
Cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ nhì của quân Mông Cổ.
La deuxième invasion des Mongols au pays Đại Việt.
Version française (en cours de traduction)
Năm 1259, Đại Hãn Mông Kha qua đời khi quân Mông còn đang trong chiến dịch tấn công nhà Nam Tống. Triều đại nầy bị tiêu diệt khi Hốt Tất Liệt chiếm được Hàng Châu vào năm 1276 và sự quy hàng những ổ kháng cự cuối cùng xung quanh Quảng Châu ba năm sau đó. (Lê Thành Khôi : ibid 180). Hốt Tất Liệt trở thành hoàng đế của nước Trung Hoa. Ông là người sáng lập triều đại nhà Nguyên. Sau khi diệt được Nam Tống, Hốt Tất Liệt đối xử một cách nhân đạo đối với vị vua trẻ bị giam giữ, Tống Cung Đế (4 tuổi) Vị vua trẻ nầy được đưa đến xứ Thổ Phồn (nay là Tây Tạng), bắt phải cắt tóc đi tu. Còn hoàng hậu nhiếp chính được chào đón một cách đầy trân trọng trước khi bà lui về một tu viện Phật giáo. Đó là lời chứng được kể lại của thương gia người Ý Marco Polo trong quyển sách có tựa đề « Marco Polo du ký » lúc ông đang phục vụ tại triều đình Hốt Tất Liệt. Chính nhờ đó Hốt Tất Liệt được người Hán chấp nhận nhận dễ dàng, xem ông là thiên tử của họ. Ông phải tranh giành quyền lực lúc bấy giờ với người em trai của ông là A Lật Bất Ca (Ariq Böke) được giới quí tộc Mông Cổ ủng hộ, dẫn đến cuộc nội chiến của dòng dõi Tolui kéo dài từ năm 1260 đến năm 1264. Sau đó A Lật Bất Ca (Ariq Böke) xin qui hàng.
Ông giành được phần thắng lợi sau cùng nhờ có được các nguồn lực nông nghiệp và kinh tế ở miền Bắc Trung Quốc mà ông kiểm soát được khiến A Lật Bất Ca bị ông bóp nghẹt về mặt kinh tế trong cuộc chiến. Hơn nữa ông còn được sự ủng hộ của các mưu sĩ và các quan lại người Hán đầy năng lực giúp ông tổ chức một bộ máy hành chính hiệu quả so với nền kinh tế thảo nguyên rất hạn hẹp mà đối thủ được có. Điều này đảm bảo cho ông có được sự hợp tác của thần dân ở địa phương về hậu cần và tài chính. Nhờ có nguồn lực từ đất Hán, quân đội của Hốt Tất Liệt được cung cấp lương thực đầy đủ liên tục trong cuộc chiến. Đây là những yếu tố then chốt để ông duy trì nỗ lực chiến tranh.
Ngay từ năm 1260, ông đã dời đô từ Karakorum ở Mông Cổ về Bắc Kinh. Ông đã có ý định tiếp thu tất cả các truyền thống Trung Hoa như là của mình. Hốt Tất Liệt thực sự tìm cách khẳng định ông là người kế thừa các vị hoàng đế vĩ đại của Trung Hoa đặc biệt là Hán Vũ Đế (triều đại nhà Tây Hán) thông qua việc khẳng định quyền tối thượng của đế chế mình trên toàn châu Á mà luôn cả vùng Đông Nam Á. Chính vì vậy tất cả các vương quốc phụ cận với đế quốc Mông Cổ đều trở thành các chư hầu lệ thuộc trong đó có Đại Viêt và Chiêm Thành cũng như có môt thời các nước nầy là các chư hầu của nhà Tống.
Nhà Trần có tục lệ truyền ngôi sớm cho hoàng thái tử khi vua cha còn sống để làm Thái Thượng Hoàng và để giúp vị vua trẻ quen dần với việc gánh vác chính sự dưới sự giám sát của vua cha. Như vậy tránh khỏi sự tranh giành quyền lực giữa các hoàng tộc, giử được đoàn kết nội bộ và bảo đảm quá trình chuyển giao quyền lực diễn ra một cách êm thấm. Dù Trần Thừa cha đẽ của Trần Cảnh (Trần Thái Tôn) không có môt ngày làm vua nhưng vẫn được tôn làm Thái Thượng Hoàng nếu không thì đây là sự soán ngôi vì Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng chớ có bao giờ nhường cho cha chồng đâu. Bởi vây ông vẫn được truy tôn miếu hiệu là Trần Thái Tổ của nhà Trần.
Sau khi thắng giặc Nguyên Mông lần thứ nhất, Trần Thái Tông lui về hậu trường làm Thái Thượng Hoàng và nhường ngôi lại cho Trần Hoàng tức là vua Trần Thánh Tông vào năm 1258. Phải đương đầu với tham vọng bành trướng của đế quốc Nguyên-Mông cường thịnh và hùng mạnh ở phương Bắc, Trần Thánh Tông dùng chính sách mềm dẽo, cống nạp nhà Nguyên 3 năm 1 lần với các đồ sản vật qúi lạ như sừng tê giác, ngà voi, đồi mồi vân vân nhưng ông cự tuyệt không cống người và voi và từ chối đích thân sang chầu. Ông còn khước từ việc gửi sang nước ta một quan chưởng ấn để đi giảm trị các châu quận nước ta và để biết nước ta có những gì để liệu đường mà đánh lấy cho tiện (Trần Trọng Kim, ibid 110). Ngoài ra, Trần Thánh Tông tích cực chỉnh đốn quân đội, tổ chức tuần tra biên giới để đề phòng sự xâm lược của giặc Nguyên.
Thừa dịp Trần Thái Tông qua đời, Trần Thánh Tông lên làm thái thượng hoàng nhường ngôi cho Trần Khâm (Trần Nhân Tông) và lui về ở Thiên Trường năm 1279. Hốt Tất Liệt mới gửi sứ giả Sài Xuân (hay Sài Thung) đòi Trần Nhân Tông sang chầu để tỏ lòng thần phục.
Sài Thung nổi tiếng trong lịch sử là một kẻ hống hách, kiêu căng và tìm mọi cách để hạ nhục triều đình nhà Trần. Ông đến với tư cách Thượng thư bộ Lễ nhằm thăm dò thái độ và ép vua tôi nhà Trần đầu hàng không tốn xương máu. Ông cố tình hạ nhục quốc thể Đại Việt bẳng cách tiếp thái sư Trần Quang Khải nằm khểnh trên giường trong sứ quán và không ngồi dậy ra mà ra đón tiếp thái sư.
Đây là một chiến thuật tâm lý xem coi vua tôi nhà Trần có run sợ trước sức mạnh của phương Bắc hay không? Chính qua sự kiện nầy mới thấy cái tuyệt chiêu của Hưng Đạo Vương mà chúng ta phải kính phục. Biết chuyện ngạo mạn nầy, ông liền cạo đầu, mặc áo vải đóng giả làm một nhà sư phương Bắc để đến sứ quán. Lầm tưởng là nhà sư phương Bắc thật nên Sài Thung ngồi dậy tiếp đón tử tế. Đây là cách thức để nước ta giữ được thể diện, buộc kẻ thù phải đổi thái độ mà cũng không cần dùng vũ lực đối với kẻ ngạo mạn.
Khác với mọi lần, để kéo dài thời gian hòa hoãn và chuẩn bị lực lượng quân sự, vua ta Trần Nhân Tôn rất khéo léo từ chối và cử người chú họ là Trần Di Ái, con trai thứ tư cũa Trần Thừa và em trai của vua Trần Thái Tông, sang thay mặt mình gánh vác trách nhiệm ngoại giao. Nhưng Hốt Tất Liệt nhận thấy có cơ hội dùng đòn ly gián bằng cách phong Trần Di Ái làm An nam Quốc Vương để thay thế vua Trần và sai Sài Thung dẫn theo 1.000 quân hộ tống. Nhận được tin nầy vua Trần Nhân Tôn chủ động sai tướng chặn đánh đội quân hộ tống của nhà Nguyên ngay lúc họ tiến đến Ải Nam quan khiến họ bị thua tháo chạy tan tác. Sai Thung bị trúng tên đui một mắt, còn Trần Di Ái bị bắt sống đưa về triều, phạt tội đồ đày làm lính hầu lo việc phục dịch ở phủ Thiên Trường.
Qua lăng kính của các sử gia thì Hốt Tất Liệt có ý đồ xâm chiếm nước Chiêm Thành với hai lý do sau đây:
1°) Vương quốc Champa đóng vai trò then chốt trên các tuyến đường hàng hải nối liền Trung Quốc và Ấn Độ trong một thời gian dài. Hốt Tất Liệt muốn có các đội tàu buôn của mình được an ninh đem lại sư thịnh vượng cho đế chế và các căn cứ hải quân để hỗ trợ cho các hoạt động quân sự trong tương lai tại Đông Nam Á.
2°) So với Đại Viêt, Chiêm Thành có thể bị chiếm dễ dàng được qua đường biển. Vương quốc nầy có dân số thưa thớt và phân bố trên một vùng đất rộng dưới thời trị vì của ông vua già yếu Indravarman V.
Cũng có dịp cho Hốt Tất Liệt dùng chiêu bài mượn đường Đại Việt để đánh Chiêm Thành nhưng thật sự là mưu đồ gọng kìm để thôn tính cả hai nước. Điều nầy vua ta Trần Nhân Tông đã nhận ra được từ lâu nên khi quan trấn thủ Lạng Sơn cho người về kinh đô phi báo với ông. Nhân Tông ngự thuyền ra sông Bình Thang để hội các vương hầu bách quan phải dùng kế nào chống giặc. (Trần Trọng Kim, ibid 115) Các quan người thì nói để cho quân Mông-Nguyên mượn đường, người thì bảo nên đưa đồ sang cống kỳ kế hoãn binh chỉ có Trần Quốc Tuấn và Trần Khánh Dư quyết xin đem quân trấn giữ những nơi hiểm trở không cho giặc Nguyên-Mông mượn đường sang đánh Chiêm Thành. Vua Trần Nhân Tông ưng ý nghe theo. Ông phong Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội Đại Việt để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ hai. (1283). Còn Trần Khánh Dư được giao giữ chức phó tướng quân trấn giữ Vân Đồn dưới quyền tổng chỉ huy của Trần Quốc Tuấn. Nhân Tông còn thực hiện kế sách « hợp tung » phối hợp hỗ trợ lẫn nhau với Chiêm Thành để cùng nhau chống giặc ngoại xâm.
Chúng ta mới nhận thấy Trần Nhân Tông là một vị hoàng đế anh minh kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam, nổi tiếng với tài trị quốc. Lúc nào cũng dựa lên tinh thần đoàn kết dân tộc và luôn luôn có chính sách đối ngoại vô cùng khéo léo. Ông tin tưởng giao toàn bộ quyền quân sự cho Trần Hưng Đạo nên tạo ra sự đồng lòng mẫu mực giữa vua và tôi để hai lần đánh bại quân Nguyên–Mông dù biết rằng Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn là con trai của An Sinh vương Trần Liễu. Ông còn tha chết, biết trọng tài năng và phục chức cho Trần Khánh Dư, một nhà quân sự xuất chúng chỉ đứng sau Trần Hưng Đạo về nghệ thuật quân sự và mưu lược, nổi tiếng với câu nói trong dân gian « lắm tài nhiều tật » khi Trần Khánh Dư vướng vào vụ bê bối thông dâm với công chúa Thiên Thụy, con dâu của Trần Hưng Đạo, súy mất mạng phải lấy công chuộc tội. Vua còn thể hiện tầm nhìn chiến lược của một nhà chính trị đại tài để bảo vệ nền độc lập trước thế lực phương Bắc và mở rộng bờ cõi không bằng xương máu về sau ở phía nam qua cuộc hôn nhân chính trị mang tính chiến lược (Huyền Trân công chúa với vua Chế Mân (Jaya Simhavarman III).
Tháng 8 năm giáp-thân (1284), Trần Hưng Đạo truyền hịch cho các vương hầu và quân sĩ tại bến Đông bộ đầu để điểm duyệt và được biết quân thủy và quân bộ cả thảy được 200.000 quân. Ông mới sai Trần Bình Trọng đem quân đi đóng ở Vân-Đồn (Quàng Yên) còn các tướng thì chia ra đống ở các nơi hiểm yếu. Ông thì đóng ở Vạn Kiếp (Hải Dương) để tiếp ứng mọi nơi. Còn phía quân Nguyên-Mông thì được thái tử Thoát Hoan (Toghon) con của Hốt Tất Liệt chỉ huy tiến binh vào nội địa Đại Việt dù vua Nhân Tôn có sai người thương thuyết nhưng bị khước từ. Vua buộc lòng triều tập các bộ lão thân hào và nhân sĩ tại Diên Hồng đề bàn có nên Hoà hay Chiến. Mọi người đồng thanh xin đánh. Đây là người xưa gọi là khất ngôn (référendum). Vua mới thấy vậy an lòng lui về Hải Đông và cầm bút viêt hai câu thơ trên đuôi thuyền của Trần Hưng Đạo nhắn nhũ Hưng Đạo vương hãy nên nhớ: Câu Tiễn ở Cối Kê ngày xưa, ái quốc như thế nào vương nên nhớ. Biết rằng ở Châu Hoan (Nghệ An), Châu Ái (Thanh Hóa) còn dự trữ 10 vạn binh nữa. (Thái văn Kiểm, ibid 97).
Cối kê cựu sự quân tu ký
Hoan Ái tồn thập vạn binh.
Đây là lời nhắn nhũ cuối cùng của Trần Nhân Tôn với Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. Giờ đây tất cả mọi việc đều trong cậy vào tiết chế đấy thôi.
Khi đến ải Nam Quan cùng với 50 vạn quân hùng mạnh, Thoát Hoan (Toghon) mới sai sứ giả Ali mang thơ cho vua Trần Nhân Tôn mượn đường nước ta để sang đánh Chiêm Thành. Nhưng vua ta từ chối lấy cớ không tiện cho việc chuyển binh đi đường bộ. Sau đó vua giao sứ giả lại cho Trần Hưng Đạo bị ông ta đuổi về.
Thông thạo binh pháp, Trần Hưng Đạo mới phân binh ra ở hai ải Khả Li, Lọc Châu (thuộc Lạng Sơn). Còn ông dẫn đại quân đóng ở Kỳ Cấp và thuyền bè thì đóng ở Bến Chữ (Bái Tân) thượng lưu sông Lục Nam với hình tam giác (thế chân kiền) để yểm trợ cho nhau. Ba vị trí này tạo thành một thế trận khép kín nhưng linh hoạt. Khi một điểm bị tấn công, hai điểm còn lại có thể lập tức cơ động ứng cứu, bọc lót từ hai bên sườn hoặc phía sau, khiến quân địch dễ rơi vào thế bị gọng kìm kẹp chặt.
Đây là nghệ thuật bố trí trận thế phối hợp bộ binh và thủy binh, một tư duy quân sự đỉnh cao được Trần Hưng Đạo áp dụng vô cùng thuần thục. Lạng Sơn và vùng thượng lưu sông Lục Nam vốn có địa hình đồi núi, sông ngòi đan xen. Trần Hưng Đạo đã tận dụng triệt để « địa lợi » này để chia cắt đội hình hành quân vốn quen lối đánh đồng bằng, thảo nguyên của quân Nguyên- Mông.
Lúc đầu Thoát Hoan còn e ngại nhưng vì số quân Nguyên-Mông nhiều gấp mấy lần quân ta nên Thoát Hoan tấn công cả ba mặt lấy được hai ải rồi Thoát Hoan dồn toàn quân tấn công Kỳ Cấp khiến quân ta bị dồn ra khỏi núi và Hưng Đạo buộc lòng phải chạy về Chi Lăng qua bến Bãi Tân. Nơi đây Yết Kiêu ở lại giử thuyền. Nhưng Thoát Hoan đánh rốc vào Chi Lăng dữ dội buộc Hưng Đạo vương phải lui về lại Bãi Tân ( Bến Chữ ) với tàn quân. Ông muốn đi đường bộ nhưng gia bộc Dã Tượng lại ngăn cản Hưng Đạo Vương không nên vì tin rằng « Yết Kiêu chưa thấy Đại Vương thì nhất định không rời thuyền ». Quả nhiên, khi ra đến Bãi Tân, Trần Quốc Tuấn thấy thuyền của Yết Kiêu vẫn còn ở đó chờ sẵn. Nhờ chiếc thuyền này, ông đã kịp thời thoát khỏi sự truy đuổi của kỵ binh giặc Nguyên. Cảm động trước lòng trung nghĩa tuyệt đối ấy, Hưng Đạo Vương mới thốt ra lời ca ngợi: « Chim hồng hộc muốn bay cao phải nhờ ở sáu trụ xương cánh… « . [Thời Trần, tất cả các quý tộc và quan lại đều có gia nô. Nhưng gia nô suốt đời phải phục dịch cho chủ nhân. Dưới chế độ phong kiến không ai có địa vị thấp hèn như họ cả. Họ mang tên của những con thú thì biết thân phận của họ như thế nào thế lạiđược Trần Quốc Tuấn lại trọng dụng họ thì phải khen họ là những bậc anh hùng cái thế cũng như chủ nhân họ đấy thôi.]
Nhân Tôn nghe Hưng Đạo vương thua chạy về Vạn Kiếp liền ngự một chiến thuyền nhỏ xuống Hải–Đông (tức Hải Dương) rồi triều Hưng Đạo về để bàn việc. Trong bụng lo sợ, vua mới nói: Đối phuơng quá mạnh mà chống với nó thì hại muôn dân, hay là để trẫm chịu hàng để cứu muôn dân. Hưng Đạo vương mới tâu rằng: Bệ hạ nói vậy thật là lời nhân đức nhưng mà Tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng thì chém đầu thần đi đã. Nghe lời nói trung liệt cứng cỏi của Hưng Đạo vương, Nhân Tông mới thấy an lòng. (Trần Trọng Kim, ibid 117). Ông ngày đêm chiêu tập các đạo quân ở Vạn Kiếp được lên đến 20 vạn quân. Ông có soạn ra một quyên Binh Thư yếu lược để khuyên răng tướng sĩ phải hết lòng luyện tập và quyết chí đánh giặc cho nên người nào cũng lấy mực thích vào cánh tay hai chữ Sát Đát tức là giết quân Mông Cổ. Bởi vậy khi quân Nguyên-Mông thắng ở Vạn Kiếp, người nào có chữ Sát Đát ở trên cánh tay là bị giết ngay. Biết khó giữ được thành Thăng Long, Hưng Đạo vương rước vua và Thái Thượng Hoàng ra ngoài thành chạy về phía nam trước khi thành thất thủ khiến Thoán Hoan nổi giận sai quân rượt theo.
Vào mùa thu năm 1282, Toa Đô (Sögetu) được lệnh của Hốt Tất Liệt dẫn một đạo quân Nguyên-Mông đi đường bể sang đánh Chiêm Thành với 350 chiếc thuyền và chiếm được không tốn sức nhiều Vijaya (Đồ Bàn) cùng các thành phố trọng yếu của Chiêm Thành (1283). Những thắng lợi đó chẳng kéo dài được bao lâu. (Lê Thành Khôi, ibid 182). Dưới sư chỉ huy của hoàng tử Harijit (Chế Mân) người Chăm tiến hành một cuộc chiến tranh du kích ác liệt chống lại quân Nguyên-Mông. Hơn nữa họ phải chịu đựng cái nóng, bệnh tật và tình trạng thiếu lương thực khiến chiến dịch quân sự kéo dài, đánh mãi mà không thắng. Chính vì vậy Hốt Tất Liệt hạ chiếu sai Toa Đô theo đường bộ kéo ra Nghệ An, hợp với quân Thoát Hoan mà đánh nước ta. Được tin nầy, Thoát Hoan sai tướng Ô Mã Nhi (Omar) đi đường bể vào tiếp ứng Toa Đô đánh từ mặt trong đánh ra còn ở mặt ngoài thì quân Nguyên-Mông chia ra giữ cả các bến từ Thăng Long xuống đến khúc sông Đại Hoàng (Hà Nam). Trần Hưng Đạo được tin nầy liền sai thượng tướng Trần quang Khải đưa binh vào đóng Nghệ An chặng đường tiến của Toa Đô và Trần Bình Trọng ở lại giữ Thiên Trường. Còn ông thì đưa vua về Hải Dương. Trần Quang Khải chống giữ không nổi nhất là Ô Mã Nhi ở mặt bể đánh vào khiến phải lui binh. Một số hoàng tộc nhà Trần ra hàng đầu với Toa Đô trong đó có Trần Kiện (cháu nội của Trần Thái Tông, quan trấn thủ Nghệ An), Trần Ich Tắc, Trần Tú Viên. Chỉ có Trần Hưng Đạo tìm kế ngày đêm đánh giặc không nao núng chút nào cả.
Trấn giữ Thiên Trường (Nam Định), Trần Bình Trọng chẵng may bị vây bắt lúc đem binh ra đánh. Thoát Hoan cố tình khuyên dụ nhưng ông không chịu đầu mà còn để lại một câu nói bất hủ: Ta thà làm quỉ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc khiến ai nghe đến cũng động lòng thương xót. Thoát Hoan thấy dụ dỗ không được sai quân đem chém lúc ông được 26 tuổi. Bấy giờ quân Nguyên-Mông đông mạnh thế, đóng khắp mọi nơi (Bắc Ninh, Thăng Long, Thiên Trường). Trước tỉnh thế nguy nan, Trần Hưng Đạo bèn rước xa giá ra Quảng Yên rồi sau cùng đưa Nhân Tông về tỉnh Thanh Hóa.
Còn Toa Đô đánh hoài mà không lấy được mà lương thảo càng ngày lại cạn nên lấy quyết định cùng Ô Mả Nhi dẫn quân ra đường biển để hợp binh với Thoát Hoan. Đươc tin nầy Trần Quang Khải cho người về báo với Nhân Tôn thì ông mới hội quần thần lại hỏi kế. Trần Hưng Đạo mới tâu : Từ Chiêm Thành trở ra quân qua Thuận Hóa, Nghệ An quân sĩ vất vả. Nay lại vượt bễ ra Bắc thì sức lực của họ cũng giảm nhiều. Đây là lúc thuận tiện để mà đánh chắc chắn là phá được. Nhân Tôn nghe lời mới phong Trần Nhật Duật làm tướng và Trần Quốc Toản làm phó tướng với 5 vạn binh ra đón đường chặn đánh Toa Đô ờ bến Hàm Dương. Quân ta thắng trận buộc Toa Đô phải lui về cừa Thiên Trường. Được tin thắng trận, vua nghe lời Trần Hưng Đạo truyềnh lệnh cho Trần Quang Khải từ Nghệ An ra đánh Thoát Hoan đi vòng đường bể đến bến Chương Dương để khôi phục kinh thành Thăng Long với Phạm Ngụ Lão. Trước sự dũng cảm của quân ta, Thoát Hoan phải bỏ Thăng Long chạy về Bắc Ninh và quân ta đại thắng. Trần Quang Khải vào thành và mở tiệc ăn mừng khao quân. Lúc cảm hứng, ông mới ngâm bài thơ mà sử gia Trần Trọng Kim đã dịch như sau:
Chương Dương cướp gíáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu
Sau đó ông sai người về Thanh Hoá phi báo thắng trận lên vua Nhân Tông. Vua vui mừng không xiết và quyết định dời đô về Ninh Bình để tiện bề theo dõi những biến chuyển. (Thái văn Kiểm, ibid 101). Sau đó là trận Tây Kết. Đây là trận đánh quyết định vào tháng 5 năm 1285 trong cuộc chiến Nguyên-Mông lần thứ nhì. Trần Hưng Đạo chia các ngả đường chặn đánh, cô lập lực lượng của Thoát Hoan và Toa Đô không cho liên lạc với nhau. Quân Nguyên bị đánh tứ phía phải chống chọi mãnh liệt để tìm đường mà chạy. Toa Đô bị bắn chết tại trận bởi tướng quân Nguyễn Khoái, trong khi Ô Mã Nhi chạy ra tới biển lấy ghe trốn về Trung Quốc. Khi thấy đầu của Toa Đô mà các tướng mang về nộp, Nhân Tông mới than rằng : Làm bầy tôi phải như người nầy rồi ông cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô để tỏ lòng khâm phục người dũng liệt chết vì hết lòng với chúa.
Thoát Hoan nghe tin Toa Đô bị bắn chết, Ô Mã Nhi thì chạy trốn về Tàu thì tinh thần bị lung lay mà binh sĩ thì không còn sức lực để chống chọi nữa nhất là thêm vào đó, khí hậu nóng nực, bệnh dịch tể hoành hành. Lo sợ đại quân nhà Trần thừa thắng xông lên bao vây Thăng Long, Thoát Hoan lập tức hạ lệnh bỏ kinh thành, dẫn tàn quân rút lui tháo chạy về nước nhục nhã trong ống đồng để giữ mạng mạng sống theo hướng Bắc (Lạng Sơn). Quân ta thành công dẹp tan giặc và đánh đuổi nửa triệu quân ra khỏi bờ cỏi.
Cuộc xâm lăng của quân Nguyên-Mông lần thứ nhì bị thất bại vì nhờ tinh thần đoàn kết và ý chí sắt đá quật cường của dân tộc qua hội nghị Diên Hồng, việc sử dụng chiến lược « vườn không nhà trống » qua cách tạm bỏ kinh thành Thăng Long, tiêu tán toàn bộ lương thực và tài sản làm quân Mông mất đi phương hướng và lãnh đạo tài ba của Trần Hưng Đạo biết nhẫn nại chờ thời cơ thuận tiện để phản công nhanh lẹ với các trận quyết định Hàm Tử, Chương Dương và Tây Kết.
Bibliographie
Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược . Histoire du Viet Nam. Imprimerie Vĩnh & Thanh 1928.
Lê Thành Khôi: Le Viet-Nam. Histoire et Civilisation. Les Éditions de Minuit. 1955
Thái Văn Kiểm: Việt Nam Quang Hoa. Editeur Xuân Thu
René Grousset: Histoire de lA Chine. Editeur France Loisirs 1997
Bai Shouyi : Précis d’histoire de Chine. Edition en langues étrangères. 1988
Yamamoto T. : La conquête de l’Annam par les Yuan et les Ming. Tokyo. 1950
















