Cái Bè (Mỹ Tho)

Le magnifique église au bord de l’eau

Cái Bè est un district situé à l’ouest de la province Tiền Giang. Celle-ci  est  appelée Mỹ Tho à l’époque coloniale.

Cái Bè là một huyện nằm ở phía tây tỉnh Tiền Giang (trước đó là tỉnh Mỹ Tho).

 

 

Musée des beaux-arts (Bảo tàng mỹ thuật Hànội)

 

Bảo tàng mỹ thuật

Version vietnamienne

 Le musée des beaux-arts est  situé en au cœur de la capitale Hànội. Il est en face du temple de la littérature (Văn Miếu). Il est peu connu par rapport à celui d’ethnographie.  De la préhistoire jusqu’à nos jours,  l’art vietnamien y est bien présenté. On s’y voit proposer un très large éventail d’œuvres.   Celles-ci  sont réparties sur trois étages thématiques. On peut y découvrir l’ensemble des techniques: céramique, sculpture, laque, peinture sur soie et sur papier de mûrier, arts populaires etc…. 

La partie réservée aux laques est très magnifique. On y trouve  la belle collection de Bouddhas de la pagode Tây Phương. C’est le point culminant de la sculpture ancienne  du Vietnam  à l’époque de Tây Sơn. Cette dernière  ne subsiste que 14 ans (1788-1802). Ses statues sont dans des postures et des attitudes assez surprenantes.  On y voit  un style particulier mais aussi le réalisme et l’humanisme.   

Le sculpteur artisan réalise  chaque statue  avec soin malgré le caractère religieux. Il tente   de montrer la particularité de sa propre personnalité, ses sentiments et sa dévotion.  On peut  passer facilement  deux heures dans ce beau musée.  Il y a peu de visiteurs. Cela vaut quand même le détour lorsqu’on a l’occasion de visiter Hànội.

Version vietnamienne

Tọa lạc ỏ giữa lòng thủ đô Hànội  ngang mặt Văn Miếu , bảo tàng mỹ thuật ít  được biết  so với bảo tàng dân tộc học.  Tuy nhiên chính là địa điểm không nên bỏ qua được cho những ai thích mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền sử cho đến ngày nay.  Chính ở  nơi nầy tìm thấy  ở ba tầng rất nhiều kiệt tác được phân phối trưng bài theo chủ đề và khám phá   các kỹ thuật gồm có nhiều lĩnh vực (như gốm, điêu khắc,  sơn mài,  tranh lụa hay giấy dó, nghệ thuật dân gian vân vân …). 

Gian nhà dành cho sơn mài rất tráng lệ với các tượng tổ sư của phái Thiền Tông và các vị Kim Cương ở chùa Tây Phương. Có thể nói các tượng nầy được xem như là đạt được đến đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc cổ Việtnam dưới triều đại Tây Sơn dù thời đai nầy chỉ có tồn tại 14 năm  (1788-1802). Chính qua các tư thế và hình dáng đáng ngạc nhiên của các tượng mà nhận ra được không những sự thành hình phong cách cá biệt mà còn làm trội lên tính hiên thực và tính nhân văn.

Dù có tính chất tôn giáo, mỗi tượng là một kiệt tác được hoàn thành một cách tĩ mĩ bỡi người điêu khắc với chủ đích làm sao để nổi bật nét đặc thù cá tính, cảm giác và sùng kính mà họ  có. Có thể mất hai tiếng dẽ dàng khi đến tham quan bảo tàng mĩ lệ nầy. Ít có du khách lắm  nhưng cũng đáng  để đến tham quan khi có dip đến Hànội.

66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

 

Fine art museum

Non nước Cao Bằng (Monts et Eaux Cao Bằng)

Le fleuve Nho Quế se faufile comme un serpent à travers les montagnes

Version française

Sau công viên địa chất Đồng Văn (Hà Giang), Việt Nam đuợc có thêm  công viên địa chất thứ hai  Non nước Cao Bằng gia nhập vào  mạng lưới công viên địa chất toàn cầu  mà tổ chức Liên Hiệp Quốc  UNESCO công nhận vào tháng 4 vừa qua (2018). Tỉnh   Cao Bằng  cùng tên nầy thuộc vùng đông bắc Việt Nam, giáp ranh giới với khu tự trị Quảng Tây của Trung Quốc. Cao Bằng nằm cách xa thủ đô Hànội 286 km.  Đến từ Hà Giang, tụi nầy chọn đi qua con đèo độc đáo Mã Pí Lèng. Đèo nầy nằm giữa cao nguyên Đồng Văn, một bên là vách núi Mã Pí Lèng còn một bên là sông Nho Quế. Đèo nầy  không dài chi cho mấy chỉ khoảng 20 km nhưng nó rất hùng vĩ ngoạn mục nhất ở Việt Nam vì trong tầm mắt trên cao nhìn xuống sông Nho Quế nó nhỏ  như  sợ chỉ, như con rắn bò qua hàng ngàn núi đá  trọc màu xám trùng trùng điệp điệp lô nhô cây cối.  Đèo nầy được ví như « vua của các đèo » ở Việtnam vì nó rất nguy hiểm với những đoạn cua tay lổn nhổn đá hộc, hai ô tô phải né tránh nhau với tiếng kèn.  Sở dĩ đèo nầy mang cái tên Mã Pí Lèng vì theo tiếng Quảng Đông là sống mũi con ngựa. Tuy nhiên các người Hmong họ cho là sống mũi con mèo. Theo lời kể dân gian, các con ngựa cái leo qua đèo nầy bị trụy thai hay  dốc nó cao  quá chừng khiến con ngựa đuối sức trèo lên tắc thở.   Đường nầy được mang tên Hạnh Phúc nhưng thật sư đựợc thành hình với mồ hôi, xương máu và nước mắt của đội quân cảm tử thuộc  16 dân tộc thiểu số (Tày, Mèo, Lolo, Pù Péo vân vân …) cùng nhau đục đẽo từng viên đá ngày đêm trong thời gian 6 năm liền. Có thể nói là con đường gian nan khổ sở nhất cho những ai lái xe nhưng nó cũng là một niềm vui không ít cho những người du lịch thích cảnh vật thiên nhiên  hoang dã. Có đến đây mới thành hảo hán vì đây được xem như là Vạn Lý Trường Thành của Việtnam, có đến đây mới thấy đất nước Việtnam xinh đẹp  và xanh tươi. Cao Bằng là một tỉnh ít bị ô nhiêm nhất chỉ có khoảng chừng 500.000 dân. Cao Bằng nổi tiếng có thác Bản Giốc, có động Ngườm Ngao, có khu di tích Pắc Bó. Chính ở nơi nầy mà người anh hùng của dân tộc Tầy Nùng, Nùng Trí Cao khởi nghĩa dành độc lập chống lại nhà Tống như tộc Lạc Việt với Ngô Quyền. Mặc dầu việc quật khởi không thành, ông được xem là người anh hùng của dân tộc Choang (Tày Nùng) và được tôn thờ ở Cao Bằng nhất là ở chùa Phật Tích Trúc Lâm Bản Giốc. Chính ở nơi nầy mà theo lời chỉ dẩn của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm  mà con cháu nhà Mạc chạy về đây cố thủ, làm vua được ba đời thêm vào thế kỷ 16.

Galerie des photos (de Hà Giang à Cao Bằng)

Version française 

Après la reconnaissance du parc karstique de Đồng Văn , le Vietnam a eu  récemment le deuxième parc  géologique Non Nước Cao Bằng reconnu comme   membre du Réseau global des parcs géologiques de la part de l’UNESCO en avril dernier (2018). La  province Cao Bằng  est  située au nord-est du Vietnam et a une frontière commune avec la région autonome Kouang Si (Quảng Tây) de la Chine. Elle est distante  de la capitale Hànội de 286 km. En partant de Hà Giang, nous sommes décidés de prendre la route menant au col majestueux Mã Pí Leng. Celui-ci est situé au cœur du plateau calcaire Đồng Văn avec d’un côté les falaises de Mã Pí Leng  et de l’autre  le fleuve Nho Quế. Ce col fait environ 20 km de long mais il est grandiose et  très spectaculaire au Vietnam car à portée de vue en haut, le fleuve Nho Quế   ressemble à un fil mince ou à un serpent se faufilant à travers des milliers de rochers nus et gris qui se succèdent  et se laissent  envahir par la végétation.  Il est considéré comme le « roi des cols »  au Vietnam car il est tellement  dangereux  avec des tronçons de route  en forme de coude  et remplis  de blocs de pierre  équarris en désordre que  le klaxon  des  voitures doit retentir sans cesse pour éviter les risques de collision. C’est pourquoi ce col porte le nom « Mã Pí Lèng » car selon le cantonais, c’est le bout avant du  nez du cheval. Mais pour les Hmongs c’est le bout avant du  nez du chat. Selon l’on-dit,  en passant par ce col, la jument enceinte aurait le risque d’avortement ou  la pente est tellement  haute que  le cheval serait mort d’épuisement en la grimpant. Cette route sinueuse est appelée souvent  « route du bonheur »  mais elle  a été construite  avec la sueur, le sang et les larmes des volontaires recrutés parmi les  16 ethnies minoritaires  (Tày, Mèo, Lolo, Pù Péo etc …) du Vietnam,  ne cessant pas de travailler jour et nuit durant les six années consécutives  pour cette réalisation titanesque.  On peut dire que c’est la route la plus difficile pour les chauffeurs. En passant par ce col, on se sent fier d’être un brave car on  considère ce col  comme la muraille de Chine du Vietnam. C’est aussi une  joie immense pour les touristes, en particulier ceux qui aiment la nature sauvage. En venant ici, on s’aperçoit que le Vietnam est un très beau pays et incroyablement vert. La province Cao Bằng est la moins polluée car elle n’a qu’à peu près 500.000 habitants. Cao Bằng est connue pour ses chutes d’eau Bản Giốc, sa grotte Nguờm Ngao,  le site historique Pắc Bó. C’est ici que le héros national du peuple Choang Nùng Trí Cao a tenté le soulèvement populaire  contre les Song (Chinois) pour établir un royaume Đại Nam au sud de la Chine comme les Vietnamiens avec le général Ngô Quyền.  Malgré l’échec de ce soulèvement, il est considéré comme un héros du peuple  Choang et vénéré partout à Cao Bằng, en particulier à la pagode Phật Tích en face des chutes d’eau Bản Giốc. C’est ici que sur les recommandations du Nostradamus vietnamien Nguyễn Bỉnh Khiêm que les descendants de la dynastie des Mạc se réfugièrent  au 16ème  siècle pour se défendre et maintenir encore leur règne pour trois générations.

Le palais fortifié du roi des Hmong (Dinh thự của vua Mèo)

Version vietnamienne

De passage à Hà Giang, on a l’occasion de visiter le palais fortifié du roi des Hmong Vương Chính Đức. Celui-ci est situé à une vingtaine de kilomètres de Đồng Văn au cœur de la vallée de la  commune Sa Phìn. Selon l’on-dit, Vuơng Chính Đức a choisi cet emplacement du fait qu’il y a  un bloc de terre semblable à la carapace de la tortue, ce qui permet d’avoir une belle carrière pour lui et ses descendants dans l’optique des géomanciens. Basée sur le modèle de Yamen Manchu (bâtisse d’un mandarin à l’époque des Qing) et construite dans les années 1920 à 1600 m d’altitude sur une superficie de 3000 m2, cette magnifique résidence est une belle œuvre architecturale, un mélange subtil de l’art traditionnel Hmong, chinois et français. Cela   nécessite quand même 8 ans de travaux effectués  avec acharnement par les ouvriers venant de Yunnan et de Đồng Văn.  Elle est composée de 3 constructions  sur pilotis à 2 étages dont l’une  est située jusque derrière  l’entrée et les deux autres dépendances  sont opposées entre elles et forment avec la première  un angle droit. Tout est fait en bois précieux (planchers, cloisons, colonnes etc…) avec la toiture toujours en tuiles Yin et Yang.
Il y a au moins 64 pièces et   trois cours intérieures. Grâce à l’ajout de de deux donjons en pierre  à l’arrière de cette résidence, celle-ci est appelée souvent sous le nom « château ».  À l’époque où le roi des Hmong était en vie, il y avait plus de 100 personnes qui étaient logés dans cette résidence, y compris ses 3 femmes et ses enfants. 

Vue prise de l’entrée de la résidence jusqu’au fond à travers les cours

Maison principale avec ses deux dépendances opposées

Ai có đến Hà Giang thì cũng có dịp đến tham quan nhà của vua Mèo Vương  Chính Đức. Được tọa lạc cách Đồng Văn gần hai chục cây số ở giữa lòng một thung lũng thuộc địa phận xã Sa Phìn. Theo lời  đồn, Vương Chính Đức chọn nơi nầy vì ở đây có một khối đất được xem như là cái mai rùa khiến sẻ  có sự nghiệp tốt đẹp cho ông và con cháu theo cái nhìn quan sát của các nhà rành về phong thủy. Dựa trên mẫu nhà của Yamen Manchu (những dinh thất của các quan dưới thời đại nhà Thanh) và  được xây cất  ở độ cao 1600 thước vào các năm 1920 với một diện tích 3000 mét vuông, dinh thự nầy là một kiệt tác kiến trúc, một hỗn hợp tinh vi của nghệ thuật truyền thống của người Hmong, người Hoa và người Pháp. Thế cũng phải  mất 8 năm xây dựng nhọc nhằn bỡi những người thợ chuyên môn đến từ Vân Nam và Đồng Văn. Dinh thự  nầy gồm có 3 tòa nhà mà nhà chính thì được tọa lạc ngay sau cửa vào và hai nhà phụ thì đối diện với nhau và tạo với nhà chính các góc vuông.   Tất cả đều được làm bằng gỗ qúy từ sàn nhà cho đến cột trụ qua đến vách ngăn.  Tất cả mái nhà  nơi nầy đều được lợp với ngói âm dương. Có ít nhất 64 phòng và ba sân  nội.  Nhờ thêm hai vọng lâu xây  bằng đá ở phiá sau dinh thự mà dinh nầy thuờng được gọi là lầu đài.   Dạo thời vua Mèo còn sống thì có hơn một trăm người sống ở đây kể luôn ba bà vợ  của ông và các con cháu.

La bourgade de Đồng Văn (Phố cổ Đồng Văn)

Version française

Nằm ở giữa lòng thung lũng của cao nguyên đá Đồng Văn, phố nầy lúc ban đầu có khoảng chừng 40  cái nhà mà thôi. Khu phố nầy được thành hình vào đầu  thế kỷ 20 dưới chân núi  với vài gia đình người Hmong, người Tày và người Hoa. Bởi vì được xây cất với các thợ  được thuê đến từ Tứ Xuyên nên các nhà ở đây mang dấu ấn  khá  sâu đậm của người Hoa qua lối kiến trúc hai tầng trình tường, mái  ngói âm dương và trước cửa nhà có đèn lồng treo cao. Nay trở thành một địa điểm quan trọng mà du khách không thể bỏ qua được khi đến Hà Giang. Nhà cửa ở đây cũng xây cất lại, nhà trọ cũng có nhiều, giá cả cũng  phải chẵn, du khách ngoại quốc nhất là dân đi phượt cũng đông cuối tuần và thích ngủ nhà sàn. Rất tiếc chiều hôm đó, mưa quá to nên chụp hình không được nhiều. Chỉ sáng hôm sau, trời lại nắng nên mới có vài tấm ảnh để lưu niệm nhưng cũng có dịp viếng thăm một nhà cổ của người Hmong nay thành nhà trọ và có dịp chứng kiến cách thức dùng nước suối rửa cây linh (lin)  trước khi dệt vãi.  Đi miền núi như tớ rất mệt nhưng  học hỏi rất nhiều về tập quán nhất là Hà Giang có đến 22 dân tộc thiểu số  và rất thích thú trong cuộc hành trình nầy. 

Située au cœur de la vallée du plateau karstique de Đồng Văn, cette bourgade avait  seulement au moment de sa construction  une quarantaine de maisons.  Elle prit forme au début  du XX ème siècle au pied des montagnes rocheuses avec quelques familles Hmong, Tày et Hoa (ou Chinois).  Comme ses maisons ont été construites par des ouvriers recrutés  venant de Sichuan, cette bourgade continue à garder  une  profonde empreinte chinoise à travers son architecture typique à deux étages, son toit avec des tuiles tubulaires âm dương et ses lampions suspendus devant l’entrée. Aujourd’hui, elle devient un passage obligatoire pour ceux qui visitent Hà Giang.  La plupart de ses maisons sont rénovées et ses « homestay » (logement chez l’habitant) sont nombreux avec un prix assez raisonnable. Les touristes étrangers  sont en majorité des routards ou des gens aimant l’aventure de l’extrême et préférant dormir dans des maisons sur pilotis   et ils sont nombreux à la fin de la semaine.   C’est regrettable pour nous d’avoir la pluie torrentielle le soir de notre arrivée. C’est seulement le lendemain avec le retour du soleil que je peux faire quelques photos ci-dessus. J’ai aussi l’occasion de visiter une vieille maison devenant aujourd’hui un  « logement chez l’habitant » et d’apprendre la façon de laver le lin avec l’eau de source  avant le tissage des vêtements pratiqué par les Hmong.  L’excursion à la montagne est épuisante   mais elle me permet d’avoir des choses à apprendre en particulier les coutumes et les traditions lorsque la région Hà Giang a 22 minorités ethniques. Je suis très content de ce voyage mémorable. 

Việt Nam Quê Hương tôi

intro

Version française

English version

Việt Nam là một quốc gia  mà người dân rất yêu chuộng hoà bình, độc lập và tự do. Là người con Việt  thì phải có khả năng kháng cự lại trước hết việc đồng hóa hay là tư tưởng ngoại bang và hảnh diện có mang ở trong tĩnh mạch dòng máu của cha Rồng. Đối với người dân Việt, không còn sự  hoài nghi nào cả vì qua truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có từ thuở nào, họ là con cháu của  cha Rồng mặc dầu họ biết rõ  từ nay nguồn gốc qua các công trình khoa học. Họ là người thừa kế của nền văn hóa Hòa Bình và thuộc về đại tộc Bách Việt, những bộ tộc sống rải rác ở phía nam sông Duơng Tử. Nuớc ở nơi nầy nó thấm nhuần với đất vì có thể là vậy nên quốc gia nầy thường được gọi là Đất Nước. Cũng  trên mãnh đất của đồng bằng sông Hồng nầy đã qua bao nhiêu thế kỷ trước Công Nguyên có một vương quốc sáng lâp một triều đại với các vua Hùng huyền thoại (nước Văn Lang). Sau đó được thay  thế bởi nước Âu Việt của An Dương Vương (Thục Phán) mà thành trì Cổ Loa là thủ đô, một bằng chứng cụ thể của vương quốc nầy bị thôn tính về sau bởi  Triệu Đà, một danh tướng của hoàng đế Trung Hoa Tần Thủy Hoàng. Ông nầy sáng lập ra nước Nam Việt (Nan Yue) bị thôn tính về sau bởi quân Tàu của danh tướng Mã Viện (Ma Yuan) dưới thời  Hán Quang Vũ Đế (Guagwudi) với một nghìn năm bắc thuộc  trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của tuớng Ngô Quyền. Trong thời kỳ đô hộ, văn hóa Đồng Sơn bị hủy diệt. Người ta tìm thấy trong văn hóa nầy các thạp đồng và nhất là cái trống đồng uy nghiêm biểu hiệu quyền lực và đặc tính của dân tộc Việt đã bao lần suýt bị hủy diệt bởi đế  chế Trung Hoa theo dòng lich sữ.  Đây không phải  là lịch sữ của các triều đại vua chúa hay các phong trào tư tưởng mà chính đây là lịch sữ của dân tộc nông dân bền bỉ từ biên cương Việt Trung đến mũi Cà Mau, vất vã khó nhọc để lại dấu ấn cho quang cảnh của mãnh đất nầy. Sự hy sinh của họ không phải là một từ vô ích. Các hào kiệt của họ thà làm qủi phương nam thay vì làm các vương công phương Bắc. Còn các nữ kiệt cũng không ngần ngại đáp lời sông núi. Đó là hai bà Trưng Trắc Trung Nhị, Triệu Ẩu, Nguyễn Thị Giang (Cô Giang), Nguyễn thị Minh khai vân vân. Không người con Việt nào có thể quên câu nói bất diệt của Nguyễn Thái Học trước cái chết :

Chết vì Tổ Quốc.

Đây là số mệnh quá cao thượng,  đáng khen ….

Trên chiến trường, không có lực luợng  ngoại bang nào có thể  đánh bại  khi có chạm trán với người dân  Việt. Chính họ dành được  sự thắng lợi  nhờ ba yếu tố nầy: Thiên Thời, Đia Lợi và Nhân Hòa. Chính yếu tố sau cùng  nầy nó  đem lại sự khác biệt trong cuộc chiến tranh tiêu hao. Nguyễn Trãi đã có dip nói rằng thà chinh phục nhân tâm hơn là chiếm đoạt thành trì. Hiên ngang trước quân giặc mạnh  hơn họ thì họ cần phải kiên nhẫn nghĩ đến các thể thức thường được áp dụng trong lý thuyết Âm Dương : Lấy Yếu chống Mạnh hay Lấy Cụt chống Dài. Chính nhờ mưu lược nầy mà Nguyễn Trãi dành phần thắng lợi  trong cuộc chống giặc nhà Minh của hoàng đế Vĩnh Lạc và xua đuổi quân Tàu ra khỏi Việtnam vào năm 1428. Dùng chiến thuật di quân (Dương) trước sự bất động của quân nhà Thanh (Âm) phù hợp hoàn toàn với địa lợi, vua Quang Trung  đánh bại  chớp nhoáng quân địch vào năm 1788 trong 5 ngày Tết  để lấy lại Thăng Long. Chính cũng Quang Trung lợi dụng sự không biết đia thế của quân địch mà dành phần thắng lợi thần tốc ở  rạch Gầm-Xoài Mút (Mỹ Tho) với quân Xiêm La của tướng Chakri  khi ông nầy gởi sang 50 vạn binh tiếp viện cho vua Gia Long. Không có dân tộc nào có thể cưởng lại trước sự  bành trướng  của người dân Việt trong cuộc Nam Tiến. (hai vương quốc Chămpa và Chân Lạp). 

Dù bị nghìn năm bắc thuộc và  có sự đóng góp văn hóa ngọai bang, những người nông dân con Việt  mảnh khảnh  nầy, chân vùi dưới bùn giữa các ruộng lúa, đã  gìn giữ được  những gì qúi giá nhất của các dân tộc trên thế giới. Đó là những truyền thống  và tiếng Việt dựa trên chữ Hán sau nầy dùng chữ Latinh với ông thầy tu Alexandre de Rhodes. Chỉ còn bộ tộc Lạc Việt duy nhất  thuộc đại tộc Bách Việt không bị hán  hóa qua nhiều  thế kỷ. Chính Đức Khổng Tử  đã có từng  so sánh sinh lực  có ở nơi người Trung Hoa và người Lạc Việt, tổ tiên của người Việtnam ngày nay : cang đảm và vũ lực thuộc về người Trung Hoa, còn Lạc Việt thì khoan dung và  nhân từ. Tuy nhiên người dân Việt luôn luôn gắn bó sâu đậm với đất nước khiến họ không nhường bộ trong cuộc đấu tranh vì thế theo sự suy luận của một nhóm người, họ là những kẻ đi chinh phục tàn nhẫn và đáng sợ nhưng còn nhóm người khác thì  họ là những người bảo vệ chính đáng trong công cuộc chiến  dành lại độc lập và tư do. Dù sao họ đã hy sinh quá nhiều trong quá khứ về sinh mạng cho hai khái niệm: độc lập và tự do mà họ  không có quen để lựa chọn hay tách biệt. Chính vì  vậy họ vẫn trong tình trạng khổ tâm không ít. Rồi họ cũng  có lần lượt  hai khái niệm nầy với  cái giá  mạng người quá đắt. Việc ý thức tập thể bất đầu thành hình qua nhiều năm với Nguyễn An Ninh. Mặc dầu ba vị vua trẻ Việt Nam Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân bị lưu đày ở Algérie và La Réunion và việc xử trảm nhiều nhà cách mạng trong đó  có một chàng trai trẻ tài ba Nguyễn Thái Học, người dân Việt vẫn  không mất nhuệ khí trong các cuộc nổi dậy và dành lại độc lập với chiến thắng ở Điên Biên Phủ vào năm 1954. Việc  thả ba trăm tấn bom (265 kí cho mỗi người dân Việt)  và 60 triệu lít chất làm rụng lá cũng không làm nản lòng người dân Việt trên con đường thống nhất  lại đất nước vào năm 1975 sau đó dẫn đến việc đày  biết bao nhiêu người lính miền nam đến trại học tập và cuộc di tản  chưa từng thấy, có rất nhiều người  chết đuối  và bị hảm hại bởi hải tặc ở biển Đông và vịnh Thái Lan để đi tìm tự do. Theo lời tường thuật của nhiều tác giả Tây Âu, (Barry Wain, Magali Barbieri) có dịp nghiên cứu về vấn đề nầy thì có ít nhất  tổi thiểu là 250.000 người Việt vượt biên chết  ở biển. Theo sự dự tính của cơ quan HCR (Haut  Commissariat pour les Réfugiés), từ 1975 đến 1991, trong 16 năm, có gần một triệu người dân Việt mà trong đó có 8 trăm nghìn người di tản đã lìa bỏ Việtnam. Con đường hòa giải dân tộc rất còn xa vời vì nó đầy gian nan, cạm bẩy và vụng về sau ba thập niên chiến tranh và đau khổ. Một trang lịch sữ đã khép lại  nhưng Việtnam phải trả  giá rất đắt không những trên phương diện con người và môi trường bởi vì vẫn tiếp tục nhận  những hậu quả không  ước lượng nổi của bao nhiêu thập niên chiến tranh (chất độc da cam chẵng hạn). Theo tờ báo thông tin của Unesco ghi lại tháng năm năm 2000, một tổ chức làm việc dưới sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc, ước tính có một phần năm rừng ở miền nam bị hủy hoại bởi các thuốc diệt cỏ của Hoa Kỳ.

Người trai trẻ Việtnam ngày nay không biết hận thù  và cũng không có nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh. Nhưng thách thức  nghèo đói  vẫn   còn rình rập đeo đuổi. Bóng ma chiến tranh nó vẫn còn đó theo dòng ngày  tháng  ở biển Đông với các đảo Hoàng Sa bị cưởng đoạt  năm 1974 và Trường Sa gần đây bởi người phương Bắc mà  mối đe dọa càng ngày càng quá khiêu khích. Trước tham vọng quá đỗi của Trung Quốc, bài thiên sữ thi « Nam Quốc Sơn Hà » của tướng Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm, khẳng định lại chủ quyền của Việtnam, nó trở lại ám ảnh tâm trí và vang âm trong trái tim của người con Việt.  Tuy rằng với bao nỗi lo âu và cuộc sống quá tồi tệ, không ai có thể quên đi  được mãnh đất  nầy mà người con Việt thường gọi là Quê Hương vì  chỉ ở nơi  nầy  có thể tìm lại kỷ niệm của tuổi ấu thơ, mái trường xưa và  quá khứ. Mặc dầu mãnh đất nầy  nó đồng nghĩa với chữ nghèo nàn và khổ cực, nó là lý lẽ sống đấy vì ông cha ta  tranh đấu và giành được từ  khi lập nước với mồ hôi, nước mắt và xương máu. Cũng như mẹ, mỗi người con dân Việt  chỉ có một người mẹ duy nhất trong đời không ai có thể thay thế được. Ngoài làng ra, hình ảnh đình, con trâu hay cây tre không bao giờ xoá mờ trong kí ức tập thể của người con Việt cả. Đối với những người con Việt viễn xứ, đây chỉ là một khoảng thời gian tạm thời thôi   chớ nó không phải là một kết cục chính. Hình bóng Quê Hương nó vẫn  đeo đuổi mãi  họ với biết bao trìu mến và luyến tiếc.

Những bài mới viết gần đây

Edification de l’église Notre Dame de Paris

 

Version vietnamienne

Il m’est difficile d’encadrer ces photos car le nombre d’admirateurs est trop élevé mais il est indispensable pour ceux qui veulent avoir un regard sur l’évolution de son édification. Partant d’une église romane jusqu’à devenir une église gothique, il y a un long chemin à parcourir prenant plus de deux siècles, de 1160 jusqu’au milieu du 14ème siècle.  Beaucoup de modifications et d’ajouts étant ajoutés, elle devient ainsi un chef-d’œuvre de Paris que personne ne peut oublier  lors de son passage à Paris. Le nombre de visiteurs s’élève à 13 millions par an ou plus 30.000 touristes par jour.  Elle est toujours la première sur la liste des sites touristiques à Paris devant la tour Eiffel et le musée du Louvre.  Cette église est l’une des premières églises construites avec le style gothique. Celui-ci est basé essentiellement sur la technique de la voûte sur croisée d’ogive  (ses arcs brisés se croisent en  diagonales et s’appuient non pas sur deux piliers mais sur quatre piliers). Cette technique apporte non seulement la lumière grâce à un nombre élevé de fenêtres (vitraux)  mais aussi l’élévation et la finesse extraordinaire. Pourquoi gothique ? Ce mot est employé par les Romains pour faire allusion à des Goths,  des peuplades barbares situées dans le Nord de l’Europe (les Français d’autrefois).

Évolution dans l’édification de l’église Notre Dame de Paris

Version vietnamienne

Rất khó chụp ngay ngắn các tấm ảnh nầy vì số người xem quá nhiều nhưng rất cần thiết để ai muốn có cái nhìn về sự biến chuyển xây dựng nhà thờ Đức Bà ở Paris. Từ một nhà thờ nhỏ bé với phong cách xưa (romane) mà đến phong cách gothique thì có một đoạn đường khá dải hơn hai thế kỷ từ  1160 đến giữa thế kỷ 14, có nhiều sửa chữa và bổ túc khiến nhà thờ nầy trở thành một kiệc tác của Paris mà không ai có thể quên khi đến tham quan Paris. Số lượng người đi xem  là 13 triệu người mỗi năm có nghĩa là hơn 30.000 du khách mỗi ngày. Nó luôn luôn đứng đầu trong danh sách các nơi tham quan ở Paris, trước tháp Eiffel  và điện Louvre. Nhà thờ nầy là một trong những nhà thờ xây dựng đầu tiên  với phong cách gothique. Phong cách nầy dựa trên các vòm mà có ở các nơi bắt tréo hình nhọn  và gân cung. Nhờ vậy trọng lượng của vòm nó không dựa trên hai trụ mà 4 trụ. Phong cách nầy đem lại không những sự  sáng sủa nhờ có nhiều cửa sổ mà còn cao vút tạo ra sự tao nhã lạ thường.    Tại sao gọi gothique ? Thuật ngữ gothique dùng  bởi người La Mã để ám chỉ dân  Goth, dân mọi rợ đến từ phiá  Bắc (người Pháp thưở xưa).  

Les Mayas (Nền văn minh Maya): Partie 2

 

Version vietnamienne

Version française

Malgré cela, une percée significative dans le déchiffrement de l’écriture maya eut lieu dans les années 1950 grâce aux travaux du linguiste russe Yuri Knorosov. Ce dernier parvint à prouver que l’écriture utilisée par les Mayas pour la transcription de leur langue, était de type logo-syllabique (de 900 à 1200 signes) comparable à l’égyptien classique (734 signes). Puis en 1978, l’épigraphiste américain de l’université Stanford, J. Justeson introduisit dans sa thèse consacrée à l’écriture maya, l’idée de compléments phonétiques. Même une grammaire se constitua récemment dans les années 1980-1990 avec les travaux de L. Schele (1982), B. Macleod (1983) et V. Bricker (1986). Cela facilite la meilleure compréhension de la tradition écrite par des Mayas.

Aujourd’hui, on peut dire que l’écriture maya est de type logo-phonétique. Grâce à cette avancée dans le décryptage et dans les fouilles archéologiques, on est obligé de modifier la vision qu’on a eue à l’égard des Mayas en saisissant tout ce qu’ils avaient laissé dans le corpus hiéroglyphique composé actuellement de plus de dix mille textes.

 

 Cho đến năm 1950, nhờ  nhà ngôn ngữ nga Yuri Knorosov mà  hệ thống chữ viết Maya được giãi mã.  Ông nầy đã  chứng minh  lối  viết của người Maya trong việc phiên âm là loại logo âm tiết (từ 900 đến 1200 dấu) so với lối viết của người Ai Cập (734 dấu). Rồi đến 1978, nhà nghiên cứu  văn khắc người Mỹ, ông J. Juteson của đại học Stanford đưa vào trong luận án dành về văn tự của người Maya, một ý niệm về việc bổ sung ngữ âm. Có luôn cả văn phạm của người Maya được cung cấp gần đây trong những năm 1980-1990 với các công việc của L. Schele (1982), B. Macleod (1983) và  V. Bricker (1986). Nhờ đó mà sự hiểu biết về lối viết của người Maya đuợc thông suốt từ đây. Ngày nay, có thể khẳng định là chữ viết của người Maya là loại logo âm tiết.  Nhờ viêc tiến triển trong việc giãi mã và các cuộc khai quật mà  cái nhìn về người Maya cũng được thay đổi nhất là với những gì họ để lại trong kho tàng tượng hình gồm có hiện nay hơn mười ngàn  văn bản.

Les Mayas (Nền văn minh Maya): Partie I

Version vietnamienne

Qui sont ces mayas?

Selon certains archéologues, les Mayas ont leur origine asiatique avec leurs traits. On pourrait penser à l’arrivée, sur le territoire vierge d’Amérique, de leurs ancêtres, des chasseurs venus d’Asie, à la poursuite du gibier en franchissant le détroit de Behring au cours de la dernière période glaciaire. Cette théorie reste séduisante et convaincante dans la mesure où on trouve chez les Mayas des techniques rencontrées en Asie: céramique, filage et tissage ainsi que certains concepts d’ordre religieux (chamanisme) et cosmique comme les associations de couleurs et d’animaux célestes aux quatre points cardinaux. (Ngũ hành). Grâce à la découverte des monuments de la ville de Copán (Honduras) envahis par la végétation dans les vapeurs de la jungle tropicale par l’explorateur américain John Lloyd Stephens et son compagnon illustrateur Frederick Catherwood en 1840, on recommence à s’intéresser à leur civilisation, leur mode de vie, leurs connaissances scientifiques (astronomie, mathématiques, architecture, agriculture etc…) et surtout leur écriture glyphique. Celle-ci est un système d’écriture complexe et incompréhensible qui n’est pas conçu pour les transactions commerciales comme les autres écritures anciennes. Elle n’est pas destinée à la basse couche de la société maya mais elle est un moyen pour les nobles et les scribes de s’adresser aux dieux et de légitimer le pouvoir de leurs souverains considérés à l’égal des dieux. Cela décourage un grand nombre de savants et de chercheurs qui qualifiaient avec résignation dans le passé cette écriture maya de « problème insoluble ». Leur déchiffrement devient de plus en plus ardu car lors de l’arrivée des conquistadors espagnols sur le territoire des Mayas, la plupart de leurs manuscrits (ou codex) furent brûlés sur un bûcher par l’évêque Diego de Landa à Mani (Yucatan). 

Ce dernier trouva dans ces codex des formules de rituel avec une écriture glyphique incompréhensible, une entrave à sa mission de christianisation et un caractère de superstition et de mystification du démon. On estime qu’il fit détruire 70 tonnes de témoignages écrits par les Mayas ainsi que 5000 idoles. Pourtant il fut l’un des meilleurs chroniqueurs de la civilisation maya. Beaucoup de gens eurent du mal à croire, à cette époque, que ces Indiens misérables vivant à côté des ruines mystérieuses de Copán découvertes par John Lloyd Stephens et Frederick Catherwood, étaient les descendants des bâtisseurs de cette civilisation. Pourtant ils furent, à l’époque précolombienne, le seul peuple d’Amérique centrale à avoir poussé aussi loin l’exploration d’un système complexe d’écriture dans le but de donner cohésion et unité à leur culture autant diverse que variée, d’une région à une autre, au niveau de la composition ethnique et matérielle. Malgré un grand nombre élevé de dialectes (une trentaine en tout), on a retrouvé les mêmes hiéroglyphes, la même écriture en divers points de l’Amérique centrale soit sur les basses terres de tout le Yucatan soit dans les hautes terres du Guatemala ou dans le territoire traversé par les rivières Usumacinta et Sarstoon. Analogues aux Egyptiens avec le papyrus et aux Chinois avec la fibre de mûrier, les Mayas ont réussi à fabriquer le papier avec les fibres d’une espèce de figuier. Cela leur permit d’enregistrer leurs rites religieux, leurs observations scientifiques et leurs annales dans des codex présentés sous la forme des grandes feuilles de papier plissées verticalement en accordéon. À cause de l’autodafé de livres mayas organisé par Diego de Landa, il ne reste aujourd’hui que 4 codex mayas dont les trois premiers sont: le Codex de Dresde (Codex Dresdensis), le Codex Tro Cortesianus (ou Manuscrit de Madrid), le Codex Peresianus (ou Manuscrit de Paris) dans les bibliothèques de Dresde, de Madrid et de Paris et le quatrième connu comme le Codex Grolier découvert en 1971 par Michael Coe, un chercheur américain de l’université Yale.(Suite: Partie 2)

Người Maya

Theo các nhà khảo cổ học, người Maya có nguồn gốc đến từ Châu Á nếu dựa trên nét mặt. Có thể nghĩ rằng trên mảnh đất hoang sơ của Châu Mỹ, ông cha họ đến khi còn là những người đi săn bắn đến từ Châu Á . Vi đeo đuổi các thú rừng nên họ vượt qua eo biển Behring trong thời kỳ cuối băng hà. Giả thuyết nầy có vẽ thuyết phục và hấp dẫn vì chúng ta nhận thấy ở những người Maya có những kỹ thuật thường được trông thấy ở Châu Á : gốm, việc xe sợi và dệt vải, những khái niệm mang tính chất tôn giáo (saman giáo) và vũ trụ cũng như sự kết hợp các màu và động vật thiên ở bốn phương (Ngũ hành). Nhờ nhà thám hiểm người Mỹ, ông John Lloyd Stephens cùng bạn đồng hành họa sỹ Frederick Catherwood khám phá vào năm 1840, các công trình của thành phố Copán (Honduras) bị bao phủ bởi cây cối và chìm đắm trong sương mù của rừng nhiệt đới mà văn minh của người Maya được quan tâm lại nhất là lối sống của họ, những kiến thức khoa học ( thiên văn, toán học, kiến trúc, canh nông và nhất là chữ viết của họ. Lối viết nầy rất phức tạp không dùng trong việc buôn bán cũng như các văn tự cổ khác. Nó không dành cho giới hạ tầng cũa xã hội mà nó là một phương tiện cho giới qúi tộc và các biện lại để tiếp cận với thần thánh và hợp pháp hóa quyện lực của vua chúa được xem như ngang hàng với các thần thánh. Chính vì vậy biết bao nhiêu nhà khảo cứu xem vặn tự của họ là một vấn đề nan giải nhất là với sự xâm nhập của đoàn viễn chinh Tây Ban Nha trên lãnh thổ của người Maya thì bao nhiêu sách vỡ (hay codex) ở Mani (Yucatan) đều bị giám mục Diego de Landa đốt cả. Qua những công thức nghi lễ được tìm thấy trong các codex với lối viết theo những họa tiết không thể hiểu nổi, ông cho rằng đây là một trở ngại trong việc truyền bá đạo công giáo và nó có tính chất dị đoan mê tín. Có ít nhất 70 tấn tang chứng văn tự của người Maya bị tiêu hủy cùng 5000 thần tượng.

Tuy nhiên ông Diego de Landa là một trong những nguời thời luận xuất sắc về văn hóa Maya. Rất nhiều người không nghỉ rằng ở thời đó có những bộ tộc nghèo đói sống ở vùng đất hoang tàn Copán mà được John Lloyd Stephens và Frederick Catherwood khám phá là con cháu của những người xây dựng một nền văn minh Maya cổ. Tuy nhiên ở thời kỳ tiền Colombo, họ là một dân tộc duy nhất ở Trung Mỹ đã khảo sát tĩ mĩ một hệ thống chữ viết phức tạp để mang lại sự liên kết chặt chẽ và thống nhất cho nền văn hóa của họ nhất là nó rất phong phú và khác nhau từ vùng nầy qua vùng kia trên phương diện sắc tộc và vật chất. Mặc dầu có 30 thổ ngữ, người ta vẫn tìm thấy một loại chữ viết tượng hình như nhau ở khắp nơi vùng Trung Mỹ dù nơi đó là đồng bằng Yucatan hay là vùng cao nguyên của Guatemala hoặc là vùng đất có các con sông Usumacinta và Sarstoon. Cũng như người Ai Cập với giấy cói và nguời Trung Hoa với sợi dâu, người Maya họ tìm ra trong việc chế tạo giấy với sợi của cây vả ( hay cây sung). Nhờ vậy họ ghi chép lại tất cả lễ nghi tôn giáo, các cuộc quan sát khoa học cùng các biên sử trong các codex dưới dạng các tấm giấy lớn được gấp dựng đứng như đàn phong cầm. Vì sự thiêu hủy sách vở do ông Diego de Landa đề xướng, chỉ còn hiện nay 4 codex của người Maya: codex de Dresde, codex Tro Cortesianus (hay là bản thảo Madrid) và codex Peresianus (hay là bản thảo Paris) thì thuộc về các  thư viện Dresde, Madrid và Paris còn  codex thứ tư được gọi là codex Grolier khám phá vào năm 1971 bởi Michael Coe, một nhà nghiên cứu Mỹ của đại học Yale. (Tiếp theo)

Duy Tân (1907-1916) (English version)

duytan_empereur

Version française

 A great homage to the man who has dedicated all his life for his people and his country.

Một đời vì nước vì dân
Vĩnh San đứa trẻ không cần ngôi vua
Tù đày tử nhục khi thua
Tử rồi khí phách ông vua muôn đời

With the agreement of the Vietnamese authorities, the ashes of emperor Duy Tân interred up to now in the Republic of Central Africa were gathered with great pomp on April 4th, 1987 in Huế, the city of imperial mausoleums of the Nguyen dynasty. This has brought an end to a long and painful banishment that has had prince Vĩnh San often known as Duy Tân ( or Friend of Reforms ) since his uprising plan against the colonial authorities was discovered on May 4, 1916 because of the treason of a collaborator, Nguyễn Ðình Trứ.

Duy Tân is an outstanding character that none of the last emperors of the Nguyễn dynasty could be equal to. One can only regret his sudden disappearance due to a plane crash that took place at the end of 1945 on his way back from a mission from Vietnam. His death continues to feed doubt and remains one of the mysteries not elucidated until today. One found in him at that time not only the unequal popularity he knew how to acquire from his people, the royal legitimacy, but also an undeniable francophile, an alternative solution that general De Gaulle contemplated to propose to the Vietnamese at the last moment to counter the young revolutionary Hồ Chí Minh in Indochina. If he had been alive, Vietnam probably would not have known the ill-fated decades of its history and been the victim of the East-West confrontation and the cold war.

It is a profound regret that every Vietnamese could only feel when talking about him, his life and his fate. It is also a misfortune for the Vietnamese people to have lost a great statesman, to have written their history with blood and tears during the last decades.

His ascension to the throne remains a unique occurrence in the Annals of history of Vietnam. Taking advantage of suspicious anti-french schemes and the disguised lunacy of his father, emperor Thành Thái, the colonial authorities compelled the latter to abdicate in 1907 and go into exile in the Reunion at the age of 28. They requested that Prime Minister Trương Như Cường assume the regency. However this one while categorically refusing this proposal, kept demanding the colonial authorities to strictly respect the definite agreement in the Patenôtre Treaty of Protectorate (1884) providing that the throne comes back to one of the emperor’s sons in case he ceases reigning ( Phụ truyền tử kế ). Facing popular opinion and the infallible fidelity of Trương Như Cương to the Nguyen dynasty, the colonial authorities were forced to choose one of his sons as emperor. They did not hide their intention of choosing the one that seemed docile and without caliber. Except Vĩnh San, all of about 20 other sons of emperor Thành Thái were present at the moment of selection made by the General Resident Sylvain Levecque. The name Vĩnh San missed at the roll-call, which forced everyone to look for him everywhere.

Finally he was found under the beam of a frame, his face covered with mud and soak with sweat. He was chasing the crickets. Seeing him in this sordid condition, Sylvain Levecque did not hide his satisfaction because he thought only a fool would choose the day of ascession to the throne to go chasing the crickets. Upon the recommendation of his close collaborator Charles, he decided to designate him as emperor of Annam as he found in front of him a seven-year old child, timid, reserved, having no political ambition and thinking only to devote himself to games like children of his age. It was an erroneous judgment as stated in the comment of a French journalist at that time in his local newspaper:

 A day on the throne has completely changed the face of an eight-year old child. 

One noticed a few years later that the journalist was right because Duy Tân has dedicated all his life for his people and his country until his last breath of life.
At the time of his ascension to the throne he was only 7. To give him a stature of an emperor, they had to give him one more year of age. That is why in the Annals of history of Vietnam, he was brought to the throne at 8 years of age. To deal with this erroneous designation, the colonial authorities installed a council of regency constituted of Vietnamese personalities close to General Resident Sylvain Levecque ( Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh, Cao Xuân Dục) to assist the emperor in the management of the country and requested that Eberhard, the father-in-law of Charles be Duy Tân’s tutor. It was a way to closely supervise the activities of this young man.

Trần Cao Vân

In spite of that, Duy Tân succeeded in evading the surveillance network placed by the colonial authorities. He was one of the fierce partisans for the revision of the Patenotre agreements (1884). He was the architect of several reforms: Tax and chore duty reduction, elimination of wasteful court protocols, reduction of his own salary etc… He forcefully protested the profanation of emperor Tự Ðức’s tomb by General Resident Mahé in his search for gold, with the governor of Indochina Albert Sarraut. He claimed the right to look at the management of the country. This marked the prelude of dissension which grew more and more visible between him and the French Superior Resident. On May 4, 1916, with Trần Cao Vân and Thái Phiên, he fomented a rebellion which was discovered and put down due to the treason of one of his collaborators. Despite his capture and flattering advice of the Governor of Indochina asking him to reexamine his comportment and conduct, he continued be impassible and said: 

If you compelled me to remain emperor of Annam, you should consider me as an adult emperor. I should need neither the council of regency nor your advice. I should manage the country’s business on the same footing with all foreign countries including France.

Facing his unwavering conviction, the colonial authorities had to assign the Minister of Instructions of that time, the father-in-law of future emperor Khải-Ðịnh, Hồ Ðắc Trung to institute proceedings against his treason toward France. For not compromising Duy Tân, the two older collaborators Trần Cao Vân and Thái Phiên made it known to Hồ Đắc Trung their intent to voluntarily accept the verdict provided that emperor Duy Tân was exempt from the capital punishment. They kept saying:

The sky is still there. So are the earth and the dynasty. We wish long live to the emperor.

 

Faithful to the Nguyen dynasty, Hồ Ðắc Trung only condemned the emperor to exile in justifying the fact that he was a minor and that the responsibility of the plot rested with the older collaborators Trần Cao Vân and Thái Phiên.

The men were guillotined at An Hoà. As for emperor Duy Tân, he was condemned to exile to the Reunion on November 3, 1916 on board of the steamship Avardiana. The day before his departure, the representative of the General Resident visited him and asked:

Sir, if you need money you may take it from the state coffer.

Duy Tân replied politely :

The money that you find in the coffer is intended to help the king to govern the country but it does not belong to me in anyway especially to a political prisoner.

To entertain the king, the representative did not hesitate to remind him that it was possible to choose preferred books in the library and take them with him during his exile because he knew the king loved to read very much. He agreed to that proposal and told him:

I love reading very much. If you have the chance to bring books for me, don’t forget to bring the entirety of all the volumes of « History of the French Revolution » of Michelet.

The representative dared not report to the Resident what Duy Tan had told him.

His exile marked not only the end of the imperial resistance and the struggle monopolized and animated up until then by the scholars for the defense of the Confucian order and the imperial state but also the beginning of a national movement and the emergence of a state nationalism placed in birth by the great patriot scholar Phan Bội Châu. It was also a lost chance for France for not taking the initiative to give freedom to Vietnam in the person of Duy Tân, a francophile of the first hour.

His destiny is that of the Vietnamese people. For a certain time, one has deliberately made all streets bearing his name disappear in big cities ( Hànội, Huế, Sàigon ) in Vietnam, but one cannot forever erase his cherished name in his people’s heart and in our collective memory. He is not the rival of anybody but he is on the contrary 

the last great emperor of Vietnam.

To this title I dedicate to him the following four verses:

Devoting his whole life to his country and people,
Duy Tan the kid did not hang on to his throne.
Facing exile and humility when defeated,
His uprightness lives forever in history unabated.