se comporter indulgents avec facilité et faire des gestes respectueux  permettant d’être sur  la voie de la réussite en politique comme Lý Thái Tông. Celui-ci est mentionné dans le livre intitulé  « Les Mémoires Historiques du Grand Viet » de Ngô Sĩ Liên comme un homme de talent et de savoir. Il est comparé non seulement à  l’empereur Han Guangwudi (Hán Quang Vũ Đế) connu pour la réussite de ses conquêtes territoriales  mais aussi à  l’empereur Tang Taizhong (Lý Thế Dân) illustré pour ses exploits prodigieux. Alors comment est-il Lý Thái Tông pour être admiré par tant de Vietnamiens?

Il était le fils aîné de Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn), nommé Lý Phật Mã et était né à la pagode Duyên Ninh dans l’ancienne capitale de Hoa Lư à l’année du Rat de métal (1000). Sa mère était la reine Lê Thị Phất Ngân, la fille du roi Lê Đại Hành et Dương Vân Nga. Désigné comme le prince héritier du trône,  il succéda à son père Lý Thái Tổ lors du décès de ce dernier, régna  durant 27 ans et mourut à 55 ans. Sur le point d’être intronisé, Lý Phật Mã dut faire face à la rébellion menée par  les trois princes Vũ Đức Vương, Dục Thành Vương et Đông Chinh Vương car ceux-ci décidèrent  d’amener des troupes pour encercler la citadelle de Thăng Long en vue de lui disputer le trône. Mais grâce à ses partisans fidèles tels que Lý Nhân Nghĩa et le général Lê Phụng Hiếu, il put  neutraliser Vũ Đức Vương dans la confrontation  avant de soumettre Dục Thành Vương et Đông Chinh Vương. Après cette rébellion, Lý Phật Mã dut partir en guerre  pour combattre l’insurrection menée par un autre prince mécontent Khai Quốc Vương  à Trường Yên (Hoa Lư). Une fois la rébellion matée, il retourna à la cour et ordonna un édit royal accordant le pardon à tous les princes rivaux et leur permettant de récupérer leur titre. Le premier jour de l’année 1028 (année du cochon de terre), Lý Phật Mã monta sur le trône. Devenu le roi Lý Thái Tông,  il prit au début de  son règne  le nom «Thiên Thành  (Achèvement avec l’accord du Ciel).

En raison de la rébellion des princes, le roi Lý Thái Tông a établi chaque année une coutume selon laquelle les mandarins et les parents du roi devaient se rendre ensemble à Đồng Cổ dans le village de Yên Thái Hanoï pour prêter serment de fidélité au roi en prenant comme témoin le diable en personne. Ceux qui ne viennent pas le faire seront condamnés à recevoir 50 coups de bâton pour la punition.

On  vit son ingéniosité  de ne pas envoyer à cette époque  les gouverneurs dans les districts lointains mais il préféra   plutôt  une politique d’alliance  avec les chefs  locaux en leur  accordant  vhaque fois la main de l’une de ses  filles (la princesse Kim Thành  acceptant   d’épouser le  chef du district Châu Phong, Lê Thuận Tôn par exemple), ce qui leur permit de rester toujours fidèles à la dynastie des Lý. Grâce à son génie militaire  et son habilité  à utiliser les troupes, il allait souvent combattre lui-même l’ennemi, en particulier les Nùng, une minorité ethnique du Vietnam et les deux pays limitrophes  comme le Laos et le Chămpa qui ne cessaient de provoquer des troubles frontaliers. Dans le district Quảng Nguyên, un  chef local  Nùng nommé Nùng Tôn Phúc se rebella, se déclara empereur Chiêu Thánh et désigna son royaume sous le nom «Tràng Sinh ». Puis il commença  à provoquer des troubles partout. Le roi décida de monter lui-même  une expédition en l’an 1039 (année du chat de terre), réussit à capturer le rebelle  Nùng Tôn Phúc ainsi que son fils aîné Nùng Trí Thông, les ramena tous les deux à la capitale  pour être exécutés sur place. En l’an 1041, de retour dans la région,  le fils de Nùng Tôn Phúc, Nùng Trí Cao et sa mère A Nông décidèrent d’occuper le district Đảng Đo proche de  Quảng Nguyên et établirent un royaume nommé Đại Lịch.  Le roi Lý Thái Tông ordonna à ses subalternes de capturer Nùng Trí Cao et de le ramener vivant à la capitale en même temps que sa mère A Nông. Au lieu de les exécuter sur place, Lý Thái Tông décida de leur accorder le pardon et donna à Nùng Trí Cao le titre Tai Bao car il ne voulut pas leur faire subir le même supplice qu’il avait réservé il y avait quelques années à son père Nùng Tôn Phúc et à son frère aîné Nùng Trí Thông.

Quant au Champa, le roi de ce pays envoya souvent  les gens piller les  zones côtières et refusa  de se soumettre.  Le roi Lý Thái Tông fut contraint d’entrer en guerre contre le Champa en 1044. Les Chams subirent des pertes importantes. Le général Cham de nom  Quách Gia Di sabra le roi Jaya Simhavarman II, le dernier roi de la dynastie Indrapura et  demanda la reddition. Trente mille soldats et  officiers de l’armée chame  furent massacrés  à la capitale Vijaya dans la province Bình Định.  Pris de pitié à la vue de cette tuerie,  le  roi Lý Thái Tôn ordonna l’interdiction de tuer les Chams. Ceux qui ne la respectaient pas furent sévèrement punis.

Grâce à cette expédition, le roi ramena l’épouse du roi Cham Jaya Simhavarman II,  nommée Mị Ê et ses concubines. Dès l’accostage à l’embouchure de la rivière Lý Nhân, le roi envoya un émissaire pour demander à Mị  Ê de venir dans sa barque royale pour le servir. Elle préféra de garder sa chasteté et refusa d’y venir en enroulant le corps avec le drap de laine et en se jetant noyée dans la rivière. Ayant appris le suicide, le roi ordonna l’édification d’un autel en l’honneur de cette dame et lui accorda le titre « Hiệp chính Hựu thiện phu nhân » (Femme très chaste et très douce). 

Selon l’ «Histoire du Vietnam» de Trần Trong Kim, le roi Lý Thái Tông, malgré ses combats militaires  engagés de manière continue, n’abandonna pas les réformes institutionnelles dans le pays. Il avait toujours la compassion pour son peuple. Chaque fois un engagement militaire terminé ou une catastrophe naturelle survenue dans le pays, il baissa les impôts durant deux ou trois ans. Il  révisa également la loi afin de permettre aux gens de racheter les peines sauf les 10 crimes impardonnables (1).

Pour cela, il changea le nom de son ère en « Minh Đạo » (1042). Lý Thái Tôn publia également  un décret interdisant à quiconque d’acheter les  gens âgés de plus de 18 ans  comme esclaves (1043). Dans le palais, le nombre de courtisanes et de concubines était  redéfini comme suit: reines et concubines  limitées à 13 personnes, demoiselles du palais à 18 personnes, les musiciens et les danseuses à  100 personnes. Toutes les demoiselles du palais devaient  savoir faire le tissage du brocart. Quant aux  produits de brocart offerts par  la dynastie des Song dans l’entrepôt royal, le roi décida de s’en servir  pour faire  des vêtements destinés aux mandarins de la cour. Depuis lors, le brocart de la dynastie des Song n’était  plus utilisé. Sous son règne, la pagode Diên Hựu  (pagode au pilier unique) commença à être édifié  en l’année du buffle de terre (1049). Selon la légende, il aurait vu  le boddhisattva  de la miséricorde  Guanyin assis sur le trône de lotus dans son rêve. Le roi rapporta cette étrange histoire à sa cour lors de son réveil. Un moine Thiện Tuệ lui conseilla  de construire une pagode au pilier unique au milieu d’un étang et  y mettre un trône de  lotus sur lequel était assis  boddhisattva de la Miséricorde comme il l’avait vu dans son rêve. Puis les  moines firent le tour de ce pilier tout  en lisant  les sûtras pour demander au Ciel d’accorder la longue vie au roi. C’est pourquoi le temple s’appelait Diên Hựu.

Malgré les critiques des  historiens confucéens Lê Văn Hưu de la dynastie des Trần ou Ngô Sĩ Liên dans les « Mémoires historiques du Grand Việt » (Đại Việt  Ký Toàn Thư)  pour sa bienveillance, son profond attachement à  la compassion prônée par le bouddhisme et  son acte bienveillant du pardon accordé aux princes rebelles ou au chef local  Nùng Trí Cao qui lui faisaient oublier l’Etat de droit ou la responsabilité d’être roi, il y a  aussi des écrivains  ne cessant pas de le défendre comme Lê Văn Siêu dans son livre intitulé « Việt Nam Văn Minh Sử  Cương ». Pour ce dernier,  son geste bienveillant à l’égard de Nùng Trí Cao  n’était autre que son arrière-pensée  de recourir à la méthode « Retenir et libérer 7 fois un seigneur local de Yunnan  de nom Mạnh Hoạch » employée par Zhuge Liang (Gia Cát Lượng) à l’époque des Trois Royaumes en Chine. Cela rendait Nùng Tri Cao reconnaissant pour toujours envers Lý Thái Tông. C’était pour ce geste sublime  que le peuple Nùng dirigé par Nùng Tông Đản se rangea plus tard sous  la bannière du généralissime Lý Thường Kiệt et apporta une contribution non négligeable dans le but de prendre et détruire Yongzhou (Ung Châu) et stopper la politique d’annexion des Song contre  le Grand Việt (Đại Việt).

En jetant un coup d’œil sur l’histoire, Lý Thái Tông est un grand roi de la dynastie des Lý. C’est grâce à lui que le Grand Việt (ou Đại Việt) devient un état  fort dans la région. Il réussit à stabiliser le pays en matant les rébellions et les troubles frontaliers, en obligeant les pays voisins (Laos, Chenla et Champa) à la soumission et en gagnant le cœur du peuple pour fonder  une dynastie Lý  durant plus de deux cents ans. (dynastie des 8 empereurs)  (Lý Bát Đế).

(1) Thập ác.

Nùng Trí Cao, le rebelle de la minorité Nùng

Nùng Trí Cao, người anh hùng dân tộc Nùng.

Version française

Trước khi nói đến người anh hùng dân tộc Nùng Trí Cao, phải kể đến cha của ông tên là Nùng Tôn Phúc, một lãnh chúa  của tất cả người Nùng-Tráng ở vùng cao Cao Bằng (Việt Nam). Ông nầy đã thành công trong việc thống nhất  được tất cả dân tộc Nùng dưới ngọn cờ của mình, tự xưng làm vua dưới hiệu là Chiêu Thánh Hoàng Đế (hay Tử Đan Triều) và thành lập vương quốc  » Trường Kỳ Quốc (Chang Qi Guo) » vào năm 1039 ở phía bắc của vương quốc Đại Cồ Việt của nhà Lý. Không may vương quốc (Trường Sinh) của dân tộc Nùng chỉ tồn tại trong thời gian ngắn vì vua Lý Thái Tông Phật Mã đã thành công trong việc ngăn chặn cuộc phiêu lưu của Nùng Tôn Phước qua cuộc viễn chinh quân sự của ngài, bắt sống và giết chết Nùng Tôn Phước cùng người con trai cả Nùng Trí Thông. Vợ là A Nùng và cậu con trai út 14 tuổi Nùng Trí Cao chạy thoát được.

Một thời gian sau, họ quay trở lại vùng đất này để thành lập vương quốc Đại Lý Quốc (Da Li Guo) có quan hệ mật thiết với vương quốc Đại Lý của người Thái (một thời được biết đến với cái tên Nan Zhao (Nam Chiếu)) ở Vân Nam. (Vân Nam). Nhưng ông lại bị người Việt bắt và đưa về kinh đô Thăng Long cùng mẹ. Thay vì giết họ, vua Lý Thánh Tông đã tha chết cho họ mà còn phong chức  « Thái bảo » cho Nùng Trí Cao. Mặc dù vậy, ông vẫn tiếp tục ấp ủ hy vọng mang đến cho người dân Nùng một ngôi nhà, một vương quốc. Cần phải đặt mình trong bối cảnh ở  khu vực nơi nầy người Trung Hoa  của nhà Tống và người  dân Việt  đang tham gia vào công cuộc đấu tranh để mở rộng sự bành trướng và ảnh hưởng của họ nhằm gây thiệt hại cho các dân tộc địa phương, đặc biệt là người Nùng.

Chúng ta không có con số chính xác về dân số Choang-Hán dưới triều đại nhà Tống nhưng chúng ta tin rằng  có một tỷ lệ đáng kể của người Hán  ở khu vực này vào thời điểm đó. Nhà Tống tiếp tục gửi những kẻ thù địch ngoan cố của triều đình và những người bị kết án tù đày người Hoa đến đó và duy trì chính sách Hán hóa. Nhà Tống đã thành công trong việc phân chia người Choang thành hai thị tộc: thị tộc ở phía tây của thủ đô Nam Ninh thân Choang (hay Nùng) và  một thị tộc ở phía đông  thân Trung Quốc hay nhà Tống. Đây là lý do Nùng Trí Cao, lâm vào tình thế khó xử này, đã cố gắng đối đầu với người Trung Hoa để thành lập một vương quốc  sau cử chỉ cao cả của vua Lý Thái Tông (Lý Phật Mã). Nhờ sự sáng suốt cùng với trí tuệ phi thường và thấm nhuần tinh thần Phật giáo, vua Lý Thái Tông đã chinh phục thành công trái tim của Nùng Trí Cao. Chúng ta nhận thấy ở vị vua nhà Lý này một chính sách khôn khéo và mềm dẻo, bất chấp những lời chỉ trích của sử gia Ngô Sĩ Liên. Người đời sau nầy đã trách móc vị vua này vì sự yếu kém trong việc quản lý đất nước, đặc biệt là lòng hào hiệp của ngài đối với quân  phản nghịch (Nùng Trí Cao và những người Chàm nổi dậy). Chính sách này  được đền đáp lại vì kể từ ngày đó, ông để lại cho Lý Thái Tông  rảnh tay  trong việc bình định người Chàm ở miền nam Việt Nam. Nùng Trí Cao không còn trở thành một kẻ địch của người  dân Việt mà trở thành một đồng minh  trọng yếu mà đồng thời cũng là kẻ thù  lợi hại đối với nhà Tống.

Để có thể quy tụ tất cả những người Nùng-Zhuang sống ở Quảng Tây, Quảng Đông và phía bắc của vùng Cao Bằng (Việt Nam), Nùng Trí Cao không ngần ngại đổi tên vương quốc của mình. Đại Lý Quốc (Da Li Guo) bây giờ trở thành Nam thiên quốc (Nan Tian Guo). Ông dời đô từ Long Châu (Longzhu) đến An Ðệ Châu (Andezhou) ở trong lãnh thổ của Quảng Tây. Ông nghĩ đến việc lập lại kỳ tích mà tướng nhà Tần Triệu Ðà đã đạt được khi thành lập vương quốc  Nam Việt với sự hỗ trợ của tất cả các bộ tộc Bách Việt dưới thời nhà Hán. Trước khi bắt đầu cuộc chiến chống quân Tống, ông đã tuyên bố độc lập, trong đó chúng ta thấy ý chí bất khuất của một con người có tư cách sánh ngang với các danh tướng Việt Nam như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt hay Trần Hưng Đạo trong cuộc chiến với người dân phương Bắc:

Tất cả tài sản của chúng ta đã bị đốt hết trong các ngọn lửa của Trời. Không có đường nào để chúng ta sống cả. Chúng ta sẽ chiếm lấy Ung châu, lấy Quảng châu làm căn cứ kinh đô và tuyên bố độc lập cho các thế hệ sau này của chúng ta. Nếu không làm điều này, thì dân tộc chúng ta sẽ bị kết tội mà chết.

Tiếc là Nùng Trí Cao không thực hiện thành công dự án của mình. Ông đã thất bại trước một vị tướng Địch Thanh của nhà Tống được nổi tiếng trong việc biết dùng kỷ luật sắt đá và thông thạo hoàn hảo về các kỹ thuật chiến tranh dưới triều đại Tần-Hán nhờ qua cuốn sách có tựa đề « Tả thị Xuân Thu (Chunqiu Zuo Zhuan) » mà ông đã nhận được từ tay của tể tướng Phạm Trọng Yêm (Fan Zhongyan) với những lời mỉa mai như sau:

Tướng bất tri cổ kim, thất phu dũng nhĩ.

Một vị tướng không biết những câu chuyện thời xưa chỉ là một người dũng cảm bình thường.

Địch Thanh đã thành công trong việc đánh chiếm bất ngờ Côn Lôn  rất gần Nam Ninh vào đêm ngày 15 tháng 1 âm lịch năm 1053 và buộc Nùng Trí Cao phải chọn đối đầu trực tiếp ở vùng đồng bằng xung quanh thành phố Nam Ninh vì Nùng Trí Cao không thích bị bao vây ở trong thành. Nhờ kỷ luật sắt đá và sự di chuyển thần tốc của quân lính, Địch Thanh đã thành công trong việc phá vỡ quân Choang của Nùng Trí Cao, gây ra một cuộc hổn loạn không tả với 3000 người chết ngay tại chỗ. Thành Ung Châu được tiếp quản lại. Nùng Trí Cao và những người thân của ông phải chạy đến lánh nạn tại vương quốc Đại Lý ở Vân Nam. Tất cả đều bị xử tử sau đó bởi Choang ở Đại Lý vì sợ nhà Tống trả thù, trừ Nùng Trí Cao thì  biến mất không để lại tin tức gì cả.

Qua  sự phân tích chi tiết về cuộc  phiêu lưu bất thành này, chúng ta nhận thấy rằng lúc đó Nùng Trí Cao (Nung Zhi Gao) không có được những điều kiện thuận lợi mà người  dân Việt có với người anh hùng giải phóng Ngô Quyền trong công cuộc giành lại độc lập:

1 °) Trước hết, không có sự đoàn kết thiêng liêng nào giữa các thị tộc Choang. Một số  người Choang đứng về phía nhà Tống.

2°) Sự du nhập của người Hoa, dù chỉ là ít ỏi ở trong khu vực này, cũng vẫn mang yếu tố quyết định cho sự hỗ trợ hậu cần và tinh thần cho các đội quân tham chiến. (30% người Hoa và 70% người Choang). Đó cũng là một trong những yếu tố chính dẫn đến thành công của người Trung Hoa  chống lại người Choang (Nùng).

3°) Người Choang không có đình làng như người dân Việt. Với  sự mộc mạc, làng quê Việt Nam là một thánh địa bất khả xâm phạm, có thể cô lập kháng cự  và được trông thấy ở khắp mọi nơi. Đối phương khó mà có thể tập trung toàn bộ lực lượng để đối mặt với cấu hình này. Họ bị quấy rối từ mọi phía và không thể tự hỗ trợ về hậu cần và tiếp tế.

4 °) Môi trường khắc nghiệt của Việt Nam không tạo điều kiện cho sự xâm nhập và người Trung Quốc khó mà định cư và  không quen sống ở với các bệnh kinh niên như sốt rét.

5 °) Chỉ có một  người Choang Nùng Trí Cao dám thực hiện cuộc phiêu lưu giải phóng này trong khi  người anh hùng giải phóng dân tộc Việt Ngô Quyền, có một số người đã cống hiến cuộc đời mình cho chính nghĩa này: hai bà  Trưng Trắc Trưng Nhị (40- 43), Triệu Ẩu (246), Lý Nam Ðế (hay Lý Bôn) (544-548), Lý Phật Tử (602), Triệu Quang Phục (548-571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791) ), cha con họ Khúc (906-923), Dương Diên Nghệ.

Cái chết của Nùng Trí Cao đánh dấu sự kết thúc nguồn hy vọng cuối cùng của người Choang (Nùng)  để có thể giành được nền độc lập như những người dân Việt. Họ đã thành công được sự công nhận cuối cùng cho nền độc lập của đất nước bởi nhà Tống sau cuộc chiến chớp nhoáng do tướng Lý Thường Kiệt lãnh đạo và được sự hỗ trợ của  người Nùng ở Cao Bằng do Nùng Tôn Đản lãnh đạo vào năm 1075 bằng cách rút ngắn thời gian ngắn ba thị trấn quan trọng của Quảng Tây (Khâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu). Đây cũng là lần đầu tiên người Việt chủ động tấn công người dân phương Bắc trên lãnh thổ của họ và nhằm ngăn chặn mọi khuynh hướng bành trướng của Trung Quốc do Vương An Thạch duy trì. Nùng Trí Cao không chỉ được người dân Nùng mà luôn cả người  dân Việt yêu quý vì người đời sau vẫn xem ông như một vị anh hùng, một người con của dân tộc Việt Nam trong công cuộc chống  cuộc bành trướng của dân phương Bắc. Ngoài ra, giống như họ, ông ta có dòng máu của đại tộc Bách Việt.

Đây là lý do tại sao một ngôi đền Kỳ Sầm được xây dựng để tưởng nhớ ông ở Cao Bằng. Sự sùng bái  ông rất được phổ biến qua nhiều thế kỷ. Lễ tưởng niệm diễn ra hàng năm ở Cao Bằng. Mặt khác, ở Trung Quốc, các sử gia và các nhà lãnh đạo Trung Quốc không thoải mái khi nói về phiến quân da đen Nùng Trí Cao. Mặc dù ông ấy ít nhiều được coi là một trong những anh hùng của các dân tộc thiểu số chống lại chế độ phong kiến ​​ở Trung Quốc đa sắc tộc ngày nay, nhưng sự ưu ái chính vẫn tiếp tục được dành cho nhân vật Choang phi thường của ca sỹ Chị Ba Lưu trong những ngày của triều đại nhà Đường thông qua truyền hình quốc gia và phim ảnh. Mặc dù vậy, Nùng Trí Cao vẫn tiếp tục chiếm trọn trái tim của người Choang sống ở miền nam Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan vì đối với người  Choang (Nùng), ông  là người Choang duy nhất có khả năng đưa họ lên đỉnh cao vinh quang và đến đỉnh điểm hẹn với lịch sử.

Tài liệu tham khảo

Người Nùng. Nhà xất bản Thông Tấn. VNA Publishing house.

James Anderson: The rebel Den of Nùng Trí Cao. Loyalty and identity along the Sino-Vietnamese frontier. Editeur:  University of Washington Press, 12 Mai 2011.

Mosaïque culturelle des ethnies du Vietnam. Nguyễn Văn Huy. Maison d’Edition de l’Education. Novembre 1997.

Version française

Le rebelle Nùng Trí Cao, héros de la minorité ethnique Nùng du Viet Nam.

Il est impossible de parler des Nùng sans évoquer leur héros Nùng Trí Cao. Celui-ci échoua dans son projet d’établir un royaume des Nùng-Zhuang entre le Vietnam et la Chine lors d’une bataille décisive engagée au début du mois Février de l’année 1054 à Ung Châu (Yongzhou) contre les Chinois des Song dirigés par le général stratège chinois Di Qing (Địch Thanh). Celui-ci était connu pour son expérience dans les batailles qu’il a engagées durant les 4 ans contre les Xia occidentaux (Tây Hạ). Grâce à ses exploits militaires, Di Qing fut promu commandant de Yangzhou bien qu’au départ il fût simplement un soldat. A cause du tatouage qu’il a reçu sur son visage (une vieille méthode employée pour empêcher la désertion) lorsqu’il était encore un simple soldat, il était obligé de porter le masque en bronze pour cacher sa honte à chaque engagement militaire.

Avant de parler de l’héroïsme de Nùng Tri Cao, il faut évoquer son père Nùng Tôn Phúc, un seigneur local des Nùng-Zhuang dans la haute région de Cao Bằng. (Vietnam). Ce dernier réussit à unifier tous les représentants des Nùng sous sa bannière, se proclama roi sous le nom de Chiêu Thánh Hoàng Đế (ou Tu Dan Chao) et fonda le royaume « Chang Qi Guo (Trường Kỳ Quốc) » en 1039 au nord du royaume Đại Cồ Việt (Le Grand Việt) de la dynastie des Lý.

Malheureusement le royaume des Nùng (Trường Sinh) fut de courte durée car l’expédition militaire dirigée par le roi des Vietnamiens Lý Thái Tông Phật Mã réussit à stopper l’aventure de son père, à capturer ce dernier vivant et à le tuer ainsi que son fils aîné Nùng Trí Thông. Sa femme A Nùng et son dernier et jeune fils Nùng Trí Cao âgé de 14 ans réussirent à s’enfuir.

Puis ils revinrent un certain temps plus tard dans la région pour fonder le royaume Da Li Guo (Đại Lý Quốc) qui était en relation étroite avec la royaume de Dali des Thaï (connu à une certaine époque avec le nom Nan Zhao (Nam Chiếu) ) à Yunnan (Vân Nam). Mais il fut capturé de nouveau par les Vietnamiens et ramené à la capitale Thăng Long avec sa mère. Au lieu de les tuer, le roi Lý Thánh Tông leur accorda le pardon et nomma Nùng Trí Cao au titre de « Tai bao (ou Thái Bảo en vietnamien) ». Malgré cela, il continua à caresser l’espoir de donner à son peuple un foyer, un royaume. Il faut se placer dans le contexte régional où les Chinois des Song et les Vietnamiens étaient en train d’engager leur lutte pour élargir leur expansion et leur influence au détriment des peuples locaux, en particulier des Nùng.

On n’a pas un chiffre exact sur la population Choang-Han sous la dynastie des Song mais on pense qu’il y avait quand même une proportion non négligeable des Han (ou Chinois) dans cette région à cette époque. Les Chinois continuèrent à y envoyer des adversaires récalcitrants du régime et des bagnards chinois et à maintenir leur politique de sinisation. Ils réussirent à diviser le peuple Choang en deux clans: celui de l’ouest de la capitale Nanning Pro-Zhuang et celui de l’est Pro-Song (ou pro – Chinois). C’est pourquoi Nùng Trí Cao, acculé à ce dilemme, a tenté d’engager sa confrontation avec les Chinois dans le but d’établir un royaume tampon après le geste magnanime du roi Lý Thái Tông (Lý Phật Mã). Grâce à sa clairvoyance doublée d’une sagesse inouïe et imprégnée par l’esprit bouddhiste, ce dernier réussit à conquérir son cœur. On trouve en ce roi vietnamien une politique habile et souple malgré les critiques de l’historien Ngô Sĩ Liên. Celui-ci a reproché ce roi pour sa faiblesse dans la gestion du pays, en particulier sa magnanimité envers ses rebelles (Nùng Trí Cao et ses rebelles Cham). Cette politique s’avère payante car depuis ce jour, il laissa à Lý Thái Tông les mains libres pour pacifier les Cham dans le sud du Vietnam. Nùng Trí Cao ne devint plus la bête noire des Vietnamiens mais plutôt un allié de poids et de circonstance et un ennemi redoutable contre les Song.

Pour pouvoir rassembler tous les Nùng-Zhuang vivant à Kouang Si, Kouang Tong et dans le nord de la région du Cao Bằng (Vietnam), il n’hésita pas à changer le nom de son royaume. Da Li Guo devint désormais Nan Tian Guo (ou Nam Thiên quốc en vietnamien). Il transféra la capitale de Longzhu (Long Châu) à An Ðệ Châu (Andezhou) à l’intérieur du territoire de Kouang Si (Quảng Tây). Il pensa à renouveler l’exploit que le général Zhao Tuo (Triệu Ðà) avait réussi à accomplir en établissant le royaume de Nan Yue avec l’appui de toutes les tribus des Bai Yue sous la dynastie des Han. Avant d’entamer la guerre contre les Chinois des Song, il fit une déclaration d’indépendance dans laquelle on trouve la volonté indomptable d’un homme de caractère comparable à celle des généraux vietnamiens Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt ou Trần Hưng Ðạo dans la lutte contre les gens du Nord:

Tous nos biens ont été brûlés dans les feux du Ciel. Il n’y a aucune issue pour notre peuple. Nous devrons prendre Ung Châu (Yongzhou)(Nanning aujourd’hui ou Nam Ninh en vietnamien), puis Guang Zhou (Canton ou Quãng Châu) pour nous établir ici comme notre capitale et faire une déclaration d’indépendance pour nos futures générations. Si nous n’arrivons pas à le réaliser, nous serons condamnés à mourir.

Malheureusement Nùng Trí Cao ne réussit pas à réaliser son projet. Il échoua face à un général chinois Di Qing connu pour sa discipline de fer et pour sa maîtrise parfaite sur les techniques de guerre sous les dynasties Qin-Han (Tần-Hán) grâce au livre intitulé « Tả thị Xuân Thu (Chunqiu Zuo Zhuan) » qu’il avait reçu de la part du chancelier chinois Fan Zhongyan (Phạm Trọng Yêm) avec son propos ironique:

Tướng bất tri cổ kim, thất phu dũng nhĩ.
Un général ne connaissant pas les histoires d’antan n’est qu’un individu ordinaire courageux.

 Di Qing réussit à prendre par surprise la passe Côn Lôn (Kun Lun) toute proche de Nanning dans la nuit du 15ème jour du premier mois lunaire de l’année 1053 et força Nùng Trí Cao à opter pour la confrontation directe dans la plaine environnant la ville de Nanning car Nùng Trí Cao n’aimait pas être encerclé dans la ville. Grâce à sa discipline de fer et à la mobilité de ses troupes, Di Qing réussit à désordonner les troupes Choang de Nùng Trí Cao, ce qui provoqua leur débandade indescriptible avec 3000 morts sur place. La ville Ung Châu fut reprise. Nùng Trí Cao et ses proches se réfugièrent au royaume de Dali à Yunnan. Tous seront exécutés plus tard par les Choang de Dali par peur de représailles de la part des Song sauf Nùng Trí Cao qui disparut sans laisser des nouvelles.

En analysant les détails de cette entreprise infructueuse, on s’aperçoit qu’à cette époque Nùng Trí Cao (Nung Zhi Gao) ne bénéficia pas des conditions avantageuses que les Vietnamiens avaient eues avec le libérateur vietnamien Ngô Quyền dans la reconquête de l’indépendance:

1°) D’abord il n’y a pas l’union sacrée entre les clans des Choang. Certains se rangeaient du côté des gens du Nord.

2°) L’implantation des Chinois, même elle est mineure dans cette région reste déterminante dans le soutien logistique et moral des troupes engagées. (30% des Chinois et 70% des Choang). C’est aussi l’un des facteurs importants de leur succès contre les Choang.

3°) Les Choang n’avaient pas la structure des villages et des maisons communales (Ðình Làng) comme les Vietnamiens. Par sa rusticité, le village vietnamien est un sanctuaire inviolable qui peut résister isolément et se rencontrer partout. Il est difficile pour l’ennemi de concentrer toutes ses forces face à cette configuration. Il était harcelé de tous les côtés et n’arrivait pas à subvenir à ses besoins logistiques et d’approvisionnements.

4°) L’environnement inhospitalier du Vietnam ne facilite pas la pénétration et l’installation définitive des Chinois qui ne sont pas habitués à y vivre avec les maladies chroniques comme le paludisme.

5°) Il y a un seul Choang Nùng Trí Cao osant de tenter cette aventure de libération tandis qu’avant le libérateur Ngô Quyền, il y avait un grand nombre des Vietnamiens et des Vietnamiennes ayant consacré leur vie pour cette cause: les sœurs Trưng Trắc Trưng Nhị (40-43), Triệu Ẩu (246) , Lý Nam Ðế (ou Lý Bôn) (544-548), Lý Phật Tử (602), Triệu Quang Phục (548-571), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (791), Les Khúc père et fils (906-923), Dương Diên Nghệ.

 

La mort de Nùng Trí Cao marqua la fin de l’ultime espoir du peuple Choang de pouvoir accéder à l’indépendance comme les Vietnamiens. Ceux-ci réussirent à obtenir la reconnaissance définitive de l’indépendance de leur pays par les Song après la guerre éclair menée par le général Lý Thường Kiệt et soutenue par les Choang de Cao Bằng dirigés par Nùng Tôn Ðản en 1075 en prenant dans un laps de temps très court les trois villes importantes de Kouang Si (Khâm Châu, Liêm Châu et Ung Châu). C’est aussi pour la première fois que les Vietnamiens ont pris l’initiative d’attaquer les gens du Nord dans leur territoire et ont eu pour but de parer à toutes les velléités d’expansion chinoise entretenues par Wang An Shi (Vương An Thạch).

Nùng Trí Cao est adulé non seulement par les Choang mais aussi par les Vietnamiens car ces derniers le considèrent toujours comme un héros, un enfant de la nation vietnamienne dans la lutte contre l’expansion des gens du Nord. De plus, il avait comme eux le sang des Bai Yue. C’est pourquoi un temple Kỳ Sầm a été édifié en son honneur à Cao Bằng. Son culte devint très populaire au fil des siècles. La commémoration a lieu tous les ans à Cao Bằng. Par contre, en Chine, les historiens et les dirigeants chinois ne sont pas à l’aise en parlant du rebelle noir Nùng Trí Cao. Bien qu’il soit considéré plus ou moins comme l’un des héros des minorités ethniques contre le féodalisme dans la Chine multi-ethnique d’aujourd’hui, on continue à accorder principalement la préférence au personnage extraordinaire des Choang qu’était la chanteuse Liu San Jie (Chị Ba Lưu) à l’époque de la dynastie des Tang à travers la télévision nationale et les films. Malgré cela, Nùng Trí Cao continue à occuper intimement le cœur des Choang vivant dans le sud de la Chine, au Vietnam et en Thaïlande car pour ces derniers, le roi Nùng est le seul Choang capable de les emmener au sommet de la gloire et au rendez-vous avec l’histoire.

Les Nùng (Zhuang).

 

Les Nùng

Version vietnamienne

Les Nùng font partie du groupe Tày-Thái de la famille ethnolinguistique austro-asiatique. Selon les ethnologues étrangers, ils sont apparentés aux Tày du Vietnam et aux Zhuang ou Choang (dân tộc Tráng) de la Chine. Bien que les Tày et les Nùng parlent leurs langues respectives, ils arrivent à se comprendre parfaitement. Leurs langues diffèrent légèrement au niveau phonétique mais ils se ressemblent au niveau de l’emploi des vocabulaires et de la grammaire. Les Tày furent présents à la fin du premier millénaire avant J.C.

Ce n’est pas le cas des Nùng. Leur installation au Vietnam ne remonta qu’à environ 300 ans. Pourtant leur présence dans le sud de la Chine (Kouang Si (Quảng Tây), Kouang Tong (Quảng Ðông), Yunnan (Vân Nam), Guizhou (Qúi Châu) et Hunan (Hồ Nam)) n’est pas très récente. Ils étaient aussi l’une des ethnies du groupe austro-asiatique Bai Yue ou Cent Yue (Bách Việt). Connus aussi sous le nom Tây Âu (Si Ngeou ou Âu Việt ) à une certaine époque, ils ont joué un rôle majeur dans la fondation du deuxième royaume du Vietnam, le royaume Âu Lạc de An Dương Vương mais ils ont engagé aussi une lutte implacable contre l’expansion chinoise menée par l’empereur Qin Shi Huang Di (Tần Thủy Hoàng) avec les Luo Yue (les Proto-Vietnamiens). Ils ont participé aussi au soulèvement des deux héroïnes vietnamiennes Trưng Trắc  et Trưng Nhị dans la reconquête de l’indépendance sous la dynastie des Han. Ils continuent à garder encore de nos jours de nombreux souvenirs et légendes au sujet de ces deux héroïnes dans le Kouang Si.

À une certaine époque lointaine, les Nùng furent considérés comme une branche des Luo Yue vivant dans les montagnes avant de leur attribuer définitivement le nom « Choang » car ils sont plus proches des Tày et des Thaïs que des Vietnamiens au niveau d’organisation sociale et linguistique. En se donnant le nom de Cần Slửa Ðăm (gens à vêtements noirs)(người mặc áo đen), ils prétendent être différents des Tày car ces derniers sont connus sous le nom Cần Slửa Khao (gens à vêtements blancs)(người mặc áo trắng). Malgré leurs vêtements de la même couleur indigo, tous les deux peuples ne s’habillent pas de la même façon. C’est l’observation relevée par l’écrivain vietnamien Hữu Ngọc. Hoàng Nam, auteur du premier essai monographique sur les Nùng au Vietnam, a souligné une remarque importante sur la signification des mots Đăm et Khao. Pour lui, ceux-ci permettent d’identifier et de distinguer l’appartenance des sous-groupes dans le groupe linguistique Tày-Thaï grâce aux différences de couleurs des vêtements, de dialectes et de coutumes. Appartiennent au Đăm (noir ou Đen en vietnamien) les Nùng, les Thái Noirs, les Thaï, les Hmongs noirs, les Lolo noirs etc …et au Khao (blanc ou trắng en vietnamien) les Tày, les Thái Blancs, les Lao (ou Dao), les Lolo Blancs, les Hmongs Blancs etc …

Cette remarque n’arrive pas convaincre le linguiste vietnamien Hoàng Mai issu du peuple Tày car pour ce dernier, les Tày malgré leur appartenance au groupe « Khao ou Blanc « , portent toujours des vêtements noirs. De plus, le mot Slửa n’est pas simplement un mot désignant un vêtement qu’on porte tous les jours mais il est en quelque sorte Áo hồn (Slửa Khoăn) car chez les Thaïs, les Tày et les Nùng, un vêtement représente symboliquement l’âme vivante de chaque individu. C’est ce qu’a rapporté l’ethnologue vietnamien Cầm Trọng dans son article intitulé « La participation de culture Thái dans la formation et l’évolution de la culture vietnamienne ». (International Conference on Thai Studies (1984/08/22-24; Bangkok).

En s’appuyant sur cet argument de poids, il a été amené à conclure que le couple de mots Đăm – Khao (Noir-Blanc) doit être plutôt dans le domaine de la culture spirituelle car il est employé dans le but de pouvoir remonter à l’origine des sous-groupes dans le groupe ethnique Tày-Thái comme chez les Vietnamiens on a l’habitude d’évoquer le couple de mots  Rồng-Nước représenté respectivement par Lạc Long Quân et Âu Cơ  pour retrouver leur origine.

Les Nùng sont divisés en plusieurs sous-groupes connus sous différents noms: Nùng Inh, Nùng, Dính, Nùng An, Nùng Phàn Sinh, Nùng Cháo etc… Ceux-ci trouvent leur origine d’appellation dans la migration des Nùng venant des provinces de Kouang Si et Kouang Tong de la Chine. Au Vietnam, les Nùng sont localisés dans les régions montagneuses, dans les forêts profondes ou dans les vallées dont l’altitude ne dépasse pas 300 mètres par rapport au niveau de la mer. Ils vivent souvent mêlés aux Tày dans les provinces de la Haute Région. Mais leur concentration est plus importante à Lạng Sơn (43% de la population de la province) et à Cao Bằng (32%). La plupart des Nùng vivent dans des maisons sur pilotis mais il existe quand même une petite minorité préférant vivre dans des maisons au ras du sol et au mur en pisé ou en briques non cuites.

 Avant de construire la maison, le propriétaire doit examiner minutieusement l’horoscope de son âge pour trouver l’année propice à la construction. Parfois il faut attendre 2 ou 3 ans au moins pour la trouver. Sa présence est indispensable au moment du déblayage du terrain de construction, de l’établissement de la fondation et des colonnes et de la mise en place de la toiture. L’orientation de la maison est l’un des critères importants que le propriétaire ne peut pas négliger car elle pourrait être responsable de tous les maux pour lui et pour sa famille. On est habitué à dire en langue Nùng: đảy kim dòm mò mả, thong thả dòm tì lườn (On réussit dans les affaires grâce aux tombes ancestrales. On est en sécurité grâce à la terre et à l’orientation de la maison).

Au niveau démographique, ils sont classés au 7ème rang parmi les 54 ethnies du Vietnam. Dans leur histoire, les Nùng ont aussi la légende de Báo luông Slao Cải. C’est l’histoire du géant bienfaiteur qui avait défriché la terre et qui leur avait appris à y faire pousser du riz, du maïs, du coton et  tout ce dont ils avaient besoin. Les Nùng ont l’habitude de porter des vêtements assez simples, sans broderie et sans motifs. Ceux-ci sont faits des étoffes grossières de couleur indigo. Celle-ci est en harmonie avec la nature dans un environnement vert qu’est la forêt. Leur vêtement peut varier de la couleur claire jusqu’à la couleur foncée de l’indigo. Cette variation est liée en fonction de la préférence de chaque groupe Nùng. La couleur indigo reste le symbole de fidélité rapporté par une légende Nùng:

Il y avait une pauvre orpheline vivant dans une cabane au bord de la forêt. Un beau matin, un jeune mendiant se présenta devant sa porte et lui demanda de la nourriture. Étant tellement pauvre, elle ne put pas en lui offrir. Elle fut obligée d’aller au marché pour vendre sa belle chevelure et lui acheta de la nourriture. Depuis ce jour, ils devinrent mari et femme. A cause de la guerre, il fut enrôlé de force et il ne revint jamais. Lasse de ne pas recevoir les nouvelles, elle fut partie à sa recherche et mourut en cours de route. Elle se transforma en indigotier dont les feuilles fournissent l’indigo, une couleur impérissable et synonyme de la fidélité au fil des temps.

Dans le costume traditionnel des femmes Nùng, il y a le turban foulard, la veste et le pantalon. D’une manière générale, quel que soit le groupe Nùng, on trouve toujours un turban carré, une veste à 5 pans boutonnée sous l’aisselle droite et descendant jusqu’au dessous de la hanche et un pantalon chân què (*) dont les bords supérieurs sont rabattus avec une ceinture retournée. En fonction du groupe Nùng, il y a une légère modification au niveau de la veste. C’est le cas des groupes Nùng In et Phàn Slình dont les femmes portent les vestes dont les manches et la bande de boutonnage sont ornées de morceaux de couleur noire. Par contre, pour le groupe Phàn Slình Cúm Cọt, les vestes sont plus courtes que celles des autres groupes et elles sont accompagnées des franges rouges autour du cou. Il n’y a que les détails qui permettent de différencier ces groupes. Par contre les femmes Tày se servent des robes longues jusqu’au mollet et dont les manches sont assez serrées.

En ce qui concerne les pantalons, on retrouve un pantalon classique chân què et ample pour la plupart des femmes des groupes Nùng sauf celles du groupe Nùng Dính qui sont habituées à porter la jupe avec une ceinture ornée de 12 morceaux de couleur symbolisant ainsi les douze mois de l’année. Leurs bijoux sont en argent car dans leurs traditions ancestrales, ils les protègent contre les mauvais vents nuisibles à leur santé. Outre la beauté esthétique que ce métal peut leur procurer, il est considéré toujours comme un thermomètre dans l’évaluation des épidémies saisonnières. Les femmes et les hommes Nùng ont l’habitude de porter les colliers, les bracelets et les anneaux. Il y a en plus dans les parures des femmes Nùng, les boucles d’oreilles et les chaînes autour de leur taille.

 

Quant aux hommes Nùng, leur pantalon est du même style que celui de leurs femmes. Leur veste à col officier haut de 2 cm à peu près, est ouverte sur le devant et garnie de 7 boutons en tissu et de 4 poches. Les Nùng ont plusieurs Tết dans l’année mais le Têt lunaire reste leur grande fête. Celle-ci est célébrée en grande pompe et marquée par la présence d’un grand nombre de plats délicieux dans chaque famille pour dire adieu à l’ancienne année. Les Nùng ont coutume de manger quand même un canard car celui-ci permet de se débarrasser de la poisse qu’ils ont eue durant l’ancienne année et de leur apporter la chance avec la nouvelle année. La veille du nouvel Têt lunaire, la femme Nùng doit chercher de l’eau du puits avec un seau. Puis elle la fait bouillir pour faire un bon thé avant de l’offrir aux ancêtres. Quant au mari Nùng, il doit visiter le temple pour déposer les offrandes. Il y a un grand nombre d’interdits qu’il faut respecter durant les premiers jours du nouvel an lunaire:

Pour le premier jour, personne n’a le droit de rendre visite à qui que ce soit sauf le chef de la lignée paternelle  (trưởng tộc bên nội)  pouvant se déplacer seul pour adresser les meilleurs vœux de la nouvelle année à chaque membre de sa lignée.

Cúng hỉ phát sò ( Chúc vui phát tài)
Je vous adresse mes meilleurs voeux de bonheur et de prospérité

Bươn chiêng pi mấu (Tháng Giêng năm mới)
pour le mois de Février de la nouvelle année

Hét lăng tú lì (Làm gì cũng được)
Vous serez permis d’accomplir vos réalisations

Chi lăng tú đẩy a (Ước gì cũng thấy)
et de concrétiser tous vos souhaits

La femme Nùng n’a pas le droit de laver le linge la veille du nouvel an. Les poulets ne peuvent pas être tués. Les bœufs et les buffles ne doivent pas être maltraités. Il ne faut pas casser les bols et faire le ménage.

Pour le deuxième jour, on peut commencer à tuer les poulets pour les offrir aux ancêtres et aux génies. On est permis de rendre visite à ses proches en particulier à sa famille maternelle (Bên ngoại). Les enfants vont recevoir de l’argent que les adultes ont coutume de leur donner au moyen des petites enveloppes connues sous le nom de « bao lì xì ».

A partir du troisième jour, dans chaque village, les Nùng organisent un festival populaire « Hội Lùng Tùng » (descente aux champs) ayant lieu souvent sur le terrain situé en face de leur maison communale. La participation de chaque famille est visible avec un plateau à offrandes. La présence d’un chaman est indispensable car c’est lui qui est censé d’accomplir les rites dans le but d’avoir les faveurs du Ciel pour les activités agricoles et les meilleures récoltes et de protéger les gens contre les maladies. Outre la cérémonie rituelle, il y a aussi des jeux folkloriques: la danse des lions, le lancement des boules d’étoffe (chơi ném còn), tir à la corde (kéo co), le lancement de la toupie, le volant etc… C’est aussi l’occasion pour les filles et les garçons de se connaître en se formant des groupes pour des chants alternés, des slì échangés entre deux jeunes filles et deux jeunes garçons.

Analogues aux autres minorités ethniques du Sud Est asiatique, les Nùng sont des animistes. Ils croient qu’il existe une âme qui anime non seulement les êtres vivants mais aussi les plantes, les pierres etc…  C’est pour cela qu’on voit dans leur culte un grand nombre d’esprits: esprit de la forêt, esprit du sol, esprit des montagnes, esprit des fleuves et des ruisseaux, esprit tutélaire, esprit de l’enfance (Mụ Mẹ Hoa) etc…

Mais le culte le plus important reste le culte des ancêtres. Chaque foyer Nùng a un autel placé toujours dans un compartiment de gauche. Celui-ci est un endroit sacré. Au centre de cet autel se trouve une tablette ancestrale murale (ou un bài vị) portant des sentences parallèles et des caractères chinois rapportant la lignée de ses aïeux. D’une manière générale, le chef de la famille joue un rôle important sur tous les plans.

Étant à la fois père et mari, il est le seul qui peut arbitrer tous les problèmes familiaux, en particulier le partage des biens. Celui-ci sera réalisé lors de la mort des parents ou lors du détachement de l’un des enfants mariés vivant jusque-là sous le même toit. Il n’y a que les garçons qui peuvent prétendre à ce partage. Le frère aîné recevra alors une part importante du fait qu’il sera chargé de vivre avec les parents. Néanmoins, il y a une exception pour le groupe Nùng Dín Hoàng Sa Phì (Hà Giang). C’est le dernier enfant de la famille qui héritera d’une part importante des biens car il sera le dernier à se marier et à avoir la charge d’accompagner les parents jusqu’à la fin de leur vie.

Au cas où la famille n’a pas des garçons, les biens reviennent au gendre qui est obligé de changer de nom et qui a la charge d’entretenir désormais l’autel des ancêtres de sa femme. Il y a un grand nombre d’interdits que la jeune mariée est censée de connaître lorsqu’elle vit sous le toit de la famille de son mari. Elle ne peut pas passer devant l’autel des ancêtres. Elle n’a pas le droit de s’asseoir dans l’espace d’accueil réservé pour les visiteurs. Elle ne peut pas entrer dans l’endroit où son beau-père dort ou rester à la même table avec ce dernier. En cas d’absence de son mari, il est interdit à son beau-père de lui donner quelque chose ou d’entrer dans sa chambre. Le beau-père ne peut pas accompagner sa bru. Il n’a pas le droit de travailler ensemble avec sa bru dans le même lopin de rizière. On retrouve les mêmes interdits dans la relation entre le gendre et sa belle-mère.

Analogues aux Mường, les Nùng ont besoin de consulter l’horoscope des mariés pour éviter le problème d’incompatibilité entre leurs âges. La décision d’entamer le mariage ou non revient aux parents sur la base de l’égalité des conditions sociales et familiales de deux familles.

Pour les garçons, le critère de sélection reste le même comme chez les autres ethnies: le labeur, la robustesse, l’aptitude pour la chasse et l’agriculture. Pour les filles, on est habitué à chercher leur profil à travers certains dictons nùng très connus:

Nả hang khàng suổi phịn siêng (con gái mặt vuông chữ điền trông như tiên)
Le visage rectangulaire de la fille est celui de la fée.

ou

Kiêu sải bố thưng tum , mì cua tẻ sè lùm sèo móp
Gót chân không chạm đất khổ suốt đời
Le talon n’arrivant pas à effleurer le sol est le signe d’une vie malheureuse.

Parfois le jugement s’appuie sur l’observation de la famille de la jeune mariée. C’est ce qu’on trouve dans le dicton nùng suivant:

Chiếu khẩu lệ chiếu phàng, Chiếu nàng lẽ chiếu mẻ
Muốn biết được lúa, nhìn vào gốc rạ. Muốn biết nàng dâu, nhìn vào người mẹ.
Pour connaître la qualité du plant de riz, il faut examiner ses racines. Pour connaître la jeune mariée, il faut observer sa mère.

Par contre, avant le mariage, les filles et les garçons ont la liberté de s’aimer, de se comprendre grâce aux occasions des grandes fêtes où ils peuvent participer à des jeux folkloriques ou ils peuvent alterner des chants slì. Ils peuvent en profiter pour s’offrir certains souvenirs.  (paniers à boules de coton (hắp lì), paniers à boules de fil (cóm lót), turban pour les garçons (cưn nả), peigne (phooc phum), sacs brodés etc..).

Dans le mariage des Nùng, l’entremetteur (ou l’entremetteuse) reste le personnage incontournable car c’est lui qui assume toutes les démarches protocolaires et les transactions financières entre les deux familles. Dans la plupart des cas, le frère de la mère du jeune marié est désigné dans cette fonction ardue car il sera plus tard après le mariage, le parrain de la jeune mariée avec son épouse. Dans les transactions financières, la famille de la fille a tendance de demander plus de cadeaux car la valeur de la fille sera grande en fonction du nombre de ces cadeaux. Le rite matrimonial a plusieurs étapes dont la plus importante est de conduire la jeune mariée chez son mari. Elle est obligée d’effleurer un plateau de nourriture mis à sa disposition à l’entrée de la porte principale et de le renverser avec son pied. Puis elle doit franchir le seuil de la porte avec rapidité. Cette procédure est connue sous le nom de « Nghi lể tách nhập ma (Procédure de détachement et d’union des fantômes). Dès lors, elle devient un membre entier de la famille de son mari tant sur le plan spirituel que matériel. Elle rejoindra définitivement la maison de son mari au moment où elle sera enceinte ou après 6 mois de son mariage.

Décès

Dans la tradition ancestrale des Nùng, lorsqu’il y a un décédé dans la famille, tous les proches de la famille maternelle (ou păang lăng) doivent être présents avant la déposition du trépassé dans le cercueil. Il faut aussi un chamane (thẩy tào) qui est censé d’assumer de A jusqu’à Z toutes les démarches rituelles relatives aux funérailles.

Il doit entamer la première procédure importante Khay lò pour déblayer le chemin et accompagner l’âme du décédé dans l’autre monde car pour les Nùng, l’âme échappée d’un corps mort continue à vivre. Les filles mariées et les nièces doivent apporter les arbres de monnaie pour leurs contributions comme les proches de la famille maternelle un cheval pour leurs offrandes funéraires. Pour les Nùng, même après l’enterrement, l’âme continue à rôder autour de la maison. C’est pour cela qu’un autel doit être mis en place à côté de l’emplacement où le décédé a l’habitude de dormir lorsqu’il est encore en vie.

Après les cent jours d’enterrement, il y aura une cérémonie accompagnée par un grand nombre de plats délicieux (porc, poulet et riz glutineux (xôi)). Puis elle sera suivie par une autre  marquant la fin du deuil au bout de trois ans. Chaque groupe Nùng a sa façon de célébrer cette fin. Les Nùng Lôi détruisent un tube en bambou qu’ils laissent jusqu’alors sur l’autel du décédé en le brûlant tandis que les Nùng An fabriquent un grand nombre d’animaux familiers (cochons, poulets, buffles, bœufs) et les outils agraires au moyen des papiers découpés et les rangent dans un pot qu’ils vont enterrer sous l’emplacement de la tombe du décédé. Les Nùng ne voient que dans la mort le début d’une autre vie pour le décédé. C’est pour cela qu’il a besoin de ces offrandes pour pouvoir mener une vie plus agréable dans l’autre monde.

Naissance

Analogues aux Mường, il y a un grand nombre d’interdits pour la naissance d’un enfant. Celui-ci a besoin d’être protégé par la déesse de l’enfance dont l’autel sera dressé dans la maison. Outre la fête du premier mois de l’enfant, certains groupes Nùng font aussi une fête pour donner un nom à l’enfant quand il atteint l’âge de la majorité.

Analogues aux Vietnamiens, les Nùng ont une longue histoire et une culture millénaire. C’est avec eux que les Vietnamiens faisaient partie des Cent Yue. Dans le passé, face à des adversaires redoutables qu’étaient les gens du Nord, ils tentaient de créer un état propre mais ils n’arrivaient pas à le réaliser. On ne peut pas nier leur contribution indéniable dans la fondation du royaume Âu Lạc des Vietnamiens. Leur héros Nùng Trí Cao continue à avoir une place dans notre histoire. Il n’y a aucune raison de ne pas faire connaître leur histoire, leur culture aux jeunes Vietnamiens car les Nùng ont aussi une part de responsabilité non négligeable dans la construction de l’avenir de notre Vietnam avec les 52 autres ethnies.

(*) Chân què: Chaque jambe du pantalon possède deux pièces assemblées dans le sens de la longueur et dont la plus grande est 5 fois plus grande que la petite qui va de l’entrejambe à l’ourlet.

Tài liệu tham khảo

Người Nùng. Nhà xất bản Thông Tấn. VNA Publishing house.

James Anderson: The rebel Den of Nùng Trí Cao. Loyalty and identity along the Sino-Vietnamese frontier. Editeur:  University of Washington Press, 12 Mai 2011.

Mosaïque culturelle des ethnies du Vietnam. Nguyễn Văn Huy. Maison d’Edition de l’Education. Novembre 1997

Dân tộc  Nùng

Dân tộc  Nùng thuộc nhóm  người Tày-Thái của hệ ngôn ngữ  Nam Á. Theo các nhà dân tộc học ngoại quốc, họ có quan hệ với dân tộc Tày ở Việt Nam và dân tộc Tráng ở Trung Quốc. Mặc dù người Tày và người Nùng nói ngôn ngữ riêng tư nhưng họ rất hiểu nhau một cách hoàn hảo. Ngôn ngữ của họ hơi khác nhau trên trình độ ngữ âm, nhưng họ giống nhau về cách sử dụng  các từ vựng và ngữ pháp. Người Tày có mặt vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên (TCN).

Đây không phải là trường hợp của người Nùng. Sự định cư của họ ở Việt Nam chỉ có khoảng chừng 300 năm. Tuy nhiên, sự hiện diện của họ ở miền nam Trung Quốc, Quảng Tây, Quảng Đông, Vân Nam, Quý Châu  và Hồ Nam cũng không phải là gần đây. Họ là một bộ tộc của chủng Nam Á  trong đại tộc Bách Việt. Còn được gọi là Tây Âu (hay Âu Việt), họ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thành hình vương quốc thứ hai của Việt Nam, đó là vương quốc Âu Lạc của An Dương Vương nhưng họ cũng tham gia vào một cuộc đấu tranh không ngừng chống lại sự bành trướng của Trung Quốc bởi hoàng đế Tần Thủy Hoàng cùng với người Lạc Việt (hay ngươì Việt Cổ). Họ cũng tham gia vào cuộc khởi nghĩa của hai nữ anh hùng Việt Nam Trưng Trắc và Trưng Nhị nhằm giành lại độc lập dưới thời nhà Hán. Ngày nay họ vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ niệm và truyền thuyết về hai nữ anh hùng này ở Quảng Tây.

Có một thời kỳ xa xôi nào đó, người Nùng được xem là một chi nhánh của người Lạc Việt sống ở trên miền  núi trước khi họ được mang cái tên « Choang » vì họ rất gần với người Tày và người Thái hơn là với người Việt ở cấp độ tổ chức xã hội và ngôn ngữ. Bằng cách tự đặt cho mình cái tên Cần Slửa Ðăm (người mặc áo đen), họ tự xưng là họ  khác với người Tày vì người Tày được gọi là Cần Slửa Khao (người mặc áo trắng). Mặc dù quần áo của họ có cùng màu chàm, nhưng không phải hai dân tộc đều ăn mặc giống nhau. Đây là  sự nhận định của nhà văn Việt Hữu Ngọc. Hoàng Nam, một tác giả chuyên luận về chữ  của dân tộc Nùng đầu tiên ở Việt Nam, đã nêu một quan điểm quan trọng về ý nghĩa của hai từ Đăm và Khao. Theo tác giả, những từ nầy giúp để  xác định và phân biệt sự phụ thuộc của các tiểu nhóm trong nhóm ngôn ngữ Tày-Thái nhờ sự khác biệt về màu sắc trang phục, phương ngữ và phong tục tập quán. Thuộc về Đăm (hoặc đen theo tiếng Việt), người Nùng, người Thái đen, người Hmông đen, người Lolo đen vân vân …và người Khao (hoặc trắng trong tiếng Việt) là người Tày, người Thái trắng, người Lao (hoặc người Dao), người Lolo trắng, người Hmong trắng vân vân …

 

Sự nhận xét này không thuyết phục được nhà ngữ học người Tày Hoàng Mai vì đối với nhà ngữ học nầy, người  Tày dù thuộc nhóm « Khao hay Trắng » đều luôn luôn luôn mặc trang phục màu đen. Hơn nữa, chữ  Slửa không chỉ là từ dùng đơn giản để chỉ trang phục mà người hay mặc hàng ngày mà nó còn thể hiện ở cách « Áo hồn » (Slăn Khoăn) vì ở  các dân tộc Thái, Tày và  Nùng, chiếc áo tượng trưng cho linh hồn sống của mỗi cá nhân.

Đây là điều mà nhà dân tộc học người Việt Cầm Trọng đã thuật lại trong bài có tựa đề « Sự tham gia của văn hóa Thái vào sự hình thành và phát triển của văn hóa Việt Nam ». (Hội nghị Quốc tế về Nghiên cứu Thái Lan (1984/08 / 22-24; Bangkok). Dựa trên lý lẽ vững chắc này, ông đã đi đến kết luận rằng hai từ đôi đại diện Đăm và Khao (hay Đen – Trắng) này phải thuộc về lĩnh vực văn hóa tâm linh vì cặp từ nầy được sử dụng nhằm để quay trở về nguồn gốc của các nhóm nhỏ  ở trong nhóm dân tộc Tày-Thái cũng như ở người dân  Việt, chúng ta thường nhắc đến cặp Rồng-Nước mà được Lạc Long Quân và Âu Cơ tượng trưng để tìm về cội nguồn.

 

Người Nùng đưa chia ra nhiều phân hệ được biết dưới các tên khác nhau: Nùng Inh, Nùng Dính, Nùng An, Nùng Phàn Sinh, Nùng Cháo vân vân …Những tên nầy được có từ những vùng họ xuất phát di cư thuộc hai tỉnh Quảng Tây và Quảng Đông của Trung Hoa. Ở Việt Nam người Nùng họ cư trú ở những vùng miền núi, rừng sâu hay là ở những thung lũng có độ cao không hơn 300 thước so với mặt nước biển. Họ thường sống xen kẽ với người Tày ở các tỉnh miền thượng du. Nhưng sự  tập trung của họ nhiều nhất ở Lạng Sơn (43% dân số toàn tỉnh) và Cao Bằng (32%). Hầu hết người Nùng ở nhà sàn, nhưng vẫn còn có một bộ phận nhỏ thích ở nhà sát mặt đất với vách tường bằng đất nén, gạch hay bằng gạch không nung.

Trước khi xây nhà, gia chủ phải xem kỹ tử vi tuổi của mình để tìm năm xây nhà  cho nó phù hợp. Đôi khi phải đợi ít nhất 2 hoặc 3 năm để tìm được sự phù hợp nầy. Sự hiện diện của gia chủ rất cần thiết vào thời điểm thu dọn công trường, thiết lập nền móng và các cột, lắp đặt mái nhà. Hướng của ngôi nhà là một trong những tiêu chí quan trọng mà gia chủ không thể lơ là được vì có thể gia chủ phải chịu mọi vận hạn cho mình và cho gia đình. Chúng ta vẫn thường nói trong  tiếng nùng: đùn kim dòm dòm, thông thả dòm lườn (Chúng ta làm ăn thành công nhờ mồ mả tổ tiên.  Chúng ta an khang nhờ đất và hướng của ngôi nhà).

Về cấp độ dân số, người Nùng đứng hạng thứ 7 trong số 54 dân tộc ở Việt Nam. Trong lịch sử của họ, người Nùng còn có sự tích về Báo luông Slao Cải. Đây là câu chuyện về vị ân nhân khổng lồ đã khai khẩn đất đai và dạy họ cách trồng lúa, ngô, bông, bất cứ thứ gì họ cần. Người Nùng thường ăn mặc khá giản dị, không có thêu  và không hoa văn. Các quần áo được làm bằng vải thô màu chàm. Điều này hòa hợp với thiên nhiên trong một môi trường xanh đó là rừng. Quần áo của họ có thể thay đổi từ màu sáng đến màu chàm đậm. Sự biến đổi này được liên kết theo sở thích của từng nhóm Nùng. Màu chàm vẫn là biểu tượng của lòng trung thành được kể lại qua một huyền thoại của người Nùng như sau:

Có một cô gái  trẻ mồ côi nghèo khổ sống trong một căn nhà gỗ bên cạnh rừng. Một buổi sáng đẹp trời, một người ăn xin trẻ tuổi đến trước cửa nhà và xin thức ăn. Quá nghèo, cô  nầy không thể  biếu cho anh thức ăn. Cô buộc phải ra chợ để bán mái tóc đẹp của mình và mua thức ăn cho anh ta. Từ ngày đó, họ trở thành vợ chồng. Người chồng  bị cưỡng bức đi lính vì có  chiến tranh và không bao giờ quay trở về. Mệt mỏi vì không nghe được tin tức chi cả, nàng mới đi tìm chồng và chết ở dọc đường. Nàng biến thành một cây chàm có đầy lá màu chàm, một màu không phai cũng như sự chung thủy với thời gian.

Trang phục truyền thống của  người phụ nữ Nùng gồm khăn xếp, áo khoác và quần dài. Nói chung, không kể nhóm người Nùng nào, bao giờ cũng có khăn xếp vuông, áo khoác 5 vạt cài khuy dưới nách phải và dài xuống dưới hông, quần có chân què với mép trên gấp xuống bằng và một dây thắt lưng hếch. Tùy nhóm  người Nùng mà có sự chỉnh sửa đôi chút về áo khoác. Đây là trường hợp của nhóm người Nùng In và Phàn Slình mà phụ nữ mặc áo khoác có tay áo và  đường cài cúc được trang trí bằng các mảnh màu đen. Mặt khác, đối với nhóm Phàn Slình Cúm Cọt, áo khoác ngắn hơn các nhóm còn lại và có viền đỏ xung quanh cổ. Nó chỉ là những chi tiết giúp bạn có thể phân biệt các nhóm này. Mặt khác, người phụ nữ Tày sử dụng váy dài đến bắp chân và các tay áo khá chật.

Về quần, chúng ta thấy hầu hết  các phụ nữ nhóm Nùng đều có quần cổ điển chân què và rộng, ngoại trừ nhóm Nùng Dính  thường quen mặc váy có thắt lưng tô điểm với 12 màu tượng trưng cho mười hai tháng của năm. Đồ trang sức của họ được làm bằng bạc vì theo truyền thống của tổ tiên, chúng sẽ bảo vệ họ khỏi những cơn gió xấu có hại đến sức khỏe. Bên cạnh vẻ đẹp thẩm mỹ mà kim loại này có thể mang lại cho các đồ trang sức, thì nó vẫn được xem coi như một hàn thử biểu trong việc ước lượng dịch bệnh theo mùa. Phụ nữ và nam giới người Nùng hay quen đeo vòng cổ, vòng tay và nhẫn. Trong đồ trang sức của phụ nữ người Nùng còn có khuyên tai và dây xích đeo ngang lưng.

 

Còn người đàn ông Nùng thì quần cũng kiểu  với quần của người vợ. Áo khoác của họ có cổ của các sĩ quan cao khoảng 2cm, hở ở mặt trước, có 7 cúc vải và 4 túi. Người Nùng có nhiều Tết trong năm nhưng Tết Nguyên Đán vẫn là lễ lớn của họ. Lễ này được tổ chức vô cùng hoành tráng và được đánh dấu bằng sự hiện diện của một số lượng lớn các món ăn ngon trong mỗi gia đình để tạm biệt năm cũ. Người Nùng thường ăn vịt vì nó giúp giải trừ những điều xui xẻo trong năm cũ và mang lại may mắn cho năm mới. Vào thời khắc giao thừa, người phụ nữ Nùng phải lấy nước từ giếng bằng xô. Sau đó, cô đun sôi nó để tạo thành một loại trà ngon trước khi dâng lên cho tổ tiên. Còn người chồng Nùng thì phải vào chùa  đóng góp lễ vật. Có một số điều cấm phải tuân thủ trong những ngày đầu năm mới Âm lịch:

Ngày mùng một, không ai được đến thăm viếng ngoại trừ trưởng dòng họ (trưởng tộc nội), người có thể đi một mình để gửi những lời chúc tốt đẹp nhất trong năm mới và đến từng thành viên trong dòng họ.

Cúng hỉ phát sò ( Chúc vui phát tài)

Bươn chiêng pi mấu (Tháng Giêng năm mới)

Hét lăng tú lì (Làm gì cũng được)
Chi lăng tú đẩy a (Ước gì cũng thấy)

Người phụ nữ Nùng không được giặt quần áo trong đêm giao thừa. Không thể giết gà. Bò và trâu không nên bị ngược đãi. Bạn không cần phải làm vỡ bát và làm việc nhà.

Sang ngày mùng hai, chúng ta có thể bắt đầu giết gà để cúng tổ tiên, thần tài. Mọi người được phép đi thăm họ hàng của mình, đặc biệt là họ ngoại của mình. Những đứa trẻ sẽ nhận được số tiền mà người lớn thường cho chúng qua những chiếc phong bì nhỏ được gọi là « bao lì xì ».

Từ ngày mồng ba, ở mỗi làng, người Nùng tổ chức lễ hội “Hội Lùng tùng” (Xuống ruộng) thường diễn ra trên khu đất trước cửa đình. Sự tham gia của mỗi gia đình được thể hiện bằng một mâm cúng. Sự hiện diện của một thầy cúng là rất cần thiết vì ông là người thực hiện các nghi lễ để có được sự ưu ái của Trời Đất cho các hoạt động nông nghiệp, mùa màng tươi tốt và bảo vệ con người chống lại  các bệnh tật. Bên cạnh nghi lễ cấp sắc còn có các trò chơi dân gian: múa lân, ném bóng vải, kéo co, ném con quay, đá cầu vân vân … Đây là cơ hội để trai gái được làm quen với nhau bằng cách thành lập các nhóm hát xen kẽ, giao lưu giữa hai cô gái và hai chàng trai trẻ.

Tương tự các dân tộc thiểu số khác ở Đông Nam Á, dân tộc  Nùng là những người theo thuyết  duy linh. Họ tin rằng có một linh hồn không chỉ tạo ra sinh vật sống mà còn luôn cả thực vật, đá vân vân… Đây là lý do tại sao chúng ta thấy một số lượng lớn trong việc thờ cúng thần và ma: ma  rừng, thổ địa, ma núi,  ma sông suối, ma thần bản, thần  chăm sóc trẻ con (Mụ). Nhưng thờ cúng quan trọng nhất vẫn là thờ tổ tiên. Mỗi nhà Nùng có một bàn thờ luôn đặt ở gian bên trái. Đây là một nơi linh thiêng. Chính giữa bàn thờ này có một bài vị được treo tường viết  chữ Hán liên quan đến tổ tiên và dòng họ cùng các  câu đối.

Nhìn chung, người đứng đầu gia đình có vai trò quan trọng trên mọi khía cạnh. Vừa là cha vừa là chồng, anh là người duy nhất có thể phân xử mọi vấn đề trong gia đình, đặc biệt là việc phân chia tài sản. Điều này sẽ được thực hiện khi cha mẹ qua đời hoặc khi một trong những người con trai gia đình kết hôn sống chung cho đến lúc đó dưới một mái nhà. Chỉ có  các đứa con trai mới có thể đòi hỏi phần chia này. Người anh cả sẽ nhận được sau đó một phần quan trọng trên thực tế  vì anh ta có trách nhiệm sống chung cùng cha mẹ. Tuy nhiên, có một ngoại lệ đối với nhóm Nùng Dín Hoàng Sa Phì (Hà Giang). Người con cuối cùng của gia đình sẽ được thừa kế một phần tài sản đáng kể vì sẽ là người lập gia đình cuối cùng và có trách nhiệm phụng dưỡng cha mẹ đến cuối đời.

Trong trường hợp gia đình không có con trai thì tài sản chuyển về cho con rể, người có nghĩa vụ sang tên đổi họ và người này hiện có trách nhiệm giữ gìn bàn thờ tổ tiên của vợ. Có muôn vàn điều cấm kỵ mà nàng dâu phải biết khi chung sống dưới mái gia đình nhà chồng. Cô ấy không thể đi ngang qua bàn thờ tổ tiên. Cô không được phép ngồi trong khu vực lễ tân dành riêng cho khách. Cô ấy không thể bước vào nơi cha chồng của cô ấy ngủ hoặc ngồi cùng bàn với cha chồng. Khi vắng chồng, cha chồng không được cho con dâu bất cứ thứ gì hoặc vào phòng của con dâu. Cha chồng cũng không được đi cùng con dâu. Ông cũng không được phép cùng con dâu làm chung một thửa ruộng. Chúng ta nhận thấy những điều cấm đoán giống nhau trong mối quan hệ giữa con rể và mẹ vợ.

Tương tự như dân tộc Mường, người Nùng cần tham khảo tử vi của cô dâu, chú rể để tránh gặp vấn đề xung khắc giữa các tuổi. Việc quyết định kết hôn hay không là của cha mẹ trên cơ sở bình đẳng điều kiện xã hội và gia đình của hai gia đình.

Đối với  các con trai, tiêu chí lựa chọn vẫn giống như các dân tộc khác: chăm chỉ, có sức bền, có năng khiếu săn bắn và nông nghiệp. Đối với các cô con gái, chúng ta thường tìm kiếm lý lịch của họ qua một số câu nói nổi tiếng như sau:

Nả hang khàng suổi phịn siêng (con gái mặt vuông chữ điền trông như tiên)
hay

Kiêu sải bố thưng tum , mì cua tẻ sè lùm sèo móp
Gót chân không chạm đất khổ suốt đời
Đôi khi việc phán đoán còn dựa trên sự nhận xét gia đình bên  cô dâu. Bởi vậy trong một ngạn ngữ mới có câu như sau:

Chiếu khẩu lệ chiếu phàng, Chiếu nàng lẽ chiếu mẻ
Muốn biết được lúa, hãy nhìn vào gốc rạ. Muốn biết nàng dâu, nhìn vào người mẹ.

Mặt khác, trước khi kết hôn, trai gái có quyền tự do yêu nhau, hiểu nhau nhờ những dịp lễ lớn được tham gia vào các trò chơi dân gian hoặc có thể xen kẽ các bài hát slì. Họ có thể tận dụng cơ hội để có được những kỷ niệm nhất định (giỏ bông, giỏ bóng bằng sợi, khăn xếp cho chàng trai (cưn nả), lược (phooc), túi thêu vân vân…). Trong  việc hôn nhân của người Nùng, người mai mối (hay bà mối) vẫn là nhân vật cốt yếu vì chính người nầy là người đảm nhận mọi thủ tục, giao dịch tài chính giữa hai bên gia đình. Trong hầu hết các trường hợp, người em trai của mẹ chàng rể được chỉ định trong chức vụ gian khổ này vì ông sau này sẽ là cha đỡ đầu của cô dâu cùng vợ. Trong các giao dịch tài chính, nhà gái thường có xu hướng đòi quà nhiều hơn vì giá trị của cô dâu sẽ rất lớn tùy thuộc vào số lượng quà này. Nghi thức cưới hỏi có nhiều giai đoạn, trong đó quan trọng nhất là việc dẫn cô dâu về nhà chồng.

Cô dâu  buộc phải chạm vào khay thức ăn được đặt theo ý ở lối vào cửa chính và dùng chân hất đổ nó. Vậy thì cô ấy phải nhanh chóng vượt qua sau đó ngưỡng cửa. Thủ tục này được biết đến với cái tên « Nghi lễ tách nhập ma (Thủ tục tách biệt và liên minh những hồn ma). Từ đó trở đi, cô dâu  trở thành một thành viên của gia đình chồng cả về tinh thần lẫn vật chất. Cô dâu sẽ gia nhập dứt khoát với nhà chồng khi cô ấy có thai hoặc sau 6 tháng kết hôn.

Theo truyền thống của tổ tiên người Nùng, khi trong dòng họ có người qua đời thì tất cả họ hàng bên ngoại (hay păang lăng) đều phải có mặt trước khi đặt người quá cố vào quan tài. Cần có một thầy tào đảm nhận tất cả các thủ tục nghi lễ liên quan đến đám tang từ A đến Z.

Người  nầy phải bắt đầu làm thủ tục khay lò quan trọng đầu tiên để dọn đường và đưa linh hồn người đã khuất sang thế giới bên kia vì đối với người  Nùng, linh hồn thoát khỏi xác vẫn tiếp tục sống. Các đứa con gái có chồng, các cháu gái đã lập gia đình phải mang theo cây mã tiền trong việc tham gia cũng như các người  họ hàng  bên ngoại mang một con ngựa đến để làm lễ tang. Đối với người Nùng, ngay cả sau khi chôn cất, linh hồn vẫn đi lang thang khắp nhà. Đây là lý do tại sao bàn thờ phải được lập bên cạnh nơi người đã khuất thường ngủ khi còn sống.

Sau một trăm ngày chôn cất, sẽ có một buổi lễ kèm theo một số lượng lớn các món ăn ngon (thịt lợn, gà và xôi). Sau đó, sẽ được tiếp nối bởi một cái lễ khác  đánh dấu sự kết thúc của việc tang tóc sau ba năm. Mỗi nhóm  người Nùng có một cách riêng để kỷ niệm sự kết thúc này. Người Nùng Lôi hủy và đốt đi một ống nứa để lại trên bàn thờ người đã khuất trong khi người Nùng An làm một số lượng lớn vật nuôi (như lợn, gà, trâu, bò) và nông cụ làm bằng giấy và đặt chúng vào một cái chậu rồi chôn dưới phần mộ của người đã khuất. Người Nùng chỉ nhìn thấy trong cái chết sự khởi đầu của một cuộc sống khác cho những người đã khuất. Đây là lý do tại sao người quá cố cần những lễ vật này để có thể có một cuộc sống dễ chịu hơn ở trong thế giới tiếp theo.

Tương tự như dân tộc Mường, có rất nhiều điều cấm đối với việc sinh con. Người Nùng cần được bảo vệ bởi bà Mụ hay nữ thần thời thơ ấu, bàn thờ bà Mụ được dựng trong nhà. Bên cạnh lễ đầy tháng của đứa trẻ, có một số nhóm người Nùng còn tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi trẻ đến tuổi thành niên.

Tương tự như người Mường, người Nùng có lịch sử lâu đời và văn hóa có nghìn năm tuổi. Với họ, người dân Việt (hay người Kinh) thuộc về đại tộc Bách Việt. Trong quá khứ, đối mặt với những kẻ thù đáng lợi hại là những người dân phương Bắc, họ đã cố gắng dựng lên một quốc gia riêng tư nhưng họ không thể đạt được. Chúng ta không thể phủ nhận sự đóng góp của họ trong việc thành lập nước Âu Lạc của người  dân Việt. Anh hùng Nùng Trí Cao của họ tiếp tục có một vị trí trong lịch sử của nước ta. Không có lý do nào để cho giới trẻ Việt Nam không  biết đến lịch sử và văn hóa của họ được vì người Nùng cũng có một phần trách nhiệm không nhỏ trong việc xây dựng tương lai của Việt Nam chúng ta cùng với 52 dân tộc anh em khác.