Nguyễn An, un Vietnamien hors pair (Cité interdite de Pékin)

Nguyễn An, một người Việt kiệt xuất.

 

Version française
Version anglaise
Galerie des  photos

Nguyễn An sinh ra và lớn lên ở Hà Đông (nay thuộc về thành phố Hà Nội)  trong một bối cảnh lịch sử với nhà Trần suy yếu. Thừa dịp đó Hồ Qúi Ly cướp ngôi, đổi tên đất nước thành Đại Ngu và  dự  định dời đô về Thanh Hoá  sau khi xây dựng Tây Đô nhưng lòng dân không theo. Nhà Minh lấy cớ đó xâm chiếm nước ta  với  tướng Trương Phụ.  Không chỉ bắt cha con Hồ Qúy Ly mà luôn cả những thợ thủ công tài hoa nhất trong đó  có  Nguyễn An và  cả hàng ngàn người Việt ưu tú đem về phương Bắc.

Nguyễn An từ nhỏ đã bộc lộ những phẩm chất xuất chúng. Lúc 16 tuổi ông đã tham gia vào nhóm thợ giỏi nhất để xây dựng, sửa sang cung điện của vua Trần Thuận Tông ở Thăng Long. Ông bị bắt làm tù binh  đưa về Trung Quốc để  xây dựng kinh đô mới của triều Minh ở  Bắc Kinh dưới thời Minh Thành Tổ (Chu Đệ). Lúc đó  ông mới ngoài 20 tuổi. Không thân nhân và t ù nhân, ông phải chịu bị hoạn để làm thái giám trong cung dưới thời nhà Minh. Nhờ đó ông phục vụ qua 5 đời vua (từ Minh Thành Tổ đến Minh Tông/Cảnh Tông) và có tên là A Lưu trong Minh Sử.

Nhờ nổi tiếng có tài tính toán chính xác, liêm khiết và thông minh nên đã được nhà vua tin tưởng giao trọng trách tham gia giám sát việc xây dựng Tử Cấm Thành  Bắc Kinh. Ông giỏi tính toán kích thước  nên rất  chuẩn xác không cần đo đạc phức tạp.

Nhờ tài năng xuất chúng, ông mới nghĩ  thiết kế theo quan niệm vũ trụ trời tròn đất vuông. Như sao Bắc Đẩu ở  trên thiên giới, Tử  Cấm Thành là nơi vua ngự  trị  ở hạ giới. Để thiết kế 4 tháp tại bốn góc thành, Nguyễn An vô tình quan sát lồng con dế yêu của mình để lấy cảm hứng từ đó  tạo nên bố cục kiến trúc độc đáo và thiết kế một cách ngẫu nhiên, được Vĩnh Lạc khen ngợi. Đấy là giai thoại truyền miệng được nhắc đến trong bộ phim Đức « Chinas Verbotene Stadt »   được phát hành vào cuối năm 2007 trên  các kênh Arte và ZDF.

Nhờ tính liêm khiết của ông nên ông được vua Minh Thành Tổ tin cậy nên ông được tham giao vào nhóm kiến trúc sư và thiết kế Thái Tín (Cai Xin), Trần Khuê (Chen Gui), Ngô Trung (Wu Zhong) và Khoái Tường (Kuai Xiang) với chức vụ Tổng Đốc Công. Chức nầy được xem là là chức vụ đứng đầu việc quy hoạch, thiết kế và chỉ đạo thi công các đại công trình ở thời phong kiến.

Có thể nói ông chỉ là thợ thủ công lúc đầu, được Minh Thành Tổ  tin cậy mới giao chức vụ  trọng trách như vậy  chớ làm gì có thể  hơn được các quan như Trần Khuê, Ngô Trung trong thời kỳ Trung Hoa còn chế độ phong kiến nhất là ông họan quan thuộc về thành phần hạ cấp bị khinh bĩ trong xã hội. Trần Khuê giữ tước vị Túc Ninh hầu là người tổng chỉ huy, điều hành toàn bộ nhân lực, vận chuyển vật liệu và ngân sách.

Còn Ngô Trung, ông là thượng thư Bộ Công (chức vụ này mới thực sự tương đương Bộ trưởng Bộ Xây dựng / Bộ Giao thông ngày nay).  Còn Thái Tín thời đó ông là kiến trúc sư trưởng với Khoái Tường, kiến trúc sư về mỹ thuật. 

Minh Thành Tổ Chu Đệ không tin tưởng vào các quan vì mang tiếng tham ô quá nhiều nên chỉ tin vào các thái giám vì họ chỉ lệ thuộc trực tiếp với ông. Có thể nói Nguyễn An là « tai mắt » của Chu Đệ, là cận thần thân tín của Chu Đệ với nhiệm vụ Tổng Đốc Công. Chức nầy được xem là chức vụ đứng đầu việc quy hoạch, thiết kế và chĩ đạo thi công các đại công trình ở thời phong kiến.

Dưới triều đại nhà Minh  việc bổ nhiệm một quan chức hoặc viên chức vào vị trí then chốt đòi hỏi phải có văn bản chính thức do chính đích thân hoàng đế ban hành. Chỉ về sau  mới có văn bản chính thức dưới thời vua Minh Anh Tông  phong ông làm Tổng công trình sư tối cao từ năm 1436.

Vua Minh Anh Tông muốn xây dựng hệ thống tháp sừng sững tại 9 cửa thành bao quanh Bắc Kinh.Thị lang Bộ Công là Thái Tín tâu rằng: Công trình này quá lớn, phải cần tới 18 vạn dân phu và phải mất ít nhất 5 năm mới làm xong. Nhà vua không tin tưởng Bộ Công nên đã gạt Thái Tín sang một bên, giao toàn quyền Tổng đốc công cho Nguyễn An. Ông nhận lệnh và chứng minh thiên tài quản lý của mình: Thay vì dùng 18 vạn dân phu gây kiệt quệ sức dân, ông chỉ dùng hơn 1 vạn binh sĩ.

Ông tự tay vạch kiểu, tính toán chi tiết nhân lực và vật liệu. Bộ Công luôn cả Khoái Tường và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài và xuất chúng.  Công việc của ông làm chính là kết hợp nhiệm vụ của một kiến trúc sư công trình, một nhà quy hoạch, một kỹ sư xây dựng lẫn một nhà quản lý dự án, như ở thời đại ngày nay. Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng thành nội tức Hoàng thành, thành ngoại với 9 cửa. Tất cả được thực hiện trong vòng 3 năm mà chỉ dùng hết 1 vạn nhân công.

Sau đó,  vào tháng 3 năm 1440, ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ xây dựng và trùng tu ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân cùng hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh (các tòa cung điện này đã bị sét đánh từ năm 1421 đời Minh Thành Tổ. Chỉ có năm rưỡi thì xong khiến vua  Minh Anh Tông hài lòng, thưởng cho A Lưu 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền.

Nhờ tài năng quản lý xuất chúng cùng đức liêm chính, ông được các hoàng đế nhà Minh tin tưởng giao phó thực hiện vô số công trình quy mô lớn khác tại Bắc Kinh cũng như trên khắp lãnh thổ đế quốc. Hoàng đế biết rằng nếu giao toàn bộ ngân sách cho ông ấy, số tiền đó sẽ được dùng cho vật liệu thay vì nó  chạy vào túi các quan lại. Ông được đánh giá trong Minh sử  là một trong số ít quan chức triều đình hoàn toàn liêm khiết. Điều đáng nói hơn là  khi ông qua đời, các sử gia kể lại  ngân quỹ của ông gần như trống rỗng. Điều này chứng tỏ ông chưa bao giờ biển thủ dù chỉ một xu từ những khoản ngân sách khổng lồ mà ông từng quản lý trong suốt cuộc đời.

Ngoài việc xây cất Tử Cấm Thành, ông còn  đảm nhiệm  chẵng hạn công việc tái thiết các bức tường thành Bắc Kinh. Ông đã giám sát quá trình hiện đại hóa bức tường thành bao quanh thành phố, thay thế các công trình bằng đất nén bằng gạch và đá dày. Trong lĩnh vực kỹ thuật thủy lợi (quản lý nguồn nước) thì ông đã trở thành một vị anh hùng dân tộc tại Trung Quốc nào với việc kiểm soát lũ lụt sông Hoàng Hà   qua các hệ thống đê điều, kênh dẫn  dòng và cửa cống vô cùng tinh vi (ba dự án thủy lợi lớn được hoàn thành với tỷ lệ thành công tuyệt đối) nào với việc nạo vét kênh Đại Vận Hà  nhằm tạo thuận lợi cho việc vận chuyển lương thực và hàng hóa đến Bắc Kinh. Một tuyến đường được xem là huyết mạch đối với nền kinh tế thời nhà Minh.

Nguyễn An (Ruan An) không chỉ được nhắc đến trong bộ *Minh sử* mà còn được  người dân Trung Quốc đương thời biết đến nhưng nó lại mang tính phân hóa rõ rệt.

Đối với công chúng nói chung, ông chỉ là một nhân vật ít được biết đến so với thái giám Trịnh Hoà cùng thời  được nhắc nhở nhiều  trong sách giáo tiếng Trung. Ngược lại  ông trở thành một tên tuổi quan trọng đối với những người đam mê lịch sử và kiến ​​trúc.

Cité interdite de Pékin

Version française

Nguyễn An est  né et a grandi à Hà Đông à une époque où la dynastie Trần était sur le déclin. Saisissant cette opportunité, Hồ Quý Ly usurpa le trône, rebaptisa le pays Đại Ngu et projeta de transférer la capitale à Thanh Hóa après avoir fait construire Tây Đô. Toutefois, il ne parvint pas à s’attirer le soutien de la population. Prenant prétexte de cette situation, la dynastie Ming envahit le pays sous le commandement du général Zhang Fu. Les envahisseurs capturèrent non seulement Hồ Quý Ly et son fils, mais aussi tous les artisans les plus talentueux dont Nguyễn An ainsi que des milliers d’autres Vietnamiens remarquables et  les emmenèrent tous vers le Nord de la Chine.

Nguyễn An fit preuve de qualités exceptionnelles dès son plus jeune âge. À seize ans, il avait déjà rejoint un groupe d’artisans d’élite chargé de la construction et de la rénovation des palais du roi Trần Thuận Tông à Thăng Long. Par la suite, il fut fait prisonnier et emmené en Chine pour participer à l’édification de la nouvelle capitale de la dynastie Ming, Pékin, sous le règne de l’empereur Yongle (Vĩnh Lạc). Il était alors âgé d’une vingtaine d’années. Seul et captif, il fut castré et servit en tant qu’eunuque de palais sous la dynastie Ming. Il servit cinq empereurs successifs — de Yongle à Jingtai et dans l’*Histoire des Ming* (Ming Shilu) il fut connu  sous le nom d’A Luu.

Réputé pour sa précision dans les calculs, son intégrité et son intelligence, il se vit confier par l’Empereur la mission importante de superviser la construction de la Cité interdite à Pékin. Il maîtrisait si bien le calcul des dimensions que ses mesures étaient d’une grande exactitude, rendant  ainsi superflues les opérations complexes de prise de mesures sur le chantier.

Grâce à son talent exceptionnel, il a conçu un plan fondé sur le concept cosmologique ancestral d’un ciel rond et d’une terre carrée. Étant considérée comme l’étoile polaire régnant sur la voûte céleste, la Cité interdite sert de siège à l’empereur sur terre. L’inspiration pour les quatre tours d’angle lui était venue de manière inattendue de la cage de son grillon apprivoisé. Cette conception architecturale unique et improvisée lui a valu les éloges de l’empereur Yongle. Cette anecdote a été relatée dans le documentaire allemand *Chinas Verbotene Stadt* (La Cité interdite de Chine), diffusé sur les chaînes Arte et ZDF fin 2007.

Grâce à son intégrité, l’empereur Yongle (Ming Chengzu) lui a accordé sa confiance et  l’a intégré ainsi à une équipe d’architectes et de concepteurs aux côtés de Thái Tin (Cai Xin) , Trần Khuê (Chen Gui), Ngô Trung (Wu Zhong) et Khoái Tường (Kuai Xiang).

Il n’aurait certainement pas pu se voir attribuer un rang supérieur à celui de fonctionnaires tels que Trần Khuê (Chen Gui) et Ngô Trung (Wu Zhong)  dans le cadre du système féodal chinois où il appartenait à une catégorie méprisée et de bas rang de la société. Ayant eu le titre de marquis de Taining (Túc Ninh), Chen Gui (Trần Khuê) occupait la fonction de commandant en chef et supervisait l’ensemble de la main-d’œuvre, ainsi que le transport des matériaux et la gestion du budget.

Quant à  Wu Zhong (Ngô Trung), il a occupé le poste de ministre des Travaux publics, une fonction véritablement équivalente à celle d’un ministre de la Construction ou des Transports d’aujourd’hui. De son côté, Cai Xin (Thái Tín) était l’architecte en chef de l’époque avec Kuai  Xiang (Khoái Tường), architecte en art.

L’empereur Yongle (Zhu Di) se méfiait des fonctionnaires en raison de leur réputation généralisée de corruption. Il préférait s’en remettre aux eunuques, qui lui étaient directement redevables. On peut dire que Nguyễn An a servi de « yeux et d’oreilles » à Zhu Di et a agi  en tant que homme de confiance. L’empereur lui accorda au début le rôle de surintendant général des travaux.  Ce poste était considéré comme la plus haute fonction chargée de la planification, de la conception et de la supervision de la construction de grands projets à l’époque féodale.

Sous la dynastie Ming, la nomination d’un fonctionnaire à un poste clé nécessitait un document officiel émanant personnellement de l’empereur. Ce n’était qu’en 1436, sous le règne de l’empereur Ming Zhengtong, qu’un décret officiel fut promulgué pour le nommer architecte en chef suprême.

L’empereur Ming Zhengtong souhaitait faire ériger des tours de guet imposantes aux neuf portes entourant Pékin. Cai Xin, vice-ministre des Travaux publics, soumit un rapport indiquant que le projet était d’une envergure excessive, nécessitant une main-d’œuvre de 180 000 ouvriers et au moins cinq années de travaux. Méfiant à l’égard du ministère des Travaux publics, l’empereur écarta Cai Xin et confia la pleine responsabilité du projet à Nguyễn An. Une fois investi de cette mission, Nguyễn An fit preuve d’un génie organisationnel remarquable: au lieu de mobiliser 180 000 ouvriers,  une mesure aurait épuisé la population. Il mena à bien le projet en s’appuyant sur un effectif d’à peine plus de 10 000 soldats.

Il a personnellement élaboré les plans et calculé avec précision les besoins en main-d’œuvre et en matériaux. Saisis d’admiration, les responsables du ministère des Travaux publics  y compris Kuai Xing ainsi que les artisans s’en remettaient à ses directives. C’était véritablement un homme d’un talent et d’une intelligence exceptionnels. Son travail conjuguait les rôles d’architecte en structure, d’urbaniste, d’ingénieur en génie civil et de chef de projet, à l’instar des professionnels polyvalents de notre époque. La deuxième année de l’ère Zhengtong (1437), il fit construire la ville intérieure (la Cité impériale) ainsi que la ville extérieure, dotée de neuf portes. L’ensemble du projet fut achevé en trois ans seulement avec une main-d’œuvre de dix mille ouvriers.

Par la suite, en mars 1440, l’empereur le chargea de diriger une main-d’œuvre de 70 000 ouvriers pour la construction et la restauration de trois salles: Palais de l’Harmonie Suprême (Phụng Thiên) (奉天), Palais de l’Harmonie Centrale (Hoa Cái) (華蓋) et Palais de l’Harmonie Préservée (Cẩn Thân)  (謹身) ainsi que de deux palais, Càn Thanh (乾清宮) (Palais de la Pureté Céleste ) et Khôn Ninh (坤寧宮) (Palais de la Tranquillité Terrestre) (des édifices frappés par la foudre sous le règne de l’empereur Yongle de la dynastie Ming). Le projet fut achevé  seulement en un an et demi à la grande satisfaction de l’empereur Ming Zhengtong, qui récompensa A Luu en lui offrant 50 taels d’or, 100 taels d’argent, 8 tonnes de céréales et 10 000 chapelets de sapèques.

Grâce à ses compétences exceptionnelles en gestion et à son intégrité, les empereurs de la dynastie Ming lui confièrent de nombreux projets d’envergure, tant à Pékin que dans le reste de l’empire. Ils savaient que si l’on lui confiait la totalité du budget, les fonds seraient consacrés aux matériaux plutôt qu’à garnir les poches de fonctionnaires corrompus. L’*Histoire des Ming (Ming Shilu)* le salue comme l’un des rares dignitaires de la cour à avoir fait preuve d’une incorruptibilité totale. Les historiens notent d’ailleurs qu’à sa mort, ses coffres personnels étaient pratiquement vides, prouvant qu’il n’avait jamais détourné le moindre sou des budgets considérables qu’il avait gérés tout au long de sa vie.

Outre la construction de la Cité interdite, il entreprit des travaux tels que la reconstruction des remparts de Pékin. Il supervisa la modernisation des fortifications de la ville en remplaçant les structures en terre damée par une maçonnerie épaisse de briques et de pierres. Dans le domaine du génie hydraulique, il devint un héros national en Chine pour avoir maîtrisé les crues du fleuve Jaune grâce à des systèmes sophistiqués de digues, de canaux de dérivation et d’écluses avec trois projets majeurs de gestion des eaux  et pour avoir fait curer le Grand Canal afin de faciliter le transport de céréales et de marchandises vers Pékin, une voie considérée comme le poumon économique de la dynastie Ming.

Nguyễn An (Ruan An) est  mentionné non seulement dans l’*Histoire des Ming (Ming Shilu) *, mais il est  également connu auprès  des Chinois d’aujourd’hui, bien que les perceptions à ce sujet varient considérablement.

Pour le grand public, il demeure une figure relativement méconnue comparée à son contemporain, l’amiral eunuque Zheng He (Trịnh Hoà),  cité fréquemment dans les manuels scolaires chinois. En revanche, il est une figure marquante pour les passionnés d’histoire et d’architecture.

English version

Nguyễn An was born and raised in Hà Đông during a time when the Trần dynasty was in decline. Seizing this opportunity, Hồ Quý Ly usurped the throne, renamed the country Đại Ngu, and planned to relocate the capital to Thanh Hóa after constructing Tây Đô. However, he failed to win the support of the populace. Using this situation as a pretext, the Ming dynasty invaded the country under the command of General Zhang Fu. The invaders captured not only Hồ Quý Ly and his son but also the most talented artisans—including Nguyễn An—along with thousands of other distinguished Vietnamese, taking them all to northern China.

Nguyễn An demonstrated exceptional talent from a very young age. By the age of sixteen, he had already joined an elite group of artisans tasked with constructing and renovating the palaces of King Trần Thuận Tông in Thăng Long. Subsequently, he was taken prisoner and transported to China to participate in the construction of Beijing—the new capital of the Ming Dynasty—under the reign of the Yongle Emperor (Vĩnh Lạc). He was in his twenties at the time. Alone and in captivity, he was castrated and served as a palace eunuch under the Ming Dynasty. He served five successive emperors—from Yongle to Jingtai—and is known in the *History of the Ming* (Ming Shilu) by the name A Luu.

Renowned for his precision in calculations, his integrity, and his intelligence, he was entrusted by the Emperor with the important mission of overseeing the construction of the Forbidden City in Beijing. He had such a mastery of dimensional calculations that his measurements were extremely accurate, thereby rendering complex on-site measuring procedures unnecessary.

Thanks to his exceptional talent, he devised a plan based on the ancient cosmological concept of a round heaven and a square earth. Viewed as the North Star reigning over the celestial vault, the Forbidden City serves as the earthly seat of the emperor. He drew the inspiration for the four corner towers unexpectedly from the cage of his pet cricket. This unique, improvised architectural design earned him the praise of the Yongle Emperor. This anecdote was recounted in the German documentary *Chinas Verbotene Stadt* (China’s Forbidden City), broadcast on the Arte and ZDF channels in late 2007.

Thanks to his integrity, Emperor Yongle (Ming Chengzu) placed his trust in him and appointed him to a team of architects and designers alongside Thái Tin (Cai Xin), Trần Khuê (Chen Gui), Ngô Trung (Wu Zhong), and Khoái Tường (Kuai Xiang).He certainly could not have been granted a rank higher than that of officials such as Trần Khuê (Chen Gui) and Ngô Trung (Wu Zhong) within the Chinese feudal system, as he belonged to a low-ranking and despised stratum of society. Holding the title of Marquis of Taining (Túc Ninh), Chen Gui (Trần Khuê) served as commander-in-chief, overseeing the entire workforce as well as the transport of materials and budget management.

As for Wu Zhong (Ngô Trung), he held the post of Minister of Public Works—a role effectively equivalent to that of a modern-day Minister of Construction or Transport. Meanwhile, Cai Xin (Thái Tín) served as the era’s chief architect, alongside the master architect Kuai Xiang (Khoái Tường).Emperor Yongle (Zhu Di) distrusted government officials due to their widespread reputation for corruption. He preferred to rely on eunuchs, who were directly beholden to him.

It could be said that Nguyễn An served as Zhu Di’s « eyes and ears » and acted as a trusted confidant. The Emperor initially appointed him General Superintendent of Works—a position considered the highest office responsible for the planning, design, and supervision of major construction projects during the feudal era. Under the Ming dynasty, the appointment of an official to a key position required an official document issued personally by the emperor. It was not until 1436, during the reign of the Ming Emperor Zhengtong, that an official decree was promulgated appointing him Supreme Chief Architect.

Emperor Ming Zhengtong wished to erect imposing watchtowers at the nine gates surrounding Beijing. Cai Xin, the Vice Minister of Public Works, submitted a report stating that the project was excessively ambitious, requiring a workforce of 180,000 laborers and at least five years of construction. Suspicious of the Ministry of Public Works, the Emperor dismissed Cai Xin and entrusted full responsibility for the project to Nguyễn An. Once charged with this mission, Nguyễn An demonstrated remarkable organizational genius: instead of mobilizing 180,000 laborers, a measure that would have exhausted the population. He successfully completed the project using a workforce of just over 10,000 soldiers.

He personally drew up the plans and precisely calculated the requirements for labor and materials. Filled with admiration, officials from the Ministry of Public Works including Kuai Xing as well as the artisans themselves, deferred to his direction. He was truly a man of exceptional talent and intelligence. His work combined the roles of structural architect, urban planner, civil engineer, and project manager, much like the multifaceted professionals of our own time.

In the second year of the Zhengtong era (1437), he oversaw the construction of the Inner City (the Imperial City) and the Outer City, the latter featuring nine gates. The entire project was completed in just three years, utilizing a workforce of ten thousand laborers. Subsequently, in March 1440, the Emperor tasked him with leading a workforce of 70,000 laborers in the construction and restoration of three halls—the Hall of Supreme Harmony (Phụng Thiên), the Hall of Central Harmony (Hoa Cái), and the Hall of Preserved Harmony (Cẩn Thân) as well as two palaces Càn Thanh (Palace of Heavenly Purity) Khôn Ninh (Palace of Earthly Tranquility). These structures had been struck by lightning during the reign of the Ming Dynasty’s Emperor Yongle. The project was completed in just a year and a half, to the great satisfaction of the Ming Emperor Zhengtong, who rewarded A Luu with 50 taels of gold, 100 taels of silver, 8 tons of grain, and 10,000 strings of cash coins.

Thanks to his exceptional management skills and integrity, Ming dynasty emperors entrusted him with numerous large-scale projects, both in Beijing and across the empire. They knew that if the entire budget were placed in his hands, the funds would be spent on materials rather than lining the pockets of corrupt officials. The *History of the Ming (Ming Shilu)* hails him as one of the few court dignitaries to have demonstrated absolute incorruptibility. Indeed, historians note that upon his death, his personal coffers were virtually empty, proving that he had never misappropriated a single penny from the vast budgets he had managed throughout his life.

In addition to the construction of the Forbidden City, he undertook projects such as the rebuilding of Beijing’s city walls. He oversaw the modernization of the city’s fortifications, replacing rammed-earth structures with thick masonry made of brick and stone. In the field of hydraulic engineering, he became a national hero in China for taming the Yellow River’s floods through sophisticated systems of dikes, diversion channels, and sluice gates comprising three major water management projects and for having the Grand Canal dredged to facilitate the transport of grain and goods to Beijing, a waterway regarded as the economic lung of the Ming Dynasty.

Nguyễn An (Ruan An) is mentioned not only in the *History of the Ming (Ming Shilu)* but is also known to Chinese people today, although perceptions of him vary considerably.

For the general public, he remains a relatively obscure figure compared to his contemporary, the eunuch admiral Zheng He (Trịnh Hoà), who is frequently cited in Chinese school textbooks. However, he is a significant figure for history and architecture enthusiasts.

 

The Vietnamese spoonerism

 

Nói lái

French version
Vietnamese version

The exact date of the appearance of spoonerisms in Vietnam is not known, but during the French colonial period, it was discovered by a researcher from the French School of the Far East, M.A. Chéon. He maintains that it is a language formed mechanically and artificially from the mixing or inversion of elements of two or three consecutive monosyllables in a sentence. It is considered a true linguistic gymnastics and is characteristic in conversation. When someone says something, the listener must know how to interpret it in another way according to a tacit convention that only a small group of people in the profession or among friends can understand. Today, it has become popular among the population and is used to joke playfully among close friends, such as « khoái ăn sang » (to enjoy eating abundantly) (sáng ăn khoai « eat sweet potatoes for breakfast »), (chà đồ nhôm « rub aluminum objects ») (chôm đồ nhà « steal things from the house »), (hạ cờ tây « lower the French flag ») (hạ cầy tơ « eat dog meat »).

Words of extreme elegance can become vulgar words in carelessness or with the intention of teasing someone or mocking others, especially the beautiful names that parents have given their children such as Cảnh hu, Thu đạm, Thái Đức, etc. Sometimes in a statement, no meaning is found, but when the words are reversed, it gives it a meaning like « man cái » becoming « cái màn » (curtain) or vice versa like « đơi chi » becoming « đi chơi » (to stroll).

According to the French researcher M.A. Cheon, Vietnamese people often have the habit of easily separating the elements (consonants and vowels) of words. It is on this separation that the whole rule of wordplay is established. The first word lends its final ending to the following word and in return, it takes back the final ending of the following word.

Thus, « đi chơi » (to stroll) is divided into d + i and becomes « đơi chi » by inversion. This is a very simple rule but it also includes very complex rules that are often found in wordplay with the three principles below.

Example: cờ tây (French flag) becomes cầy tơ (a young dog). This method proves harmonious and is more frequently encountered. Cờ and cầy always keep the two tones (bằng) of the two original sounds like tây and.

Second method:

1°) Completely swap syllables.

2°) Keep the two tones (accents) of the two original sounds.

For example: đấu tranh (to fight) becomes tránh đâu (to avoid). This method does not seem pleasant to the ear and is rarely used.

Third method:

1°) Reverse the sound pattern.

2°) Swap the two tones (accents) of the two syllables.

For example: khó đi (difficult to go) becomes khi đó (at that moment). This method is also not pleasant to the ear and its use is also rare.

According to the writer Phụng Nghi, in a word of 3 or 4 syllables, if one wants to say it « backwards, » one must keep the linking sounds (conjunctions) or the sounds with secondary meaning. The syllables with the correct meaning are exchanged in the three ways mentioned above.

Example: khoái ăn sang (to enjoy eating abundantly) -> sáng ăn khoai (« to eat sweet potatoes for breakfast »)

cái trâm em cài (the brooch I wear) -> (cái trài em câm) -> (cái chai em cầm « the bottle I hold »)

làm sương cho sáo (to make dew for the flute: no meaning) -> (làm sao cho sướng « how to make myself happy »)

cầu gia đạo (family prayer) -> (cạo da đầu « scalp shaving »)

This wordplay is often used with the intention of reflecting a social reality such as

Ban lãnh đạo (« leadership team ») -> Bao lãnh đạn (« cartridge case »)

Thủ tục đầu tiên (« the first procedure to take ») -> (thủ tục tiền đâu « monetary procedure (corruption) »)

Chiều 30 Tết thầy giáo tháo giầy đi chợ, mồng một giáo chức (giức cháodứt  cháo  vui Xuân. Trong câu nầy thì có sự châm chước trong lỗi chính tả như hai chữ  giứcdứt.

On the afternoon of the 30th of Tết, teachers take off their shoes to go to the market. On the first day of Tết, teachers finish their soup and celebrate the spring. In this statement, there is some tolerance for spelling mistakes such as the two words « giức » (no meaning) and « dứt » (to cease).

With the characteristic of « transforming the ‘vulgar’ into ‘distinguished’, » the spoonerism is a technique that appears in scholarly literature and popular couplets. It is also satirical and ironic, as in the poem titled « Monastic Life » by Hồ Xuân Hương:

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo (quá nhỏ)
Thuyền từ muốn về Tây trúc
Trái gió phải nên phải lộn lèo

The monastic life is burdened with heavy stones,
What taste is there in a little bit so tiny (too small)?
The boat wants to return to India,
The contrary wind forces it to turn around.

Or not strictly adhering to the rising and falling tones in the poem « Summer Awaits the Lover » by Nguyễn Khoa Vy:

Nực cổi chỉ ra nỗi cực lòng
Dòng châu lai láng đĩa dầu chong
Khó đi tìm hiểu nhau khi đó
Công khó chờ ai biết có không

The heat’s relief only reveals deep despair,
Tears flow abundantly on the oil lamp’s plate.
It is difficult to understand each other at that moment,
The effort to wait for someone, does anyone know?

We are used to listening to the following riddles

I do not dislike compotes except chè ghim (chìm nghe « sunken boat »)

Bằng ngón tay trên bàn Phật
Tụng kinh rồi búng cánh bay xa (bánh cúng)

– Just the size of a finger on the Buddha’s altar
Once the prayer is finished, the cake offered to him flies very far (búng cánh « bánh cúng »)

Cái bông trên cành, cái trái cận mây (cây mận)

– The flower is on the branch, the fruit is close to the cloud (cận mây) (prunier tree).

The flower being on the branch, the fruit is very close to the cloud (cận mây), that is, on the « cây mận (prunier) »

Cục đo đỏ bỏ vô giường (Cục đường bỏ vô giỏ)

– The reddish piece is on the bed (Cục đo đỏ bỏ vô giường) (Cục đường bỏ vô giỏ « the piece of sugar is in the basket »)

or to find the spoonerism in the following parallel sentences:

Con mèo cái nằm mãi trên mái kèo
Con cá đối nằm trong cối đá
Con chim mỏ kiến đậu trên miếng cỏ

The female cat rests eternally on the roof framework.
The mule rests in the stone mortar.
The woodpecker perches on a piece of grass.

There are certain puns in spoonerisms that the listener thinks they are dealing with, such as Western or Chinese words during their listening, which first causes confusion and leaves them stunned for a moment before realizing it and bursting out laughing. This is the case with the following example:

Quýt xơ măng bông sên (Quăng xơ mýt (mít) bên sông « throwing jackfruit fibers by the riverbank »).

Chúng mình đập chuông nhé? -> Chúng mình đuông chập nhé? -> Chúng mình đuông chậm nhé? -> ? Chúng mình đâm chuột nhé? -> Chúng mình đâm tí (tý) nhé? -> (Chúng mình đi tắm nhé? « Let’s go swimming »)

[Return LITERATURE]

 

 

Les photos superbes en boir et blanc de Jean Marie Duchange (Bộ hình qúi giá trắng đen)

 sur les Hauts plateaux

dans les années 50

Chuyến đi thú vị ở Hy Lạp (Voyage mémorable en Grèce)

 

Cuộc hành trình ở Hy Lạp.

Qua cuộc hành trình nầy mình mới nhận thấy cách phục vụ của người Hy Lạp ở khách sạn mình trú  cần nên nói đến, cần nên kể lại cho các bạn biết câu chuyện iphone của cháu Mi (hay Jérémy) , có thể đây  cũng gíúp mình có cái nhìn rõ về con người Hy Lạp, cũng đáng khen họ tự hào đất nước họ là cái nôi của văn hoá phương tây. Ở Paris cũng như ở Việt Nam chắc chắn là không được vậy dù ai cũng biết mình rất yêu thích Paris và Việt Nam.  Thứ hai vừa qua, tụi nầy trở về Paris sau một tuần viếng thăm xứ Hy Lạp. Nhờ khách sạn tụi nầy cư ngụ gọi giùm một taxi để đưa tụi nầy ra phi trường. Giá  taxi từ thành phố Athènes đến phi trường là 45 euros, đi một mình hay ba bốn người cũng cùng giá. Taxi đến đúng giờ phải có mặt ở phi trường 3 tiếng truớc để kiểm tra hành lý giấy tờ nên tụi nầy lấy taxi lúc 8 giờ sáng. Chưa đi  được 5 phút tài xế nói xe có vấn đề vì xe bị vỡ bánh. Anh tài xế mới hỏi tụi nầy có nên đợi hay lấy xe taxi khác mình nói nên kêu giùm một taxi khác. Anh taxi nói ok kêu cho tụi nầy một taxi khác. Bên nầy xe taxi dễ nhận ra vì xe được sơn màu vàng. Xe taxi ít lấy khách ở giữa  đường thành phố lắm. 10 phút sau có một taxi khác đến đưa tụi nầy ra phi trường, chú tài xế nầy cở  55 tuổi còn chú tài xế bị xe vỡ bánh cở chừng 35, 40  tuổi. Mình vừa cảm ơn em tài xế nầy và gữi lại cho em nầy 3 euros để uống café. Ra đến phi trường sau khi bước vào cổng phi trường cháu của mình Jérémy mà mình cứ gọi la Mi thốt lên là bõ quên trên taxi cái iphone pro max 13 của cháu thì mình ra cổng taxi đã đi rồi.  Cháu vì thức sớm quá nên lúc xem coi phim  ở trên xe taxi cháu ngủ gục khiến cái iphone nó rớt xuống  chổ để chân. Mặt cháu buồn so biết mất rồi. Mình mới bảo thôi về Paris ráng học thi cử đậu cao đi mình mua cái iphone tặng cho nó. Bao nhiêu hình ảnh manga tích trử trên icloud đều mất cả. Thấy vậy ba má của nó mới nói để tụi con phone cho khách sạnh mình ở báo mất iphone trên taxi nhưng không biết taxi nào đấy.  Lúc đó, mình cũng nghĩ đây là cách tìm kiếm cây kim trong bãi biển. Cũng hên ở phi trường có wifi nên mới liên lạc được với khách sạn. 10 phút sau thì được tin nhắn của khách sạn báo tin là họ sẽ lo chuyện và sẽ báo sau. Lúc gần lên máy bay thì họ cho hay là có tìm một iphone rớt trên taxi.  Khi về tới Orly Paris vào  lúc 15 giờ ngày thứ hai (24/7) thì có tin nhắn là iphone của Jérémy được giữ ở khách sạn. Chính mình cũng không ngờ là có thể như vậy chớ theo mình ở Paris hay ở VN thì sẽ mất rồi. Thầt là hi hữu nhất là ở khách sạn họ rất chu đáo liên lạc với DHL rồi gói lại iphone đàng hoàng để vào một hộp giày gởi về địa chỉ của nhà tụi nầy. Cuớc phí là (87 euros) nếu muốn giao tận tay và ký tên khi nhận (5 euros thêm)  nhưng rất nhanh lẹ. Tụi nầy nhận được iphone hôm qua thứ tư (26/7) lúc 3 giờ trưa. Mình muốn nói đây là cách phục vụ khách hàng, niềm tự hào của một dân tộc làm mình phải bái phục. Lúc nào rảnh mình sẽ kể lại chuyến tham quan của mình ở Lan Hạ (Vịnh Hạ Long) năm ngoái. Ngẫm nghĩ lại cách phục vụ ở VN còn kém lắm, chặt chém lắm rất tiếc họ không biết chỉ được một lần thôi khách du lịch đến nước mình chớ họ đâu biết đây là niềm tự hào của cả một dân tộc và người du khách không quay đầu trở lại nửa đấy.  

Mon voyage mémorable en Grèce.

A travers ce voyage, je me suis rendu compte qu’il faut parler du service de mon hôtel, raconter l’histoire du portable « iphone » de Mi (ou Jérémy).  Cela m’aide d’avoir une vision claire sur le  peuple grec. C’est également louable qu’ils soient fiers de leur pays en tant que berceau de la culture occidentale. A Paris comme au Vietnam, ce n’est certainement pas possible, même si tout le monde sait que j’ai un attachement profond envers le  Vietnam et la France. Lundi dernier, nous  étions rentrés à Paris après une semaine de visite en Grèce. Nous demandions  à l’hôtel où nous étions logés d’appeler un taxi pour nous emmener à l’aéroport. Le prix d’un taxi d’Athènes à l’aéroport était de 45 euros. Pour un  voyageur  tout  seul ou pour trois ou quatre personnes, le prix à payer  était le même. Le taxi devant être à l’heure, nous étions obligés  d’être à l’aéroport 3 heures à l’avance  pour enregistrer les bagages. C’était pour cela que nous avons donc pris un taxi à 8h du matin.

Après nous avoir emmenés moins de 5 minutes, le chauffeur de taxi nous signalait  que la voiture avait un problème   avec un pneu dégonflé. Le chauffeur nous a demandé si nous voulions  prendre un autre taxi.  Nous préférions prendre  un autre taxi  après son appel de contact avec un autre taxi. Le taxi était  facile à reconnaître car la voiture était toujours  peinte en jaune. Le taxi prend rarement les clients dans les rues de la ville. 10 minutes plus tard un autre taxi était venu pour nous emmener à l’aéroport.  Le  nouveau chauffeur a environ 55 ans tandis que celui dont la voiture a un  pneu dégonflé, a à peu près  35 ou 40 ans. J’ai remercié ce dernier en lui donnant 3 euros pour un café. Une fois arrivé à l’aéroport, après avoir franchi la porte de l’aéroport, mon neveu Jérémy s’aperçut qu’il avait oublié dans le taxi son iphone pro max 13 mais le taxi était déjà parti.  A cause du réveil matinal, Jérémy s’était endormi en  regardant un film  et en faisant tomber mon iphone sur l’emplacement  inférieur de la voiture. Son visage est tellement triste car il savait que c’était parti son téléphone. Pour le soulager, je lui disais qu’il devait réussir cette année le baccalauréat avec mention pour pouvoir avoir un autre iphone.  Toutes les images de manga stockées sur icloud sont perdues.  Ses parents tentaient  d’appeler l’hôtel où nous étions et lui signalaient que le portable  iPhone s’était égaré dans l’un de ces deux taxis, mais nous ne savions pas de quel taxi il s’agit.  Pour moi, je trouve qu’on  est en train chercher une aiguille au fond de la mer. Heureusement, comme il y avait  le wifi à l’aéroport, ils pouvaient contacter l’hôtel. 10 minutes plus tard, ils recevaient un SMS de l’hôtel indiquant qu’ils s’en occuperaient et le leur signaleraient plus tard. Juste au moment nous étions sur le point d’être embarqués dans l’avion, nous recevions le SMS de l’hôtel signalant la présence de cet iphone dans le dernier taxi.

Une fois arrivés à Paris-Orly  à 15h00 le lundi (24 juillet), nous avions un message disant que le portable  de Jérémy était remis et gardé  à l’hôtel. Moi-même, je ne m’attends pas à cela car au Vietnam ou à Paris, ce sera perdu. C’est rare de  trouver le gars de l’hôtel tellement serviable en faisant le nécessaire pour l’envoi et en contactant le DHL. Le coût d’envoi  est de (87 euros) si on souhaite  une remise en main propre et une  signature à la réception (5 euros en plus) mais il faut reconnaître que le service DHL est très rapide. Le 26 Juillet à trois heures de l’après-midi (hier), Jérémy retrouve son téléphone. Je suis impressionné par la gentillesse et le service que l’hôtel grec nous a donnés. Cela me donne non seulement la satisfaction mais aussi l’accueil mémorable des Grecs. Quand j’ai du temps libre, je vais vous raconter notre voyage à Lan Hạ (Baie d’Along).  En replongeant dans ce voyage de l’année dernière, le service nous est fourni  par un opérateur et une agence vietnamienne  n’est pas à la hauteur de  notre attente. Ces derniers peuvent abuser de la publicité mensongère en  une seule fois mais ils ne savent pas qu’ils représentent la fierté d’un peuple et la manière de servir les touristes étrangers qui ne sont plus de retour au Vietnam. C’est dommage pour mon pays natal.

Grèce, voyage mémorable

 

Chuyến đi thật thú vị

              Bảo tàng khảo cổ quốc gia Athènes. (Musée national archéologique d’Athènes)                                    

              Thành phố Théra (Capitale Théra de l’île  Santorin)
          Làng Oia  (Village Oia)
             Làng biển Perissa (Village balnéaire Périssa)

 

Mon voyage mémorable en Grèce

À savoir.
Hôtel recommandéAthens Psiri Hotel
32 Sofokleous str., Athens, Greece
+30 210 52 34 329
info@athenspsirihotel.com
www. athenspsirihotel.com

 

Depuis quand, Paris devient-elle la ville lumière?

Từ bao giờ Paris trở thành kinh đô ánh sáng?
Depuis quand, Paris devient-elle la ville lumière?
Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Được xem là kinh đô ánh sáng của Âu Châu, Paris đã có nét đẹp lung linh nầy từ bao giờ nhỉ? Qua nhiêu thế kỷ, Paris cũng như các thành phố Âu Châu đều chìm lặn trong bóng tối một khi màn đêm buông xuống khiến làm người qua đường áy náy lo sợ vì thiếu an ninh nhất là với một mùa đông lạnh buốt. Bởi vậy nhà thi sỹ Boileau có nhắc đến vấn đề nầy trong quyển sách ông viết có tựa đề : Les Embarras de Paris vào năm 1666. Chính vì vậy mới có các nhóm người tuần tra đi khắp nẽo đường Paris với các bó đuốc nhưng khó mà kiểm soát được Paris nhất là ở thế kỷ 17 có đến 500.000 cư dân. Thời đó, muốn đi đêm phải có đuốc hay đèn lồng. Các người giàu có thì có người nô bộc dẫn đường với chiếc đèn lồng. Sau đó ở giữa thế kỷ 17 có những người chuyên môn sinh sống với nghề cầm đuốc dẫn đường, họ đón khách ở những nơi có nhà hát hay vũ trường. Mãi cho đến đầu thế kỷ 19 nghề nầy vẫn còn thấy ở Paris. Tuy nhiên những người giàu có hay ngưởi buôn bán vẫn sợ sệt vì đường không được sáng tỏ chi cho lắm.

Trong lúc đó ở Âu Châu thì các thành phố đã có hệ thống đèn đường công cộng với các lồng đèn đốt trước nhà. Dựa trên chỉ dụ của vua mặt trời của Pháp, Louis XIV thì trung tướng cảnh sát La Reynie mới ra chỉ thị bắt buộc các chủ nhà đặt đèn trước nhà khiến nhờ vậy có hơn 2700 đèn lồng được đặt ở 900 đường của thành phố. Đèn nầy được đốt từ tháng mười cho đến tháng ba, từ 6 giờ chiều đến 12 giờ đêm. Từ đó hệ thống đèn đường làm người du khách ngoại quốc đến Paris đều thán phục và say mê nhưng loại đèn lồng nầy dễ bị gió làm tắt ngọn lửa của lồng đèn. Sau đó được thay thế bằng cột đèn đường (réverbère) được sáng tạo bởi người thợ đồng hồ xứ Bourgogne tên là Bourgeois de Châteaublanc để tránh được nạn gió và soi sáng đường xá tỏ hơn đèn lồng. Hiện nay còn thấy các cột đèn nầy ở nhiều nơi sang trọng của Paris như ờ quảng trường Vendôme chẳng hạn hay dọc theo các cầu sông Seine. Chính nhờ vậy một khi hoàng hôn phủ xuống thành phố, thì các đèn đường được đốt lên thưở đầu bằng khí đốt nay thì bằng điện cả khiến Paris đẹp lung linh về đêm.

Galerie des photos

« of 13 »

 

Version française

Étant connue comme la capitale européenne de la lumière, Paris a-t-elle eu depuis quand cette beauté chatoyante? Au fil des siècles, Paris comme tant d’autres villes européennes ont été plongées dans l’obscurité une fois la nuit tombée. Cela faisait peur surtout aux passants en raison du manque de sécurité avec un hiver froid et rude. Le poète Boileau eut l’occasion d’évoquer ce problème dans son livre intitulé « Les Embarras de Paris » en 1666. C’était pourquoi il y avait des groupes de patrouilleurs constitués parcourant les rues de Paris avec des torches ou des lanternes mais malheureusement c’était difficile de contrôler Paris au 17ème siècle avec plus de 500 000 habitants. À cette époque, si on voulait sortir la nuit, il fallait avoir des torches ou des lanternes. Les riches étaient précédés dans leurs pas par un serviteur avec une lanterne. Puis au milieu du XVIIème siècle, il y avait des porteurs de flambeau vivant avec le métier de guide d’éclairage. Ils se postaient devant les lieux connus comme les théâtres et les salles de bal à la recherche des clients. Jusqu’au début du XIXème siècle, ce métier exista encore à Paris. Cependant, les riches ou les commerçants avaient encore peur car les rues n’étaient pas bien éclairées. Pendant ce temps en Europe, les villes avaient déjà possédé un système d’éclairage public avec des lanternes installées devant les maisons.

En se basant sur le décret du Roi Soleil de France, Louis XIV, le lieutenant général de police La Reynie a émis une directive ordonnant aux propriétaires de mettre en place les lanternes sur les façades de leurs maisons. Plus de 2 700 lanternes étaient installées ainsi dans les 900 rues de la ville. Cette lanterne devait être allumée, de 18h jusqu’à minuit, depuis le mois d’octobre jusqu’au mois de mars. Depuis, le système d’éclairage public commença à émerveiller les touristes étrangers lors de leur passage à Paris mais la lanterne s’éteignit facilement au gré du vent. Elle fut remplacée ensuite par le réverbère inventé par un horloger bourguignon de nom Bourgeois de Châteaublanc et ayant pour but d’éviter le vent et d’éclairer mieux encore la rue. Aujourd’hui, ce type de réverbère est encore visible dans de nombreux endroits luxueux à Paris, comme par exemple à la place Vendôme ou le long des ponts traversant la Seine. C’est pourquoi dès le coucher de soleil, les réverbères d’abord allumés autrefois au gaz et maintenant à l’électricité rendent Paris plus chatoyante toute la nuit.

Version anglaise

Known as the European capital of light, since when has Paris had this shimmering beauty? Over the centuries, Paris, like many other European cities, was plunged into darkness once night fell. This was especially frightening for passersby due to the lack of security during the cold and harsh winter. The poet Boileau had the opportunity to address this problem in his book titled « Les Embarras de Paris » in 1666. That is why there were groups of patrolmen roaming the streets of Paris with torches or lanterns, but unfortunately, it was difficult to control Paris in the 17th century with more than 500,000 inhabitants. At that time, if one wanted to go out at night, they had to have torches or lanterns. The wealthy were preceded in their steps by a servant carrying a lantern. Then, in the mid-17th century, there were torchbearers living by the trade of lighting guides. They stationed themselves in front of well-known places such as theaters and ballrooms in search of clients. This profession still existed in Paris until the beginning of the 19th century. However, the rich or merchants were still afraid because the streets were not well lit. Meanwhile, in Europe, cities already had a public lighting system with lanterns installed in front of houses.

Based on the decree of the Sun King of France, Louis XIV, the lieutenant general of police La Reynie issued a directive ordering homeowners to install lanterns on the facades of their houses. More than 2,700 lanterns were thus installed in the 900 streets of the city. These lanterns had to be lit from 6 p.m. until midnight, from October to March. Since then, the public lighting system began to amaze foreign tourists during their visits to Paris, but the lanterns easily went out in the wind. They were later replaced by the streetlamp invented by a Burgundian watchmaker named Bourgeois de Châteaublanc, designed to protect against the wind and better illuminate the street. Today, this type of streetlamp is still visible in many luxurious places in Paris, such as Place Vendôme or along the bridges crossing the Seine. That is why, from sunset onwards, the streetlamps—once lit by gas and now by electricity—make Paris shine all night long.

Références bibliographiques:

Alain Cabantous: Histoire de la nuit. XVème-XV IIIème siècle Editeur Fayard, 2009.
Alfonso Lopez : Eclairage public : une lueur dans les villes.
Revue mensuelle: Histoire N°76. Octobre 2021

Tàn tích chế độ mẫu hệ (Les traces du régime matriarcal vietnamien)

 


Les traces du régime matriarcal vietnamien

Version française
Version anglaise

Cũng có một thời, dân tộc ta  cũng như mọi dân tộc khác ở trên thế giới  trải qua chế độ mẫu hệ cả.  Có bao giờ chúng ta c ó dịp nghĩ đến vấn đề nầy không? Chắc chắn là không bởi vì  khi mới sinh ra, chúng ta đều lấy họ cha cả chỉ có ở Pháp bây giờ mới có quyền thêm họ mẹ vào tên mình.  Trong ngôn ngữ tiếng Việt chúng ta thường ngày có dùng những từ ngữ còn giữ  tàn tích mẫu hệ mà không bao giờ  chúng ta nghĩ đến nhất là từ khi nước ta bước  sang qua chế độ phụ hệ từ lâu rồi. Ta thường nói VỢ CHỒNG chớ bao giờ nói CHỒNG VỢ đâu. Lúc nào ta cũng ám chỉ dòng họ bằng hai chữ BÀ CON. Đôi khi còn có sự khinh bỉ trong lời nói của ta khi dùng từ ngữ như  « gái nạ dòng » nhất là nạ chỉ dòng mẹ.  Theo sự nhận xét của nhà văn Bình Nguyên Lộc thì người  ta có hàm ý nói gái đã có nhiều chồng (hay đa phu) tức là gái không tốt đẹp. Tới ngày hôm nay, nước ta vẫn còn chế độ mẫu hệ ở nhiều nơi như ở Tây Nguyên với  các tộc người Chăm, Jarai, Êđê, Raglai, Churu thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian) hay là  các tộc M’nong, K’ho thuộc ngữ hệ Nam Á. Có người  nói nước ta theo chế độ phụ hệ từ khi  nước Giao Chỉ bị thôn tính  bởi Trung Hoa. Có lẽ là không đúng. Như vậy nước ta từ bỏ chế độ mẫu hệ mà sang chế độ phụ hệ từ lúc nào. Muốn biết  vấn đề nầy, các nhà khảo cổ hay thường dựa trên  hình thức chôn cất người  ở trong các mộ táng của các di chỉ có liên quan đến nền văn hoá trồng lúa nước. Chắc chắn là không phải thời kỳ các  Hùng Vương của nước Văn Lang cai trị  với nền văn hóa Phùng Nguyên vì viêc nối ngôi (cha truyền con nối)  được thấy rõ  qua  chế  độ  phụ  quyền trong truyền thuyết nhất là quyền lực chủ yếu thuộc về người con trai trưởng  với tổ chức xã hội thời bấy giờ.

Chúng ta cũng thừa biết   tổ tiên của tộc Việt  có nguồn gốc trực tiếp từ vùng sông Dương Tử dựa trên các dữ liệu của các cuộc  khảo cứu di truyền ngày nay. Như vậy ta cần phải đi ngược lại thời  gian và cần  khảo sát ở các nơi có nền văn hóa trồng lúa nước ở trung hay hạ lưu sông Dương Tử. Theo nhà khảo cứu Nhật Shin’ichi Nakamura của đại học Kanazawa thì  cái nôi của nền văn hóa trồng lúa nước nó phải nằm ở nơi nầy nhưng với tình trạng hiểu biết hiện nay, chúng ta không thể định vị nó một cách chính xác trên bản đồ. Tuy nhiên có sự tiến hóa xã hội đáng kể ở các vùng hạ lưu sông Dương Tử như  ở Hà Mỗ ĐộLương Chữ trong thời kỳ đồ đá mới bằng cách chuyển sang:

-từ một  nền kinh tế đa  dạng  qua một nền kinh tế độc quyền trồng lúa nước
-từ một môi trường sống nông nghiệp qua sống ở  một thành phố
-từ một nghĩa trang tập thể chuyển sang một nghĩa trang của các nhóm người riêng biệt.

Tại sao Hà Mỗ Đồ? Theo sự nhận xét của nhà khảo cổ Pháp Corinne Debaine-Francfort thì ở di chỉ Hà Mỗ Độ người ta khám phá ra không những  các tàng tích của một nhà sàn bằng gỗ  khác lối nhà bằng đất ở miền bắc Trung Hoa mà có cả luôn các hột lúa được trồng trên những cánh đồng ngập nước bằng cách sử dụng cuốc làm từ vảy động vật vào năm 1973 ở Chiết Giang (Zheijiang). Có thể nói lúa đã được thuần hóa ở nơi nầy có niên đại khoảng chừng từ 4770 năm  đến 5000 năm trước Công Nguyên (TCN). Dân cư ở đây có nét đặc trưng của người Mongoloïde và Australo-Négroïde (hay tộc Việt). Khi chết, họ  được chôn cất quay đầu về phía đông hoặc đông bắc và hầu hết không có vật lễ táng. Họ cũng không có  một nghĩa trang  xã xác định rõ ràng mà ngược lại họ  có một nghĩa trang thị tộc chung với tài sản tang lễ rất nhiều. Có thể xem ở  nơi đây còn chế độ mẫu hệ vì với  các di vật động vật như khỉ, tê giác, nai, voi, hổ, qui vân vân…  cho ta thấy các  cư  dân ở đây còn sống với nghề săn bắt và chài lưới. Vai trò của người đàn ông cũng chưa được xem quan trọng bởi vì cũng chưa cần có một  tổ  chức xã hội cần nhiều nhân lực cho việc sản xuất như chế tạo công cụ,  tích trữ gạo ở  các vựa lúa,  đúc đồng vân vân… cũng như  việc phân phối  các công việc  nặng nhọc để có kết quả mong muốn trong mùa  thu gặt. Người đàn ông hầu như rất ít quyền lực và không có quyền sở hữu tài sản.

Ngược  lại ở các  di chỉ của nền văn hóa Lương Chử thì được thấy sư thay đổi  rõ rệt trong sự cân bằng quyền lực giữa chồng và vợ. Thí dụ, trong số các đồ mai táng ở các mộ cá nhân thì các nông cụ như cái xẻng  làm bằng đá đẽo thì dành cho nam giới còn bánh xe dệt thì vẫn còn đồ vật chính cho nữ giới.

Như vậy chứng tỏ ở thời đó người đàn ông trở thành  công nhân chính ở ngoài ruộng đồng và người đàn bà chỉ còn làm các công việc ở trong nhà. Hơn nữa, còn cho thấy các thợ đá chuyển đổi nghề và trở thành  những người thợ đẽo ngọc khiến dẫn đến  một giai đoạn quan trọng trong sự phát triển công nghiệp và sự phân chia công việc ở  trong xã  hội và tạo ra sự phân chia giai cấp giữa người nghèo và người giàu mà luôn cả thành phần qúi tộc và tôn giáo.  Từ đó mới có  sự  góp phần vào sự phân chia trong đơn vị gia đình. Cũng từ đó bắt đầu xuất hiện hình thức một vợ, một chồng, người vợ theo chồng về gia đình nhà chồng, con cái cũng sống chung cùng cha mẹ và gia đình và lấy họ cha lúc mới sinh ra. Khi chết chồng vợ được chôn chung  luôn cả người  trong  gia tộc phụ hệ.

Nói tóm lại chúng ta có thể  khẳng định  rằng người Việt  theo chế độ  phụ hệ rất sớm từ khi tổ tiên ta  còn ở lưu vực sông Dương Tử.  Bởi vậy khi di cư trở về lại đồng bằng sông Hồng, họ vẫn giữ chế độ phụ hệ dưới thời kỳ Hồng Bàng với văn hóa Phùng Nguyên.

Version française

Les traces du régime matriarcal vietnamien

Il y  a un temps où notre peuple comme les autres peuples du monde adopte le régime matriarcal.  Avons-nous l’occasion de penser à cela par nous-mêmes ? Certainement pas car à la naissance, nous avons tous pris le nom de notre père, sauf en France où nous avons le droit d’ajouter maintenant le nom de notre mère à notre nom. Dans la langue vietnamienne, on se sert souvent des mots qui gardent encore les traces du système matriarcal auquel on ne pense jamais d’autant plus que notre pays a adopté le système patriarcal depuis si longtemps. On dit souvent femme/mari (VỢ CHỒNG) mais jamais mari/femme (CHỒNG VỢ). On est habitué à  désigner la lignée familiale avec le terme « BÀ CON » où le mot BÀ (madame)  précède toujours le mot  CON  (ou enfant). Parfois, il y a du mépris dans les propos lorsqu’on emploie le terme suivant  « gái nạ dòng ou femme divorcée » où le mot nạ se réfère à la lignée de la mère. Selon la remarque  de l’écrivain Binh Nguyên Lộc, on veut insinuer  une  fille polyandre. Cela veut dire implicitement une mauvaise fille. Jusqu’à ce jour, notre pays continue à avoir encore le régime matriarcal dans de nombreux endroits comme sur les Hauts Plateaux du Vietnam avec les ethnies Cham, Jarai, Ede, Raglai, Churu appartenant à la famille linguistique austronésienne ou les M’nong, les K’ho  de  la famille des langues austro-asiatiques. Certains prétendent que notre pays a adopté le système patriarcal depuis l’annexion de Jiaozhi (Giao Chỉ)  par la Chine.

C’est certainement faux. Alors, depuis quand notre pays a-t-il abandonné le système matriarcal au profit du  système patriarcal ? Pour approfondir cette question, les archéologues ont l’habitude de s’appuyer souvent sur la méthode d’inhumation des morts  dans les tombes des sites liés à la civilisation de la riziculture inondée. Ce n’est certainement pas l’époque où les rois Hùng du royaume de Văn Lang régnaient avec la culture de Phùng Nguyên car la succession au trône s’opère clairement à travers la patriarchie dans la légende, notamment le pouvoir majeur revenant toujours à l’aîné de  la famille dans  l’organisation sociale de l’époque. Nous savons également que les ancêtres du peuple vietnamien étaient issus directement de la région du fleuve Bleu (Yang Tsé) en nous basant sur les données des travaux de recherche génétique d’aujourd’hui. Nous devons remonter ainsi le temps et analyser les lieux de culture du riz inondé dans les  régions du cours moyen et inférieur du fleuve Yang Tsé car selon le chercheur japonais  Shin’ichi Nakamura  de l’université Kanazawa,  le berceau de la riziculture doit s’y trouver mais en l’état actuel des connaissances, il est difficile de le localiser très précisément sur une carte géographique.

Cependant, il y a l’évolution sociale dans les  régions du cours inférieur du  fleuve Yang Tsé (sites archéologiques  de Hemudu et Liangzhu)  au cours de la période néolithique en passant:

-d’une économie diversifiée à une économie  exclusivement rizicole
– d’un habitat agricole à  un habitat citadin
– d’un cimetière collectif au cimetière des groupes particuliers.

Pourquoi le site de Hemudu? Selon l’archéologue française Corinne Debaine-Francfort, on a trouvé  non seulement les restes d’un habitat lacustre en bois monté sur pilotis bien différent des maisons en terre  du nord de la Chine mais aussi les grains de riz cultivés  dans des champs inondés à l’aide des houes fabriquées à partir d’omoplates d’animaux en 1973 dans le site néolithique le plus ancien de la région de  Hemudu  (Zheijiang). On peut dire que le riz a été domestiqué dans ce lieu datant d’environ 4770 ans à 5000 ans avant J.C. La population vivant ici possédait des traits à la fois mongoloïde et australo-négroïde. Lors du décès, les gens d’ici  étaient  enterrés la tête tournée vers l’est ou le nord-est, et n’avaient pour la plupart aucune offrande. Ils n’avaient pas non plus de cimetière communal clairement défini. Par contre ils avaient un cimetière clanique commun avec de nombreux biens  funéraires. On peut voir qu’il y a encore  ici un système matriarcal car on y trouve les restes d’animaux comme les singes, les rhinocéros, les cerfs, les éléphants, les tigres, les tortues etc. Cela montre que les habitants d’ici vivaient encore de la chasse et de la pêche à cette époque.

Le rôle de l’homme  n’est pas  considéré important car il n’est pas encore nécessaire d’avoir une organisation sociale réclamant beaucoup de ressources humaines pour la production comme la fabrication d’outils, l’emmagasinage du riz dans les greniers, la fonte du bronze etc…  comme la répartition des tâches ardues pour obtenir le résultat souhaité durant la saison des récoltes. L’homme semble avoir peu de pouvoir et n’a pas le droit de posséder ou d’hériter de terres.

En revanche, sur les sites néolithiques de la culture de Liangzhu, il y a un changement manifeste  dans l’équilibre des pouvoirs entre mari et femme. Par exemple, parmi les objets funéraires dans les tombes individuelles, les outils agricoles tels que les pelles en pierre polie sont destinées aux hommes et les roues à tisser restent les principaux objets des femmes. Cela prouve qu’à cette époque les hommes constituaient la main d’œuvre principale  dans les rizières et les femmes n’assumaient que  les travaux ménagers.

De plus, les tailleurs de pierre étaient obligés de changer de métier et  ils étaient devenus des tailleurs de jade. Cela a conduit à une période importante du développement industriel et de la division du travail dans la société et a favorisé l’apparition et la distinction  de classe entre les pauvres et les riches mais aussi  entre l’aristocratie et la religion. Depuis lors, il y a eu aussi  une contribution à la division dans la cellule familiale.

C’est aussi à partir de ce moment-là  que la monogamie a commencé à apparaître.  La femme a suivi son mari pour vivre dans la famille de son mari. Les enfants ont pu vivre également avec leurs parents et leur famille et ont pris désormais le nom de famille du père à leur naissance.  Lors du décès, le mari et sa femme pouvaient être enterrés ensemble avec les membres de leur famille patriarcale.

Bref, on peut affirmer que les Vietnamiens ont suivi très tôt le système patriarcal au moment où nos ancêtres  vivaient encore dans le bassin du Yang Tsé. Par conséquent, lors de leur retour dans le delta du fleuve Rouge, ils ont continué à conserver le patriarcat sous la dynastie des Hồng Bàng avec la culture de  Phùng Nguyên.

Version anglaise

Traces of the Vietnamese matriarchal regime.

There was a time when our people, like other peoples of the world, adopted the matriarchal system. Do we have the opportunity to think about this for ourselves? Certainly not, because at birth, we all took our father’s name, except in France where we now have the right to add our mother’s name to our own. In the Vietnamese language, we often use words that still retain traces of the matriarchal system, which we never think about, especially since our country has adopted the patriarchal system for so long. People often say wife/husband (VỢ CHỒNG) but never husband/wife (CHỒNG VỢ). We are accustomed to designating the family lineage with the term « BÀ CON » where the word (madam) always precedes the word CON (or child). Sometimes, there is contempt in the words when using the following term « gái nạ dòng » or divorced woman, where the word nạ refers to the mother’s lineage. According to the writer Binh Nguyên Lộc’s remark, it implies a polyandrous girl. This implicitly means a bad girl.

To this day, our country still has the matriarchal system in many places, such as in the Central Highlands of Vietnam with the Cham, Jarai, Ede, Raglai, Churu ethnic groups belonging to the Austronesian language family, or the M’nong, the K’ho of the Austroasiatic language family. Some claim that our country adopted the patriarchal system since the annexation of Jiaozhi (Giao Chỉ) by China.

That is certainly false. So, since when did our country abandon the matriarchal system in favor of the patriarchal system? To delve deeper into this question, archaeologists often rely on the method of burial of the dead in the tombs of sites linked to the civilization of wet-rice cultivation. It is certainly not the era when the Hùng kings of the Văn Lang kingdom ruled with the Phùng Nguyên culture because succession to the throne clearly operated through patriarchy in the legend, notably with major power always going to the eldest in the family within the social organization of the time. We also know that the ancestors of the Vietnamese people came directly from the Blue River (Yangtze) region based on data from current genetic research. We must thus go back in time and analyze the wet-rice cultivation sites in the middle and lower reaches of the Yangtze River because, according to the Japanese researcher Shin’ichi Nakamura from Kanazawa University, the cradle of rice cultivation should be there, but with current knowledge, it is difficult to pinpoint it very precisely on a geographical map.

However, there is social evolution in the lower reaches of the Yangtze River regions (archaeological sites of Hemudu and Liangzhu) during the Neolithic period passing through:

– From a diversified economy to an exclusively rice-based economy
– From an agricultural habitat to an urban habitat
– From a collective cemetery to a cemetery for specific groups.

Why the Hemudu site? According to the French archaeologist Corinne Debaine-Francfort, not only were the remains of a stilted wooden lakeside habitat found, quite different from the earthen houses of northern China, but also rice grains cultivated in flooded fields using hoes made from animal shoulder blades in 1973 at the oldest Neolithic site in the Hemudu region (Zhejiang). It can be said that rice was domesticated at this site dating back approximately 4770 to 5000 years BC. The population living here had both Mongoloid and Australo-Negroid features. Upon death, the people here were buried with their heads turned towards the east or northeast, and most had no offerings. They also did not have a clearly defined communal cemetery. However, they had a common clan cemetery with many funerary goods. It can be seen that there was still a matriarchal system here because remains of animals such as monkeys, rhinoceroses, deer, elephants, tigers, turtles, etc. were found. This shows that the inhabitants still lived by hunting and fishing at that time.

The role of men is not considered important because there is not yet a need for a social organization requiring many human resources for production, such as tool making, storing rice in granaries, bronze smelting, etc., or the distribution of arduous tasks to achieve the desired result during the harvest season. Men seem to have little power and do not have the right to own or inherit land.

On the other hand, at the Neolithic sites of the Liangzhu culture, there is a clear change in the balance of power between husband and wife. For example, among the funerary objects in individual graves, agricultural tools such as polished stone shovels are intended for men, while looms remain the main objects for women. This proves that at that time men constituted the main workforce in the rice fields and women only took on household chores.

Furthermore, stone cutters were forced to change their profession and became jade cutters. This led to an important period of industrial development and division of labor in society and favored the emergence and distinction of classes between the poor and the rich, as well as between the aristocracy and religion. Since then, there has also been a contribution to division within the family unit.

It is also from that moment that monogamy began to appear. The woman followed her husband to live in her husband’s family. The children were also able to live with their parents and family and from then on took their father’s family name at birth. Upon death, the husband and wife could be buried together with the members of their patriarchal family.

In short, it can be affirmed that the Vietnamese followed the patriarchal system very early on when our ancestors were still living in the Yangtze River basin. Consequently, upon their return to the Red River delta, they continued to maintain patriarchy under the Hồng Bàng dynasty with the Phùng Nguyên culture.

Bibliographie:

Annick Levy-Ward : Les centres de diffusion du riz cultivé. De l’Asie du Sud-Est à la Chine. Études rurales, n°151-152, 1999
Shin’ichi Nakamura: LE RIZ, LE JADE ET LA VILLE. Évolution des sociétés néolithiques du Yangzi. Éditions de l’EHESS 2005/5 60e année, pp 1009-1034
Corinne Debaine-Francfort : La redécouverte de la Chine ancienne.  Editions Gallimard  1998.
Bình Nguyên Lộc: Lột trần Việt ngữ. Talawas

[Return TRADITIONS]

Sĩ phu (Version vietnamienne)

 


mandarin

Version française
English version
Pictures gallery

Trẻ hay già, Sĩ phu luôn luôn được coi trọng trong xã hội Việt Nam. Không chỉ được sự tôn trọng mà còn lại là người được đứng đầu trong hệ thống phân cấp xã hội trước nông dân, thợ thủ công và thương nhân. Đây là lý do tại sao sĩ phu thường không ngừng bị chê cười thông qua các bài ca dao nổi tiếng.

Ai ơi chớ lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Nhờ có sức học cao nên sĩ phu không để bản thân bị  xúc phạm bởi những lời này và cố gắng đáp lại  với vẻ chế nhạo qua các bài ca dao như sau:

Hay nằm đã có võng đào
Dài lưng đã có, áo trào nhà vua
Hay ăn đã có thóc kho
Việc gì mà chẳng ăn no lại nằm.

Sự nhận xét này có từ thời Khổng giáo được sử dụng như  một mô hình duy nhất trong tổ chức nhà nước. Việc tuyển dụng sĩ phu để làm quan chủ yếu dựa trên các cuộc thi văn học diễn ra cứ ba năm một lần ở ngôi đền lớn của Đức  Khổng Tử hay Văn Miếu. Đền nầy được xây dựng bởi vua Lý Thánh Tôn vào năm 1070 và được chuyển đổi thành  Quốc Tự Giám vào năm 1076. Từ năm 1484 trở đi, tên của sĩ phu  trúng cử trong cuộc thi quan được khắc trên tấm bia với ngày sinh và những công trạng.  

Việc ghi tên trên tấm bia được bãi bỏ vào năm 1778. Đây cũng là lý do việc trúng cử  trở thành là nỗi ám ảnh trọng đại đối với tất cả các  sĩ phu. Có nhiều người được trúng cử  các cuộc thi với sự dễ dàng đáng ngạc nhiên (Nguyễn Bĩnh KhiêmChu văn An hoặc Lê Quí Ðôn). Còn có những người khác bị trượt nhiều lần. Đây là trường hợp của sĩ phu Trần Tế Xương nên trong các bài thơ của ông thường có lời lẽ châm biếm nhức nhối. Sự thất bại vô tận và nhìều  lần khiến  nó có ảnh hưởng rất lớn trong các tác phẩm của ông.

 

Ngoài kiến ​​thức văn học, ứng cử viên trúng cử hay quan lại trong tương lai phải có tất cả các khái niệm về thiên mệnh, lòng hiếu thảo, nghĩa tôi với vua và tất cả các giá trị  đem lại sự bền chặt trong tầm nhìn Nho giáo. Được có những khái niệm này, sĩ phu cố gắng tôn vinh sứ mệnh của mình không chỉ cho đến cuối đời mà đôi khi còn phải trả giá bằng mạng sống của mình.

Đây là trường hợp của sĩ phu Nguyễn Du. Ông xin về hưu thay vì phục vụ một triều đại mới sau sự sụp đổ của nhà Lê. Đó cũng là trường hợp của sĩ phu Phan Thanh  Giản quyết định tự đầu độc mình bằng cách  khuyên các con của mình nên về làm rẫy và không nên có một chức vụ nào  trong thời Pháp chiếm đóng Nam Kỳ vào năm 1867. Đối với sĩ phu  Nguyễn Ðình Chiễu, tác giả cuốn sách nổi tiếng « Lục Vân Tiên » và là một trong những nhân vật cao quý nhất của các sĩ phu, ông đã không ngừng hỗ trợ tinh thần cho cuộc kháng chiến trong thời kỳ thuộc địa.

Trong tầm nhìn Nho giáo, sĩ phu cố gắng duy trì bằng mọi giá và áp dụng nghiêm ngặt các nguyên tắc này trừ khi nhà vua không còn xứng đáng để sĩ phu  tuân lệnh. Trong trường hợp này, sĩ phu yêu chuộng công lý có thể lật đổ nhà vua vì vua không còn giữ được thiên mệnh. Đây là trường hợp của sĩ phu Cao Bá Quát, người  tham gia vào «Giặc Châu Chấu»  lấy danh nghĩa của nhà Lê chống lại vua vua Tự Đức. Ông  bị bắt và  bị xử tử sau đó vào năm 1854.

Galerie des photos

Mặc dù  sĩ phu là một trong những cột trụ cơ bản của xã hội mà có rất nhiều triều đại Việt Nam dựa vào đó để cai trị đất nước, họ cũng là người bảo vệ chính đáng các giá trị đạo đức trong đó có  năm mối quan hệ của con người (hay Ngũ luân): giữa nhà vua và bầy tôi, giữa cha và con, giữa chồng và vợ, giữa anh và em  và giữa họ và  bạn bè). Chính nhờ đó có được sự gắn kết chặt chẽ của xã hội và bản sắc dân tộc. Tuy nhiên, qua nhiều thế kỷ, đó là  cũng là yếu tố bất động và chủ nghĩa cô lập văn hóa đã gây ra sự sụp đổ của đế chế nhà Nguyễn từ năm 1840.

Cứ tiếp tục khinh thường  sức mạnh của nước ngoài và duy trì chủ nghĩa bảo thủ, đế chế nầy  đã không thể thích nghi với các cải cách hiện đại hóa cần có,  được biện hộ  bởi  sĩ phu hiện đại Nguyễn Trường Tộ. Do đó, tư tưởng nầy  trở thành một trở ngại lớn cho bất kỳ sự thay đổi nào mà Việt Nam cần có để đáp ứng lại  tham vọng của các cường quốc nước ngoài. Chính vì vậy đế chế nầy bị sụp đổ trong cuộc chinh phạt của  người Pháp.

Số sĩ phu có đến 40.000 người trong đó có khoảng 20.000 người có cấp bậc vào năm 1880. Sĩ phu cuối cùng được biết đến với lòng yêu nước và chủ nghĩa cải cách, đó là cụ Phan Chu Trinh (hay thi sĩ Tây Hồ). Ông ủng hộ  các cuộc cải cách và dành sự ưu tiên cho sự tiến bộ chung của xã hội và  cho kiến ​​thức hiện đại  trên việc độc lập chính trị đơn giản. Việc lưu đày ông đến  đảo Côn Lôn (Poulo Condor) và đặc biệt là cái chết của ông vào năm 1926 làm  chấm dứt giấc mơ của tất cả người  dân Việt muốn có được  một nước Việt Nam độc lập với chính sách phi bạo lực và phi thực dân hóa mà học giả đã biện hộ và bảo vệ với niềm tin mãnh liệt  qua nhiều năm tháng. Tâm trạng của ông được thể hiện trong bài thơ của ông có tựa đề là :

Phan Chu Trinh

phanchutrinh

Đèn sáp

Cháy đầu bởi đỡ cơn tăm tối,
Nóng ruột càng thêm sự sáng soi.
Mở cửa vì đâu nên gió lọt,
Trót đêm nhỏ giọt tỏ cùng ai

.

cierge

Đây là  những giọt nước mắt của một  nhà trí thức Việt Nam lừng lẫy. Nhưng đó cũng là tiếng khóc tuyệt vọng của một nhà yêu nước Việt Nam vĩ đại đối mặt với số phận của đất nước mình.

[Retour TRADITIONS]

Charles Edouard Hocquard


Version française

Version anglaise

Charles Edouard Hocquard, một bác sĩ quân y và một phóng viên của cơ quan Havas ở Bắc Kỳ từ năm 1884 đến 1886 đã để lại cho chúng ta một bộ sưu tập hình ảnh đẹp của cuộc chiến tranh thuộc địa đầu tiên ở Việt Nam. Ông đã mang về hơn 200 clisê (bản in đúc) được soạn thành một danh mục gồm có 80 tấm bản in lõm quang hóa (*)  được xuất bản vào năm 1887. Ông kể lại  một cách nhạy bén và hài hước trong « Cuộc thám hiểm ở Bắc Kỳ », những giai thoại sống động với người nông dân trong vùng, kiến ​​thức về hệ thực vật địa phương, những kỷ niệm  về cuộc chiến Bắc Kỳ và người dân Việt Nam vân vân… Ông không đạt được ý nguyện trên phương diện thương mại như ông mong đợi qua các bài phóng sự hình ảnh của ông. Nhưng ông  lại thành công để cho thấy rằng có thể tìm thấy được một cái nhìn khách quan hơn trong cuộc xung đột Pháp-Việt, đó là  cái nhìn của một nhà khoa học gặp gỡ một nền văn hóa khác vào buổi bình minh của thế kỷ 20. Ông qua đời vì bệnh cúm truyền nhiễm vào ngày 11 tháng giêng năm 1911 ở tuổi năm mươi tám.

(*) Đây là  phương pháp in chụp không thay đổi được nhằm thay thế các bản in bạc và cho phép phân phối số lượng lớn với chi phí thấp hơn.

 

hocquard

 Version française

Charles Edouard Hocquard, médecin militaire et  reporter correspondant pour l’agence Havas au Tonkin de 1884 à 1886 nous a légué en héritage une collection de belles photos de la première guerre coloniale du Vietnam. Il a rapporté plus de 200 clichés composant une porte-folio de 80 planches en photoglyptie (*)publié en 1887. Il a relaté avec acuité et humour dans « Une expédition au Tonkin« , les anecdotes pittoresques avec les paysans de la région, la connaissance de la flore locale, les souvenirs  sur la guerre du Tonkin et sur le peuple vietnamien etc.. Il n’a pas obtenu le succès commercial escompté avec la publication de ses reportages photographiques.  Mais il a réussi à montrer qu’il est possible de trouver dans le conflit franco-vietnamien un autre regard plus objectif, celui d’un homme de science à la rencontre d’une autre culture à l’aube du  XXème  siècle. Il est décédé d’une grippe infectieuse le 11 Janvier 1911 à l’âge de cinquante huit ans.

(*):  Il s’agit d’un procédé d’impression photomécanique inaltérable destiné à remplacer les tirages argentiques et permettant la diffusion en grand nombre à des coûts moindres.

English version

Charles Edouard Hocquard, a military doctor and correspondent reporter for the Havas agency in Tonkin from 1884 to 1886, left us a legacy of a beautiful collection of photos from the first colonial war in Vietnam. He brought back more than 200 shots composing a portfolio of 80 photoglypty plates (*) published in 1887. He recounted with sharpness and humor in « An Expedition to Tonkin » the picturesque anecdotes with the local peasants, knowledge of the local flora, memories of the Tonkin war and the Vietnamese people, etc. He did not achieve the expected commercial success with the publication of his photographic reports. But he succeeded in showing that it is possible to find in the Franco-Vietnamese conflict another, more objective perspective, that of a man of science encountering another culture at the dawn of the 20th century. He died of infectious influenza on January 11, 1911, at the age of fifty-eight.

(*): This is a process of indelible photomechanical printing intended to replace silver prints and allowing large-scale distribution at lower costs.

Thành Thái (Version vietnamienne)

 

Version française

English version

Để tưởng nhớ một người đã cống hiến cả cuộc đời cho đất nước và người dân Việt qua bốn câu thơ Lục Bát:

Ta điên vì nước vì dân
Ta nào câm điếc một lần lên ngôi
Trăm ngàn tủi nhục thế thôi
Lưu đày thể xác than ôi cũng đành

Trước khi trở thành vua Thành Thái, ông được biết đến với cái tên Bửu Lân. Ông là con trai của vua Dục Đức, người đã bị hai vị quan nho giáo sát hại là Tôn Thất ThuyếtNguyễn Văn Tường và cháu trai của danh thần Phan Đinh Bình. Khi ông nầy vụng về chống lại sự lên ngôi của vua Ðồng Khánh bởi chính quyền thực dân, Ðồng Khánh  nhanh chóng trả thù sau đó bằng cách bức tử  một các hèn nhát vị quan này và quản thúc tại gia Bửu Lân và mẹ của ông ta trong nội cung ở điện Trần Võ để tránh mọi mầm mống của cuộc nổi dậy. Bởi vậy sau cái chết của Đồng Khánh và việc lựa chọn con trai của mình làm người kế vị  được thông báo bởi  chính quyền thực dân, mẹ của Bửu Lân rất ngạc nhiên và bật khóc vì bà vẫn còn  bị ám ảnh bởi ý tưởng rằng con trai của bà sẽ  có một  số phận tương tự như chồng bà, vua Dục Đức và cha bà  Phan Đình Bình. Nếu Bửu Lân được chọn thay thế các hoàng tử khác thì chắc chắn điều đó nhờ đến tài khéo léo của Diệp Văn Cương, người tình nhân của cô của ông, công chúa  công nữ Thiện Niệm bởi vì Diệp Văn Cương là thư ký riêng của khâm sứ Trung kỳ Rheinart. Ông nầy  được  khâm sứ giao trách nhiệm tìm kiếm  một thỏa hiệp với triều đình  trong việc chọn người để kế vị vua Ðồng Khánh.

Do đó, ông vô tình trở thành vị vua mới của chúng ta được gọi là Thành Thái. Ông sớm nhận ra quyền lực của  ông rất bị hạn chế.  Hiệp ước Patenôtre không bao giờ được tôn trọng. Ông cũng không có quyền hành chi cả  trong việc cai trị và điều khiển đất nước. Khác với vua Ðồng Khánh, người gần gũi với chính quyền thực dân, ông  thường  kháng  cự  thụ động bằng cách chống đối  triệt để chính sách của chính quyền qua  những nhận xét khiêu khích và  những cử chỉ không thân thiện.  Người ta ghi nhận được một cuộc chạm trán đầu tiên của ông với  khâm sứ Alexis Auvergne ở thời điểm khánh thành cái cầu mới bắc qua sông Hương. Tự hào về  kỳ công kỹ thuật và sự vững chắc của cái cầu, Alexis Auvergne không ngần ngại  trả lời với thái độ ngạo  nghễ: Khi nào cầu nầy sụp đổ thì nước ngài sẻ được độc lập.

Pont Tràng Tiền

Để cho thấy sự quan trọng mà chính quyền thực dân đã dành cho cái cầu mới này, họ đặt cho nó một cái tên mới là cầu « Thành Thái ». Điều này khiến làm Thành Thái tức giận vô cùng vì ông viện cớ rằng từ nay mọi người có thể giẫm đạp lên đầu ông ta qua  cái cầu này. Ông cấm mọi người  gọi  cầu nầy bằng tên mới và xúi giục họ sử dụng tên cũ « Tràng Tiền ». Vài năm sau, trong một cơn bão dữ dội năm thìn, cái cầu nầy bị sập. Thành Thái nhanh chóng nhắc nhở lại câu nói của  Alexis Auvergne với sự hài hước  hóm hỉnh của ông. Alexis Auvergne đỏ mặt xấu hổ và buộc phải lánh trốn trước những lời  nói khó chịu này. Sự bất đồng ý kiến với chính quyền càng ngày càng gia tăng với sự thay thế đổi khâm sứ cũ  bởi ông Sylvain Levecque. Ông nầy không lãng phí thời gian nhiều trong việc thiết lập một mạng lưới giám sát chặt chẽ kể từ khi ông biết rằng Thành Thái tiếp tục gần gũi người dân thông qua các cuộc cải cách và việc cải dạng thường xuyên làm người dân  thường. Ông là vị vua đầu tiên của Việt Nam chủ động cắt tóc ngắn và mặc y phục theo phương cách của người châu Âu. Điều này đã làm kinh ngạc rất nhiều quan lại và quần chúng khi ông xuất hiện lần đầu tiên. Nhưng đó cũng là vị vua  đầu tiên khuyến khích người dân nên theo đuổi  học tiếng Pháp. Ông là  người đề xướng ra một số thành tựu kiến ​​trúc (chợ Đông Ba,  Quốc học Huế, bắc cầu Trường Tiền vân vân..). Ông cũng là  vị vua đầu tiên của triều Nguyễn quan tâm nhiều  đến cuộc sống và thấu hiểu những khó khăn hàng ngày của người dân. Được biết, trong một chuyến du ngoạn mà ông được hộ tống, ông gặp một người nghèo trên đường đang gánh nặng các bó củi. Vệ sĩ của ông dự định dọn lối đi cho ông nhưng ông ta ngăn lại mà nói:

Chúng ta  đâu có được làm công dân hay hoàng đế ở đất nước này đâu. Tại sao chúng ta phải đuổi  người ta đi? Trong những chuyến du ngoạn  ở ngoài thành ông thường ngồi trên chiếu, được bao xung quanh bởi dân làng và  tranh luận cùng họ về bất cứ câu hỏi nào. Đó là cũng một trong những chuyến du ngoạn nầy mà ông mang về Tử Cấm Thành một người phụ nữ trẻ tuổi đồng ý kết hôn và trở thành sau đó một cung phi của ông. Thành Thái rất nổi tiếng và xuất sắc trong việc chơi trống. Đây là lý do tại sao ông không ngần ngại  triều tất cả những tay trống giỏi nhất trong cả nước đến nội cung, yêu cầu họ chơi trống giữa triều đình và ban thưởng tiền cho họ rất nhiều. Được biết, một ngày trời đẹp ông bắt gặp một tay trống  hay  thường lắc đầu khi lúc chơi trống. Muốn giúp anh chàng sửa chữa cái thói quen này, ông mới nói đùa với anh chàng nầy: Nếu ngươi tiếp tục chơi theo cách này một lần nữa, trẩm phải mượn đầu của ngươi đấy.Từ đó trở đi, tay trống nầy  không ngừng lo sợ được triệu tập lần sau khiến  lo lắng và chết đi sau đó vì một cơn đau tim. Khi  biết cái chết của tay trống này, Thành Thái rất hối hận, triệu tập gia đình của tay trống và cho họ một khoản tiền lớn để đáp ứng lại nhu cầu hàng ngày. Cách nói đùa, việc ngụy trang thường xuyên, các cử chỉ đôi khi kỳ lạ và khó hiểu của ông khiến chính quyền thực dân  và các quan ở trong triều có cơ hội  để nói là ông bị mất trí.

Tương tự như Tôn Tẩn sống ở thế kỷ thứ nhất của thời Chiến Quốc (Trung Quốc) và nhờ sự giả điên mà đã trốn thoát khỏi người bạn vô ơn Bàng Quyên và đánh bại  Ngụy quốc trong vài năm sau, Thành Thái, thay vì tự bảo vệ mình trước sự vu khống có chủ ý này, cũng nghĩ rằng điên rồ là  một phương tiện che chở và ngăn chặn có hiệu quả nhất chính sách của chính quyền thực dân qua các hành động điên rồ của mình. Nhờ vậy ông mới có thể hành động đằng sau hậu trường bằng cách tuyển mộ một đội quân gồm các cô gái trẻ, vai trò của họ không bao giờ được làm sáng tỏ và  chờ đợi thời điểm thuận lợi cho cuộc nổi dậy nhân dân. Nhưng ông không bao giờ có thời gian để thực hiện tham vọng của mình bởi vì được sự đồng ý của  thượng thư  bộ lai thời đó, Trương Như Cương, chính quyền thực dân đã lợi dụng sự điên rồ trá hình của ông mà buộc ông phải thoái vị và nhờ thượng thư Trương Như Cương lo việc thành lập  một phụ nhiếp chính dưới sự điều khiển của khâm sứ Pháp. Trước sự từ chối quyết liệt của Trương Như Cương,  lòng trung thành  vững chắc của ông đối với triều Nguyễn và yêu sách của ông tôn trọng tuyệt đối hiệp ước Patenôtre, chính quyền thực dân buộc lòng phải chọn một trong những đứa con của Thành Thái lên làm vua được  biết về sau dưới cái tên “Duy Tân”.

Về phần Thành Thái, ông bị  đày đầu tiên đến Vũng Tàu (Cap St Jacques cũ) vào mùa thu năm 1907 và sau đó đến đảo La Réunion cùng con trai của ông, vua Duy Tân vào năm 1916.  Ông chỉ được phép trở về Việt Nam vào năm 1945 sau cái chết của vua Duy Tân và bị cầm giữ lại ở Vũng Tàu miền Nam Việt Nam trong những năm cuối đời.
Có thể nào xem ông  như là kẻ mất trí  khi chúng ta biết rằng qua bài thơ của ông có tựa đề « Hoài Cổ« , Thành Thái rất minh mẫn và không ngừng  bày tỏ nổi đau trước tình trạng nghiêm trọng của  đất nước? Những bài thơ  thất ngôn bát cú như Vịnh trận bão năm thìn hay Cảm hoài không những  thể hiện sự  thông thạo hoàn hảo của ông trong việc sử dụng các quy tắc chặt chẽ và khó làm của thơ ca Việt Nam  mà còn là niềm tự hào của một vị vua yêu nước.  Dù bị lưu đày gần nửa thế kỷ (1907-1954) bởi chính quyền thực dân, ông vẫn tiếp tục thể hiện niềm tin vững chắc trong cuộc giải phóng đất nước và dân tộc. Chúng ta đã cảm nhận được thông qua ông, ở trên mảnh đất huyền thoại  nầy,  sự thành hình các công cụ của cuộc nổi dậy trong tương lai.

Đối với ông, căn bệnh nan y của ông chỉ nhằm mục đích muốn đạt được ý đồ vĩ đại, muốn khôi phục lại  phẩm cách cho người dân Việt chờ đợi từ lâu nay và muốn thể hiện cho hậu thế sự hy sinh và cái giá mà ngay cả người được xem là mất trí  bởi chính quyền thực dân phải trả cho đất nước này với 47 năm lưu đày. Ông không thể nào khôi phục lại được từ « căn bệnh điên » này trong bối cảnh chính trị thời bấy giờ.

Cho đến ngày hôm nay, không có tài liệu lịch sử nào chứng minh sự  điên rồ của vua Thành Thái mà nó chỉ cho chúng ta thấy được sự mất trí của một vị vua vĩ đại vì quá yêu thương đất nước và dân tộc và nổi thống khổ muôn thưở của một nhà yêu nước trước  vận mệnh quốc gia.