Cathédrale Saint Joseph (Nhà thờ Lớn Hànội)

Version française

Dựa theo mẫu nhà thờ Đức Bà Paris, nhà thờ Saint Joseph được thiết kế bỡi giám mục Paul-François Puginier theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ  Âu Châu và được xây dựng  vào năm 1884 trên khu đất mà trước đó có  chùa Báo Thiên, một chùa nổi tiếng đã có từ thời nhà Lý (thế kỷ 11) . Nhà thờ nầy thường đươc gọi là nhà thờ lớn vì ngoài kích thước hoành tráng  với  chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m có đến 5 chuông còn lại là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội. Nhà thờ nầy được hoàn thành vào năm 1886 sau bốn năm xây cất. Chi phí tốn kém nhờ hai đợt xổ số (đợt một năm 1883, đợt hai năm 1886). Tuy rằng bề ngoài của nhà thờ có vẻ đen tối vì ô nhiễm, nhà thờ nầy vẫn được xem là một di tích lich sữ thời kỳ Pháp thuộc và là điểm tham quan cực kỳ quan trọng đối với người du khách nước ngoài khi đến Hànội.

 

Basée sur le modèle de Notre Dame de Paris, l’église Saint Joseph dont les plans ont été dessinés par l’évêque  Paul-François Puginier est   du style néo-gothique. Elle fut construite  en 1884  sur l’emplacement de la pagode Báo Thiên, un édifice bouddhique très connu à l’époque de la dynastie des Lý (11 ème siècle).  Cette église est fréquemment appelée « grande église » car outre ses dimensions imposantes avec sa longueur de 64,5 mètres, sa largeur de  20,5 mètres  et ses deux clochers carrés hauts de 31 mètres et  équipés de 5 cloches, elle est encore  l’église-mère de l’archidiocèse d’Hanoï. Sa réalisation fut terminée en 1886 après 4 années de construction avec l’argent alimenté par le système de loterie (organisé en 1883 et en 1886). Malgré son aspect extérieur assombri par la pollution, cette église est un vestige historique de l’époque coloniale française et devient actuellement l’un des sites  extrêmement importants pour les touristes étrangers lors de leur passage à Hanoï.

 

Lotte center (Hànội)


Version française

Tọa lạc ở giữa thành phố Hànội trong quận Ba Đình, trung tâm  Lotte center Hànôi   gồm 65 tầng nổi và 5 tầng hầm. Toà nhà nầy cao thứ 2 Việt Nam từ năm 2014 cho tới khi landmark 81 của Saigon  vượt qua chiều cao của nó 2017 (bề cao 461,5m). Nơi nầy, ngoài khách sạn 5 sao, còn có  đại siêu thị Lotte Mart chiếm toàn bộ tầng hầm B1. Từ tầng 1 đến tầng 6  là trung tâm thương mại với các mặt hàng thời trang cao cấp. Đến đây , có thể nhìn thấy tổng quát Hà thành với  đài quan sát  Sky Walk ở tầng 65, cao tới 272 m.  Ngoài ra còn bố trí các quán bar để du khách giải lao và ăn uống. 

 

Trung Tâm Lotte

Le gratte-ciel Lotte center  est situé au cœur de la capitale de Hànội dans le district de Ba Đình.  Il a 65  étages et 5 étages en sous-sol.  Classé deuxième au Vietnam depuis 2014, il est devancé désormais par le gratte-ciel landmark 81 de Saigon. Ce dernier  a la  hauteur de 461,5m.  C’est ici qu’outre l’hôtel 5 étoiles, il y a encore le supermarché Lotte Mart. Celui-ci  occupe  carrément  l’étage en sous-sol B1. Du premier étage jusqu’au 6ème étage, c’est le centre commercial avec des boutiques de mode. La tour d’observation Sky Walk haute de 272m est  au 65 ème étage. On peut y avoir la vue d’ensemble  magnifique  de la capitale Hànội.  Le cadre est aussi superbe avec les bars et restaurants. Les visiteurs peuvent  s’y  détendre.

Hà Giang, vẽ đẹp của miền sơn cước

 


Version française

Nằm ở vùng núi phía Bắc Vietnam, Hà Giang là một tỉnh có nhiều núi rừng, giáp ranh giới vói tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Dân số ở nơi nầy rất thưa, chỉ có khoảng chừng 900.000 người theo điều tra dân số năm 2016. Tuy nhiên chính ở nơi nầy tụ hơp rất nhiều dân tộc thiểu số (22 dân tộc) trong đó đáng kể nhất là người Hmong (hay Miêu) tiếp đó người Tày, người Dao và người Nùng. Đến đây mới thấy được cái đẹp tư nhiên của tạo hóa, cái hùng vĩ của non nước, cái nhọc nhằn, công lao của ông cha ta gìn giữ bờ cõi đất nước trước hiểm họa của người phương bắc. Chính cũng ở nơi nầy mới có cảm xúc nhiều khi lặn lội trèo lên 389 bậc thang ở đỉnh Lũng Cú mà thường được gọi là đỉnh núi Rồng (Long Sơn) (1700 mét), nơi mà danh tướng Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm dựng lên lúc ban sơ cây cột cờ để khẳng định chủ quyền Vietnam trên mãnh đất nầy. Tuy Hà Giang nó rất còn hoang sơ của miền sơn cước nhưng nó có cái gì thiêng liêng mà không thể diễn tả được khi đến với mãnh đất nầy. Tôi còn nhớ trước ngày đi đến, ai cũng khuyên không nên đi vỉ tuần trước đường xá sạt lở vì bão Sơn Tinh. Có thể nguy hiểm cho tánh mạng và có thể hủy đi lịch trình Hà Giang khiến tôi sẻ mất một tuần ở Vietnam nhưng rồi tôi cũng quyết tâm đi cùng các con cháu. Tôi mới có dịp nhìn thấy được nét đẹp của Hà Giang, đến tham quan cao nguyên đá Đồng Văn mà cơ quan UNESCO chín thức công nhận là Công Viên địa chất toàn cầu đầu tiên của Vietnam và thứ hai ở Đông Nam Á sau Langkawi (Mã Lai)  vào năm 2010.

Hôm đi, không có gì trở ngại cả, cứ lấy quốc lộ 2 đến Tuyên Quang rồi sau đó đến thành phố Hà Giang nghỉ một đêm ở một khách sạn trong thành phố Hà Giang. Trên đường, có một quán bán nước mía không thấy có ruồi chi cả dù có bã mía rất nhiều trong thùng rác. Thấy vậy tôi,  các con cháu và cháu  tài xế mới mua uống  mỗi người một ly. Hai vợ chồng bán nước mía nầy họ trồng sau vườn các bụi mía. Thât ngon và sạch nhất là ở đất nầy không thấy có  ruồi có lẽ tại khí hậu của rừng núi và dân số quá thưa. Lâu lắm rồi mới uống được một ly nước mía trong sạch chớ bao giờ dám uống mỗi lần vê Việtnam.  Chiều đó  còn được một cặp vợ chồng bạn con dâu mình mời và  đãi một buổi cơm với món ăn đặc trưng ở Hà Giang là lẩu ngựa. Ăn kèm theo rau rừng, mùi vị béo ăn cũng không ngán để làm ấm lại con người khi  không gian thời tiết se lạnh hay mưa rỉ rả trong đêm. Sáng sớm mưa vẫn rơi, tụi nầy tiếp tục hành trình đi Đồng Vạc với quốc lộ 4C, mình hơi lo, cứ nhủ thầm trong lòng, cứ  sương mù xuống nửa lừng đồi thêm mưa rỉ rả  như vầy  thì chuyện chụp hình của mình cũng hỏng chưa nói chuyện sạt lở đất ở giữa đường đi, đôi khi có một  tảng đá to lớn vài tấn nằm bên hông đường. Không có chỉ dẩn rõ ràng chi cả có đi đuợc hay không, cháu tài xế Minh cứ lẳng lặng lái xe. Chính nhờ  sự bình tĩnh cũa Minh và tính tiền định có ở nơi người con Việt mà sự  lo âu của mình cũng dần dần biến mất nhất là có những đọan đường không có mây đen trời lại nắng khiến mình mãi mê chụp hình mà quên tất cả. Nhưng có những đoạn đường quanh co nguy hiểm đến đổi phải sửng sốt đèo nầy qua thì đèo khác tới khiến làm ai cũng mệt  nhất là chỉ có tổng cộng hơn 200 cây số mà 6, 7  tiếng đồng hồ phải mất .  Mệt thì có mệt nhưng với không gian yên tĩnh, con người hiền hòa của vùng sơn cước thì  cũng nên cần có  chớ không như ở Saïgon hay Hànội  cái ồn ào ầm ĩ của tiếng kèn, cái không gian sôi động không ngừng.  Cũng không có trộm cắp như các đô thị khác theo lời kể của cháu tài xế. Cụ thể là gà, vịt, trâu và bò vẫn ngẩn ngơ do dự   từng bước  sang ngang trên quốc lộ mà tất cả xe lớn xe nhỏ phải tránh và dù tụi nó  xa nhà của chủ nhân có cả cây số. Cũng không ai dám cán  chúng nó vì sợ chủ nhân đòi đền gấp  nhiều lần hơn. Dọc theo quốc  lộ,  lúc nào cũng thấy các cánh đồng ngô xanh của dân tộc Hmong. Họ rất giỏi về làm ruộng. Bởi vậy từ thưở nào người Trung Hoa  dùng chữ  tựơng hình điền  thêm trên đầu  chữ  tượng hình thảo (lúa) để ám chỉ nguời Hmong   hay Miêu, những người  giỏi về canh tác đấy.  Cũng đúng thôi vì nhìn  trên tản đá chỉ cần một tí đất là  cây ngô có thể chồi ra dễ dàng. Đôi khi dọc theo đường nhìn sâu qua kiến xe có một  hay hai cái nhà của người Hmong nằm cheo leo sườn núi không biết họ xây dưng làm sao và đi thể nào để vào đó.  Cũng có phần  may mắn khi  đến Đồng Văn có một nhà trọ mới sửa ở phố cổ nên tụi nầy được trọ đêm thứ nhì ở  đây. Mưa vẫn rơi tầm tã nên đèn đuốc cũng lờ mờ, không có trông đẹp như Hội An, Phố cổ Hànội. Có lẻ tụi nầy đến giữa tuần nên không có nhộn nhịp như lúc cuối tuần. Sáng ngày thứ ba, tụi nầy mới có dịp ăn điểm tâm ở đây, ăn bánh cuốn trứng  Đồng Văn, đặc sản ở  miền sơn cước. Nó cũng được tráng từ bột gạo và nhân làm từ lợn xay ra, chỉ có khác là thay vì ăn kèm với nước mắm pha chanh đường thì họ dùng với nước hầm (ninh) xương kèm theo hai chiếc giò lụa nhỏ.  Mình chỉ  thấy có một hương vị đặc biệt nhưng vì có mỡ của xuơng nên ăn dễ  ngán lắm. Có lẽ là một cách ăn để ấm lòng và  xua đuổi cái lạnh của rừng Tây Bắc cũng như ở Pháp thường ăn bơ với mùa đông. Sau đó tụi nầy  đi một vòng ở phố cổ Đồng văn, mới có dịp nhìn thấy được cách thức rửa cây lin  mà người Hmong dùng để  dệt vãi  với nước suối trước khi đi tham quan đỉnh Lũng Cú và nhà vua Mèo Vương Chính Đức.  Biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên và cảm xúc không ít với ba ngày ở Hà Giang nhất là có các con cháu bên cạnh, lúc nào cũng trơ lực  trong chuyến đi nầy từ Hà Giang đến Cà Mau, hai cái mốc của đất nước cách xa  1535 cây số.

Cuộc hành trình Hà Giang  theo hình ảnh 

 

L’itinéraire du voyage à travers les photos

Située dans la région montagneuse du Nord Vietnam, Hà Giang est une province partageant la frontière commune avec  la contrée du sud-ouest de la Chine, Yunnan. Sa population est peu dense et estimée à peu près de 900.000 habitants selon la statistique démographique en 2016. Pourtant c’est une région où il y a la concentration importante  des ethnies minoritaires du Vietnam (22 ethnies) parmi lesquelles il faut citer d’abord les Hmongs suivis par les Tày, les Dao et les Nùng. C’est ici qu’on découvre la beauté extraordinaire du Créateur,  la nature grandiose et magnifique du Vietnam fascinant, le labeur et le mérite de nos ancêtres dans l’action de résister à la menace des gens du Nord. C’est ici seulement qu’on ressent une émotion intense lorsqu’on grimpe les 389 marches de l’escalier en pierre de la colline Lũng Cú qu’on est habitué à appeler la « colline du Dragon » à 1700 mètres d’altitude. C’est ici aussi que le général vainqueur  des Song et pacificateur du Chămpa  Lý Thường Kiệt a édifié au début un mât en bois de quelques mètres pour affirmer  avec intransigeance la souveraineté du Vietnam sur ce territoire. Bien que ce dernier ait l’air d’une région montagneuse  sauvage et difficilement pénétrable, il y a quelque chose sacrée que je n’arrive pas à décrire en venant ici. Je rappelle bien que la veille de mon départ, tout le monde m’a recommandé d’abandonner le projet de visiter Hà Giang  car elle a été dévastée la semaine précédente par la tempête « Sơn Tinh ». Cela pourrait provoquer des ennuis pour moi et me faire perdre une semaine de vacances au Vietnam. Malgré cela, je continue à persister dans le dessein d’y aller. J’ai ainsi l’occasion d’admirer le charme irrésistible  de Hà Giang et de visiter le plateau karstique Đồng Văn que la fondation  UNESCO a reconnu comme le deuxième parc géologique de l’Asie du Sud Est après celui de la Malaisie (Langkawi) en 2010.

Nous  n’avons  aucun souci le jour du départ. Nous  n’avons  qu’à prendre la route nationale n°2 pour aller à la ville Tuyên Quang avant de rejoindre ensuite  la ville Hà Giang pour passer la nuit à l’hôtel.  Sur la route, nous avons l’occasion de rencontrer un kiosque  détenu par un couple et spécialisé dans la vente du jus de canne à sucre. Nous constatons  qu’il n’y a pas de mouches aux alentours malgré la présence d’une poubelle remplie de déchets de canne à sucre broyés. Nous pensons que le climat joue un rôle important et la démographie n’est pas importante. Nous sommes tentés, chacun  de prendre un verre de jus de canne à sucre. C’est extrêmement délicieux car jusqu’à ce jour je n’ose pas à le prendre quand je reviens au Vietnam. Le soir  même, nous sommes invités par un couple d’amis de  ma belle-fille Oanh dans un restaurant connu pour sa spécialité locale (lẫu ngựa)(ou fondue vietnamienne de viande de cheval). Accompagné par les légumes de la région montagneuse, ce plat ayant la saveur grasse ne nous dégoûte pas mais il nous réchauffe tellement  lorsque le temps commence à se refroidir et la pluie est sporadique durant toute  la nuit. Le lendemain, la pluie continue à tomber toujours. Malgré cela, nous prenons   la route nationale 4C  en direction de Đồng Văn.  L’inquiétude commence à m’envahir car si le brouillard continue à s’épaissir de plus en plus à mi-hauteur de la colline avec la pluie persistante comme celle de la nuit, l’idée de faire les photos  serait tombée à l’eau sans  évoquer les dégâts causés sur la route par la dernière tempête ( plusieurs  gros bloc de pierre de plusieurs tonnes  étant souvent visibles au bord de la route). Aucune indication n’est fournie pour connaître la praticabilité de la route ou non. Notre chauffeur Minh continue à conduire avec assiduité sans être inquiété par l’absence de l’indication. C’est grâce à son calme et à l’attitude fataliste reçue des Vietnamiens  que mon inquiétude s’estompe au fil de la journée. Sur certains tronçons de la route,  le retour du soleil m’incite  à tout oublier et à me  consacrer entièrement  à  faire des clichés. Par contre il y a des tronçons de route très dangereux et tellement sinueux que cela nous rend tous fatigués. Pour 200 kilomètres de trajet, il faut compter au minimum 6 ou 7 heures de route.    Malgré cela, nous sommes contents d’avoir cet espace tranquille et  les gens gentils et  aimables de la région montagneuse au lieu de retrouver à Saïgon ou à Hanội le bruit incessant des klaxons et l’espace tellement animé et pollué. Selon le chauffeur Minh, il n’y a pas non plus le vol comme on le trouve dans les villes.  Les poulets, les canards,  les buffles ou les bœufs hésitant dans leur marche peinent à  traverser la route sans que leur propriétaire s’inquiète de les perdre même s’ils sont loin de leur enclos. Personne n’aime à les écraser car il faut payer  un prix très fort au propriétaire. Sur le bord de la route, on trouve souvent les champs de maïs des Hmongs. Ils sont experts dans le domaine de la culture. C’est pourquoi les Chinois se servent depuis longtemps du pictogramme    (champs) au dessus duquel est ajouté  le pictogramme  (riz paddy) pour désigner les Hmongs   (ou Miêu), les gens doués pour la culture du sol. C’est ce que nous constatons en découvrant de près sur une roche garnie d’une  petite motte de terre l’apparition d’une plante de maïs. Parfois à travers la vitrine de la voiture, nous  découvrons au loin  une ou deux maisons des Hmongs perchées  sur le flanc de la montagne. On se demande comment arrivent-ils à les construire et à y accéder? Nous avons la chance de passer la deuxième nuit  à Đồng Văn  dans un homestay récemment rénové au centre de la vieille ville. La pluie continue à tomber le soir. C’est pourquoi aucune attraction n’a lieu et les lampions sont clairsemés par rapport à ceux de Hội An et de la vieille ville de Hànội. Du fait que nous sommes arrivés au milieu de la semaine, nous ne trouvons aucune   animation organisée fréquemment  en fin de la semaine. Le matin du  troisième jour, pour prendre le petit déjeuner,  nous cherchons de bonne heure un restaurant spécialisé dans la préparation d’une crêpe à l’œuf (bánh cuốn trứng)  typique de Đồng Văn. Étant une spécialité de la région montagneuse, cette crêpe  est faite à partir de la farine de riz et de la viande hachée et se déguste  en la trempant  dans une sauce mijotée à petit feu avec des os de porc et accompagnée toujours par deux petits morceaux de pâté de viande.  Ce plat a une saveur particulière mais à cause de la consistance graisseuse de la sauce, il est difficile de renouveler l’envie.   C’est peut-être la façon de se réchauffer et d’évacuer le froid provenant de la forêt Nord-Ouest comme en France  on est habitué à manger du beurre en hiver. Nous allons faire ensuite un tour à Đồng Văn. Nous avons l’occasion de voir la façon des Hmongs de laver  le lin avant de s’en servir pour le tissage de leurs vêtements avec l’eau de source. Puis    nous visitons  la colline Lũng Cú et le palais fortifié du roi des Hmongs Vương Chính Đức. J’ai tellement des souvenirs et des moments d’émotion intense qu’il est difficile de remémorer pour ces trois jours de visite à Ha Giang en  compagnie de  mes enfants et de mon petit-fils qui ne cessent pas de me soutenir dans ce projet depuis le début jusqu’à la fin de ce voyage inoubliable. (de Hà Giang jusqu’à la pointe de Cà Mau, 1535 km à parcourir).
Paris 28/08/2018

 

 

Việt Nam Quê Hương tôi

intro

Version française

English version

Việt Nam là một quốc gia  mà người dân rất yêu chuộng hoà bình, độc lập và tự do. Là người con Việt  thì phải có khả năng kháng cự lại trước hết việc đồng hóa hay là tư tưởng ngoại bang và hảnh diện có mang ở trong tĩnh mạch dòng máu của cha Rồng. Đối với người dân Việt, không còn sự  hoài nghi nào cả vì qua truyền thuyết Con Rồng Cháu Tiên có từ thuở nào, họ là con cháu của  cha Rồng mặc dầu họ biết rõ  từ nay nguồn gốc qua các công trình khoa học. Họ là người thừa kế của nền văn hóa Hòa Bình và thuộc về đại tộc Bách Việt, những bộ tộc sống rải rác ở phía nam sông Duơng Tử. Nuớc ở nơi nầy nó thấm nhuần với đất vì có thể là vậy nên quốc gia nầy thường được gọi là Đất Nước. Cũng  trên mãnh đất của đồng bằng sông Hồng nầy đã qua bao nhiêu thế kỷ trước Công Nguyên có một vương quốc sáng lâp một triều đại với các vua Hùng huyền thoại (nước Văn Lang). Sau đó được thay  thế bởi nước Âu Việt của An Dương Vương (Thục Phán) mà thành trì Cổ Loa là thủ đô, một bằng chứng cụ thể của vương quốc nầy bị thôn tính về sau bởi  Triệu Đà, một danh tướng của hoàng đế Trung Hoa Tần Thủy Hoàng. Ông nầy sáng lập ra nước Nam Việt (Nan Yue) bị thôn tính về sau bởi quân Tàu của danh tướng Mã Viện (Ma Yuan) dưới thời  Hán Quang Vũ Đế (Guagwudi) với một nghìn năm bắc thuộc  trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của tuớng Ngô Quyền. Trong thời kỳ đô hộ, văn hóa Đồng Sơn bị hủy diệt. Người ta tìm thấy trong văn hóa nầy các thạp đồng và nhất là cái trống đồng uy nghiêm biểu hiệu quyền lực và đặc tính của dân tộc Việt đã bao lần suýt bị hủy diệt bởi đế  chế Trung Hoa theo dòng lich sữ.  Đây không phải  là lịch sữ của các triều đại vua chúa hay các phong trào tư tưởng mà chính đây là lịch sữ của dân tộc nông dân bền bỉ từ biên cương Việt Trung đến mũi Cà Mau, vất vã khó nhọc để lại dấu ấn cho quang cảnh của mãnh đất nầy. Sự hy sinh của họ không phải là một từ vô ích. Các hào kiệt của họ thà làm qủi phương nam thay vì làm các vương công phương Bắc. Còn các nữ kiệt cũng không ngần ngại đáp lời sông núi. Đó là hai bà Trưng Trắc Trung Nhị, Triệu Ẩu, Nguyễn Thị Giang (Cô Giang), Nguyễn thị Minh khai vân vân. Không người con Việt nào có thể quên câu nói bất diệt của Nguyễn Thái Học trước cái chết :

Chết vì Tổ Quốc.

Đây là số mệnh quá cao thượng,  đáng khen ….

Trên chiến trường, không có lực luợng  ngoại bang nào có thể  đánh bại  khi có chạm trán với người dân  Việt. Chính họ dành được  sự thắng lợi  nhờ ba yếu tố nầy: Thiên Thời, Đia Lợi và Nhân Hòa. Chính yếu tố sau cùng  nầy nó  đem lại sự khác biệt trong cuộc chiến tranh tiêu hao. Nguyễn Trãi đã có dip nói rằng thà chinh phục nhân tâm hơn là chiếm đoạt thành trì. Hiên ngang trước quân giặc mạnh  hơn họ thì họ cần phải kiên nhẫn nghĩ đến các thể thức thường được áp dụng trong lý thuyết Âm Dương : Lấy Yếu chống Mạnh hay Lấy Cụt chống Dài. Chính nhờ mưu lược nầy mà Nguyễn Trãi dành phần thắng lợi  trong cuộc chống giặc nhà Minh của hoàng đế Vĩnh Lạc và xua đuổi quân Tàu ra khỏi Việtnam vào năm 1428. Dùng chiến thuật di quân (Dương) trước sự bất động của quân nhà Thanh (Âm) phù hợp hoàn toàn với địa lợi, vua Quang Trung  đánh bại  chớp nhoáng quân địch vào năm 1788 trong 5 ngày Tết  để lấy lại Thăng Long. Chính cũng Quang Trung lợi dụng sự không biết đia thế của quân địch mà dành phần thắng lợi thần tốc ở  rạch Gầm-Xoài Mút (Mỹ Tho) với quân Xiêm La của tướng Chakri  khi ông nầy gởi sang 50 vạn binh tiếp viện cho vua Gia Long. Không có dân tộc nào có thể cưởng lại trước sự  bành trướng  của người dân Việt trong cuộc Nam Tiến. (hai vương quốc Chămpa và Chân Lạp). 

Dù bị nghìn năm bắc thuộc và  có sự đóng góp văn hóa ngọai bang, những người nông dân con Việt  mảnh khảnh  nầy, chân vùi dưới bùn giữa các ruộng lúa, đã  gìn giữ được  những gì qúi giá nhất của các dân tộc trên thế giới. Đó là những truyền thống  và tiếng Việt dựa trên chữ Hán sau nầy dùng chữ Latinh với ông thầy tu Alexandre de Rhodes. Chỉ còn bộ tộc Lạc Việt duy nhất  thuộc đại tộc Bách Việt không bị hán  hóa qua nhiều  thế kỷ. Chính Đức Khổng Tử  đã có từng  so sánh sinh lực  có ở nơi người Trung Hoa và người Lạc Việt, tổ tiên của người Việtnam ngày nay : cang đảm và vũ lực thuộc về người Trung Hoa, còn Lạc Việt thì khoan dung và  nhân từ. Tuy nhiên người dân Việt luôn luôn gắn bó sâu đậm với đất nước khiến họ không nhường bộ trong cuộc đấu tranh vì thế theo sự suy luận của một nhóm người, họ là những kẻ đi chinh phục tàn nhẫn và đáng sợ nhưng còn nhóm người khác thì  họ là những người bảo vệ chính đáng trong công cuộc chiến  dành lại độc lập và tư do. Dù sao họ đã hy sinh quá nhiều trong quá khứ về sinh mạng cho hai khái niệm: độc lập và tự do mà họ  không có quen để lựa chọn hay tách biệt. Chính vì  vậy họ vẫn trong tình trạng khổ tâm không ít. Rồi họ cũng  có lần lượt  hai khái niệm nầy với  cái giá  mạng người quá đắt. Việc ý thức tập thể bất đầu thành hình qua nhiều năm với Nguyễn An Ninh. Mặc dầu ba vị vua trẻ Việt Nam Hàm Nghi, Thành Thái và Duy Tân bị lưu đày ở Algérie và La Réunion và việc xử trảm nhiều nhà cách mạng trong đó  có một chàng trai trẻ tài ba Nguyễn Thái Học, người dân Việt vẫn  không mất nhuệ khí trong các cuộc nổi dậy và dành lại độc lập với chiến thắng ở Điên Biên Phủ vào năm 1954. Việc  thả ba trăm tấn bom (265 kí cho mỗi người dân Việt)  và 60 triệu lít chất làm rụng lá cũng không làm nản lòng người dân Việt trên con đường thống nhất  lại đất nước vào năm 1975 sau đó dẫn đến việc đày  biết bao nhiêu người lính miền nam đến trại học tập và cuộc di tản  chưa từng thấy, có rất nhiều người  chết đuối  và bị hảm hại bởi hải tặc ở biển Đông và vịnh Thái Lan để đi tìm tự do. Theo lời tường thuật của nhiều tác giả Tây Âu, (Barry Wain, Magali Barbieri) có dịp nghiên cứu về vấn đề nầy thì có ít nhất  tổi thiểu là 250.000 người Việt vượt biên chết  ở biển. Theo sự dự tính của cơ quan HCR (Haut  Commissariat pour les Réfugiés), từ 1975 đến 1991, trong 16 năm, có gần một triệu người dân Việt mà trong đó có 8 trăm nghìn người di tản đã lìa bỏ Việtnam. Con đường hòa giải dân tộc rất còn xa vời vì nó đầy gian nan, cạm bẩy và vụng về sau ba thập niên chiến tranh và đau khổ. Một trang lịch sữ đã khép lại  nhưng Việtnam phải trả  giá rất đắt không những trên phương diện con người và môi trường bởi vì vẫn tiếp tục nhận  những hậu quả không  ước lượng nổi của bao nhiêu thập niên chiến tranh (chất độc da cam chẵng hạn). Theo tờ báo thông tin của Unesco ghi lại tháng năm năm 2000, một tổ chức làm việc dưới sự bảo hộ của Liên Hiệp Quốc, ước tính có một phần năm rừng ở miền nam bị hủy hoại bởi các thuốc diệt cỏ của Hoa Kỳ.

Người trai trẻ Việtnam ngày nay không biết hận thù  và cũng không có nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh. Nhưng thách thức  nghèo đói  vẫn   còn rình rập đeo đuổi. Bóng ma chiến tranh nó vẫn còn đó theo dòng ngày  tháng  ở biển Đông với các đảo Hoàng Sa bị cưởng đoạt  năm 1974 và Trường Sa gần đây bởi người phương Bắc mà  mối đe dọa càng ngày càng quá khiêu khích. Trước tham vọng quá đỗi của Trung Quốc, bài thiên sữ thi « Nam Quốc Sơn Hà » của tướng Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm, khẳng định lại chủ quyền của Việtnam, nó trở lại ám ảnh tâm trí và vang âm trong trái tim của người con Việt.  Tuy rằng với bao nỗi lo âu và cuộc sống quá tồi tệ, không ai có thể quên đi  được mãnh đất  nầy mà người con Việt thường gọi là Quê Hương vì  chỉ ở nơi  nầy  có thể tìm lại kỷ niệm của tuổi ấu thơ, mái trường xưa và  quá khứ. Mặc dầu mãnh đất nầy  nó đồng nghĩa với chữ nghèo nàn và khổ cực, nó là lý lẽ sống đấy vì ông cha ta  tranh đấu và giành được từ  khi lập nước với mồ hôi, nước mắt và xương máu. Cũng như mẹ, mỗi người con dân Việt  chỉ có một người mẹ duy nhất trong đời không ai có thể thay thế được. Ngoài làng ra, hình ảnh đình, con trâu hay cây tre không bao giờ xoá mờ trong kí ức tập thể của người con Việt cả. Đối với những người con Việt viễn xứ, đây chỉ là một khoảng thời gian tạm thời thôi   chớ nó không phải là một kết cục chính. Hình bóng Quê Hương nó vẫn  đeo đuổi mãi  họ với biết bao trìu mến và luyến tiếc.

Những bài mới viết gần đây

Paysage époustouflant du Vietnam

Version vietnamienne

 

Le  paysage du Vietnam est vraiment magnifique et exceptionnel.  L’eau est omniprésente partout et en osmose avec la terre. C’est pour cela que les deux mots Terre-Eau sont employés  pour désigner cette contrée.  Pour un passionné de la photographie, c’est l’endroit  idéal où on peut  faire de beaux clichés  pour immortaliser son voyage. Du nord jusqu’au sud, le paysage est tellement contrasté qu’l est impossible de rester indifférent   devant l’étonnante beauté de la nature.

Dans le nord, on est émerveillé par les pitons ahurissants et majestueux  émergeant des eaux limpides et les îlots de formes diverses dans les baies d’Along et Hoa Lư  et par les rizières en étages pratiquées par les minorités ethniques au cœur des montagnes (Sapa, Mộc  Châu, Hà Giang, Cao Bẳng). Au centre, dans les zones montagneuses et les basses plaines côtières, outre les grottes stalactites de Phong Nha-Kẻ Bàng  et Sơn Động et les patrimoines mondiaux de l’Unesco (Huế, Mỹ Sơn, Hội An), il y a de belles plages d’un bleu azur ( Mỹ Khê, Hội An, Nha Trang, ) et des parcs nationaux de Yok Don et Nam Cát Tiên. Dans le sud, la beauté de la nature n’est pas moindre, en particulier dans le delta du Mékong. C’est ici que  grâce à la main de l’homme, des panoramas se révèlent magnifiques: des vastes champs de rizières à perte de vue, des vergers luxuriants (Bến Tre, Mỹ Tho, Cái Bè)  et des beaux villages traditionnels tout le long des arroyos (cours d’eau) sans  oublier les mangroves de la péninsule de Cà Mau et de Châu Đốc

 Phong cảnh hữu tình của đất nước 

Phong cảnh ở Việtnam thực sự nó quá tráng lệ và phi phàm. Nước ở đâu cũng có và  được thấm nhuần với đất từ thưở nào nên hai chữ Đất Nước mà người Việt thường dùng để chỉ định  Quê Hương.  Đối  với một người đam mê chụp ảnh, đây là nơi lý tưởng mà có thể tạo ra những tấm ảnh tuyệt vời để lưu niệm cuộc hành trình của mình. Từ Bắc đến Nam, phong cảnh nó tương phản đến đổi mà không ai có thể dửng dưng được trước nét đẹp tuyệt vời, một tác phẩm nghệ thuật  tạo hình thiên nhiên  của tạo hóa. Ờ miền Bắc, thì có những chỏm núi vôi  uy nghi  làm ta sửng sốt  nhô lên  khỏi mặt nước  và các đảo đá hình thù đa dạng ở vịnh Hà Long và Hoa Lư,  những cánh đồng lúa bậc thang của các dân tộc thiểu số ở giữa núi rừng (Sapa, Mộc  Châu, Hà Giang, Cao Bẳng). Ở miền Trung,  ngoài các  hang động thạch nhũ của Phong Nha-Kẻ Bàng và Sơn Động và những di tích thế giới Unesco (Huế, Mỹ Sơn, Hội An), thì  ở những vùng miền núi và những nơi đất thấp ven theo bờ biển, có những bãi biển với màu xanh biếc ( Mỹ Khê, Lang Cô, Hội An, Nha Trang ) và các vuờn quốc gia Yok Don và Nam Cát Tiên. Ở miền Nam,  nét đẹp cũng không kém nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Chính ở đây nhờ bàn tay của con người mà quang cảnh vô cùng ngoạn mục:  những cánh đồng lúa ngút tầm mắt, những vuờn cây ăn quả sum sê (Bến Tre, Mỹ Tho, Cái Bè vân vân ) và những ngôi  làng truyền thống dọc theo các con kênh mà cũng không nên quên  nhắc đến các rừng  đước  của Châu Đốc và Cà Mau.

Duy Tân (1907-1916) (English version)

duytan_empereur

Version française

 A great homage to the man who has dedicated all his life for his people and his country.

Một đời vì nước vì dân
Vĩnh San đứa trẻ không cần ngôi vua
Tù đày tử nhục khi thua
Tử rồi khí phách ông vua muôn đời

With the agreement of the Vietnamese authorities, the ashes of emperor Duy Tân interred up to now in the Republic of Central Africa were gathered with great pomp on April 4th, 1987 in Huế, the city of imperial mausoleums of the Nguyen dynasty. This has brought an end to a long and painful banishment that has had prince Vĩnh San often known as Duy Tân ( or Friend of Reforms ) since his uprising plan against the colonial authorities was discovered on May 4, 1916 because of the treason of a collaborator, Nguyễn Ðình Trứ.

Duy Tân is an outstanding character that none of the last emperors of the Nguyễn dynasty could be equal to. One can only regret his sudden disappearance due to a plane crash that took place at the end of 1945 on his way back from a mission from Vietnam. His death continues to feed doubt and remains one of the mysteries not elucidated until today. One found in him at that time not only the unequal popularity he knew how to acquire from his people, the royal legitimacy, but also an undeniable francophile, an alternative solution that general De Gaulle contemplated to propose to the Vietnamese at the last moment to counter the young revolutionary Hồ Chí Minh in Indochina. If he had been alive, Vietnam probably would not have known the ill-fated decades of its history and been the victim of the East-West confrontation and the cold war.

It is a profound regret that every Vietnamese could only feel when talking about him, his life and his fate. It is also a misfortune for the Vietnamese people to have lost a great statesman, to have written their history with blood and tears during the last decades.

His ascension to the throne remains a unique occurrence in the Annals of history of Vietnam. Taking advantage of suspicious anti-french schemes and the disguised lunacy of his father, emperor Thành Thái, the colonial authorities compelled the latter to abdicate in 1907 and go into exile in the Reunion at the age of 28. They requested that Prime Minister Trương Như Cường assume the regency. However this one while categorically refusing this proposal, kept demanding the colonial authorities to strictly respect the definite agreement in the Patenôtre Treaty of Protectorate (1884) providing that the throne comes back to one of the emperor’s sons in case he ceases reigning ( Phụ truyền tử kế ). Facing popular opinion and the infallible fidelity of Trương Như Cương to the Nguyen dynasty, the colonial authorities were forced to choose one of his sons as emperor. They did not hide their intention of choosing the one that seemed docile and without caliber. Except Vĩnh San, all of about 20 other sons of emperor Thành Thái were present at the moment of selection made by the General Resident Sylvain Levecque. The name Vĩnh San missed at the roll-call, which forced everyone to look for him everywhere.

Finally he was found under the beam of a frame, his face covered with mud and soak with sweat. He was chasing the crickets. Seeing him in this sordid condition, Sylvain Levecque did not hide his satisfaction because he thought only a fool would choose the day of ascession to the throne to go chasing the crickets. Upon the recommendation of his close collaborator Charles, he decided to designate him as emperor of Annam as he found in front of him a seven-year old child, timid, reserved, having no political ambition and thinking only to devote himself to games like children of his age. It was an erroneous judgment as stated in the comment of a French journalist at that time in his local newspaper:

 A day on the throne has completely changed the face of an eight-year old child. 

One noticed a few years later that the journalist was right because Duy Tân has dedicated all his life for his people and his country until his last breath of life.
At the time of his ascension to the throne he was only 7. To give him a stature of an emperor, they had to give him one more year of age. That is why in the Annals of history of Vietnam, he was brought to the throne at 8 years of age. To deal with this erroneous designation, the colonial authorities installed a council of regency constituted of Vietnamese personalities close to General Resident Sylvain Levecque ( Tôn Thất Hân, Nguyễn Hữu Bài, Huỳnh Côn, Miên Lịch, Lê Trinh, Cao Xuân Dục) to assist the emperor in the management of the country and requested that Eberhard, the father-in-law of Charles be Duy Tân’s tutor. It was a way to closely supervise the activities of this young man.

Trần Cao Vân

In spite of that, Duy Tân succeeded in evading the surveillance network placed by the colonial authorities. He was one of the fierce partisans for the revision of the Patenotre agreements (1884). He was the architect of several reforms: Tax and chore duty reduction, elimination of wasteful court protocols, reduction of his own salary etc… He forcefully protested the profanation of emperor Tự Ðức’s tomb by General Resident Mahé in his search for gold, with the governor of Indochina Albert Sarraut. He claimed the right to look at the management of the country. This marked the prelude of dissension which grew more and more visible between him and the French Superior Resident. On May 4, 1916, with Trần Cao Vân and Thái Phiên, he fomented a rebellion which was discovered and put down due to the treason of one of his collaborators. Despite his capture and flattering advice of the Governor of Indochina asking him to reexamine his comportment and conduct, he continued be impassible and said: 

If you compelled me to remain emperor of Annam, you should consider me as an adult emperor. I should need neither the council of regency nor your advice. I should manage the country’s business on the same footing with all foreign countries including France.

Facing his unwavering conviction, the colonial authorities had to assign the Minister of Instructions of that time, the father-in-law of future emperor Khải-Ðịnh, Hồ Ðắc Trung to institute proceedings against his treason toward France. For not compromising Duy Tân, the two older collaborators Trần Cao Vân and Thái Phiên made it known to Hồ Đắc Trung their intent to voluntarily accept the verdict provided that emperor Duy Tân was exempt from the capital punishment. They kept saying:

The sky is still there. So are the earth and the dynasty. We wish long live to the emperor.

 

Faithful to the Nguyen dynasty, Hồ Ðắc Trung only condemned the emperor to exile in justifying the fact that he was a minor and that the responsibility of the plot rested with the older collaborators Trần Cao Vân and Thái Phiên.

The men were guillotined at An Hoà. As for emperor Duy Tân, he was condemned to exile to the Reunion on November 3, 1916 on board of the steamship Avardiana. The day before his departure, the representative of the General Resident visited him and asked:

Sir, if you need money you may take it from the state coffer.

Duy Tân replied politely :

The money that you find in the coffer is intended to help the king to govern the country but it does not belong to me in anyway especially to a political prisoner.

To entertain the king, the representative did not hesitate to remind him that it was possible to choose preferred books in the library and take them with him during his exile because he knew the king loved to read very much. He agreed to that proposal and told him:

I love reading very much. If you have the chance to bring books for me, don’t forget to bring the entirety of all the volumes of « History of the French Revolution » of Michelet.

The representative dared not report to the Resident what Duy Tan had told him.

His exile marked not only the end of the imperial resistance and the struggle monopolized and animated up until then by the scholars for the defense of the Confucian order and the imperial state but also the beginning of a national movement and the emergence of a state nationalism placed in birth by the great patriot scholar Phan Bội Châu. It was also a lost chance for France for not taking the initiative to give freedom to Vietnam in the person of Duy Tân, a francophile of the first hour.

His destiny is that of the Vietnamese people. For a certain time, one has deliberately made all streets bearing his name disappear in big cities ( Hànội, Huế, Sàigon ) in Vietnam, but one cannot forever erase his cherished name in his people’s heart and in our collective memory. He is not the rival of anybody but he is on the contrary 

the last great emperor of Vietnam.

To this title I dedicate to him the following four verses:

Devoting his whole life to his country and people,
Duy Tan the kid did not hang on to his throne.
Facing exile and humility when defeated,
His uprightness lives forever in history unabated.

Thành Thái (1879-1954) (English version)

 

 

Version française

Thành Thái 

A great homage to a man who devoted his whole life for his country and people through my Six-Eight verses:

Ta điên vì nước vì dân
Ta nào câm điếc một lần lên ngôi
Trăm ngàn tủi nhục thế thôi
Lưu đày thể xác than ôi cũng đành

His madness for the love of  his country  and people.

I am mad for the love of my country and people
Once on the throne, I can’t stay deaf-mute
It wouldn’t matter I feel self pity and shame
And my body suffers years of exile with resignation

Prior to becoming emperor Thành Thái, he was known as Bửu Lân. He was the son of emperor Dục Ðức who had been vilely assassinated by the two Confucianist mandarins Tôn Thất Thuyết and Nguyễn Văn Tường, and the grand son of the mandarin Phan Ðình Bình. Because the latter was maladroitly opposed to the enthronement of emperor Ðồng Khánh by the colonial authorities, Ðồng Khánh was fast to take revenge by cowardly getting rid of this old mandarin and by putting Bửu Lân and his mother under house surveillance within the surrounding wall of the purple city at the Trần Võ palace in order to avoid all seeds of revolt. That was why at Ðồng Khánh’s death and upon the announcement of the choice of her son as the successor by the colonial authorities, Buu Lan’s mother was surprised and cried so much because she was always obsessed by the idea that her son would probably meet the same fate as her husband, emperor Dục Đức and her father, the mandarin Phan Ðình Bình. If Buu Lan was preferred to other princes, it was incontestably due to the ingenuities of Diệp Văn Cương, the presumed lover of his aunt, princess Công Nữ Thiên Niệm because Diệp Vân Cương was Resident General Rheinart‘s personal secretary, in charge of conducting business with the Imperial Court to find a compromise on the person to be chosen to succeed emperor Ðồng Khánh.

Thus he involuntarily became our new emperor known as Thành Thái. He was fast to realize that his power was very limited, that the Patenôtre treaty was never respected and that he had no right with regard to the management and future of his country. Contrary to his predecessor Ðồng Khánh, close to the colonial authorities, he took a passive resistance by trying to thwart their policies in a systematic manner with his provoking remarks and amicable gestures. His fist virulent altercation with the Resident General Alexis Auvergne was noticed at the inaugural ceremony of the new bridge spanning across the Perfume river. Proud of technical prowess and confident of the sturdiness of the bridge, Alexis Auvergne did not hesitate to tell Thành Thái with his habitual cynicism:

When you would have seen this bridge collapse, your country would be independent.

To show the importance that the colonial authorities has given to the new bridge, they named it « Thành Thái ». This made the emperor mad. Using as a pretext that everyone can walk over his head when crossing the bridge, he forbade his subjects to call the bridge by its new name and incited them to use the old name « Tràng Tiền ».

Tràng Tiền bridge (Huế)

Some years later, the bridge collapsed during a violent storm. Thành Thái was fast to recall Alexis Auvergne of what he had said with his black humor. Alexis Auvergne was red with shame and had to clear off at these embarrassing remarks. The dissension with the authorities grew day by day until the replacement of the old Resident General by Sylvain Levecque. The latter was fast to place a network of strict surveillance when he learned that Thanh Thai continued to approach his people through the bias of his reforms and his disguise in plain clothes or as a beggar in villages. He was the first emperor of Vietnam to take the initiative of having his hair cut the European fashion, which astonished so many of his mandarins and subjects when he first appeared. But he also was the first emperor to encourage his subjects to follow French education. He was the artisan of several architectural projects. He was also the first emperor of the Nguyen dynasty who wanted to pay enormous attention to the daily life of his subjects and to know their daily difficulties. It was reported that during an escorted excursion, he met on his way a poor man who was hauling a heavy load of bamboo. He body guard wanted to ease the way but he stopped him by saying:

I am neither citizen nor emperor as I should be in this country. Why do you chase him away?

During his excursions, he often used to sit on a mat, surrounded by the villagers and to discuss all the issues with them. It was in one of his excursion that he brought back to the purple city an oarswoman who accepted to marry him and became his concubine. He was well known as an excellent drummer.

That is why he summoned all the best drummers in the country to the purple city, asked them to play drums before his court and reward them generously according to their merit. It was reported that one day, he met a drummer who used to tilt his head when playing. Wanting to help him correct this funny habit, he told him jokingly:

If you keep on playing that way, I will have to have your head rolled.

From then on, the drummer, worrying incessantly about the next call, was overwhelmed by fear and died of a heart attack. One day, knowing the death of the drummer, Thanh Thai was taken my remorse, summoned his family and gave them a large sum of money to take care of their daily needs.

His way of joking, his frequent disguises, his sometimes strange behavior incomprehensible to the colonial authorities gave them an opportunity to brand him a lunatic.

As for Thành Thái, he was deported first to Vũng Tàu (former Cap St. Jacques) in the Fall of 1907, then later to the Reunion Island with his son, emperor Duy Tân in 1916. He was only allowed to return to Vietnam in 1945 after the death of Duy Tân and to stay confined within Vũng Tàu, South Vietnam during the last years of his life.

Is it possible to brand him lunatic when it is known through his poem titled « Hoài Cổ » ( Remember the Past ) that Thành Thái was so lucid and never stopped to groan with the pain facing the alarming situation of his country? Other eight seven-foot verses we know such as The storm of the year of the Dragon in 1904 ( Vịnh Trần Bão Năm Thìn ) or Profession of Faith ( Cảm Hoài ) not only show Thành Thai’s perfect mastery in the strict application of the difficult rules in Vietnamese poetry but also the painful pride of a great emperor who, in spite of a forced exile for almost half a century ( 1907-1954 ) by the colonial authorities, continued to display his conviction and unshakable faith in the liberation of his country. Through him it is already seen forging on this land of legends the instruments of a future revolt.

For him, his incurable illness was the goal to realize his intention, to give his people the dignity so long waited and to show future generations the sacrifice and the price which even he, a person considered alienated by the colonial authorities, had to pay for that country ( 47 years of exile ). In the political context of the time, he should not reveal himself of this « illness ».

Up to now, no historic document show us Thành Thái’s insanity but rather it reveals a great emperor’s lunacy of the love of his country and people, neverending affliction of a great patriot facing the destiny of his country.

Yin and Yang numbers (Âm Dương: Part 3)

Version française

Yin and Yang numbers (Con số Âm Dương)

One is accustomed to say in Vietnamese: sống chết đều có số cả (Everyone has his D day  for life  and death). Ði buôn có số, ăn cỗ có phần   (One has his vocation in trade as one has his part in feast). In daily life, everyone a his size for his clothing and his shoes. Contrary to the Chinese, the Vietnamese emphasize odd numbers (số dương) rather than  even numbers (sô’ âm). 

One frequently  finds the use of even numbers in the Vietnamese phrases: ba mặt một lời (One needs to be in front of someone with the presence of a witness),  ba hồn bảy vía ( three souls and 7 vital supports for men i.e one is terrified), Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh ( very  hectic), năm thê bảy thiếp ( to have  5 spouses and 7 concubines i.e. to have many  women ), năm lần bảy lượt ( many times), năm cha ba mẹ ( heterogenuos), ba chóp bảy nhoáng ( with precipitation and  no care ), Môt lời nói dối , sám hối 7 ngày (A  speech deceitful amounts to  seven days of  repentance), Một câu nhịn chín câu lành (To avoid an offensive sentence is having kind sentences ) etc …or that of integral  multiples of the number 9:18 (9×2) đời Hùng Vương ( 18 legendary kings Hùng Vương ), 27 (9×3) đại tang 3 năm (27 tháng)(or a beareavement endured  on three years or 27 months only), 36 (9×4) phố phường Hànội (Hànội with 36 neighbourhoods) etc …One don’t forget to mention the numbers 5 and 9, having each of them a role very important.   The figure 5 is the  number the most mysterious because all starts from this number. Heaven and Earth have the five elements  or agents giving birth to thousand things and objects. It is placed in the center of the River map and Writings of Luo which are the basis for the mutation of five elements (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ)( Water, Fire, Wood, Metal and Earth). It is associated to the element Earth in the central position that the peasant needs to  known for the  management of cardinal points.  This goes to the man to have the centre in the management of things and species and four  cardinals.  That is why, in the feudal society, this place is reserved to the king because it is he who  has govern  the people. Consequently, the number 5 belonged to him as well as the yellow colour symbolizing the Earth. This  explains the colour choosen by Vietnamese  and Chinese emperors for their clothes.

Ho Tou Lo Chou

(Hà Đồ Lạc Thư)

In the addition to the centre occupied by man, an symbolic animal is associated to the each of four cardinal points: the North by the turtle, the South by the phoenix, the West by the dragon and the East by the tiger. One is’nt surprised to see at least in this attribution the presence of three animals living in the region where the agricultural life plays a notable role and water is vital. It is the land of Bai Yue group. Even the dragon very mean in others cultures becomes a kind and noble animal imagined by  peaceful peoples  Bai Yue. The number 5 is yet known  under the name « Tham Thiên Lưỡng Đia » (or  three Heaven two  Earth or 3 Yang 2 Yin) in the Yin and Yang theory because the acquisition of the number 5 coming from the union of  numbers 3 and 2 corresponds better to the reasonable percentage of Yin and Yang than that of the association of numbers 4 and 1. In this latter, the number Yang 1 very dominated by the number 4. It is’nt the case of the union of the numbers 3 and 2 because the number Yang 3 slightly overpowers the number Yin 2. This encourages the universe development in an almost perfect harmony. In ancient times, the fifth day, the fourteen en day (1+4=5) and the twenty-third  (2+3=5) day in the month were reserved for the way out of the king. It is’nt allowed to subjects  for trading during his travel and disturbing his walk. It is  perhaps the reason for which a great number of the Vietnamese continue to avoid these days for the home construction, the trip and major purchases. One is accustomed to say: 

Chớ đi ngày bảy chớ về ngày ba
Mồng năm, mười bốn hai ba
Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn
Mồng năm mười bốn hai ba
Trồng cây cây đỗ, làm nhà nhà xiêu

You  avoid going  out the 7th day and coming back the 3th in the month. For the 15th, 14th and 23th days in the month, you  will be losing if you go out or you trade.  Likewise, you will see the failing tree or the tilting of your home if you make the planting tree or the house construction.

The number 5 is frequently mentioned in the Vietnamese culinary art. The most typical sauce remains the fish brine (nước mắm). In the preparation of this national sauce, one mentiones the presence of 5 flavours classified according to the 5 elements of Yin and Yang:mặn ( salty ) with the fish juice  (nước mắm), đắng (bitter)  with the lemon zest (vỏ chanh), chua (acidulous) with the lemon juice, cay (spicy) with pigments crushed  in powder or chopped  in strips and ngọt (sweet ) with sugar in powder. These  5 flavours ( mặn, đắng, chua, cay, ngọt ) combined and found in the Vietnamese national sauce  correspond to 5 elements defined in the Yin and Yang theory (Thủy, Hỏa , Mộc , Kim Thổ ) ( Water, Fire,  Wood, Metal and Earth ).

Likewise, one rediscovers these 5 flavours in the bittersweet soup (canch chua) prepared from fish: acidulous with tamarin seeds or vinegar, sweet with slices of ananas, spicy with pigments chopped in strips,  salty with fish juice and bitter with some okras  (đậu bắp)  or flowers of « fayotier in French »  (bông so đũa). When the soup is served, one will add some fragrant herbs like the panicaut (ngò gai), rau om (herb having  the  flavor  of coriander with  a  lemony   taste in addition). It is a characteristic trait of the bittersweet soup of Sud Vietnam which  is different from those found in others regions of Vietnam.

One cannot forget to mentione the sweet rice cake that the Proto-Vietnamese had succeeded to bequeath to descendants over millennia of their civilization.  This  sweet rice cake is the intangible proof of Yin and Yang theory and 5 elements belonging to Bai Yue group (Hundred Yue), the Proto-Vietnamese of which formed part  because there is  the generation cycle (Ngũ hành tương sinh)  in its composition. 

(Fire->Earth->Metal->Water->Wood)

Inside the cake, one finds a piece of porkmeat in red color ( Fire ) around which there is  a kind of paste made with broad beans in yellow color ( Earth ). The whole thing is wrapped by the sticky rice in white color ( Metal ) to be cooked with boiling water ( Water ) before having a green colouring on its surface thanks to the latanier leaves (Wood).

An other cake is not missing th weddings. This is the cake susê or phu thê (husband-spouse) having inside a round form  and enveloped by banana leaves (green colour) in order to give it the  well-tied cube appearance  with a red ribbon (red color).  The circle is  thus placed within the square (Dương trong âm)(Yang in Yin). This cake is made from tapioca flour,  perfumed in pandan and strewn with  black sesame seeds (black color). One finds in the hearth of this cake a paste made of steamed soybeans  (yellow color) and jam of lotus seeds and grated coconut.(white color). This paste is very similar to the  frangipane found in « galettes des rois ». Its sticky texture reminds the link that one can represent in the union. This cake is the symbol of the perfection in conjugal love and loyalty responding the perfect agreement with the Heaven and the Earth and 5 elements symbolized by 5 colors (red, green, black, yellow and white).

This cake is related by the following tale: in the past, there was a merchant engaged in debauchery and doing not like to go home although before his departure, his spouse gave him the cake susê  and promised to remain cordial and sweet like the cake. That is why, when she has heard this story, she did send others cakes phu thê accompagnied by two following verses: 

Từ ngày chàng bước xuống ghe
Sóng bao nhiêu đợt bánh phu thê rầu bấy nhiêu

Since your departure, waves were encountered by your boat as much as afflictions were known by the cake susê  
Lầu Ngũ Phụng

 

In architecture, the number 5 is not forgetten either. It is the case of Ngọ Môn gate (noon gate) in the forbidden city (Huế). This gate is  a powerful  masonry  foundation drilled with five passages and surmonted by an elegant wooden structure with two levels, the Belvedere of five Phoenixes (Lầu Ngủ Phụng). Viewed from the sky, this latter  with two additional wings, seems to form five phoenix in flight with intertwined beaks. This belvedere possesses 100 wood columns(gỗ lim)(ironwood) painted and tinted in yellow for allowing  to carry its nine roofs. This number 100 was well examinated  by Vietnamese specialists. According to renowned  archeologist  Phan Thuận An, it exactly corresponds to the total number obtained by adding two numbers found respectively  in the River map (Hà Đồ)  and Writings of Luo  (Lạc thư cửu tinh đồ) symbolizing the perfect harmony of the union Yin and Yang.  It is not the Liễu Thượng Văn advice.  According to this latter, this represents the strength of 100 families or people (bách tính) and reflects the notion dân vi bản (consider people as basis) in the Nguyễn dynasty’s governance.  The roof of the central pavilion is covered by yellow tiles « lưu ly », the rest being with blue tiles « lưu ly ». Being  just in the middle,  the main gate  (or noon gate) is reserved to the king and  paved with stones   « Thanh » tinted in yellow color. From both sides, one finds  left and right doors (Tả, Hữu, Giáp Môn) reserved to civilian and military mandarins.  Then two others lateral  gates Tả Dịch MônHữu Dịch Môn are intended to soldiers and horses. One is accustomed to say in Vietnamese: 

tucam

Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh, ba cửa thẳng, hai cửa quanh »

The noon gate  possesses 5 passages and 9 roofs the one of which is varnished in yellow and the 8 others in blue.  There are  three main  doors  and two side entries.

In the east and west of the citadel, ones finds Humanty and Virtue gates which are reserved respectively for men and women. 

The number 9 is a Yang number (or odd number). It representes the Yang strength at the maximum.  It is difficult to reach it.  That is why, in the past, the emperor often uses for showing his power and supremacy. He climbs 9 stairs symbolizing the ascent of sacred mountain in which there was his throne. It is said that the forbidden city like that of Pékin possessed 9999 rooms. It is useful to recall that the forbidden city of Pékin was supervised by  Nguyễn An, a Vietnamese exiled  still  young at the time of the Ming. As his palaces, the emperor turns towards the South in Yang energy in order to receive the vital breath of Sky because he is the Heaven son. In Vietnam, one finds nine dynastic urns of Huế citadel, nine branchs of Mekon river, nine roofs of  Belvedere of five Phoenixes etc … In the tale intituled   « The God of Mountains and the God of Rivers « (Sơn Tinh Thủy Tinh) », 18th (2×9) Hùng Vương king, proposed for the dowry marriage of his daughter Mị Nương: an elephant with nine tusks, a rooster with nine spurs and a horse with nine red manes.  The number 9 symbolizes the Heaven,  the birthday of which is the ninth (9th) day of February month.

Being less important than 5 and 9, the number 3 (or Ba and Tam in Vietnamese) isclosely tied to the daily life of the Vietnamese.  They do not hesitate to evoke it in a large number of popular expressions. For meaning a certain limit, a certain degree, they have the habit of saying: 

Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời:
No person can claim to be rich  to three generations as  no one is  more  stringent to three successive lives. 

It goes to the Vietnamese to often  accomplish this certain thing at once, this obliges them to do many times this operation. It is the following expression that they uses frequently: Nhất quá tam.  It is the number 3, a limit they don’t like to exceed  in the accomplishment of this task. For saying that someone is irresponsible,  they designate him under the term “Ba trợn“.  Someone who is opportunistic is called « Ba phải » . The expression  « Ba đá » is reserved to vulgar people while those who continue to be entangled in minor matters or endless difficulties  receive the title « Ba lăng nhăng« . For weighing his words, the Vietnamese needs to bend three inches of his  tongue. (Uốn ba tấc lưỡi). 

The number 3 also is synonymous with insignificant and unimportant something.It is what one finds in following popular expressions: 

Ăn sơ sài ba hột: To eat a little bit.
Ăn ba miếng: idem
Sách ba xu: book without values. (the book costs only three  pennies).
Ba món ăn chơi: Some  dishes  for tasting. 

Analogous to number 3, the number 7 is often mentioned in Vietnamese literature. One cannot ignore either the expression Bảy nỗi ba chìm với nước non  (I  float 7 times  and I descend thee times if this  expression is translated in verbatim) that Hồ Xuân Hương poetess  has used and immortalized in her poem intituled « Bánh trôi nước” :

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bây nỗi ba chìm với nước non
………. 

for describing difficulties encountered by the Vietnamese woman in a feudal and Confucian society. This one did not spare either those having an independent mind, freedom and justice.   It is the case of  Cao Bá Quát , an active scholar who was degusted from the scholastica of his time and dreamed of replacing the Nguyễn authoritarian monarchy by an enlightened monarchy. Accused of being the actor of the grasshoppers insurrection  (Giặc Châu Chấu) in 1854, he was condemned to death and he did no hesitate his reflection on the fate reserved to those who dared to criticize  the despotism and feudal society in his poem before his death: 

Ba hồi trống giục đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời. 

Three gongs are reserved to the miserable fate
A sabre slice finishes this dog’s life. 

If the Yin and Yang theory continues to haunt their mind for its mystical and impenetrable character, it remains however a way of thinking and living to which a good number  of the Vietnamese continue to refer daily for common practices and respect of ancestral traditions.


Bibliography

-Xu Zhao Long : Chôkô bunmei no hakken, Chûgoku kodai no nazo in semaru (Découverte de la civilisation du Yanzi. A la recherche des mystères de l’antiquité chinoise, Tokyo, Kadokawa-shoten 1998).
-Yasuda Yoshinori : Taiga bunmei no tanjô, Chôkô bunmei no tankyû (Naissance des civilisations des grands fleuves. Recherche sur la civilisation du Yanzi), Tôkyô, Kadokawa-shoten, 2000).
-Richard Wilhelm : Histoire de la civilisation chinoise 1931
-Nguyên Nguyên: Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
– Léonard Rousseau: La première conquête chinoise des pays annamites (IIIe siècle avant notre ère). BEFO, année 1923, Vol 23, no 1
-Paul Pozner : Le problème des chroniques vietnamiennes., origines et influences étrangères. BEFO, année 1980, vol 67, no 67, p 275-302
-Dich Quốc Tã : Văn Học sữ Trung Quốc, traduit en vietnamien par Hoàng Minh Ðức 1975.
-Norman Jerry- Mei tsulin (1976) : The Austro asiatic in south China : some lexical evidence, Monumenta Serica 32 :274-301
-Henri Maspero : Chine Antique : 1927.
-Jacques Lemoine : Mythes d’origine, mythes d’identification. L’homme 101, paris, 1987 XXVII pp 58-85
-Fung Yu Lan: A History of Chinese Philosophy ( traduction vietnamienne Đại cương triết học sử Trung Quốc” (SG, 1968).68, tr. 140-151)).
-Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
-Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống
đồng giữa h ọc giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18.
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net)
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001.
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36.
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556)
-Ballinger S.W. & all: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration, Genetics 1992 vol 130 p.139-152….

Yin and Yang theory: (Âm Dương Phần 2)

yinyangviet
French version

Yin and Yang theory (Part 1)
Yin and Yang theory (Part 2) 
Yin and Yang theory (Part 3)

By speaking of the couple circle/square, one wants to evoke the perfection and happy union. That is why one is accustomed to say in Vietnamese: « Mẹ tròn, con vuông » for wishing the mother and her child a good health a the time of birth.  This expression has been bequeathed  by our ancestors with the aim of retaining our attention on the creative character of universe. The roundness and square are two foms taken not only by rice cakes   (Bánh Chưng, Bánh Tết) or married couple cakes (Bánh Su Sê ou Phu Thê) but also  Vietnamese old coins (or  copper cash pieces). The form of this latter is related to the Vietnamese traditional cosmology: their  roundness  evokes that of sky  and the central hole is square as  soil. 

Old coin

For the surface of this old coins, there is always a percentage to be respected: 70%  for the round part and 30% the square part. One  also finds two forms with the bamboo rod  held by the eldest son by walking after the coffin during the funeral  procession of his father.  When the deceased is his mother, he is obliged to walk backwards before the coffin. It is the protocol  « Cha đưa mẹ đón» (Accompagny the father, receive the mother) to be respected in Vietnamese funeral rituals. The rod bamboo represents  the father’s righteousness and endurance. It is replaced by an other plant known under the name  « cây vong » and symbolizing the simplicity,  sweetness and flexibility when the deceased is the mother.  The rod must have the round head  and square leg  for symbolizing the Heaven  and the Earth  while the median part of rod is reserved for children and descendants. That means everyone needs  the protection of the  Heaven and the Earth, the education of parents  and mutual assistance between brothers and sisters in the society. For showing the respect, the number of times which  the invited person is obliged  to  accomplish by bending his back in the state of prostration before the coffin is a Yin number (or an even number)(i.e. 2 or 4) because the deceased is going to the  darker world  of Yin nature  (Âm phủ in Vietnamese). In the past, one had the habit of putting in the deceased mouth a scrap of   gold in order to breathe the mana contained in the precious metal  into him. Being of Yang nature, the gold is able to assume the  body preservation and prevent the putrefaction.  At the time of the  agony of the deceased, his family members must give him a surname (or in Vietnamese tên thụy) which is known only by them with the agreement of home genius because at the anniversary of his death, this surname will be called in order to invite him to participate in offerings and avoid waking others lost souls. That is why one is accustomed to say in Vietnamese  tên cúng cơm for reminding that  everyone has a surname. Likewise, the bunch of flowers offered to funerals must be constituted of an even number of flowers (or Yin number).  

 There is an exception to this rule when one is dealing with Buddha or deceased parents. Before the altar of this later, one is accustomed to put 3 incense sticks in the vase or one gets down completely on his knees with  head on ground by repeating an odder number of times (Yang number) because one always consideres them as living beings. Likewise, for showing the respect towards seniors, one only accomplishes one or three times in prostration. However, in  marriage rites, the future wife must bow down before her parents for thanking them from the birth and education received before joining the family of her husband. It is an even number (or Yin number) of times  she will accomplish   (i.e. 2) because she is considered « dead » and does not belong to her original  family. There is a custom for the ceremony of first wedding night. Being supposed to be good, honest,  old enough and having many children, a woman takes charge of spreading  and overlapping of a pair of mats on the nuptial bed:  one of these mats is open, the other upside down in the image of Yin and Yang union. 

In ancien times, young married men are accustomed to exchange mutually a pinch of earth against a pinch of salt. They would like to honour and  sustain their union and fidelity by taking the  Heaven and  the Earth as the  witnesses of their engagement. One also finds the same signification in the following expression: Gừng cay muối mặn  for reminding young married men   that they should not leave themselves because the life is bitter and painful with ups and downs as ginger and it is intense and deep with feelings as salt.

For speaking of virtue, one is accustomed to say in Vietnamese: 

Ba vuông sánh với bảy tròn
Đời cha vinh hiễn đời con sang giàu

As three squares can be in comparison seven circles, virtuous parents will have rich children.

By speaking of these three squares, one needs to reminder the square form of rice cake proposed during the new year. This cake constituted by straight lines  symbolizes loyalty and righteousness in the relationship of three submissions « Tam Tòng »: Tại gia tòng phu, xuất giá tòng phu, phu tữ tòng tữ (submission to the father before her marriage,submission to the husband during her marriage, submission to the elder son when widowed).

About 7 circles, one must think of the roundness of « bánh giầy ».  This one  is constituted by a sequence of dots equidistant from the center where there is the heart. This cake is the symbol of  a well-balancel soul that any passion does not bewinder. One finds in this heart the perfection of seven human sentiments: (Thất tình : hỹ, nộ, ái, lạc, sĩ, ố, dục )( Joy, anger, sadness, cheerfullness, love, hatred, desire). Does someone  realize a  ideal moral life if under any circumstances, he succeeds to maintain the loyalty and  righteousness with others and always keeps his equidistant gap in the manifestation of his feelings?

The expression  vuông tròn has  frequently been  employed in a great number of Vietnamese popular sayings:

Lạy trời cho đặng vuông tròn 
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng!

I pray to God that  everything should go well and I should  eternally keep  my faithful  hearth  with you.

or 

Đấy mà xử ngãi (nghĩa) vuông tròn
Ngàn năm ly biệt vẫn còn đợi trông

Here is the signification of conjugal love
Despite the eternal separation, one continues to wait  for the  return with patience

or in the following verses 411-412 and  1331-1332 of Kim Vân Kiều‘s best-seller

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn 
Khuôn xanh biết có vuông tròn mà haỵ

My fate is fragile like the dragonfly’s wing
Does the Heaven  knows that this union is durable or not?

or

 Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông

During your lifetime (hundred years), when you are concerned by your marriage, you must climb up the river to the source (i. e. you must get informed  in the smallest detail).

This bipolarity Yin and Yang is  visible in various forms in Vietnam. In China, an only genius of marriage is seen, one has  in Vietnam a couple of geniuses, a man and a woman (Ông Tơ Bà Nguyêt). Likewise, in Vietnamese pagodas, one finds on the altar a couple of Buddhas (a man and a woman) (Phât ông Phât Bà) in place of one Buddha. The Vietnamese strongly believe that each of them is associated with a certain number of digits. Before the birth, the embryo needs to wait for 9 months and 10 days. For speaking of someone having  a happy destiny, one says  he as the « good luck » (số đỏ). On the contrary, the  » bad luck (số đen) » is reserved to people having a lamentable destiny. NEXT (Yin and Yang numbers)

 

 

Yin and Yang theory (Âm Dương : Phần 1)

French version 
yinyangviet

Part 1 (Yin and Yang theory)
Part 2 (Yin and Yang theory)
Part 3 (Yin and Yang numbers)

The Yin and Yang theory continues to manage the daily life of the Vietnamese,   down to the last detail. The Yin nature is everything being  fluid, cold, humid, passive, dark, interior, immobile and originating from  feminine  essence as the  sky, moon,  night,  water and  winter. But everything being solid, hot, light, active, exterior, mobile and coming from the male essence as  soil, sky, fire and  summer belongs to the Yang nature. This  bipolarity is even  found   in the Vietnamese grammar by using the words « con » and « cái ».  Similar to French articles defined « le » and « la », these are employed to indicate the type in certain cases but one can rely on the nature « mobile » or « immobile » of the object accompanied for indicating its belonging in the corresponding semantic class. The word cái is used in case where the object carries the character « immobile » (tĩnh vật) : cái nhà (house), cái hang (cave), cái nồi ( pot) etc… However, when the state « mobile » (động vật) belongs to the object nature, the word « con » is used instead of « cái ». It is the case of the following words: con mắt (eye), con tim ( heart), con trăng ( viper),  con ngươi ( pupil), con dao ( knife) etc… The eye moves incessantly as the throbbing heart. Similarly, the viper moves as well as the pupil. The knife is considered by the Vietnamese as a sacred animal. It is nourrished with blood, wine and rice.  The same name beared by an object can lead to two different interpretations depending on the use of the word « cái » or « con« . The following example reflects the character « mobile » or « immobile » of the object « thuyền » ( or boat ) employed : Con thuyền trôi theo dòng nước (The boat moves on the water). This mean  someone drives forward the boat with oar or  engine. However, when one says  « cái thuyền trôi theo dòng nước » (The boat moves on the water), one insists on the fact that nobody does not manoeuvre the boat. It is the flood waters that drives forward the boat alone. This notes the character « immobile » of the boat. The influence of Yin and Yang is no stranger to the way of attributing the sex to common objects. It is the case of the knife (dao): dao cái (large knife), dao đực ou dao rựa (or machete).  This remark has been notified by French archeologist and sinologist Alain Thote in his article intituled « Origine et premiers développements de l’épée en Chine « : The Yue  swords enjoyed the very  high celebrity in ancien times. Some swords had the name  and one was brought to consider their belonging to the male or female sex. The expression  « đực rựa »  used frequently in conversations for designating the men,  is from the custom  of the old Vietnamese  carrying machetes during the walk.

The gender  association is  also visible for a long time in Vietnam in rice cultivation: the man ploughs and the woman pricks out in the field. The plougshare penetrating the soil (Yin)  symbolizes the male sex (Yang) while the woman transmits the power of fertilization (Yin) to rice plants (Yang)  by transplantation. For showing the complete perfection in the harmonious union of Yin and Yang, one has the habit of saying in Vietnamese: Being together, husband and wife achieve to scoop all the  water from the East sea. (thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn).

Being ric farmers, the Proto-Vietnamese were attached not only to the soil but also to the environment because thanks to the natural  phenomena ( rain, sky, wind, cloud etc…) , they had successful  harvests or not. The extensive agriculture in slash/burning or in flooded terrains  depended on  the vagaries of climate. That is why they needed to live in harmony with nature. They considered that they were the link between  Heaven and Earth (Thiên-Nhân-Địa). From this notion, one has the habit of saying: Thiên Thời, Địa Lợi, Nhân Hòa (to be aware of  weather,to  know the environment and to  have popular support or national harmony). There are three  key   factors of success  to which Vietnamese strategists (Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi or Quang Trung) referred,  in their struggle against foreign invaders. The Vietnamese  take into consideration this triad in their way of thinking and their daily life. For them,  there is no doubt that this notion has an undeniable influence on man himself: his destinity is imposed by the will of Heaven and depend on his date  of birth. With the exterior and interior environment of his home, he can receive the harmful or beneficial  breath (qi) generated by the Earth. The art of harmonizing the exterior and interior  environmental energy of his housing allows him to minimize his troubles and promotes his welfare and his health. A flat terrain without any undulations and no hills is the lifeless soil and shortness of breath qi (Khí). The Vietnamese call  mountains and hills with the names Dragons and Tigers. Buildings should have respectively  a green  Dragon  and  a white tiger in the  west and east facing.  The caring dragon must be more powerful than the tiger (Hữu Thanh Long, Tã Bạch Hổ), that means the Dragon mountain is higher than the Tiger hill.  The best site is that which has a hill behind one another, which enables to show the interlacing between the Dragon and the Tiger. The concept of harmony takes on its full meaning when a site backed by a mountain and surrounded on two sides by ranges of hills allowing its protection against winds for avoiding the dissipation of Chi (or cosmic energy), provides access to a lake or a river where there are  both water and nourrishment and the accumulation of cosmic energies.  This model is found by taking the example of  historic city of Huế.  The enclosure of this latter is a defensive  military structure based on the technique of strengthened fortifications of  renowned engineer, Vaubanand covers near the southern front,   the imperial city delimited by a second square-enclosed area mesuring approximatively  622m x606 m. Therein, one finds the   Forbidden Purple City forming the symbolic heart of the empire in the third and last enclosure, having  nearly  a square in shape  and mesuring 330×324 m. The imbrication of three enclosures refers to the triad  (Thiên, Nhân, Ðịa). Facing to the 105 m high  mountain Royal Screen (or Ngự Bình in Vietnamese)  that, according to the geomancers interpretation (Feng Shui)(Phong Thủy),  is the imperial shield created by  Gods,  the citadel’s southern front including the moon gate (or Ngọ Môn), follows the convex alignment along  the Perfume river (Hương giang). Being similar to the dragon lying in the West, this river undulates and goes up  in the north  by penetrating the soil through small hills and  making a 45°  bend towards the east. It   reachs  firstly  protectives isles Dã  Viên and Cồn Hến  before ending in the sea.  That creates the ideal position (Chi Huyền Thủy) corresponding to the above described scheme with a green Dragon in the West  and a white Tiger in the East. These animals are respectively represented by the shell isles Dã Viên and Cồn Hến  in the face of the natural screen symbolized by the mount of Royal Screen (Núi Ngự Bình). 

The man can affect his own life. By accomplishing acts of caring towards others,  he can find his joy and improves his karma. In ancient times, Vietnam had a sacrificial ceremony named « Nam Giao » or « Tế Giao »  intended  to Heaven and  Earth. It goes back to the king  to pay homage  to Heaven and Earth every year with his deified ancestors on the monumental esplanade built in 1806 in the southern suburb of Huế. One finds in this esplanade a  square mound representating the Earth temple, in the center of which is an other round mound symbolyzing the Heaven temple. Being firstly  subjected in complete isolation and fast,  the king climbs the sacrificial  esplanade and acts on behalf of his people for communicating  with universe natural forces in order to ask them to improve the environment on earth. The king is the only figure eligible for being an intermediary between Earth and Heaven. This Triad (Thiên, Nhân, Địa) has also evoked in Vietnamese legends. One finds the narrator willingness to show the deep attachment  of Vietnamese people to the triad notion in accordance with nature and moral. In  the legend intituled « The God of Mountains and the God of Rivers (Sơn Tinh Thủy Tinh), a girl named Mị nương is requested in marriage by these two geniuses or in the Kitchen genius myth  (Chuyện Táo quân),  one finds a woman torn between  the love of her old husband and that of her new companion. In the betel quid (Trầu Cau), the triad (wife, husband and brother) is represented by the woman, her husband and her twin brother-in-law who, once deceased,  respectively become betel,  arecanut palm  and  limestone.  The betel  quid reflects well the equilibrium notion and harmony found in the Yin and Yang theory.  For preparing the betel quid,  a little of slaked lime is smeared on a betel leaf.  Then one adds some root bark of Artocarpus tonkinese in yellow-orange colour and finally incorporates a areca nut finely sliced. All this  is introduced in the mouth and chewed slowly.  After twenty minutes of chewing, one spits out what remains. Five tastes can  be  found in the betel quid: sweet with areca nut, spicy with betel leaf,  sour with root bark,  salty with lime and acidulous  with saliva.  By the image  of  fresh betel liana coming from Earth symbolized by lime stone and embracing the slender  arecanut palm trunk in this legend, one wants to mention the intermediary   character between the Yin and Yang in a perfect accord.  The old Vietnamese adage says that   the betel quid is the prelude to the conversation (Miếng trầu là đầu câu chuyện).  The acceptation implies heavy consequences and is equivalent to a firm commitment, a word given that no one would  ever  think of taking back. If the exchange has taken place between girl and boy , this is equivalent to a proposal of marriage. In the Vietnamese tradition, the betel quid is the symbol of marital happiness. It cannot be missing in marriage riruels.

In the swamp rice civilization, others trinities are important as the triad (Heaven, Earth, Man). There is the case of  the triad  (Thủy, Hỏa, Thổ) (or (in English  Water-Fire-Soil) or that of the triad (Mộc, Kim, Thổ)(or Wood, Metal, Soil).  One needs soil  for the rice cultivation, water and fertilizers coming from  ashes caused by fire for enriching soils. Likewise, one needs plants for food and metals for making appropriate tools in agriculture.  One oberves that these triads have a common element that is the soil. That is why this latter occupies a central position in the management of 4 cardinal points. There is the pivot around which fourth others elements take place. In  the farm life,  the most important element following the soil is water.  One the habit of hearing from Vietnamese  peasant  the following saying: Nhất nước nhì phân (Firstly water, secondly fertilizers). Being of Yin nature, water is attributed to the northern direction because it is compatible with the cold (winter). On the contrary, being of Yang nature, fire found in the triad (Water-Fire-Soil) is better associated in the  southern direction with the warmth and radiation (summer). The element « Wood » evokes plants, the birthday of which takes place in spring. It derserves to occupy the eastern direction with the development of  Yang. Being  element of malleable character and  taking different forms, Metal is associated to the western direction (autumn).

The Vietnamese are  founding in the Yin and Yang theory a practice of alternation rather than a idea of opposition. Yin and its complementary Yang form an identity that  allows to result in the installation of right balance and harmony. For them,  the word represents  the totality of cyclical  sequences constitued by the combination of two alternating and complementary   events. One knows that in the relation of opposition, Yin as Yang each of them carries within himself or herself the germ of the other. (Không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm có dương và trong dương có âm).  Yin and  Yang are like  a wheel in motion. By coming at their end, they must start again. Once their limit  is reached,  they go come back again. A lot of popular sayings evoking the law of causality, concretely testify to  the Yin and Yang mutation.

That is why one is accustomed to saying in Vietnamese « Trong cái  rũi có cái may » (In the bad luck, there will have the chance), « Trong cái dỡ  có  cái hay (In what appears to be bad,  one also finds something  good) »,« Trong họa có phúc ( In the misfortune , there will have the happiness) ». « Sướng lắm khổ nhiều (The more one is  satisfied by desire,  the more  one will suffer ) », «Trèo cao ngã đau ( The more one climbs high,  the more one has a painful drop)». « Yêu nhau nhiều cắn nhau đau. The more we are in love, the more  we hurt each other’s feelings». The lost goods  sometimes  are the price of life. There is what the Vietnamese saying clearly expresses: Của đi thay người ( Goods are going out in the place of people). The factors Phúc and Họa have to vary in opposite directions. It’s because of the bipolarity Yin and Yang that the Vietnamese are accustomed to  strike  a good balance in the daily life.  They try to look for a perfect  arrangement with everyone and nature and even beyond their death. There is what one discovers in the necropolis of Lạch Trương (Thanh Hóa) dating from three centuries before J.C. with wooden burial objects (Yang) placed in the northern direction and that in terracotta (Yin)  at the southern  direction (Yang).  This equilibrium notion is even found in pagoda with geniuses of good and evil. (Ông Thiện Ông Ác). It’s thanks to this equilibium philosophy that the Vietnamese have the ability to adapt to any situation, even in the extreme case. It’s also this principle of balance that  Vietnamese leaders have continued to keep in the past during the confrontation with  foreign countries. For avoiding the humiliation of the Mongols twice defeated in Vietnam, General Trần Hưng Đạo proposed to pay tribute to  Koubilai Khan in exchange for lasting peace. After defeating the Ming, the  strategist and advisor  of Lê Lơi king, Nguyễn Trải did not hesitate  to let Wang Toung ( Vương Thông ) come back in China with 13000 captured soldiers and  proposed  a pact of vasselage with a triannual toll  of two  fine metal statues in standard size as compensation for two generals died in combat. Likewise,  Quang Trung king, guided by humility, sent an emissary to seek peace with Qianlong emperor after defeating the Qing army at Hànội in 1788 for a very short period of time.(6 days).  One cannot forget the conducting and flexibility carried out by communist leaders in diplomacy during the confrontation with the  French and  Americans. The  Geneva (1954) and Paris (1972) agreements once more testify  of the  search for balance or the middle way that the Vietnamese have found with ingenuity   in the Yin and Yang theory. In Vietnam,  the circular shaped objects (hình tròn)  are integrated  in the Yang and square shaped objects (hình vuông) in the Yin. It is the tendancy dating back  to the period when one believed that the sky was round and the soil  square and flat. The Vietnamese  were obliged to square the latter before using it in the plowing and house construction. It is in the state of mind that the Bai Yue ( to which the Proto-Vietnamese belonged ) had the habit of dividing a portion of land into nine  lots by taking for model the character   tĩnh (giếng nước). The central lot was expected for the construction of a water well and eight remaining lots were  destined for the housing construction, which is the first housing unit in the agricultural society.  The following Vietnamese popular saying: trời xanh như tán lọng tròn ; đất kia chằn chặn như bàn cờ vuông (The blue skue  ressembles  a round   parasol as this perfect soil similar to the square chessboard ) reflects this popular belief. NEXT (More reading Part 2)


Bibilography

–Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
–Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống đồng giữa học giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18. 
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net) 
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001. 
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36. 
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556) …..