Kinkaku-ji (Kim Các Tự)

 

Kinkaku-ji (Kim Các Tự)

Version française

Được biết đến với cái tên quen thuộc là Kinkaku-ji, ngôi chùa Rokuon-ji (Lộc Uyển Tự) này là một trong những viên ngọc quý của cố đô Kyoto. Trái ngược với sự đơn giản mà chúng ta thường thấy trong kiến ​​trúc Phật giáo Nhật Bản, Kinkaku-ji là một tòa nhà ba tầng với những bức tường dát vàng đặt giữa một hồ nước. Điều này cho phép toà nhà  phản chiếu ánh sáng vàng trên mặt nước  hồ quanh năm trong một khung cảnh tráng lệ và thanh tịnh. Trên đỉnh tòa nhà rực rỡ này còn có một con phượng hoàng bằng đồng.

Trong ngôi nhà vàng này, chúng ta tìm thấy ba phong cách kiến ​​trúc, tầng trệt tương ứng với phong cách của các cung điện ở thời Heian (794 – 1185), tầng một là phong cách của các ngôi nhà của các võ sĩ và tầng trên cùng là phong cách của các ngôi chùa thiền. Ban đầu, vị tướng quân thứ ba Yoshimitsu của gia tộc Ashikaga (1358-1408), một đệ tử nhiệt thành của thiền sư Soseki, muốn biến nơi này thành nơi ở riêng trong thời gian ông từ giã cuộc sống công cộng. Khi ông qua đời, con trai ông là Yoshimochi quyết định biến nơi này thành một ngôi chùa Thiền tông cho trường phái Rinzai và đặt tên là « Rokuon-ji« . Sau đó nó bị phá hủy nhiều lần bởi hỏa hoạn. Lần trùng tu cuối cùng có niên đại  năm 1955 là bản sao giống hệt như thưở ban đầu. Đây là di sản thế giới được cơ quan UNESCO công nhận từ năm 1994 và được xem là ngôi chùa Phật giáo săn đón một số lượng lớn du khách mỗi năm  đến từ Nhật Bản.

Etant connu sous son nom usuel de Kinkaku-ji, ce temple  Rokuon-ji (Lộc Uyển Tự)  est l’un des bijoux de l’ancienne capitale de Kyoto. Contrairement à la simplicité qu’on est habitué à voir dans l’architecture bouddhique japonaise, Kinkaku-ji est une bâtisse à trois étages dotée des parois recouvertes de feuilles d’or trônant au milieu d’un étang. Cela lui permet de  refléter tout le long de l’année sur la surface de l’eau  sa lumière dorée dans un cadre magnifique et serein.  Au sommet de cette bâtisse éblouissante se trouve un phénix en cuivre. On retrouve dans ce pavillon d’or trois styles d’architecture, le rez-de-chaussée correspondant au style des palais de l’époque Heian (794 – 1185), le premier étage à celui des maisons des samouraïs et le dernier étage à celui des temples zen. À l’origine, le troisième shogun Yoshimitsu de la famille  Ashikaga (1358-1408), disciple fervent du moine zen Soseki veut faire de ce lieu une demeure privée lors de son retrait de la vie publique. À sa mort, son fils Yoshimochi  décide de transformer l’endroit en temple zen pour l’école Rinzai et le nomme « Rokuon-ji ».  Puis il  est  détruit plusieurs fois par les flammes. La dernière restauration datant  de 1955 est la copie absolument conforme de l’ancien pavillon.  Il  est inscrit au Patrimoine mondial de l’Unesco depuis 1994 et il est considéré comme le temple bouddhiste accueillant  un grand nombre de visiteurs par an du Japon.

kinkaku_ji

 

Con Lân (La licorne)

Version française

Con Lân (La licorne)

Lân là con linh vật  đứng hàng thứ nhì  trong bốn con vật có sức mạnh siêu phàm hay tứ linh (long, lân, qui, phụng). Trong văn hóa Việt nam, chúng ta thường bị lầm lẫn giữa  con kỳ lân với con nghê. Đặc điểm để phân biệt giữa nghê và lân là ở bộ móng, nghê mang móng vuốt còn kỳ lân mang móng guốc. Lân thường xuất hiện ở đình, chùa, đền, miếu hay những công trình kiến trúc nghệ thuật. Theo nhà nghiên cứu việt Đinh Hồng Hải thì Lân có nguồn gốc Trung Hoa, một linh vật tưởng tượng ngoại nhập. Thật sự khi gọi kỳ lân, tức là nói đến một cặp: con đực gọi là kỳ và lân là con cái. Khi du nhập vào văn hóa việt  thì  người  Việt quên đi « con kỳ » mà chỉ  kêu là  lân thôi.  Chỉ có những vị quân vương hiền minh mới xứng đáng được trông thấy nó. Ở Sân Đại Triều Nghi trước Điện Thái Hòa của Tử Cấm  Thành  (Huế)  có hai con lân được đặt ở hai góc sân mang ý nghĩa thời thái bình mà còn biểu tượng nhắc nhở đến  sự uy  nghiêm giữa chốn triều đình. Lân còn là con vật tiêu biểu báo điềm lành. Nó  còn có khả  năng  nhận ra  được người hiền lành và kẻ gian trá. Người dân Việt  thường biết nó qua múa lân sư được biểu diễn trong các dịp lễ hội, đặc biệt là Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu hay khánh thành cửa hàng mới vì loại thú nầy tượng trưng cho thịnh vượng và hạnh phúc. Còn trong đạo Phật, nó là hiện thân của bát nhã tức là trí tuệ tối cao  hay gíác ngộ.

Version française
La licorne  figure au deuxième rang parmi les quatre animaux sacrés aux pouvoirs surnaturels (dragon, licorne, tortue et phénix). Dans la culture vietnamienne, on  est habitué à confondre souvent la licorne avec le chien-lion (con nghê). La caractéristique permettant de faire la distinction entre  ce dernier et la licorne  se retrouve dans les ongles.  Le chien-lion possède des griffes tandis que  la licorne a des sabots. Les licornes sont visibles  souvent dans les maisons communales, les pagodes, les temples, les sanctuaires ou les œuvres d’art architecturales. Selon le chercheur vietnamien Đinh Hồng Hải, la licorne (ou Lân)  est d’origine chinoise. Il s’agit d’une mascotte imaginaire importée de l’étranger. En fait, lorsqu’on évoque la licorne, on se réfère souvent à un couple d’animaux : le mâle est connu sous le nom « kỳ » tandis que la femelle s’appelle « lân ». Au moment de l’introduction de la licorne dans la culture vietnamienne, on n’a gardé que la femelle (Lân). Seuls les monarques sages sont dignes de pouvoir la voir. Dans l’esplanade des Grands Saluts devant le somptueux palais de la suprême harmonie (Điện Thái Hoà) de la Cité pourpre  interdite (Huế), il y a deux licornes placées dans deux coins différents  pour marquer non seulement  la période de paix mais aussi le caractère hiératique de la cour impériale. La licorne est un animal de bon augure. Elle est capable de discerner la probité  et la malhonnêteté chez un  homme. Les Vietnamiens ont l’habitude de la connaître grâce à la danse de la licorne à l’occasion des fêtes importantes (Le Nouvel An,  la fête de la Mi-Automne, l’inauguration de la nouvelle boutique etc.) car elle est le symbole de la prospérité et du bonheur. Quant au bouddhisme, la licorne est l’incarnation de l’esprit intuitif de la Prajna (l’intelligence suprême ou l’illumination).

Place de la Concorde (Quảng trường Concorde)

Quảng trường Concorde

La Tour Eiffel, l’un des symboles de Paris

 

 
 
 
Tour Eiffel
 
Tháp Eiffel, một trong những biểu tượng của kinh đô ánh sáng Paris được trông thấy từ xa về đêm dưới nhiều gốc độ khác nhau.
 
La tour Eiffel, l’un des symboles de la ville de lumière Paris est visible de loin au fil de la nuit sous de nombreux angles différents.
 
Galerie des photos

 

 

 

 
 

Musée de l’Acropole (Athènes, Grèce)

Version française

Đây là bảo tàng gồm chứa tất cả các hiện vật cổ khám phá  được từ đồi Acropole. Có ít nhất 300 kiệt tác thực sự ở nơi nầy. Ở ngay lối vào ở bảo tàng này, sàn kính trong suốt cho phép du khách có thể nhìn thấy được các cuộc khai quật khảo cổ mà được thực hiện trong nhiều năm qua. Chúng ta còn có thể thấy các bản sao của năm tượng phụ nữ (cariatides) dùng cho sự hỗ trợ điện thờ Erechtheion, được xây dựng trên phần đất linh thiêng nhất của đồi Acropole. Tại đây, bạn có thể chiêm ngưỡng khung cảnh ngoạn mục của đền Parthenon nhưng rất khó để bạn  chụp ảnh do số lượng du khách quá nhiều trong mùa hè này và lệnh cấm được áp dụng ở một số phòng liên quan đến việc triển lãm các bức tượng tuyệt đẹp. Mặc dù vậy,rất hữu ích  cho du khách khi biết cuộc sống hàng ngày của người Athen  ở  thời đó, sau khi đến tham quan Acropolis và Parthénon.

C’est le musée abritant toutes les artefacts  provenant  uniquement  de la colline d’Acropole. On y recense au moins 300 chefs-d’œuvre véritables. À l’entrée de ce musée, le sol en verre transparent permet au visiteur d’avoir une vue sur les fouilles archéologiques entamées au fil des années. On peut voir  les reproductions de cinq cariatides (les statues de femmes) soutenant l’Érechthéion, le sanctuaire édifié sur la partie la plus sacrée de l’Acropole. C’est ici qu’on peut avoir une vue imprenable sur le Parthénon mais il est difficile de faire des photos vu le nombre impressionnant de visiteurs durant cet été et l’interdiction imposée dans certaines salles concernant l’exposition  des superbes statues. Malgré cela, il s’avère utile de connaître la vie quotidienne des Athéniens de cette époque après avoir visité l’Acropole et le Parthénon.

Symbole d’Athènes

Eglises byzantines (Athènes, Grèce)

Version française

Để có thể được đến gần Đức Chúa Trời, Constantin Đại đế La Mã  đã không trì hoãn trong việc xây dựng các nhà thờ sau khi ngài cải đạo sang Công giáo và sau khi ngài đánh bại  Maxence ở trận cầu Milvian năm 312 và quyết định dời trụ sở của đế chế La Mã  về  ở Byzance thường  được gọi là Constantinople (hay là thủ  đô Istanbul ngày nay). Đây là sự  ra đời của Đế chế Byzantin ở nơi mà Cơ đốc giáo được  trải qua một thời phát triển mới ở phương Đông với sự xuất hiện của các công trình kiến trúc linh thiêng được song hành với một tiến hóa chính trị, xã hội và nghệ thuật  đặc biệt ở  trên vùng lãnh thổ rộng lớn (từ bờ biển phía bắc Phi Châu đến vùng châu Á và từ vùng Balkan đến miền nam của Syria) mà đế chế đã chinh phục được  qua nhiều thế kỷ. Người ta không những tìm thấy được  niềm khao khát vĩnh cửu của con người trong các công  trình này mà còn đây là phương tiện rất phổ biến để con người  có  thể hiện được khát vọng của mình đối với các bậc thần thánh.

Sự  khác biệt ở các nhà thờ Byzantine là có sự hiện diện của một mái vòm nằm  ở trung tâm thường được ví với vòm trời lơ lửng ở trên mặt đất. Nhờ đó nó mang lại ánh sáng ban ngày qua các cửa sổ nhỏ soi sáng không nhiều những bức tranh khảm nhỏ, các biểu tượng, các bích họa có nhiều màu và trang trí bằng vàng và  tạo ra được một  bầu không khí huyền bí giúp tín đồ thoát khỏi nơi trần thế và giao tiếp với Đức Chúa Trời. Các thần thánh được thể hiện từ trên  cao. Mái vòm thường bao gồm hình ảnh của Pantocrator (Chúa Kitô Toàn Năng), ngài quan sát và phán xét từng hành động của các tín đồ. Bên dưới, thì có Đức Mẹ của  Thiên Chúa (Theotokos) và Hài nhi được đặt  cao  chót vót trên các vị thánh chính và bên dưới  nửa các vị thần  thánh khác. Tuy nhiên các bức tranh tường và biểu tượng Byzantine này đã tạo ra một cuộc khủng hoảng trầm trọng mang tính cách  bài trừ thánh tượng. Nó  được kéo dài hơn một trăm năm giữa những người muốn hủy bỏ  bằng mọi giá việc tôn thờ các hình ảnh bằng cách tìm thấy có sự lệch lạc đức tin với chủ đích tà  đạo và những tín đồ biện minh cho việc sử dụng chúng như một phương tiện để tôn trọng những nhân vật được kính trọng.

Cuộc khủng hoảng này làm mất đi  một phần lớn các tác phẩm của nghệ thuật Byzantine đầu tiên do sự phá hủy triệt để các biểu tượng được trưng bài trên tường. May thay, nhờ nữ hoàng  nhiếp chính Theodora mà việc tôn thờ các biểu tượng đã được khôi phục lại  vào năm 843 và được công nhận là một phần không thể thiếu  được từ  đây trong nghi lễ. Bất chấp sự mất mát này, hình tranh ở trên tường giờ đây đã trở thành phương tiện phổ biến  của nghệ thuật Byzantine và giáo lý công giáo phương Đông trong các nhà thờ của đế quốc Byzantin trong khi các thiết kế hoa văn và hình học thì dùng lấp đi những khoảng trống ở trong các nhà thờ. Do đó, các trang trí trên tường chiếm toàn bộ nhà thờ Byzantine. Mặt khác, không có một tác phẩm điêu khắc nào được trông thấy trong các nhà thờ Byzantine vì đó là cách để phân biệt các nhà thờ nầy với thời cổ đại ngoại  đạo.

 

 Galerie des images

Pour pouvoir  se rapprocher de Dieu, l’empereur romain Constantin 1er le Grand ne tarda pas  à construire ses églises lors de sa conversion au christianisme après sa victoire sur Maxence à la bataille du pont Milvius en 312 et sa décision de transférer le siège de son empire romain à Byzance connue sous le nom de Constantinople (ou Istanbul d’aujourd’hui). C’est ainsi qu’est né l’empire byzantin dont le christianisme connut un nouveau essor en Orient avec l’apparition des édifices sacrés allant de pair avec une évolution sociale, politique et artistique  particulière dans le vaste territoire (de la côte d’Afrique du Nord à l’Asie et des Balkans au sud de la Syrie)  qu’il avait réussi à conquérir au cours des siècles. On trouve non seulement le désir humain d’éternité dans ces constructions mais aussi le moyen très répandu pour l’homme d’exprimer son aspiration au divin.

Les églises byzantines se distinguent toujours par la présence d’une coupole centrale comparée à la voûte céleste suspendue au dessus de la terre. Cela  fait entrer la lumière du jour par la multitude de petites fenêtres éclairant peu ainsi les mosaïques, les icônes, les fresques multicolores rehaussées d’or et crée une ambiance mystique permettant au fidèle de s’évader du monde terrestre et d’être en communication avec Dieu. Les sujets célestes se donnent à voir en hauteur. La coupole comprend souvent une représentation de Pantocrator (le Christ tout puissant) qui observe et juge chaque action du fidèle. Au dessous, l’abside  abrite la mère de Dieu (Theotokos)  et l’Enfant dominant eux-mêmes les principaux saints et au dessous d’autres saints. Pourtant ces représentations murales et ces icônes byzantines créent une crise  iconoclaste ayant duré plus de cent ans entre les gens qui veulent  détruire à tout prix le culte des images en y trouvant la déviation de la foi à des fins de l’idolâtrie et du paganisme et les croyants qui  justifient leur emploi comme le moyen de respecter les personnages vénérés. Cette crise fait perdre une grande partie du premier art byzantin par la destruction de ces représentations murales.  Heureusement, c’est grâce à l’impératrice régente Théodora que le culte des icônes fut restauré en 843 et reconnu comme partie intégrante de la liturgie. Malgré cette perte, l’iconographie  murale devient désormais  le véhicule  de l’art byzantin et du dogme chrétien oriental  dans les églises de l’empire byzantin  tandis que  les dessins floraux et géométriques comblent leurs espaces vides.  Les décorations murales occupent  ainsi l’ensemble de l’église byzantine.  Par contre aucune sculpture n’est visible dans les églises byzantines car il s’agit d’une manière de se distinguer de l’antiquité païenne.  

 

Village Oia ( Île Santorin, Grèce)

Mê cung của làng Oia

Version française

Có một thời làng Oia được xem là làng đẹp nhất thế giới nhưng nay đứng hạng năm. Theo Travel + Leisure, thì một làng Pháp  Gordes   thuộc tỉnh  Vaucluse  nằm chèo leo  trên vách đá ở trung tâm vườn quốc gia Luberon được đứng đầu năm nay  2023. Được tọa lạc ở phiá bắc của đảo Santori và được mệnh danh là viên pha lê sáng chói của vùng biển  Egée, làng Oia hay thường để lại cho du khác một ấn tượng khó quên với vẻ đẹp đặc biệt và hài hoà thích hợp của nó với các ngôi nhà màu trắng tinh, các vòm màu xanh của nhà thờ cùng các gam màu của nước biển pha lẫn với  cát  tro của núi lửa. Ở bất cứ nơi nào khi bạn lạc vào mê cung  của làng, bạn cũng có được một góc nhìn đẹp lạ lùng để chụp ảnh nhưng ngược lại cũng khá gian nan cho ai không quen trèo núi  với các ngõ đường đông người  eo hẹp quằn quèo  và lát đát khi mặt trời lên thiên đỉnh lúc 13 giờ trưa (50 độ hôm tụi nầy đến). Mặc dù vậy, cũng nên đến một lần  trong đời người  để biết ngôi làng đẹp nhất của vùng biển Égée.

ll y a un temps où le village Oia était considéré comme le plus beau village du monde mais il  est classé désormais au cinquième rang. Selon Travel + Leisure, un village français nommé Gordes de la province Vaucluse, situé sur une falaise au centre du Parc National de Luberon dans le Vaucluse reçoit cette année 2023 la première place. Étant situé au nord de l’île de Santorin et connu comme la perle de cristal éblouissante de la mer Égée, le village Oia laisse souvent aux visiteurs une impression inoubliable par sa beauté singulière et  son harmonie judicieuse  avec les maisons peintes en blanc pur, les dômes bleus de l’église et les tons de couleur de l’eau de mer mêlée au sable du cendre volcanique. Peu importe où vous allez dans le labyrinthe de ce village, vous avez toujours  un angle de vue étrangement superbe  pour prendre des photos mais il  est assez pénible pour ceux qui ne sont pas habitués à escalader la montagne  avec des ruelles extrêmement  étroites bondées de gens,  sinueuses et pavées quand le soleil atteint son zénith à 13 heures (50 degrés le jour de notre arrivée). Cela vaut quand même la peine de venir ici une fois dans sa vie pour connaître le plus beau village de la mer Égée.

 

 

Théra, capitale de l’île Santorin

Version française

Vào cuối thời kỳ đại đồ đồng, sự phun trào núi lửa tại thành phố Thera trên đảo Santorini đã diễn ra và được xem là một trong những thảm họa chết chóc nhiều nhất ở ngoài khơi đảo Crète. Theo một số nhà khoa học, điều này đã gây ra sự sụp đổ của nền văn minh Minoen. Théra là một điểm du lịch rất phổ biến đối với khách nước ngoài  và đạt được đỉnh cao trong  lúc mùa hè. Chính tại đây, ta đã thấy những mái vòm của các nhà thờ được sơn màu xanh lam với những bức tường của các ngôi nhà màu trắng. Đó là màu lá cờ của nước  Hy Lạp. Ngoài ra, nhờ sử dụng gam màu trắng nên nhiệt  nóng được phản chiếu lại  và giảm bớt nhiệt  độ gay gắt hơn ở trong nhà. Vì vấn đề vệ sinh và bảo vệ chống nấm, vôi được sử dụng để sơn nhà và  các cây cối. Trên đảo không có nguồn nước ngọt nào cả. Đây là lý do tại sao những ngôi nhà  không có mái che mà thay vào đó là những sân thượng  dùng  để hứng nước từ những cơn mưa hiếm hoi cần thiết cho cuộc sống hàng ngày.

THERA

Version française

C’est à la fin de l’âge de bronze que l’éruption du volcan à la ville de Théra de l’île de Santorin a eu lieu et  a été considérée comme l’une des catastrophes les plus meurtrières au large des côtes crétoises. Selon certains scientifiques, cela provoquait la chute de la civilisation minoenne. Théra est une destination très populaire auprès des touristes étrangers et connait un pic de visites durant la période de l’été. C’est ici qu’on vit les dômes des églises  peints en bleu et les murs des maisons en blanc. C’est la couleur du drapeau grec. De plus grâce à la couleur blanche employée, la chaleur est renvoyée et moins intense à l’intérieur de la maison. Pour une question d’hygiène et de protection contre les champignons, on se sert de la chaux pour la peinture des maisons et des arbres.  Il n’y a aucune source d’eau douce dans l’île. C’est pourquoi les maisons n’ont pas des toits mais à leur place des terrasses pour recueillir l’eau des rares pluies nécessaire à la vie quotidienne.

Musée national archéologique d’Athènes (Bảo tàng Khảo cổ Quốc gia Athens)

 

Version vietnamienne

Fondé à la fin du 19ème siècle, le musée archéologique national d’Athènes est l’un des plus grands musées du monde sur la Grèce antique. On y trouve des objets archéologiques datant de la préhistoire mais aussi ceux de l’antiquité. Ceux-ci  sont exposés sur deux étages. À l’entrée de ce musée, on voit apparaître l’exposition des trouvailles  archéologiques de la civilisation mycénienne ou du monde mycénien. Étant  une cité antique préhellénique de l’âge de bronze,  située dans l’est du Péloponnèse et dominant la fertile plaine d’Argos, Mycènes  joue un rôle majeur dans l’échange  commercial  non seulement  avec le reste de la Grèce antique mais aussi avec l’Egypte, les ports phéniciens, Syrie et Chypre. Les Égyptiens se sont intéressés aux Mycéniens et à leur montée en puissance à partir du XIVème  siècle av. J.-C. Le début de l’ère mycénienne est marqué par la découverte  des tombes funéraires des cercles funéraires A et B (1650-1500 av. J.-C.) contenant de luxueuses reliques de nobles mycéniens, découvertes par le découvreur allemand de la ville de Troie (Turquie)  Heinrich Schliemann en 1876. Mais l’art mycénien  reçoit une influence notable de l’art ancien  des Minoens de l’île méditerranéenne de la Crète au cours de la  période approximative de 1700-1500 avant notre ère. On va découvrir des masques funéraires réalisés avec de l’or, des objets en bronze, des bijoux, des momies, des statuettes en marbre, des sculptures et même une belle collection d’art égyptien. À part l’Acropole et le Parthénon, le touriste n’a aucun intérêt de ne pas visiter ce musée car il est témoin de la civilisation de la Grèce antique.

Version vietnamienne

Được thành lập vào cuối thế kỷ 19, Bảo tàng Khảo cổ Quốc gia Athens là một trong những bảo tàng lớn nhất thế giới về Hy Lạp cổ đại. Có những đồ vật khảo cổ có niên đại từ thời tiền sử nhưng cũng có những đồ vật từ thời cổ đại. Các hiện vật  được trưng bày ở hai tầng. Ngay lối vào của bảo tàng này, chúng ta được thấy ngay sự trưng bày các hiện vật  khảo cổ từ nền văn minh Mycenaea hoặc thuộc về  thế giới Mycenaea. Là một thành phố cổ đại thời kỳ đồ đồng tiền Hy Lạp, được tọa lạc ở phía đông Peloponnese trên vùng đồng bằng màu mỡ Argos, Mycenae giữ  một vai trò cực kỳ quan trọng  trong việc  trao đổi thương mại không chỉ với phần còn lại của nước Hy Lạp cổ đại mà còn với Ai Cập, các hải cảng của người Phê-ni-xi, Syria và đảo Síp. Người Ai Cập bắt đầu quan tâm đến người Mycenae và sự trỗi dậy quyền lực của họ từ thế kỷ 14 trước Công nguyên. Sự khởi đầu của kỷ nguyên Mycenaea được đánh dấu bằng việc phát hiện ra những ngôi mộ chôn cất từ ​​các vòng chôn cất A và B (1650-1500 trước Công nguyên) chứa các di vật sang trọng của các quý tộc Mycenae, được phát hiện bởi người  Đức  phát hiện ra thành Troie,  Heinrich Schliemann vào năm 1876.Nhưng nghệ thuật Mycenaea chịu ảnh hưởng đáng kể từ nghệ thuật cổ đại của người Minoa trên đảo Crète ở Địa Trung Hải trong khoảng thời gian ước chừng 1700-1500 TCN. Chúng ta sẽ khám phá những mặt nạ tang lễ được làm bằng vàng, các đồ vật bằng đồng, các đồ trang sức, các xác ướp, các tượng nhỏ bằng đá cẩm thạch, các tác phẩm điêu khắc và thậm chí còn có  một bộ sưu tập nghệ thuật Ai Cập tuyệt vời. Ngoài quần thể Acropolis và Parthenon, du khách không có hứng thú nào mà không ghé tham quan bảo tàng này bởi vì nó là nhân chứng ​​ của nền văn minh Hy Lạp cổ đại.

 

Le complexe monumental d’Acropole d’Athènes

Version française

QUẦN THỂ ACROPOLE-PARTHÉNON

DEUXIÈME JOUR À ATHÈNES

Đến Hy Lạp mà không có đi tham quan quần thể Acropole và Parthénon ở  thủ đô Athènes  thì có thể xem như  là không biết lịch sử xứ nầy. Nơi nầy được  tọa lạc ở trên một cái đồi cao chừng một trăm thước và được bao xung quanh bởi một bức tường. Thưở ban ban đầu nguời Hy Lạp cổ dùng làm nơi ẩn náo khi có các cuộc tấn công của kẻ thù.  Sau đó nơi nầy trở thành nơi thờ phượng nhất là có một toà nhà dành riêng cho nữ thần Athéna, con gái của thần Zeus và nữ thần Métis. Đây là nữ thần bảo vệ thành Athènes. Chinh ở nơi nầy sau khi  đánh bại người Ba Tư cổ qua trận chiến hiển hách Salamine vào năm 480 trước Công nguyên, nhà chính trị gia đa tài Périclès mới nhờ kiến trúc sư Phidias xây dựng ở nơi nầy vào nửa sau của thế kỷ thứ 5, đền Parthénon. Cũng chính ở nầy Périclès thiết lập nền dân chủ dựa trên nguyên tắc bình đẳng chính tri giữa các công dân  loại trừ các thành phần trong xã hội  như  phụ nữ,  nô lệ và người ngoại quốc và  củng cố quyền lực bá chủ cuả  Athènes trên các thành quốc (cités-états) và các đảo khác của Hy Lạp  trong liên minh quân sự Devos từ 478 trước Công Nguyên. (ligue de Devos).

Muốn tham quan nơi nầy, du khách phải chịu nhiều thử thách. Phải gian nan đi bộ, phải trèo leo các dốc khá vất vả, phải nối đuôi xếp hàng mua vé ít nhất là một tiếng rưởi nếu không mua ở trên mạng dưới cái nóng ngột ngạt của mùa hè. Để tránh cái nắng hừng hực nầy tụi nầy phải mua vé ở trên mạng nhưng cũng phải biết mua ở trang nhà của cơ quan chính phủ Hy Lạp còn không sẽ  mua với giá cả rất cao và không có bớt  cho các thành phần như người cao tuổi và  trẻ em. Ở trang nhà của chính phủ thì trẻ em như cháu của mình dân  Pháp thuộc cộng đồng Âu Châu thì được xem miễn phí đến 26 tuổi.  Còn người cao tuổi như mình thì trả tiền nửa vé. Nói tóm lại vẫn rẻ hơn mua các trang nhà cũa các cơ quan tư nhân khác. Tụi nầy biết được điều nầy nhờ có sự chỉ dẫn của một anh tiếp tân  ở khách sạn mình cư trú. Đây là giai đọan đầu của cuộc tham quan quần thể Acropolis. Tụi nầy chọn đi sáng sớm vì thời tiết  còn mát mẻ nhất là quần thể nầy mở cửa lúc 8 giờ sáng. Có vé ở trên mạng, đến nơi cũng phải nối đuôi để được đi vào quần thể. Tụi nầy đi lúc 7 giờ sáng được vào tham quan lúc 8 giờ rưởi cũng mất một tiếng rưởi đấy. Tóm lại mua tại chổ, nối đuôi mua vé rồi nối đuôi để đi vào quần thể, phải mất ít nhất 3 tiếng. Đây là một thử thách mà mọi du khách đến đây phải chấp nhận mà cũng xứng đáng để tham quan được một lần trong đời người.

Version française

Sans visiter le complexe monumental de l’Acropole et du Parthénon dans la capitale Athènes,  la venue en Grèce peut être considérée  comme la méconnaissance  de l’histoire de ce pays. Ce lieu est situé sur une colline d’une centaine de mètres de haut et entouré d’un mur. Autrefois,  les anciens Grecs l’utilisaient  pour servir de refuge en  cas d’attaque des ennemis. Il devint plus tard un lieu de culte notamment avec un édifice dédié à la déesse Athéna, fille de Zeus et de la déesse Métis. C’était  la  protectrice de la ville d’Athènes. Après avoir vaincu les Perses lors de la glorieuse bataille de Salamine en 480 av. J.-C.,   l’homme politique talentueux Périclès demanda à l’architecte Phidias d’édifier à cet emplacement dans la seconde moitié du Vème  siècle, le Parthénon. Mais c’était également ici que Périclès établit une démocratie fondée sur le principe de l’égalité politique entre les citoyens, excluant certaines catégories de la classe sociale: les femmes, les esclaves et les étrangers et consolida ainsi  l’hégémonie d’Athènes sur  les autres cités-états et les îles grecques dans la ligue de Devos (une sorte d’alliance militaire) depuis 478 av. J.-C..

Pour visiter cet endroit, les touristes étrangers doivent faire face à de nombreux défis. Il faut marcher à pied, monter péniblement les pentes assez ardues, faire la queue durant une heure et demi au moins  pour l’achat des tickets sur place  dans la chaleur suffocante de l’été. Pour éviter ce soleil accablant, il vaut mieux acheter les billets en ligne mais il faut connaître  le site de l’agence gouvernementale grecque sinon on se retrouve avec des sites privés proposant le prix assez élevé et il n’y a aucune réduction. Sur le site du gouvernement grec, les enfants comme mon petit enfant  français appartenant à  la Communauté européenne peuvent visiter gratuitement tous les sites grecs jusqu’à 26 ans. Quant aux gens âgés, le billet est à moitié prix. Bref c’est plus intéressant pour l’achat des billets sur le site gouvernemental.  Nous connaissons cette information  grâce à l’indication d’un réceptionniste de l’hôtel. C’est la première étape pour  la visite de ce complexe monumental Acropolis. Nous préférons de le visiter le matin de bonne heure car il fait frais et ce lieu est ouvert à 8 heures. En achetant le billet sur Internet, il faut faire la queue quand même pour l’accès à Acropolis. Nous nous pointions  à 7 heures du matin devant l’entrée et nous pouvions y accéder seulement à 8h et demi. En résumé, en achetant les billets sur place, il faut compter 3 heures d’attente. C’est un défi que tout le monde doit accepter mais cela vaut le coup de visiter ce lieu une fois dans la vie.


 

 


Quelques informations utiles:

Site officiel du gouvernement grec
pour l’achat des tickets d’entrée pour les musées.
https://www.tap.gr/
Hôtel recommandé:  Athens Psiri Hotel
32 Sofokleous str., Athens, Greece
+30 210 52 34 329
info@athenspsirihotel.com
www. athenspsirihotel.com