La pagode du Maître (Chùa Thầy)

 

Version française

 Cách trung tâm Hà Nội khoảng 20 cây số, chùa Thầy  tọa lạc  ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc Oai, xã Sài Sơn và được xây dựng từ thời nhà Đinh. Chùa nầy là một trong ba chủa nổi tiếng nhất ở đất Hà Thành mà còn là chủa có liên quan mật thiết đến quãng đời sau cùng của thiền sư Từ Đạo Hạnh. Ông  thuộc thế hệ thứ 12 của  dòng Thiền Ti-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) và còn được xem là tiêu biểu cho khuynh hướng Mật Tông qua những pháp thuật.  Ông là  thủy tổ múa rối nước. Vốn ưa thích múa hát, ông đã dạy dân hát chèo, sáng tạo nên trò múa rối nầy  và truyền dạy cho dân chúng. Chính ở giữa hồ Long Trì mà ngày lễ hội thường  thấy ở thủy đình có trò múa rối nước.

Từ Đạo Hạnh không những  là một thiền sư rất uyên thâm hiểu biết mà còn là một danh nhân văn hóa. Chính vì vậy công lao của ông đóng góp với  đất nước và dân gian rất lớn  duới triều Lý cho nên ông được dân gian biết ơn sùng kính  thường gọi ông là Thầy, là Thánh hay Phật. Cuộc đời của ông cũng không thiếu màu sắc huyền thoại từ việc  hóa thân thành con trai của Sùng Hiền hầu là Lý Dương Hoán, chính là vua  Lý Thần Tông sau này  đến  cái chết của ông được dân chúng thần thánh hóa trở thành cái chết đẹp và để trở thành người khác với cuộc sống mới   qua bài kệ thi tịch  của ông:

Thu lai bất báo nhạn lai quy,
Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi.
Vị báo môn nhân hưu luyến trước,
Cổ sư kỉ độ tác kim sư.

Dịch nghĩa

Mùa thu về không báo tin cho chim nhạn cùng về,
Đáng cười người đời cứ nảy sinh buồn thương [trước cái chết].
Khuyên các môn đồ chớ có vì ta mà quyến luyến,
Thầy xưa đã bao nhiêu lần hoá thân làm thầy nay.(*)

 Ông trở thành  là người mở đầu cho dân gian  một tín ngưỡng thờ Thánh Tổ hòa trộn vào Phật giáo qua mô hình  « Tiền Phật – Hậu Thánh ». Đây cũng  là  một thể thức tôn sùng từ đó ở chùa của người dân Việt  dành cho những người có công đức hay  gần gũi và bảo trợ  dân gian. 

(*) Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập I), NXB Khoa học xã hội, 

Version française

Loin du centre-ville de Hànội de 20 km, la pagode du Maître est située au pied de la montagne Sài Sơn dans la commune du district Quốc Oai. Celle-ci fut édifiée à l’époque de la dynastie des Đinh.  Elle est  l’une des trois  pagodes  célèbres de la capitale Hanoï mais elle est liée intimement aussi à la durée de vie restante du moine zhen Từ Đạo Hạnh. Celui-ci appartint à cette époque à la douzième génération de l’école   Vinitaruci  et il fut considéré comme le représentant du bouddhisme tantrique à travers ses pouvoirs magiques. Il est aussi le créateur du spectacle des marionnettes sur l’eau. Étant passionné pour les danses et les  chansons  traditionnelles, il a appris au peuple  le théâtre populaire  ainsi que la façon de se distraire avec  les marionnettes sur l’eau.  C’est au milieu de l’étang du Dragon que se déroule fréquemment le spectacle des marionnettes sur l’eau à l’occasion des festivités locales.   Từ Đạo Hạnh était non seulement  un moine ayant  une profonde connaissance mais aussi un illustre personnage culturel.  C’est pour cela que ses contributions étaient énormes   pour le peuple et le pays si bien que tout le monde  exprimait sa gratitude en l’appelant souvent « Maître », « Saint » ou « Bodhisattva ». Il ne manque pas la coloration mythique dans la vie de ce moine zhen. De son incarnation dans le personnage du roi Lý Thần Tông, fils de Lý Dương Hoán jusqu’à sa mort que le peuple a mystifiée en lui donnant une belle mort et une réincarnation avec une nouvelle vie à travers son  kê (une sorte de stance bouddhique): 

Le retour de l’automne n’accompagne pas celui des hirondelles,
Je désapprouve les gens continuant à s’accrocher à  leur vie avec tristesse et douleur  devant la mort
Il est déconseillé à mes disciples de  montrer trop d’attachements émotionnels à cause de moi,
Étant l’ancien maître,  j’ai incarné tant de fois pour devenir le maître d’aujourd’hui.(*)

Il  est le premier à introduire au peuple le culte des personnages déifiés dans le bouddhisme  à travers le modèle « Devant Bouddha-Derrière les Saints ou les personnages déifiés ». C’est une forme de vénération adoptée à cette époque  par les Vietnamiens pour exprimer leur gratitude envers tous ceux qui avaient la vertu et le mérite de les protéger dans le quotidien.

Musée des beaux-arts (Bảo tàng mỹ thuật Hànội)

 

Bảo tàng mỹ thuật

Version vietnamienne

 Le musée des beaux-arts est  situé en au cœur de la capitale Hànội. Il est en face du temple de la littérature (Văn Miếu). Il est peu connu par rapport à celui d’ethnographie.  De la préhistoire jusqu’à nos jours,  l’art vietnamien y est bien présenté. On s’y voit proposer un très large éventail d’œuvres.   Celles-ci  sont réparties sur trois étages thématiques. On peut y découvrir l’ensemble des techniques: céramique, sculpture, laque, peinture sur soie et sur papier de mûrier, arts populaires etc…. 

La partie réservée aux laques est très magnifique. On y trouve  la belle collection de Bouddhas de la pagode Tây Phương. C’est le point culminant de la sculpture ancienne  du Vietnam  à l’époque de Tây Sơn. Cette dernière  ne subsiste que 14 ans (1788-1802). Ses statues sont dans des postures et des attitudes assez surprenantes.  On y voit  un style particulier mais aussi le réalisme et l’humanisme.   

Le sculpteur artisan réalise  chaque statue  avec soin malgré le caractère religieux. Il tente   de montrer la particularité de sa propre personnalité, ses sentiments et sa dévotion.  On peut  passer facilement  deux heures dans ce beau musée.  Il y a peu de visiteurs. Cela vaut quand même le détour lorsqu’on a l’occasion de visiter Hànội.

Version vietnamienne

Tọa lạc ỏ giữa lòng thủ đô Hànội  ngang mặt Văn Miếu , bảo tàng mỹ thuật ít  được biết  so với bảo tàng dân tộc học.  Tuy nhiên chính là địa điểm không nên bỏ qua được cho những ai thích mỹ thuật Việt Nam từ thời tiền sử cho đến ngày nay.  Chính ở  nơi nầy tìm thấy  ở ba tầng rất nhiều kiệt tác được phân phối trưng bài theo chủ đề và khám phá   các kỹ thuật gồm có nhiều lĩnh vực (như gốm, điêu khắc,  sơn mài,  tranh lụa hay giấy dó, nghệ thuật dân gian vân vân …). 

Gian nhà dành cho sơn mài rất tráng lệ với các tượng tổ sư của phái Thiền Tông và các vị Kim Cương ở chùa Tây Phương. Có thể nói các tượng nầy được xem như là đạt được đến đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc cổ Việtnam dưới triều đại Tây Sơn dù thời đai nầy chỉ có tồn tại 14 năm  (1788-1802). Chính qua các tư thế và hình dáng đáng ngạc nhiên của các tượng mà nhận ra được không những sự thành hình phong cách cá biệt mà còn làm trội lên tính hiên thực và tính nhân văn.

Dù có tính chất tôn giáo, mỗi tượng là một kiệt tác được hoàn thành một cách tĩ mĩ bỡi người điêu khắc với chủ đích làm sao để nổi bật nét đặc thù cá tính, cảm giác và sùng kính mà họ  có. Có thể mất hai tiếng dẽ dàng khi đến tham quan bảo tàng mĩ lệ nầy. Ít có du khách lắm  nhưng cũng đáng  để đến tham quan khi có dip đến Hànội.

66 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam

 

Fine art museum

Edification de l’église Notre Dame de Paris

 

Version vietnamienne

Il m’est difficile d’encadrer ces photos car le nombre d’admirateurs est trop élevé mais il est indispensable pour ceux qui veulent avoir un regard sur l’évolution de son édification. Partant d’une église romane jusqu’à devenir une église gothique, il y a un long chemin à parcourir prenant plus de deux siècles, de 1160 jusqu’au milieu du 14ème siècle.  Beaucoup de modifications et d’ajouts étant ajoutés, elle devient ainsi un chef-d’œuvre de Paris que personne ne peut oublier  lors de son passage à Paris. Le nombre de visiteurs s’élève à 13 millions par an ou plus 30.000 touristes par jour.  Elle est toujours la première sur la liste des sites touristiques à Paris devant la tour Eiffel et le musée du Louvre.  Cette église est l’une des premières églises construites avec le style gothique. Celui-ci est basé essentiellement sur la technique de la voûte sur croisée d’ogive  (ses arcs brisés se croisent en  diagonales et s’appuient non pas sur deux piliers mais sur quatre piliers). Cette technique apporte non seulement la lumière grâce à un nombre élevé de fenêtres (vitraux)  mais aussi l’élévation et la finesse extraordinaire. Pourquoi gothique ? Ce mot est employé par les Romains pour faire allusion à des Goths,  des peuplades barbares situées dans le Nord de l’Europe (les Français d’autrefois).

Évolution dans l’édification de l’église Notre Dame de Paris

Version vietnamienne

Rất khó chụp ngay ngắn các tấm ảnh nầy vì số người xem quá nhiều nhưng rất cần thiết để ai muốn có cái nhìn về sự biến chuyển xây dựng nhà thờ Đức Bà ở Paris. Từ một nhà thờ nhỏ bé với phong cách xưa (romane) mà đến phong cách gothique thì có một đoạn đường khá dải hơn hai thế kỷ từ  1160 đến giữa thế kỷ 14, có nhiều sửa chữa và bổ túc khiến nhà thờ nầy trở thành một kiệc tác của Paris mà không ai có thể quên khi đến tham quan Paris. Số lượng người đi xem  là 13 triệu người mỗi năm có nghĩa là hơn 30.000 du khách mỗi ngày. Nó luôn luôn đứng đầu trong danh sách các nơi tham quan ở Paris, trước tháp Eiffel  và điện Louvre. Nhà thờ nầy là một trong những nhà thờ xây dựng đầu tiên  với phong cách gothique. Phong cách nầy dựa trên các vòm mà có ở các nơi bắt tréo hình nhọn  và gân cung. Nhờ vậy trọng lượng của vòm nó không dựa trên hai trụ mà 4 trụ. Phong cách nầy đem lại không những sự  sáng sủa nhờ có nhiều cửa sổ mà còn cao vút tạo ra sự tao nhã lạ thường.    Tại sao gọi gothique ? Thuật ngữ gothique dùng  bởi người La Mã để ám chỉ dân  Goth, dân mọi rợ đến từ phiá  Bắc (người Pháp thưở xưa).  

Dâu pagoda (Chùa Dâu)

Version française

Version vietnamienne

Pagode Dâu,Vietnamese buddhism cradle

 

 Dâu pagoda  visible from its porch

 
  About 30 kilometers from Hanoï, Dâu pagoda is the most religious building in Vietnam because it was constructed in early Christian times in Dâu region known frequently during this period under the name “Luy Lâu”. In Chinese times, Luy Lâu was considered as the capital of Giao Châu (Giao Chi) from 111 B.C. until 106 B.C. At that time, according to Vietnamese researcher Hà Văn Tấn , the buddhist influence coming from India was accepted very early until the 5th century. Chinese governor Si Xie ( Sĩ Nhiếp in vietnamese) (177-266) also was accompagnied   in town by clerics coming from India (người Hồi) or Central asia (Trung Á) for each trip. At the end of the second century, Luy Lâu becames the first vietnamese buddhist centre  with 5 old pagodas: Dâu pagoda devoted to cloud genius  Pháp Vân (“thần mây”), pagoda Đậu to rain genius Pháp Vũ ( “thần mưa”), Tướng pagoda to thunder genius Pháp Lôi  (“thần sấm”),   Dàn pagoda to thunderbold genius Pháp Điện ( “thần chớp”) and main pagoda belonging to the mother  Man Nương of  that 4 geniuses (or Tứ Pháp in vietnamese). The Sino-Vietnamese words Dâu, Đậu, Tướng, Dàn  were preferred by the Vietnamese instead of using the names  Mây, Mưa, Sấm , Chớp (Cloud, rain, thunder and thunderbold) in close relation with the natural force found in the agricultural environment. The system based on that 4 geniuses evokes the subtle association between the buddhism  and popular beliefs coming from a  primitive society in Vietnam.

Accordingly, a lot of  Indian and foreign religious such as  Ksudra (Khâu Đà Là), Ma Ha Kỳ Vực (Mahajivaca), Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian did not wait long to stay at Luy Lâu and to preach the Buddhist teaching. The number of monks is so important that Luy Lâu becames in just a few years later the translation centre for sutras among which was found the famous sutra Saddharmasamadhi (Pháp Hoa Tam Muội) translated by kouchan monk Cương Lương Lâu Chi (Kalasivi) in the  3th century. According to  zen  monk  Thích Nhất Hạnh, one had the tendency to believe by mistake in the past that   Indian monk Vinitaruci introduced the Vietnamese Dhyana buddhism (Thiền) at the end of 6th century. During its passage to Luy Lâu in 580, he lived in the Pháp Vân monastery belonging to the dhyana school. It was during this time that  dhyana monk Quán Duyên  was beginning to teach here  the dhyana. 

Pictures gallery

Other monks went in China for preaching the Buddhist law before the arrival of  famous monk  Bodhidharma known as  the partriach of  dhyana  school  and Chinese martial art.  By now, it is known that Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội) monk coming from Sogdiana, had the merit of introducing the dhyana buddhism in Vietnam.  The Buddhism began to implant itself at Luy Lâu via  Man Nương history  and encountered no reluctance from the Vietnamese because it accepted the  tolerance and the traditional paganism. Thích Quang Phật and and Man Nương Phật Mẫu legends attested the easyness to aggregate  popular beliefs with  the buddhism.  One can say the marriage is successful between   buddhism and popular beliefs (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) found in the corner.  The Buddha’s birthday also was  that of 4 geniuses who became Buddhas. The mother Man Nương of these 4 geniuses was also venerated   as Avalokiteśvara. One did not hesitate to install the Buddha altar in places where these 4 geniuses have been venerated. From now on, the buddhism began to propagate longer in other regions of Tonkin.  The Vietnamese buddhism was the Mahayana and took two ways in its propagation: seaway from South Vietnam (Funan and Champa) and land way from North Vietnam via Yunan.

 

 

Vietnamese buddhism (Phật giáo Vietnam)

French version
We do not know exactly the date Buddhism was introduced into Vietnam but on the other hand, we are however certain that this new faith has come to Vietnam by maritime way by the strait of Malacca. Vietnamese Buddhism is above all Mayahana BuddhismGreat Vehicle or Ðài Thừa in Vietnamese ). It is less pure, often blended with philosophical concepts of Confucianism and TaoismAs Vietnam is situated on the big road of pilgrimage between China and India, the most part of Vietnamese scholars at that time were only Buddhist monks who knew Chinese and Sanskrit perfectly well.

When Vietnam was established as an independent state in 939 at the fall of the Tang dynasty, it was the Buddhist monks who, being the sole true holders of knowledge, helped the first dynasties to consolidate their power. Many among them held important political posts, such as Ngô Chấn Lưu and Ðặng Huyền Quang.

They also provided the first poets and prose writers of Vietnam. One can say that under the earlier Le and Ly dynasties, Vietnamese literature was constituted a great deal of learned poetry and of Buddhist inspiration composed by monks among whom were Lạc Thuận and Vạn Hạnh. Lạc Thuận was assigned by king Lê Ðại Hành to greet Chinese ambassador Li Jiao ( or Lý Giác ). To take the latter across the river, monk Lạc Thuận disguised himself as a sampan rower. When seeing two wild geese playing on the water crests, Li Jiao began to sing:

Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Ngữa mặt nhìn trời xa
Wild geese, look at the two wild geese!
They raise their heads and turn toward the horizon!

Monk Lac Thuân did not hesitate to finish the quatrain on the same rhymes while continuing to row:

Nước biếc phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh khua
Their white feathers stretch out on the blue-green water
Their pink feet, like rows, split the blue waves.

The parallelism of ideas and terms and especially the speed of improvisation of monk Lac Thuan struck the admiration of the Chinese ambassador. As for the second monk, Van Hanh helped king Lý Công Uẩn to get rid of the Ðinh decadents and found the Ly’ dynasty (1009-1225) that transferred the capital to Thăng Long (presently Hanôi). Van Hanh was not only a talented politician, he was also a poet. The Ly dynasty owed it rise to the influence and counsel of this monk, which explained the preeminence of Buddhism since that date. It thus became the state religion with a church run by a spiritual master of the kingdom (or Quốc Sự). Many of the sovereigns of this dynasty belonged to the sects Thiền (or Zen in Japanese or Tchan in Chinese).

Pictures gallery

They granted great favors to Buddhism, in particular Lý Thái Tôn, who, in 1031, after his victory over Champa, had over one hundred fifty monasteries built, not to include the construction of the famous one-pillar pagoda (Chùa Một Cột) following a dream. In spite of the beneficial influence of Buddhism, for the needs of a methodical organization and an effective administration of the country, the Ly dynasty had to adopt the Chinese model at all echelons of administration: the reshuffle of the hierarchy of functionaries (1089), the creation of exams (1075), the establishment of a imperial college (1076) (or Quốc Tự Giám) intended to teaching the children of the nobles, the creation of the Imperial Academy (1086) etc…Thanks to the development of lay education, the learned men began to replace the monks. Likewise, the diffusion of knowlege allowed the opening of a more varied and rich literature.

Buddhism declined and yielded to Confucianism only at the end of 13th century. This was due to several reasons: the struggle against the Mongols gave birth to a new leading class more Confucian than Buddhist lead by general Hung Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, the appearance of a new bureaucracy constituted of scholars and that of historical works to the detriment of Buddhist collections.

The Proclamation to The Troops ( or Hịch Tướng Sĩ ) by Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn or the Grand Victory of Chương Dương celebrated by his lieutenant Trần Quang Khải by means of the following four verses:

Chương Dương cướp giáo giặc,
Hàm tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức,
Non nước ấy nghìn thu. 

We have taken aggressors’ spears at the port of  Chuong Duong,
And captured enemies at the dock of Ham Tu.
May peace be the object of our supreme effort
And this land last forever.

witnessed  the opening of a literature richer, more national and historical. One continued to see the decline of Buddhism until 1963, the year when monk Thích Quảng Ðức immolated himself by fire to protest the regime of  president Ngô Ðình Diệm of South Vietnam.vehicule

This sacrifice did not turn out to be useless because it permitted the hastening of the fall of Diệm four months later and showed the whole nation that Buddhism, in spite of its spirit of tolerance and non-violence, could constitute a notable counterbalance to combat any forms of dictatorship and totalitarianism whose aim is to undermine moral foundations and conceptions of truth and solidarity found in Vietnamese civilization.

Vietnamese Buddhism thus regains for some decades not only its political role but also the dominating place it has lost for so long.

Bái Đính (English version)

French version

baidinh

Tràng An landscaped  complex 

Pagoda Bái Đính

Located on karst mountain ranges Tràng An in Ninh Bình province, the pagoda Bái Đính is very ancient. Its  reputation is confirmed for a long time under the successive dynasties Đinh, early Lê and Lý. Today, Bái Đính pagoda becomes an religious complex where one finds not only the old temple but also new temples under construction since 2003. Bái Đính pagoda is regarded  in Southeast Asia as the pagoda having the enormous  statue Buddha cast in bronze and imported from Russia.  This one has a height reaching 16 meters  and a weight of 100 tons.  500 arhats in white stone are disseminated  along a corridor  about 2 kilometers. This complex has a total surface of 539 ha whose 27 ha are reserved for the old pagoda, 80 ha for  new temples, a Buddhist study centre, waiting areas and car parks as well as lakes system.

 
World cultural heritage of Vietnam

Pictures gallery 

Ninh Bình (Hạ Long cạn)

 

 

Religion (English version)

French version

religion

Religion

The main religion in Vietnam remains Taoism. Catholics are about 8 million. The Buddhism practiced in Vietnam is definitely Mayahana or Great Vehicle Buddhism. Caodaism, a synthesis of Christianity, Buddhism and Confucianism, is well established in the region of Tay Ninh in the south of Vietnam with 3,000,000 followers. One finds also in the south of Vietnam toward Châu Ðốc and Long Xuyên, a derivative of Buddhism professed by the Hoà Hão sect (2 million followers). Mountain peoples have their animist cults while the descendents of the Chàm practice Hinduism or Islam. 

 

 

The vietnamese catholicism (Công giáo Vietnam)

French version

Contrary to other religions, Catholicism stumbled tremendously over several hardships at the beginning of its establishment in Việt-Nam (at the start of 16th century). This was due a great deal to the missionaries’ refusal to adhering and integrating the cult of ancestors and customs (polygamy, belief in spirits etc…) into Catholicism and at a time when Vietnam was troubled by ceaseless internal wars.

It is the period when Vietnam knew the same fate and condition as Japan’s with a legitimate dynasty put under the guardianship by a family of hereditary ministers. This was what father Alexandre de Rhodes noticed in his book « History of the Kingdom of Tonquin ». He stressed that what people said about Tonkinese Chúa has a lot to do with what was told about Japanese Daishi. Therefore Catholicism was perceived during that period in variable manner by the governing families Trịnh in the North and Nguyễn in the South in their never ending conflict, taking the king as their hostage. It was alternatively tolerated, forbidden or even persecuted. In spite of that, Catholicism began to find a favorable echo among the deprived and even in the royal court in the person of Alexandre de Rhodes himself.

Alexandre de Rhodes

He was an outstanding individual with his exceptional linguistic capabilities. He was born in Avignon in 1591 and issue of a family of merchants probably in Israelite birth. He was the one who was chosen to head and manage catholic missions to the Kingdom of Tonquin.

He tried to gain the favor of the lord by means of their entourage and gift giving, in particular clocks and books on mathematics. Thus, he found a very neat success with lord Trịnh Tráng in North Vietnam. On the other hand, he was chased by lord Sãi Vương in the South even though he had succeeded in converting a relative of his, baptized as Marie-Madeleine. Appalled by failure against the South, lord Trịnh Tráng held foreigners responsible, especially catholic missionaries. He ended up banning conversions under penalty of death. Indefatigable missionary Alexandre de Rhodes was finally expelled in May 1630 from Vietnam leaving behind at least 50,000 Catholics trained by Vietnamese catechists and a cultural heritage that no Vietnamese nowadays will do without. His name continues to be dear to our collective memory because thanks to him we are the only country in the Far East to have a Roman alphabet.

Inspired by Ricci’s and Diogo de Pantoja’s works on romanization of Chinese, he came up with giving us not only a linguistic notation system based on the tonalities of the Vietnamese tongue and completed for the circumstance with a system of accents used in Polish, Hungarian and Portuguese, but also an instrument of intellectual emancipation and cultural proliferation unequalled in the Far East. He published his Vietnamese-Latin-Portuguese dictionary in 1651. Because of his expulsion from Vietnam, his work was not finished and later was retaken and completed by Mgrs. Pigneaux de Behaine and Taberd. Vietnamese Catholicism only found its slack period during the Tây Sơn unrest and witnessed its apogee at the reunification of the country under the banner of emperor Gia Long. This one was protected and hidden by Mgr. Pigneaux de Behaine when he was still the young prince Nguyễn Ánh beaten, hunted down and chased by the Tây Sơn troops in the south of the Mekong delta (Hà Tiên, Poulo Condor). Faithful to the memory of the one who gave him food and helped him conquer the throne with his French mercenaries, Gia Long, during his reign, while respecting the missionaries and their Christians, has known how to adopt an attitude similar to emperor Kangxi’s of the Qing in China (1661-1722) by a blend of tolerance, interest and open mind even though he was in favor of the renewal of traditional Confucianism. His death (in 1820) was followed for forty years by an almost complete elimination of western influence and a series of persecutions against the Catholics under the reigns of Minh Mạng, Thiệu Trị and Tự Ðức.

In spite of that, Vietnamese Catholicism continued to grow somehow and arrived at, in the person of Nguyễn Trường Tộ, avoiding combining religion and France who pretended to defend against Atheists. Nguyễn Trường Tộ was born to a catholic family of Nghệ An (North Viê.t-Nam). Following bishop Gauthier in his voyage to Europe, he had the chance to take classes at Sorbonne in Paris at that time. With the view of a patriotic, catholic and intellectual Vietnamese having the chance to go abroad, he kept believing that the only way to save Vietnam from foreign threats and maintain independence for his country, would be primarily through opening up the borders not only for the French but also for the British and the Dutch and by a whole range of political, social and technological reform projects aiming at helping Vietnam to come out of isolation, to modernize and to be equipped with better technologies in order to confront foreign territorial ambitions.

His memorandum was unfortunately not sustained by emperor Tự Ðức. Facing a group of Confucian, strongly structured mandarins who surrounded the emperor poet Tự Ðức, he had to retire a few years later to his native town and died in 1871 taking with him the sadness of a catholic patriot to see his country sinking into chaos and servitude. Torn by his faith and patriotism, Nguyẽn Trường Tộ succeeded in showing us by his behavior and exemplary conduct that it is possible to be a fervent catholic and a defender of national independence at the same time.

Despite a long period of conflicting relations with the nation, Vietnamese Catholicism wrongly accused of connivance with foreigners, knows how to show along with its existence, not only its capability of resistance, resignation and adaptation but also its strength, vitality and active and constructive participation that the country needed in the dark moments of Vietnam’s history. Concerned with improving the lot of the deprived, Vietnamese Catholicism knows how to run in the past as well as at present, charitable and humanitarian activities worth the love of Christ through schools, orphanages etc…

That is how it succeed in penetrating the combination of the three religions (Buddhism, Confucianism and Taoism) and ends up with forming one body with the spirituality of Vietnam. Catholicism has for a long time been the second national religion. With 8 million Catholics, Vietnam becomes the second catholic country in Far East after the Philippines.

Pagode Dâu (Bắc Ninh)

 

Version vietnamienne
English version

Pagode Dâu,berceau du bouddhisme vietnamien
 

La pagode Dâu vue à partir de sa porche 

 

Loin de Hanoï d’une trentaine de kilomètres, la pagode Dâu est la pagode la plus ancienne du Vietnam car elle fut édifiée au début de l’ère chrétienne dans la région Dâu connue fréquemment à cette époque sous le nom « Luy Lâu ».  Au temps des Han (les Chinois), Luy Lâu  fut considérée comme la capitale de Giao Châu ( Giao Chỉ) de  111 av. J.C jusqu’à 106 av. J.C. À cette époque, elle reçut très tôt, selon le chercheur vietnamien Hà Văn Tấn,  l’influence bouddhiste venant de l’Inde jusqu’au Vème siècle. Le gouverneur chinois Shi Xie ( Sĩ Nhiếp en vietnamien)  (177-266) était accompagné souvent en ville par des religieux venant de l’Inde (người Hồi) ou de l’Asie Centrale (Trung Á) à chaque sortie. À la fin du IIème siècle, Luy Lâu devint le premier centre bouddhique vietnamien avec les cinq pagodes anciennes: la pagode Dâu dédiée au Génie des nuages  Pháp Vân (“thần mây”), la  pagode  Đậu au Génie des Pluies Pháp Vũ ( “thần mưa”), la  pagode  Tướng au Génie du tonnerre  Pháp Lôi  (“thần sấm”),  la pagode Dàn au Génie des éclairs  Pháp Điện ( “thần chớp”) et la pagode principale à  Man Nương, la mère de ces 4 génies (ou  Tứ Pháp en vietnamien). Étant les mots sino-vietnamiens,  les noms Dâu, Đậu, Tướng, Dàn   ont été préférés   par les Vietnamiens à la place des noms   Mây, Mưa, Sấm , Chớp (Nuages, Pluie, Tonnerre et Éclairs), qui sont en étroite relation avec la force naturelle trouvée dans le milieu agricole. Le système basé sur ces 4 génies évoque  l’association subtile entre le bouddhisme et les croyances populaires d’origine primitive au Việtnam.

Dès lors,  beaucoup de religieux indiens et étrangers tels que Ksudra (Khâu Đà Là), Ma Ha Kỳ Vực (Mahajivaca), Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian ne tardèrent pas à  séjourner à Luy Lâu et à y  prêcher l’enseignement du Bouddha. Le nombre de moines étrangers fut si important que Luy Lâu  devint en quelques années plus tard le centre de traduction des sutras parmi lesquels figurait le fameux sutra Saddharmasamadhi (Pháp Hoa Tam Muội) traduit par le moine kouchan Cương Lương Lâu Chi  (Kalasivi)  dans le courant du IIIème  siècle. Selon le vénérable Thích Nhất Hạnh, on a été porté à croire par erreur dans le passé que le moine indien Vinitaruci introdusit le bouddhisme dhyana vietnamien (Thiền) à la fin du VIème  siècle. Lors de son passage à Luy Lâu en l’an 580, il résida dans le monastère Pháp Vân appartenant à l’école dhyana. C’est aussi à cette époque que le moine dhyana Quán Duyên était entrain d’y enseigner le dhyana.

 Galerie des photos

D’autres moines vietnamiens furent allés en Chine pour prêcher la loi bouddhique  avant l’arrivée du fameux moine Bodhidharma reconnu comme le patriarche de l’école dhyana et de l’art martial chinois. Désormais, on sait que c’est au moine sogdiane  Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội) le mérite d’introduire le bouddhisme dhyana au Vietnam. C’est à Luy Lâu que le bouddhisme commençait  à s’implanter par le biais de l’histoire de Man Nương et ne rencontrait aucune réticence de la part des Vietnamiens car le bouddhisme acceptait  la tolérance et le paganisme traditionnel.  Les légendes Thích Quang Phật et Man Nương Phật Mẫu témoignaient de la facilité d’agréger les croyances populaires au bouddhisme.  On peut dire que c’est le mariage réussi entre le bouddhisme et les croyances populaires  (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) trouvées dans ce coin. L’anniversaire de  ‎Siddhartha Gautama était  aussi celui des 4 génies devenus Bouddhas. La mère Man Nương  de ces 4 génies devenait  également Avalokiteśvara.  On n’hésitait pas à mettre dans les endroits où les 4 génies ont été vénérés, un autel pour le Bouddha. Dès lors, le bouddhisme commença à se propager dans d’autres régions du Tonkin. Le bouddhisme vietnamien était le mahayana et prenait deux voies dans sa propagation: voie maritime à partir du sud du Vietnam (Founan et Chămpa) et voie terrestre à partir du Nord du Vietnam (Yunnan).

 

Chùa Dâu (Bắc Ninh)

 

Chùa Dâu, cái nôi của Phật giáo Vietnam

 

Chùa Dâu nhìn từ tam quan, tháp Hoà Phong ở chính giữa

Cách xa Hànội khoảng 30 cây số, chùa Dâu là chùa có lâu đời nhất ở Việt Nam vì  được xây dựng từ buổi đầu Công Nguyên ở vùng Dâu mà thường được gọi là Luy Lâu . Lúc thởi Hán thuộc, Luy Lâu nầy  được xem  là thủ phủ của cả Giao Châu (Giao Chỉ) từ năm 111 TCN đến 106 TCN. Ở thời đó, Luy Lâu được  tiếp  thu  sớm,  theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn ,  ảnh hưởng Phật giáo từ Ấn Độ cho đến thế kỷ thứ năm. Thái thú Sĩ Nhiếp (177-266) thường được tháp tùng khi đi dạo trong thành phố với các tu sĩ đến từ Ấn Độ hay Trung Á. Cuối thế kỷ thứ hai, Luy Lâu trở thành trung tâm đầu tiên Phật giáo ở Việt Nam với  năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân (« thần mây »), chùa Đậu thờ Pháp Vũ ( « thần mưa »), chùa Tướng thờ Pháp Lôi  (« thần sấm »), chùa Dàn thờ Pháp Điện ( « thần chớp ») và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Những cái tên Dâu, Đậu, Tướng, Dàn đó là những tên nôm dân dã cũa các nữ thần được thờ trong các chùa nầy mà người dân thích  gọi thay vì Mây, Mưa, Sấm , Chớp, những cái tên làm ta nghĩ đến  các sức mạnh thiên nhiên của cư dân sống về nông nghiệp. Hệ thống Tứ Pháp nói lên đây sự kết hợp tinh vi  giữa Phât giáo với  các tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc nguyên thủy ở Việtnam. 

Hình ảnh chùa Dâu

Kể từ đó, nhiểu tu sĩ Ấn và ngọai quốc nổi tiếng như Khâu Đà La  (Ksudra), Ma Ha Kỳ Vực ( Mahajivaca) , Kang-Sen-Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian đều có đến tá túc nơi nầy để nghiên cứu, biên soạn, giảng kinh Phật và đào tạo tăng đồ. Số người tu sĩ  càng ngày càng đông khiến Luy Lâu chỉ vài năm sau trở thành một trung tâm phiên dịch  các kinh phật  trong đó có Pháp Hoa Tam Muội  (Saddharmasamadhi sutra ) của pháp sư Cương Lương Lâu Chi  (Kalasivi) , người nước Đại Nhục Chi vào thế kỷ thứ ba. Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh, ai cũng tưởng lầm thiền sư nam thiên trúc  Tỳ Ni Đa Lưu Chi  (Vinaturaci) là người sáng lập dòng thiền ở Việtnam vào cuối thế kỷ thứ sáu nhưng khi ông đến Lưu Lâu vào năm 580, ông ở chùa Dâu (hay Pháp Vân).  Chính lúc đó nơi nầy đã có thiền sư Quán Duyên đang dạy thiền học và cũng có nhiều tu sĩ  từ nơi nầy sang Trung Hoa để  thuyết pháp   trước khi  tu sĩ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma)  có mặt ở Trung Hoa và được công nhận là người sáng lập   thiền học và võ thuật Trung Hoa.

Chính là thiền sư Khương Tăng Hội, người nước Khương Cư,  có công là người sáng lập  dòng thiền ở Việtnam. Chính ở Luy Lâu nầy Phật giáo gia nhập vào đất nước Việtnam qua chuyện nàng Man Nương  mà không có găp sự khó khăn trở ngại  nào cả vì Phật giáo rất khoan dung , hòa đồng và chấp nhận dễ dàng  tín ngưỡng của dân bản xứ. Đây là cuộc hôn phối huyền diệu giữa đạo phật với tín ngưỡng bản địa, tiền thân của Tứ pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Dâu. Ngày sinh của Đức Phật Thích Ca cũng là ngày sinh của Phật Tứ Pháp (Việt Nam). Bà Man Nương, mẹ của Tứ Pháp  được tôn sùng làm Phật mẫu.  Nơi nào có thờ Tứ Pháp , những nữ thần  nông nghiệp thì có thêm bàn thờ Phật.  Các nữ thần đuợc Phật hóa trở  thành Phật mẫu.  Từ đó Phật giáo mới lan tỏa ra các vùng khác Bắc Bộ. Phật giáo du nhập ở Việtnam là Phật giáo đại thừa  (Mahayana) và theo hai ngã: đuờng biển, từ phiá nam Việt Nam (Phù Nam và Chămpa) và đường bộ, từ phía bắc Việt Nam (Vân Nam).