Sur la route de Tôkaido (Hiroshige)

53 relais sur la route de Tôkaido

Version vietnamienne

Le musée des arts asiatiques Guimet (Paris) est en train d’exposer  en ce moment  l’album des estampes japonaises intitulé « 53 relais sur la route de Tokaido ». C’est la célèbre série d’estampes de Hiroshige  (1797-1858) après sa mission d’accompagner une délégation envoyée par le Shogun, partant d’Edo (Tokyo) jusqu’à la capitale impériale Kyoto et ayant pour but d’offrir les chevaux à l’occasion de la fête et montrer le respect vis-à-vis de l’empereur.  C’est l’une des 5 routes importantes de Gokaido.  Cette route n’est pas seulement l’itinéraire vital pour les voyageurs (marchands, gens ordinaires, malandrins, bonzes, daimyos etc …)  mais elle est aussi longue de 500 kilomètres et pittoresque car elle est jalonnée d’auberges et de relais, de sites historiques, de sanctuaires shintoïstes ou bouddhiques et elle est plongée dans de vertigineux paysages comme la passe Nakayama, le sanctuaire Ise etc… Chaque relais offre des services nécessaires au voyageur: auberges, restaurants, divertissements, commerces etc… ce qui donne une source d’inspiration inépuisable pour Hiroshige.  On peut dire qu’il nous offre les estampes du « monde flottant ». De plus, cette route crée  aussi un espace politique au Japon à l’époque Edo avec un contrôle très sévère de la part des samouraïs au service du shogun  sur les gens locaux et surtout sur les daimyos (seigneurs féodaux). Cet itinéraire est remplacé aujourd’hui par le rail ultra rapide de Tokaido Shinkansen.  Avec le TGV japonais, le touriste n’a plus l’occasion d’admirer ce qui a été décrit par Hiroshige sur ses estampes (ukiyo-e).

Version vietnamienne

Bảo tàng viện nghệ thuật Châu Á Guimet ở Paris đang trưng bày hiện nay một bộ tranh màu in trên mộc bản mà thường gọi là ukiyo-e  và có tựa đề là « 53 trạm nghỉ của Tokaido ». Đây là một  bộ tranh được họa sỹ Hiroshige dày công sáng tác sau chuyến hành trình của ông đi dọc theo con đường Tokaido vào năm 1832.  Ông được chọn đi  từ Edo (Tokyo ngày nay) đến kinh đô Kyoto cùng phái đoàn chính thức của tướng quân, người thực chất  cầm quyền trong tay  ở Mạc phủ (Shogun) với chủ đích cống hiến ngựa cho triều đình nhân dịp lễ để bày tỏ sự kính trọng với Nhật hoàng.  Đây là một trong năm con đường huyết mạch của Gokaido. Nó không những là con đường mà  lữ  khách (thương nhân, người dân bình thường, thiền sư, du côn, lãnh chúa vân vân …)  thường dùng hằng ngày mà  còn là con đường ngoạn mục dài 500 cây số vì nó đầy rẫy các lữ quán, các đền thờ thần đạo hay Phật giáo, các di tích lịch sữ, các quang cảnh đẹp đáng kinh ngạc như đèo Nakayama, đền Ise  vân vân … . Mỗi trạm nghỉ thường có những dịch vụ cần thiết cho lữ khách: nhà trọ, quán ăn, trò tiêu khiển, mậu dịch vân vân …).  Chính vì thế nó là một nguồn cãm hứng không ít cho họa sỹ Hiroshige. Có thể nói ông tặng cho chúng ta những bức tranh của « thế giới hư ảo ».

Tuyến đường nầy còn tạo ra ở thời kỳ Edo một không gian chính trị dưới  sự kiểm soát nghiêm ngặt  của tầng lớp võ sĩ (samouraïs) về  việc đi lại của người địa phương cũng như  của các lãnh chúa (daimyo). Con đường nầy được thay thế ngày nay bỡi con đường sắt với các tàu cao tốc TGV Tokaido Shinkansen  khiến người du khách không còn có dịp chiêm ngưởng những gì Hiroshige mô tả lại qua bộ tranh tuyệt vời in trên mộc bản  của ông.

Las Vegas (Nevada)

Version vietnamienne

Old Las Vegas ( Trung tâm củ Las Vegas)

De passage à Las Vegas, le touriste réussit à repérer facilement les casinos et les hôtels car la plupart de ceux–ci se retrouvent dans l’avenue principale de Las Vegas (connue souvent sous le nom de Las Vegas Strip). Elle est appelée parfois Arrowhead highway). Cette portion (ou Strip) s’étalant sur une longueur de 6 ou 7 kilomètres est localisée au sud de Las Vegas. Strip possède au moins 25 hôtels de luxe majestueux ayant chacun 2000 chambres parmi lesquels il faut citer the « Wynn », « Bellagio », « Caesar Palace », « Luxor » etc…Au nord se trouvent les hôtels tels que Stratosphere, Wynn et au sud « Luxor », « Mandala Bay ». Certains ont été démolis dans le passé et reconstruits dans les dernières années. C’est le cas de Wynn édifié sur l’ancien emplacement de l’hôtel « Desert Inn Hotel and Golf Course », « The Dunes » devenant maintenant « Bellagio » ou « The Sands » remplacé aujourd’hui par « The Venetian ».
Pour ce dernier, le touriste a l’impression d’être devant la ville portuaire Venise réduite en miniature avec son tour de clocher, son palais des Dodges au style byzantin, ses gondoles dans un réseau de canaux sous le pont célèbre Rialto. Quant à l’hôtel Bellagio, sa célébrité est due en grande partie à son charme distingué et surtout à ses fontaines dans un spectacle musical de jets d’eau qui a lieu le soir à des heures précises. Le matin, ces hôtels ont chacun un charme particulier lié plutôt au goût de chaque touriste. Pour voir tout ce qui passe à Las Vegas, il faut compter une semaine. Pour moi, c’est l’essentiel de pouvoir faire la photographie avec mes deux jours. Dès la tombée de la nuit, Las Vegas est une ville touristique avec ses rues splendides aux couleurs vives de la lumière qu’il est difficile de trouver ailleurs. C’est l’enfer resplendissant de l’Amérique.

Las Vegas au fil de la  nuit

Thành phố Las Vegas (Nevada)

Khi đến thành phố Las Vegas, du khách cũng dễ đi tham quan các casinos và chọn khách sạn vì tất cả đều nằm ở đại lộ chính của Las Vegas (thường gọi là Las Vegas Strip). Đôi khi còn được gọi là Arrowhead highway. Khúc đường mà gọi là Strip của đại lộ Las Vegas Avenue được dài cở chừng 6,7 cây số và tọa lạc ở phía nam. Strip gồm có khoảng chừng 25 khách sạn hoành tráng và sang trọng có đến 2000 phòng trong đó đáng kể có Wynn, Bellagio, Caesar Palace, Luxor vân vân … Ở phiá bắc thì có Stratosphere, Wynn còn ở phiá nam thì có Luxor, Mandalay Bay. Vài khách sạn được xây cất lại trong thời gian qua cũng như Wynn trước đó là Desert Inn Hotel and Golf course, the Dunes nay là Bellagio hay là The Sands thế lại ngày nay bỡi khách sạn “the Venetian”. 
Nơi nầy du khách tưởng chừng đứng trước một thành phố kênh đào Venise được thu hình nhỏ lại có tháp chuông, cung điện của quan tổng trấn Doge trấn giữ theo phong cách Byzantine, có các thuyền gondola nối liền với hệ thống kênh đào lớn dưới cái cầu nổi tiếng Rialto. Còn khách sạn Bellagio thì nổi tiếng nhờ vẻ đẹp thanh lịch và các đài phun nước theo vở kịch âm nhạc tuyệt vời. Trong ngày, các khách sạn có vẻ đẹp cá biệt tùy sỡ thích của du khách. Nếu muốn tham quan tất cả khách sạn nầy thì phải mất ít nhất một tuần nhưng tớ chỉ ở hai ngày nên chỉ xem đại khái để chụp hình nhưng phải công nhân Las Vegas là một thành phố đường phố lộng lẫy về đêm, vô số ánh đèn màu, đầy ngoạn mục có một không ai. Tớ có thể gọi tạm là đia ngục rực rỡ của nước Mỹ.

Las Vegas ban ngày 

 

Ottawa (Capitale fédérale du Canada)

Ottawa, thủ đô của Gia Nã Đại

Version vietnamienne

En raison de sa situation géographique sur la frontière entre les provinces d’Ontario et du Québec et de l’accord entre les francophones et les anglophones, Ottawa fut choisie en 31 décembre 1857 comme la capitale de la colonie par la reine Victoria. Pourtant Ottawa fut au départ un campement destiné à superviser la construction du canal Rideau dans le but de faciliter le transport du bois depuis la vallée d’Ottawa jusqu’à Montréal et d’éviter les éventuelles attaques américaines grâce à son éloignement de la frontière. Puis elle devint en 1867 la capitale du Canada suite à la confédération des colonies anglaises et françaises. Elle se distingue par les trois anciens édifices néogothiques du parlement sur la colline et rappelant étrangement les chambres de Wesminster (Londres), les résidences du gouverneur fédéral et du Premier Ministre. Un autre symbole d’Ottawa c’est le canal Rideau reconnu comme patrimoine mondial de l’Unesco. Ottawa est une ville bilingue au sein d’une province officiellement anglophone.

 
Version vietnamienne
 

Do vị trí địa lý nằm ở  ngay biên giới của hai tỉnh Ontario và Québec và với sự đồng ý thỏa thuận của các những người nói tiếng Anh và Pháp, thành phố Ottawa đã được nữ hoàng Anh Victoria chọn làm thủ đô của các dân thuộc địa vào ngày 31 tháng 12 năm 1857. Tuy nhiên, Ottawa ban đầu là một trại đóng quân để  giám sát việc xây dựng cái kênh Rideau và để tạo điều kiện cho việc vận chuyển gỗ từ thung lũng Ottawa đến Montréal và tránh được các cuộc tấn công có thể  xảy ra của người Mỹ vì Ottawa tọa lạc  rất xa biên giới. Sau đó, vào năm 1867, Ottawa trở thành thủ đô của Gia Nã Đại sau cuộc liên minh của các vùng thuộc địa Anh và Pháp. Ottawa được nổi tiếng qua ba tòa nhà tân cổ điển của quốc hội ở trên đồi  gợi cho chúng ta nhớ đến toà nhà quốc hội Westminster ở  Luân Đôn và các dinh của thống đốc liên bang và thủ tướng. Một biểu tượng khác của Ottawa đó là kênh đào Rideau, được công nhận là Di sản Thế giới của UNESCO. Ottawa là một thành phố song ngữ trong một tỉnh chính thức được xem là một vùng nói tiếng Anh.

Toronto (Capitale de l’Ontario)

 

Version vietnamienne

Toronto n’est pas non seulement l’une des grandes villes du Canada mais elle est aussi la capitale de la province Ontario. Au moment de notre passage au quartier chinois , la brume matinale envahit de loin la tour célèbre CN connue comme la plus haute tour du monde de 1975 à 2007. Elle est devancée aujourd’hui par la tour Burj Khalifa de Dubai et la tour de télévision et de tourisme de Canton. Malgré cela, elle reste l’un des attraits touristiques canadiens avec 2 millions de visiteurs par an et l’un des symboles importants du Canada. Comme dans d’autres lieux, la ville Toronto possède aussi un quartier chinois qui est moins animé qu’à Paris, les gens étant plus calmes. La vie locale paraît plus agréable et moins stressée qu’à Paris. À cause de la brume matinale, il nous est interdit de monter jusqu’au sommet de la tour CN pour pouvoir faire une photo panoramique sur la ville. C’est dommage pour moi mais il vaut mieux se contenter de ce qu’on a et faire quelques photos car je sais que je ne reviens pas car j’ai d’autres endroits à visiter. Ce qui compte pour moi c’est d’être ensemble avec deux amis d’enfance à l’époque où nous étions âgés de 7 ou 8 ans à l’école et partager tout ce qu’on a de la bouffe jusqu’aux histoires drôles durant le séjour au Canada lorsque nous venons de loin, de trois pays différents (France, USA et Canada). C’est une chance unique d’avoir ce moment de bonheur et de joie dans la vie.

Version vietnamienne

Toronto không những là một trong các thành phố đông dân nhất của Gia Nã Đại mà còn là thủ đô của tỉnh Ontario. Hôm đến tham quan sáng sớm thành phố bị sương mù dày đặc buông xuống che khuất từ đằng xa tháp CN khi lúc tụi nầy ở khu tàu, một ngọn tháp nổi tiếng là cao nhất ở thế giới từ năm 1975 đến năm 2007 nay bị vượt qua bỡi tháp Burj Khalifa (Dubai) và tháp truyền hình và du lịch của Quảng Châu. Tuy nhiên nó vẫn thu hút khoảng 2 triệu khác một năm và là một biểu tượng quan trọng của Canada. Cũng như mọi nơi, Toronto cũng có một khu tàu nhưng nó không có đông đúc như ở Paris, người dân cũng trầm lặng không có ồn ào. Cuộc sống cũng thấy có phần thỏa mái nhiều hơn Paris, cũng có tramway. Vì sương mù phủ xuống tháp CN tụi nầy không được lên ngọn tháp CN chụp toàn cảnh của Toronto. Rất tiếc nhưng thôi có chi thì cứ chụp nhất là mình biết sẻ không trở lại nhưng rất vui là lúc nào ba anh em quen biết từ thưở nhỏ chia sẻ cùng nhau từ các chuyện vui đến các thức ăn nhất là đến từ ba quốc gia khác nhau (Pháp, Mỹ và Gia Nã Đại), đây là cái duyên hy hữu trong cuộc sống.

 

Les serres royales de Laeken ( Nhà kính hoàng gia Bỉ)

Les serres royales de Laeken

Version vietnamienne

Cứ mỗi năm nhà kính hoàng gia Bỉ tọa lạc ở cung điện Laeken chính thức mở cửa chỉ trong vòng ba tuần đón tiếp công chúng ở khắp nơi trên thế giới, năm nay từ ngày 19/4 đến 10/5. Nhà kính nầy có hơn 100 năm tuổi và được thiết kế bởi kiến trúc sư Alphonse Balat dưới triều đại của vua Léopold II (1865-1909).  Công trình nầy là một quần thể kiến trúc hoàn toàn bằng kính và kim khí nằm trong một quan cảnh đồi núi và mất gần 12 năm mới được hoàn thiện với diện tích có đến 2,5 ha. Có luôn cả một tháp Nhật Bản. Nơi nầy, có các loại thực vật rất nổi tiếng nhất là các loại hoa thơm như phong lữ, đỗ quyên, cẩm tú cầu hay hoa trà. Dù thời gian đón khách du lịch rất ngắn (có 3 tuần), nhà kính hoàng gia vẫn là nơi được du khách biết đến rất nhiều, có ít nhất 800.000 người đến tham quan mỗi năm. Tiền thu thập được dùng để sùng tu nhà kính hay dành cho các việc từ thiện của nữ hoàng hay là mua các tác phẩm nghệ thuật cho bộ sưu tập hoàng gia.

Version française

Chaque année, les serres royales de Laeken sont ouvertes au public et aux touristes étrangers durant trois semaines. Cette année l’ouverture commence le 19 Avril et se termine le  10 Mai. Ayant plus  de 100 ans d’âge, ces serres royales ont été conçues  par l’architecte Alphonse Balat sous le règne du roi Léopold II (1865-1909).  Elles sont en fait un complexe architectural  réalisé entièrement en métal et en verre et implanté  dans un paysage vallonné. On compte presque 12 ans dans la réalisation de ce complexe superbe avec une superficie ayant au moins 2,5 ha. Une tour japonaise est visible de loin. C’est ici qu’on trouve des plantes très connues, en particulier  des fleurs parfumées comme les géraniums, les rhododendrons, les hortensias ou les camélias. Bien que  l’ouverture au public soit  de courte durée (3 semaines), les serres royales de Laeken sont très connues par les touristes étrangers. Il y au moins chaque année  800.000 visiteurs. L’argent récolté est destiné entièrement aux œuvres caritatives de la reine, aux opérations de restauration ou à l’acquisition des œuvres d’art pour enrichir la Collection Royale.

Passages couverts de Paris (Các hành lang cổ kính của Ba Lê)

Passage Colbert

Version vietnamienne

Méconnus jusqu’à une date récente, les passages de Paris redeviennent aujourd’hui l’un des attraits touristiques et architecturaux de Paris. Dans les années 1850, Paris possède au moins 150 passages couverts et exporte le modèle vers d’autres villes françaises (Bordeaux, Nantes etc …) et vers l’étranger (Italie, Turquie, Grande-Bretagne etc …). C’est aussi  un modèle importé de Paris, le passage Eden dans lequel on était habitué à flâner à Saïgon (Vietnam) dans les années 1970.  Ces passages parisiens se regroupent sur la rive droite de la Seine, en particulier dans le quartier des Grands Boulevards. Plusieurs passages ont été démolis au profit de l’urbanisation entamée par les grands travaux du baron Haussman et de l’essor de grands magasins ( Le Bon Marché, la Samaritaine, le Printemps etc …). Il ne reste qu’une vingtaine de passages aujourd’hui à Paris. Ils font partie désormais du patrimoine architectural et mémoriel de la capitale.

Một cuộc du ngoạn thú vị ở Paris
qua các hành lang

 

Les passages couverts  de Paris

  • Passage  Choiseul  (Rue Saint Augustin)
  • Passage Colbert (Rue des Petits Champs)
  • Passage Vivienne (Rue Vivienne)
  • Passage des Panoramas ( Boulevard Montmartre)
  • Passage Jouffroy (Boulevard Montmartre)
  • Passage des princes (Boulevard des Italiens) 
  • Passage du Grand-Cerf ( Rue du Saint Denis ) 
  • Passage Brady ( Rue du Faubourg Saint Denis) 
  • Passage Verdeau (rue de la Grange-Batelière) etc…..

Version vietnamienne

Ít được biết đến trong thời gian qua, các hành lang của Paris trở lại hiên nay là một trong những nơi thu hút du khách ngoại quốc khi đến Paris. Trong những năm 1850, Paris có ít nhất 150 hành lang bao phủ và xuất khẩu mô hình nầy qua nhiều thành phố khác của Pháp như (Bordeaux, Nantes vân vân …) và các nước ngoài như Ý Đại Lợi, Thổ Nhi Kỳ, Anh Quốc vân vân….  Cũng với mô hình nầy mà hành lang Eden được xây cất có một trăm năm và người Saïgon có dip đến đây du ngoạn trong thập niên 70. Các hành lang Paris nầy được tập trung ở hữu ngạn của sông Seine, nhất là trong khu vực được gọi là « Les Grands Boulevards ». Nhiều hành lang bị phá hủy sau nầy trong việc thực hiện các công trình đồ sộ của bá tước Haussman và đáp lại sự phát triển của các cửa hàng lớn như Le Bon Marché, la Samaritaine, le Printemps vân vân … Nay chỉ còn lại khoảng chừng 20 hành lang ở Paris. Các hành lang nầy đươc xem hiện nay là di sản kiến trúc và lưu niệm của thành phố Paris.