Mùa thu Paris (Paris)

 

Nhà thờ chính tòa Bùi Chu

Giáo phận Bùi Chu

Mặc dầu  có diện tích nhỏ nhất trong số 26 Giáo phận của Giáo hội Công giáo tại Việt Nam, giáo phận Bùi Chu  có tỷ lệ giáo dân cao nhất nhì tại Việt Nam (386 148 giáo dân năm 2006).   Tọa lạc ở xã Xuân Ngọc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Bùi Chu  không những là nhà thờ chính tòa của giáo phận Bùi Chu mà cũng  là một nhà thờ Công giáo Rôma được xây dựng dưới thời Pháp thuộc bởi giám mục Wenceslao Onate Thuận (1884) với chiều dài 78m, rộng 22m, cao 15m.  

Trải qua hơn 100 năm, ngôi nhà thờ này vẫn đứng vững ngày nay  với những cột gỗ lim và những đường nét hoa văn mang dấu ấn kiến trúc phương Tây. Hàng năm vào ngày 8 tháng 8, ngày lễ quan thầy của giáo phận, có nhiều giáo dân tập trung về dâng lễ. Giáo phân Bùi Chu   còn có  gắn liền với nhiều sự kiện quan trọng liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển Công giáo tại Việt Nam.

Galerie des photos

Version française

Malgré une  superficie très  petite parmi les 26 diocèses de l’église catholique du Vietnam,  l’évêché  de Bùi Chu a pourtant  le pourcentage le plus élevé des fidèles au Vietnam (386 148  fidèles en 2006).  Etant située  à la commune Xuân Ngọc  du district Xuân Trường dans la province de Nam Định, Bùi Chu est non seulement  l’église principale de l’archevêché Bùi Chu mais aussi la cathédrale catholique romaine. Celle-ci fut édifiée  à l’époque coloniale par l’évêque Wenceslao Onate Thuận en 1884 avec  ses dimensions suivantes: longue de 78 mètres, large de 22 mètres et haute de 15 mètres. Ayant passé plus de 100 ans, cette cathédrale continue à rester debout  aujourd’hui avec ses colonnes en bois de fer  et garde encore les traces d’ornement du style architectural venant de l’Occident.  Il  y a les festivités organisées  en l’honneur du Saint Patron tous les ans, au 8 ème jour du mois d’août.  L’évêché est lié intimement aux événements historiques importants dans la formation et l’évolution du catholicisme au Vietnam. 

Photos de Jean Marie Duchange

 

Version française

Cũng như ông Henri Oger với các bộ sưu tập tranh mộc bản, ông Jean Marie Duchange rất yêu chuộng người dân Việt nhất là đồng bào thiểu số ở Tây Nguyên. Trong ba năm ông làm ở vụ y tế ở miền núi,  ông không ngần ngại gian nan những lúc rãnh rỗi cưỡi voi, đi bộ, dùng thuyền đôc mộc  hay xe jeep đến các vùng núi  để chụp các ảnh nầy với máy ảnh reflex 6×6 bi objectif. Nhưng cuối cùng  ông cũng không thực hiện  được  ý định  xuất  hành  cuốn album  vì ông ra đi ở tuổi 88. Dự định in ấn cũng đành hoãn lại. Tuy nhiên để tưởng nhớ và thực hiện hoài bão của ông, con gái ông Evelyne Duchange và cháu ngọai  Nadège Bourgoin  cống hiến cho hai bảo tàng, một ở Paris là Quai  Branly (Paris)  và hai là bảo tàng dân tộc học ở Hànội  các tác phẩm ảnh của ông bằng négatif. Nhờ vậy mới  có dịp  chụp  lại được   ở bảo tàng dân tộc học  các ảnh nầy  để cùng chung  khám phá các tập tục nghi lễ trong những năm 50 của thế kỳ 20. Các tác phẩm ảnh nầy  là một  nhân chứng vô  giá  của ông về  cuộc sống linh động hằng ngày của các đồng bào thiểu số mà nay không còn thấy nửa ở Tây Nguyên.

Version française

Analogue à Henri Oger avec ses estampes en bois, Jean Marie Duchange  avait de l’estime pour  le peuple vietnamien, en particulier pour  les ethnies des Hauts Plateaux du Centre.  Profitant des trois années passées à la direction de santé  publique des populations montagnardes du Sud Indochinois, il n’hésita pas à parcourir   les régions montagneuses à dos d’éléphant, en jeep , en pirogue ou encore  à pieds avec difficultés pour réaliser ces photos avec son appareil  reflex 6×6 bi objectif quand il  avait du temps libre. Mais à la fin, il n’arriva pas à accomplir son rêve de réaliser un album car il fut décédé à l’âge de 88 ans. Son projet d’édition fut  abandonné aussi. Pour honorer sa mémoire et pour perpétuer le beau travail d’un passionné de la photographie, sa fille Evelyne Duchange et sa petite fille Nadège Bourgoin  ont décidé de faire le don de ses négatifs aux deux musées, l’un à Paris au musée Quai Branly et l’autre à Hanội, au musée d’ethnologie.  Grâce à ce  don, j’ai eu l’occasion  de passer une journée à ce dernier musée pour faire ces photos et pour nous permettre de découvrir ensemble toutes les coutumes et les traditions  dans les années 50 du XXème siècle. Ces photos constituent son  témoignage inestimable sur la vie journalière des ethnies qu’il est impossible de retrouver aujourd’hui aux Hauts Plateaux du Centre.

Đình Làng ( Maison communale: phần 4)

Version française.

Nghệ thuật trang trí ở đình làng

 

 Nhờ có đình làng,  người ta mới khám phá được đời  sống  của  người dân làng thể hiện một cách  tài tình  mật thiết với  nghệ thuật trang trí. Người xem có cảm  tưởng rằng nghệ thuật nầy  nó không  những  không theo các mô hình thông thường được biết cho đến giờ mà nó còn « tự cởi tróí », trút bỏ mọi gánh nặng của sự ràng buộc đạo Khổng thời kỳ phong kiến ở Việtnam. Đó là những gì chúng ta thấy ở các khoảng trống trong đình với chạm khắc gỗ  từ  sườn nhà cho đến cột trụ.

Các khuyết điểm lúc xây cất đình  được che giấu một cách khéo léo nhờ kỷ thuật trang trí làm đẹp. Trong mỗi thanh gỗ chạm khắc, mỗi môtíp  dù là một con thú,  một nhân vật hay là một cái bông đều độc nhất không thể tìm thấy ở nơi khác dù có cùng một chủ đề. Ngược lại, người ta nhận thấy ở các thanh gỗ chạm khắc có sự cùng tồn tại, qua nhiều thể kỷ, của hai nền văn hóa, một mang tính cách bài bản và bác học và một cái mang tính cách dân dã.  Ở nền văn hóa đầu tiên còn tìm thấy không những  tất cả mô típ liên quan đến tứ linh  (Rồng, Lân, Rùa, Phượng) mà luôn cả thực vật cao quý, tiên nữ hay thú vật (hổ, voi vân vân ..)  mà  có luôn   tính tưởng tựợng và thích đổi mới  cùa nghệ nhân mặc dầu  có  sự tôn trọng  nghiêm túc trong truyền thống kinh điển. Còn ở các thanh gỗ  chạm với tính cách dân dã, nghệ nhân vì là một người nông dân trước đó, nên thường  bỏ qua lề lối gò bó mà  tự  hướng dẫn mình  qua cảm hứng, tự do tùy tiện chạm khắc theo ý tưởng và cảm nhận cùa mình khiến các tác phẩm nó mang tính chất  hiện thực  và hóm hỉnh. Với tài khéo léo đôc đáo, nghệ nhận chưa bị cấm đoán về cách miêu tả các cảnh tượng vô  luân lý khó mà giải  đáp ở thời đại phong kiến:  một thiếu  nữ  đang tấm ao hay ngồi hớ  hênh trên đầu rồng  (đình Phụ Lão, Bắc Giang), một chàng trai đang sờ soạng thân thể một phụ nữ dưới cái nhìn đồng lõa của bạn đồng hành  (đình Hưng Lộc), một ông quan đang quấy rầy  một phụ nữ đang tấm  bằng cách thò tay luồn dưới yếm ( đình Ðệ Tam Ðông, Nam Ðịnh) vân vân  ….

dinh_chamHình rồng đa dạng trang trí ở đình

Nghệ nhân còn dám tố cáo những chuyện sai trái của các quan liêu qua bức chạm của đình Liên Hiệp. Đây là những điều cấm đoán  và  phiền nhiễu mà thường gặp mỗi ngày  trong xã hội  nho giáo Việtnam.  Tất cả những gì được thấy trong điêu khắc gỗ dân dã  phản ánh  phần lớn  tự do phát biểu của nghệ nhân  cùng  khát vọng chung của dân làng.  Có một điều trái ngược, nghịch lý là đình vừa là nơi để gìn giữ trật tự  được ăn sâu qua nhiều thế kỷ  vào hạ tầng gia đình và xã hội Việtnam  và cũng là nơi mà người nông dân có thể tìm lại được tự do phát biểu và tố cáo những gì được trông thấy ở xã hội nho giáo.  Với nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, ngôi đình là một kho tàng vô giá cho dân tộc Việt.  Người ta thường nói: Làng Nước vì Viêtnam được thành hình, qua nhiều thế kỷ, từ sự rải rác làng mạc khắp mọi nơi mà đình vừa là trung tâm hành chánh, văn hóa,  xã hội và tinh thần.  Bởi thế đình làng nó không những là linh hồn của làng mà của đất nước Việtnam.


Bibliographie:

Trịnh Cao Tường: Kiến trúc đình làng.  Khảo cổ học, 2/1981, trang 56-64.

A la découverte de la culture vietnamienne. Hữu Ngọc.  Editions Thế Giới. Hànôi 2011

Le Ðình, maison communale du Viêt Nam. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Editions Thế Giới, 2001