Cây sung (Le figuier)

Le figuier

Version française

Cây sung là một loại cây quen thuộc với chúng ta, thường sống ở các vùng nhiệt đới như ở đất nước ta. Nó được nhận diện ra nhờ các lá xanh có dạng hình mũi mác hay hình trứng, dài khoảng 5 đến 10 cm và sắp xếp theo hình xoắn ốc xung quanh cành cây. Nó được nổi bật  trong thế giới thực vật qua phương thức nở hoa và đậu quả. Nó sinh ra được  hai loại hoa:  hoa đực (vô sinh) và  hoa cái (sinh sản) nhưng các  hoa cái nầy không thể thụ phấn được cần nhờ  đến một loại sâu bọ như loại  Blastophaga, một loại ong thật nhỏ bé của cây sung (Blastophaga psenes).  Nhờ con ong cái nhỏ bé nầy mà các  hoa cái mới thụ phấn và  mới có nhiều quả bế (akènes) chính đây mới là những hạt li ti bé nhỏ, những quả thật sự ở  trong đài hoa  dưới dạng cái kén (một quả giả tròn trịa  chính mùi) được trông thấy ở  bên ngoài  (infrutescence). Do đài hoa ôm trọn hoa cái và hoa đực ở bên trong cái kén  nên chúng ta không nhìn thấy. Vì vậy chúng ta cho rằng cây sung không có hoa. Khi ong chung vào ở lổ hở (ostiole) của đài hoa thi ong bị vỡ cánh và râu nên không ra được, chỉ biết giúp hoa cái thụ phấn để có trái rồi chết khiến ta thường nghe nói có  ăn được một  trái sung thì ta có  ăn thêm một con ong chết khiến người ăn chay không bao giờ thích ăn trái sung. Thật sự trái sung có tiết ra một loại enzyme làm tiêu tan thể xác của con ong và chế biến nó thành protein.

 Cây sung thường thấy có quả chớ không thấy hoa. Phải chẻ ra làm đôi mới  thấy hoa nên gọi là giống ẻn hoa (cryptogame). Người Trung Hoa gọi là “vô hoa quả”. Trong kho tàng thành ngữ tiếng Việt, cây sung thường được nhắc đến nhiều.

Chờ cho sung rụng nằm dài gốc cây.

Cây sung là loại cây có trái không mọc ở cành cây mà mọc từ gốc đến ngọn và hay thường mọc thành từng chùm ở thân cây. Bởi vậy không cần mệt phải leo trèo để hái quả, chỉ cần vói tay là được  mà cũng chẳng cần đứng chi cả. Câu thành ngữ  nầy dùng chỉ những kẻ lười biếng quá mức.

Ăn sung nằm gốc cây sung

Lấy nhau thì lấy, nằm chung không nằm.

Đây là một thành ngữ dùng ám chỉ  một cuộc hôn nhân bị cưỡng ép, không thương mà phải lấy nhau. Dù có giấy tờ hôn thú đi nữa cũng nhất định không chịu nằm chung một giường. Mà  đôi khi còn có thái độ bất hợp tác với một chính quyền, một áp lực nào của ngọai bang nên tỏ ra có chủ trương thụ động đề kháng như thời kỳ thời thực dân Pháp đô hộ bắt dân ta phải chịu các hiệp ước dưới thời vua Tự Đức.

Còn “Ăn quả vả trả quả sung” để nói không có việc tương xứng trong việc mượn trả. Muốn nói đây có một người khôn lõi và một người khờ dại để bị lừa gạt trong cuộc giao dịch.  Quả vả thì rất to lớn thịt nhiều ở bên trong có hoa. Người Tây Phương thường gọi là “figue de Roxburg”. Còn quả sung thì nhỏ hơn lại tròn mà gọi là “figue sycamore”. Cả hai thuộc giống Ficus, họ Moracées.  Hay là: Ăn sung giả ngái. Câu nầy ám chỉ sự lường gạt và vong ân bội nghiã vì sung và ngái hai loại quả hoàn toàn khác giống, một thứ ăn được còn một thứ không ăn được. Để chỉ người không biết điều, chỉ nghĩ đến mình mà chẳng nghĩ ai cả và ích kỷ thì dân ta hay dùng câu thành ngữ như sau:

Ăn sung ngồi gốc cây sung
Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành.

 

Cây sung còn tượng trưng cho người ẩn sĩ  vì hoa của cây sung chúng ta biết  không bao giờ thấy thường ẩn  trong đài hoa. Nhắc đến  biểu tượng nầy thì cũng không thể quên cụ Phan Bội Châu (1867-1940). Đây là một nhà yêu nước lớn ở đầu thế kỷ 20 trong thời kỳ Pháp thuộc.  Ông bị thực dân Pháp bắt cóc tại Thượng Hải   giải về nước lãnh án tử hình, mặc dù trước đó (1912) ông đã bị đối phương kết án vắng mặt. Trước làn sóng phẫn nộ của dân chúng, toàn quyền Alexandre Varenne của đảng SFIO buộc lòng nhượng bộ, đem ông về Huế giam lỏng. Từ đó ông sống ở một ngôi nhà nhỏ ba gian ở xóm Bến Ngự như nhà ẩn sĩ, bất hợp tác với chính quyền thực dân Pháp. Ông sống với một cuộc sống giản dị cho đến ngày 29 Tháng 10 dương lịch 1940. Đó là  ngày ông từ trần và hưởng thọ 74 tuổi. Ông ra đi mang nhiều hoài  bão, bao nhiêu tâm sự  và còn để lại cho chúng ta một lý  tưởng “Sống” của  một chí sĩ yêu nước.

Sống tủi làm chi đứng chật trời
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến
Sống chịu ngu si để chúng cười
Sống tưởng công danh, không tưởng nước
Sống lo phú quý, chẳng lo đời
Sống mà như thế đừng nên sống
Sống tủi làm chi đứng chật trời.

Le figuier

Le figuier qui nous est très familier  est un arbre vivant souvent dans les régions tropicales comme dans le cas de notre pays. On le reconnaît grâce à ses feuilles lancéolées ou ovales de couleur verte foncée, longues de 5 à 10 cm et  disposées en spirale autour du rameau. Il se distingue dans le monde végétal par son mode de floraison et de fructification. Il produit deux types de  fleurs: les fleurs mâles (stériles)  et femelles (fertiles) mais ces dernières ne peuvent  être pollinisées  sans la collaboration d’insectes  du genre Blastophaga, une sorte de guêpe  lilliputienne (Blastophaga psenes). C’est grâce à celle-ci que ces fleurs femelles reçoivent la pollinisation et ont plusieurs akènes qui sont les minuscules grains trouvés dans la chair ou les vrais fruits dans le réceptacle floral sous la forme d’un cocon (faux fruit ou infrutescence), charnu à maturité et visible à l’extérieur. À cause de la protection totale du réceptacle floral, on ne voit ni les fleurs mâles ni les fleurs femelles. C’est pour cela qu’on dit que le figuier n’a pas de fleurs. Lors de l’introduction de la guêpe dans ce réceptacle par la petite ouverture (ou ostiole), la guêpe se brise les ailes et les antennes. Elle ne peut pas en ressortir. Elle apporte la pollinisation  aux fleurs enfermées pour donner naissance à un fruit. Elle se retrouve bloquée et meurt dans le fruit. On est habitué à dire qu’en mangeant une figue, on mange également une guêpe morte.  C’est pour cela qu’une personne végétarienne n’aime pas manger la figue. La figue sécrète en fait une enzyme qui dissout le corps de l’abeille et le transforme en protéine.

On ne voit que sur le figuier les fruits mais pas les fleurs. Il faut couper la figue en deux pour pouvoir voir les fleurs à son intérieur (cryptogame). Les Chinois l’appellent sous le vocable «l’arbre sans fleurs». Dans le trésor des idiomes vietnamiens, le figuier est souvent mentionné.

Chờ cho sung rụng nằm dài gốc cây.

Dans l’attente de la chute de ses fruits, on peut s’étaler au pied du figuier.

Le figuier est un arbre dont les fruits ne poussent pas souvent sur les branches mais on les voit  apparaître souvent groupés en grappes sur le tronc d’arbre ou de la racine jusqu’à la cime. Par conséquent, il n’est pas nécessaire de se lasser de grimper pour cueillir les fruits. Il suffit de tendre la main pour les prendre  et de ne pas avoir besoin de se tenir debout. Cet idiome est utilisé pour désigner ceux qui sont extrêmement paresseux.

Ăn sung nằm gốc cây sung
Lấy nhau thì lấy, nằm chung không nằm.

En mangeant la figue, on doit rester au pied du figuier.
En consentant à se marier ensemble, on n’est pas obligé de se coucher dans le même lit.

C’est un idiome employé pour dénoncer un mariage forcé sans aucun amour mutuel et véritable. Malgré que le  certificat de mariage soit délivré, on ne veut pas  partager certainement le même lit. Mais parfois il y a aussi une attitude de non-coopération avec un gouvernement et  une pression étrangère. Cela conduit à avoir une politique de résistance passive. C’est le cas de la période coloniale française où le peuple vietnamien fut obligé d’accepter des traités sous le règne du roi Tự Đức.

On se sert de l’idiome  « Manger votre figue et rendre une autre » pour dire qu’il n’y a pas de correspondance parfaite entre l’emprunt et le retour. Cela veut dire qu’il y a un homme fourbe  et un homme  crédule  qui se laisse duper dans les transactions. Les figues qui sont très grosses et charnues avec des fleurs  cachées à l’intérieur, sont appelées  souvent « figues de Roxburg » par les Occidentaux. En revanche, les figues qui sont plus petites et rondes, sont connues sous le nom de « figues sycomores ». Toutes les deux appartiennent au genre Ficus et sont issues de la famille Moracées. Ou bien: « Manger les figues sycomores  et rendre les figues d’une autre espèce de nom ngái ». Cet  idiome est employé pour faire allusion à la tromperie et à l’ingratitude parce que ces figues sont deux fruits complètement différents, l’un comestible et l’autre non comestible. Pour désigner quelqu’un égoïste qui ne connait pas le savoir-vivre et ne pense qu’à ses intérêts sans tenir compte de ceux des autres on est habitué à employer l’idiome suivant:

Ăn sung ngồi gốc cây sung
Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành.

En mangeant la figue, on doit rester assis à côté du figuier.
Une fois la consommation terminée, on ne doit pas jeter partout le reste.

Le figuier est employé fréquemment  pour désigner un ermite car on ne voit jamais la fleur du figuier qui se cache dans le réceptacle floral (ou faux fruit). En évoquant cette représentation symbolique, on ne peut pas oublier Phan Bội Châu (1867-1940). C’est un grand patriote vietnamien au début du 20ème siècle à l’époque coloniale française. Il fut kidnappé à Shanghai, ramené au Vietnam et condamné à mort malgré qu’il eût reçu auparavant en 1912 un arrêt de mort en son absence. Face à la vague de protestation de la population locale, le gouverneur Alexandre Varenne du parti SFIO fut obligé de céder en l’astreignant à la résidence surveillée à la capitale impériale Huế. Dès lors, il mena sa vie journalière  comme celle d’un ermite dans une petite maison dans le hameau Bến Ngự et refusa de collaborer avec les autorités coloniales. Il choisit la voie d’une vie simple et tranquille jusqu’au jour de son décès  le 29 Octobre 1940 à l’âge de 74 ans.  Il nous quitta en emmenant avec lui toutes ses aspirations et  ses sentiments intimes et en nous laissant surtout la façon de «se comporter» d’un lettré  idéaliste comme lui à travers son poème intitulé « Vivre ».

 

 

Bibliographie

Thái văn Kiểm: Việt Nam Quang Hoa. Editeur: Xuân Thu. Californie, USA.
Le grand Atlas botanique gourmand. Editions Atlas. 2015
Bill Laws : 50 plantes qui ont changé le cours de l’histoire. Editeur: Mathieu Biberon 2013

 

Lý Thánh Tôn (Le troisième roi de la dynastie des Lý)

Lý Thánh Tôn (1054–1072)

Version française

Vừa mới lên ngôi, vua Lý Thánh Tôn đổi quốc hiệu là Đại Việt mà trước đó có tên là Đại Cồ Việt mà được vua Định Tiên Hoàng đặt cho nước ta. Theo sử học ngài là một ông vua rất nhân từ và có lòng thương dân.

Có một ngày, trong thời kỳ mùa đông khắc nghiệt, ngài bảo các quan hầu gần như sau:

Trẫm mặc quần áo như thế này mà trẫm còn rét. Làm thế nào để người dân chống chọi với cái lạnh khắc nghiệt này được, đặc biệt là những người nghèo khi chúng ta biết rằng họ không có đủ tiền để sinh sống?. Các khanh cần phải cho họ thức ăn và quần áo  thêm nữa ngay bây giờ.

Một lần khác, có công chúa Ðộng Thiên ở bên cạnh trong một buổi yết kiến, ngài quay sang về hướng các quan mà nói: Trẫm  có một tình yêu sâu sắc đối với dân chúng cũng như tình yêu của trẫm dành cho con trẫm. Thật không may, người dân có giáo dục quá kém nên họ mới liên tục phạm tội. Đó là lý do tại sao trẫm  cảm thấy tội nghiệp thương họ. Trẫm yêu cầu các quan nên giảm bớt các hình phạt và các tội mà họ đã phải chịu.

Theo nhà học giã Hoàng Xuân Hãn, lòng thương người như vậy của vua Thánh-Tông không phải là một sự giả dối của nhà chính trị, mà chính là phần biểu-diễn của lòng từ-bi  do Phật-giáo gây nên.  Chính vua Lý Thánh-tông là tổ thứ nhất một dòng Thiền tông ở nước ta. Đó là dòng Thảo-đường, lập ra tại chùa Khai-quốc ở Thăng Long. Cũng chính ngài có ý muốn khai hóa sự văn học, lập Văn Miếu, làm tượng Đức Khổng Tử, Chu Công và 72 tiền hiền để thờ. Văn Miếu còn chức năng lúc đó là một trường học  hoàng gia đầu tiên mà người học trò đầu tiên được học 5 tuổi đó là thái tử Lý Càn Đức tức là Lý Nhân Tôn về sau nầy. Chính nhờ có ý nghĩ nầy  của vua Lý Thánh Tôn để đào tạo các vua chúa mẫu mực và các con hoàng tộc của triều Lý mà vua Lý Nhân Tôn mới lập Quốc tử giám vào năm 1076 ở kinh thành Thăng Long bên cạnh Văn Miếu nhầm để đào tạo những nhân tài xuất sắc cho đất nước.

Theo Đai Việt Sử Lược toàn thư, vua Lý Thánh Tôn là một vị vua văn võ song toàn. Ngài là con trưởng của vua Lý Thái Tông và Kiêm Thiên hoàng hậu và có tên thật là Lý Nhật Tôn.  Ngài sinh 30 tháng 3 năm 1023 và mất vào ngày 1 tháng 2 năm 1072, thọ 48 tuổi và trị vì được 17 năm.  Ngài lúc còn làm thái tử  được vua cha dựng cung Long Đức làm nơi ở.  Lúc 15 tuổi, ngài được vua cha phong làm Đại Nguyên soái, cùng cha dẹp quân phiến loạn  ở Lâm Tây (Lai Châu) và giành  được chiến thắng. Lúc 17 tuổi được  vua cha giao quyền triều chính lúc vua cha Lý Thái Tông đi đánh giặc Nùng Tôn Phúc ở Cao Bằng. Lúc 18 tuổi, vua Lý Thánh Tôn được quyền giải quyết xét xử các vụ kiện tụng trong nước và lập cơ quan ở điện Quảng Vũ. Chính nhờ vậy mà ngài thấu hiểu trị dân không phải bằng luật pháp khắc khe không thôi mà cần có lòng nhân từ bác ái  đề cho dân được thuần phục.

Qua việc tha vua Chế Củ (Rudravarman III) về nước Chiêm Thành thì sử thần Ngô Sĩ Liên bàn: Ngài cũng là bậc vua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương đoán không đủ, ngụ ý chưa cho là phải. Biết đâu ngài dùng kế  Khổng Minh để thuyết phục Mạnh Hoạch (Thất cầm Mạnh Hoạch) ở thời Tam quốc để  tính chuyện lâu dài nhưng dù sau đi nửa ngài cũng là một vị vua có xu hướng mở mang bờ cõi đất nước vì Chiêm Thành đã nhường 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình ngày nay và một phần phiá bắc Quảng Trị) cho nước Đại Việt. Sở dĩ Chiêm Thành bỏ việc nạp cống cho nước Đại Việt,  lén lút thần phục nhà Tống với vua Tống Thần Tông (Song Shenzong)  và mong có sự hậu thuẫn của nhà Tống trong cuộc chiến Việt-Chiêm thì nhà Lý xem đây là một sự khiêu khích mà cũng là một cơ hội để  dằn mặt nhà Tống có ý dòm ngó nước Đại Việt và trừng phạt Chiêm Thành thường xua binh khuấy rối ven biển.

Lúc khởi binh đi  chinh phạt Chiêm Thành cùng Lý Thường Kiệt, Lý Thánh Tông không giành được phần thắng lợi  lần đầu buộc lòng ngài phải đem quân trở về đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi Ỷ Lan giúp việc nội trị, cảm hóa được lòng dân vui vẻ nên ngài mới nói rằng: Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là đàn ông thì không làm được việc gì cả.  Ngài bèn quyết định trờ lại đánh phá kinh  đô Phật Thệ (Vijaya)(Bình Định)  bắt cho được Chế Củ (Rudravarman III) mang về triều cùng 5000  tù binh Chàm khiến Chế Củ xin dân ba châu để chuộc tội.

Theo sách « An Nam chí lược » của Lê Tắc thì trong số tù nhân mang về Thăng Long để làm nô bộc  trong chiến cuộc  nầy thì Lý Thánh Tông có bắt được một thiền sư Trung Hoa nhưng không ai biết ông ấy là thiền sư cả. Tình cờ ông nầy phục dịch  cho một viên quan có chức Tăng lục. Trong lúc quan nầy đi vắng, Sư thấy bản Ngữ lục ở trên bàn có mấy chỗ sai, bèn tự ý sửa chữa lại. Vị Tăng lục đi về, xem thấy thế ngạc nhiên, hỏi ra mới biết sư sửa.  Sau này, khi biết Thảo Điền là một người uyên bác nhờ vị viên quan tăng lục nầy, Lý Thánh Tông tôn ông làm quốc sư và ông  trở thành tổ  sư của phái thiền Thảo Đường, một trong ba phái thiền tông của Phật Giáo Đại Việt ở thời nhà Lý. (Tì Ni Đa Lưu Chi,  Vô Ngôn Thông và Thảo Đường). Cuối năm 1069, Lý Thánh Tông  cử Quách Sĩ An làm Chánh sứ và Đào Tông Nguyên làm Phó sứ sang báo cho triều Tống về việc đánh bại Chiêm Thành. Tống Thần Tông tuy không vui chi cho mấy nhưng phải thừa nhận Chiêm Thành là chư hầu của Đại Việt cùng nước Chân Lạp. Từ đó thanh thế của nước ta rất lớn khiến nhà Tống kiêng nể vì  nhà Tống ở thời điểm đó còn phải đương đầu ở phương bắc với nước Liêu của người Khiết Đan.

Lý Thánh Tôn (1054–1072)

À peine intronisé, le roi  Lý Thánh Tôn donna au pays « Le Grand Yue » à la place de « Đại Cồ Việt » qu’avait choisi le roi Định Tiên Hoàng pour notre pays. Selon l’histoire du Vietnam,  il était un roi bienveillant et faisait preuve de compassion pour le peuple.

Un jour, durant une période où l’hiver était rude, il s’adressa à ses mandarins  proches dans les termes suivants:

En m’habillant de cette manière, je continue à être transi de froid. Comment arrivent-ils les gens à résister à ce froid rigoureux surtout les pauvres lorsqu’on sait qu’ils n’ont pas assez d’argent pour se nourrir?. Il faut leur donner dès maintenant de la nourriture et des habits chauds supplémentaires.

Une autre fois, en tenant compagnie à sa fille, la princesse Ðộng Thiên, lors d’une audience, il se tourna vers ses mandarins et leur dit :

J’ai un amour profond pour mon peuple comme celui que j’ai toujours pour ma fille. Malheureusement, le peuple est si peu instruit qu’il ne cesse pas de commettre des fautes. C’est pour cela que j’en ai tellement pitié. Je vous demande de bien vouloir diminuer les châtiments et les peines infligés.

Selon l’érudit vietnamien Hoàng Xuân Hãn,  ce comportement à l’égard de son peuple n’est pas l’hypocrisie d’un homme politique mais elle est la manifestation de  sa miséricorde provenant de la religion bouddhiste. Le roi Lý Thánh Tôn faisait  partie de la première génération des disciples de la branche zhen « Thảo Đường » établie à la pagode Khai Quốc de la capitale Thăng Long. C’est aussi lui ayant eu l’intention de développer le domaine de l’art littéraire en édifiant les statues de Confucius et duc de Zhou et surtout les 72 sages dans le but de les vénérer. Cette académie confucéenne servait à cette époque de la première institution  impériale où le premier élève inscrit était âgé de 5 ans. C’est le prince héritier Lý Càn Đức ou le futur roi Lý Nhân Tôn. C’est grâce à cette idée que le roi Lý Thánh Tôn avait eue dans le but d’éduquer les rois et les fils du sang royal que son fils, le roi Lý Nhân Tôn décida de construire en 1076 à côté de cette institution dans la capitale Thăng Long un complexe architectural nommé « Fils de la nation (Quốc tử giám) ». Celui-ci était destiné à former les hommes de talent pour la nation.

Selon « Les Mémoires historiques du Grand Viet au complet », Lý Thánh Tôn était un roi « parfait ». Il était le fils aîné du roi Lý Thái Tông et  de la reine Kiêm Thiên (Mai Thị) et prenait Lý Nhật Tôn comme nom de naissance. Il était né le 30 mars 1023  et décédé le 1 Février 1072 à l’âge de 48 ans et régnait durant 17 ans. Quand il était encore prince, il fut permis par le roi-père de vivre au palais Long Đức. À l’âge de 15 ans, il fut nommé généralissime par son père.  Il  accompagna  ensuite ce dernier dans l’expédition militaire engagée contre les rebelles à  Lâm Tây (Lai Châu) et  réussit à obtenir la victoire. À l’âge de 17 ans, il fut chargé par son roi-père d’assumer la gouvernance pour lui permettre de mater la rébellion de Nùng Tôn Phúc à Cao Bằng.  À 18 ans, il fut autorisé par son père de résoudre toutes les affaires judiciaires de l’état et  organisa son tribunal au palais Quảng Vũ.  C’est pour cela qu’il connut les difficultés rencontrées par le peuple et ses souffrances. Il tenta de les résoudre non seulement avec les lois sévères mais aussi avec la charité et la bonté, de façon à obtenir l’adhésion de son peuple.

 

Par le biais de  la libération du roi du Champa Chế Củ (Rudravarman III), l’historien Ngô Sĩ Liên dit: Il est aussi un bon roi. Certains gens disent qu’il se montre très généreux mais pas assez énergique dans sa décision, cela sous-entend  que ce n’est pas tout à fait  juste. Il se sert peut-être du stratagème de libérer 7 fois Manh Hoach,  employé par  Zhuge Liang (Khổng Minh) à l’époque des Trois Royaumes  pour  servir  son but que l’on ne connait pas mais  on s’aperçoit de toute façon qu’il est aussi un roi ayant tendance à agrandir son royaume  car le Champa lui  a cédé 3  districts (Quảng Binh d’aujourd’hui et une partie du nord de Quảng Tri) en échange de la libération de son roi.

Du fait du refus du Champa de payer tribut au royaume « Đại Việt » et de  se soumettre clandestinement  à la dynastie des Song avec l’empereur Tống Thần Tông (Song Shenzong)  dans le but d’obtenir l’aide apportée par cette dernière dans la confrontation militaire avec le Đai Việt, la dynastie des Lý considérait cet acte comme une provocation qui était également une occasion pour elle de dénoncer l’arrière-pensée  de la dynastie Song de vouloir annexer Đại Việt et de punir le Champa, un pays vassal continuant à provoquer des troubles au bord des côtes vietnamiennes.

Au début de l’engagement militaire mené contre le Champa avec le général Lý Thường Kiệt, le roi Lý Thánh Tông n’arriva pas à obtenir la première victoire escomptée. Il fut obligé de rentrer au Vietnam avec son armée mais sur le chemin de retour, il apprit au district  Cư Liên que sa concubine régente Nguyên phi Ỷ Lan avait réussi à mieux gérer durant son absence les affaires courantes de l’état, à conquérir le cœur de son peuple et à rendre ce dernier heureux. Cette nouvelle l’obligea à dire ainsi: Elle réussit cet exploit. Pourtant c’est une femme. Moi, je suis un homme mais je ne peux pas agir mieux. Il décida de retourner au Champa, détruire sa capitale Vijaya et  capturer finalement son roi Rudravarman III. Celui-ci fut ramené au Vietnam avec 5000 prisonniers. Il fut obligé d’offrir au roi  Lý Thánh Tôn 3 districts en échange de sa libération.

Selon « L’histoire abrégée d’Annam (An Nam Chí Lược)» de Lê Tắc, parmi les prisonniers ramenés à la capitale Thăng Long pour devenir esclaves,  figurait un moine zhen chinois dont personne ne connaissait pas l’identité. Par hasard, il était choisi pour servir un mandarin chargé des affaires religieuses de l’état.  Un jour, lors de l’absence de ce dernier, le moine trouva sur son bureau un texte religieux rempli d’erreurs et décida d’y apporter des corrections. À son retour, le mandarin découvrit avec étonnement que son serviteur était un moine après avoir trouvé son texte religieux parfaitement corrigé. Il sut plus tard que le moine Thảo Đường était un érudit qu’il n’hésita pas à présenter au roi Lý Thánh Tôn. Celui-ci  le nomma ensuite  en tant que conseiller de l’état. Il devint ainsi le fondateur de la secte zhen « Thảo Đường », l’une des trois branches zhen du bouddhisme vietnamien  à l’époque de la dynastie des Lý. (Tì Ni Đa Lưu Chi,  Vô Ngôn Thông và Thảo Đường). À la fin de l’année 1069, le roi Lý Thánh Tông  nomma Quách Sĩ An en tant qu’envoyé en chef et Đào Tông Nguyên son adjoint pour informer la Chine des Song de la défaite du Champa.  Le roi Song Shenzong n’était pas du tout content de cette nouvelle mais il dut reconnaître dès ce jour que le Champa et le Chenla étaient les pays vassaux de Đại Việt. Depuis lors, le prestige de notre pays fut si grand que la dynastie des Song s’abstint de faire des provocations pour un moment car elle  dut faire face  aux Khitan du royaume Liao dans le nord.