Les tombes des princes Han (Version vietnamienne)


Version française

Các lăng mộ của vua chúa nhà Hán

Tương tự như người tiền nhiệm  Tần Thủy Hoàng, các hoàng đế của nhà Hán, trong thời gian trị vì hay thường cử sứ giả đi tìm kiếm các nơi thiên thai để tìm kiếm sự bất tử và tiếp cận với thế giới thần tiên. Những vùng đất thần thoại này thường được gắn liền với đảo Bồng Lai  ở phía đông và núi Côn Lôn  ở phía tây trong tín ngưỡng ở thời nhà Hán. Đây là ngọn núi nơi mà  Tây Vương Mẫu  (Xiwangmu) ở, người mà nắm giữ được thần dược trường sinh bất lão. Chính vì lý do này mà người ta hay tìm thấy  thường xuyên  hình ảnh nầy trong việc  trang trí các lăng mộ của người Hán. Đây là một bằng chứng  không chỉ cho sự phổ biến mà còn là một quan niệm của Lão giáo liên quan đến việc kéo dài sự sống sau khi qua đời. Theo một số tin đồn chưa được xác minh và không có căn cứ, Trương Khiên  được Hán Vũ Đế  ủy thác  vụ tìm kiếm ban đầu các công thức trường sinh bất tử ở sườn núi Côn Luân, nơi sống của những người bất tử. Vẫn thường mặc áo choàng dài, những người này có khuôn mặt góc cạnh, miệng rộng trên một cằm nhọn, lông mày cong và tai to khiến họ có một dáng người khá kỳ quặc và hốc hác. Khi họ đã đạt được đến con đường đạo của  Lão giáo, họ có đôi cánh trên vai. Trong quan niệm của Lão giáo về thế giới bên kia, để giữ đuợc toàn vẹn cơ thể  của người qua đời và sự bất tử của linh hồn thì phải lấp 9 lỗ ở trên cơ thể của con người bằng  các vật thể bằng vàng và ngọc. (miệng, tai, mắt, lỗ mũi, niệu đạo và trực tràng). Sau đó, người quá cố phải được đeo mặt nạ hay  mặc một bộ y phục bằng ngọc thạch mà việc sử dụng phải được điều chỉnh bởi một nghi thức thứ cấp bậc rất nghiêm ngặt. Đối với hoàng đế, trang phục bằng ngọc được may với các chỉ vàng. Còn đối với các  vua chúa và các quan chức kém quan trọng khác, thì trang phục bằng ngọc của họ chỉ có  những sợi bạc hay đồng. Việc sử dụng trang phục phản ánh lại tín ngưỡng  của người Hán về sự trường tồn của linh hồn ở thế giới bên kia vì ngọc thạch được cho là có đặc tính yểm trừ ma qủy để dẫn đến sự bất tử của linh hồn.

Vào thời nhà Hán, quan niệm nhị nguyên về linh hồn đã được đề cập đến trong một số văn bản Trung Hoa  như ở quyển sách Hoài Nam Tử của Lưu An. Mỗi cá nhân có hai linh hồn: một cái gọi là hun được lên thiên đường và cái còn lại được gọi là po, biến mất đi cùng với thể xác của người đã khuất. Để ngăn chặn linh hồn « hun » thoát ra ngoài qua các khe hở trên khuôn mặt, mặt nạ hoặc trang phục là điều rất cần thiết.

Quan niệm nhị nguyên về linh hồn này thực sự là của người Trung Hoa hay vay mượn từ một nền văn minh khác của người Bách Việt không? Nó được tìm thấy ở những người Mường, anh em họ hàng của người dân Việt, sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh nhất của miền núi Việt Nam. Đối với người Mường, có một số linh hồn được có ở trong con người mà họ gọi là wai. Chúng được chia thành hai loại: wại kang (linh hồn xa hoa) và wại thặng (linh hồn cứng rắn).  Linh hồn loại đầu là cao cấp và bất tử trong khi loại thứ nhì thì gắn liền với cơ thể, được xem là xấu. Cái chết chỉ là hậu quả  siêu thoát của các linh hồn này.

Cần  nên nhớ rằng văn hóa của Sỡ Quốc bị Tần Thủy Hoàng  chinh phục trong thời kỳ thống nhất Trung Hoa có một nét đặc thù, một ngôn ngữ riêng tư, đó là tiếng nói của người Bách Việt. Từ thời Tần-Hán, có một cơ quan hoàng gia thường gọi là  « fangshi » gồm có các học giả địa phương được xem như là những pháp sư chuyên về các nghi lễ liên quan đến các ngôi sao ở trên trời  và lo các doanh thu của chính quyền.

Vai trò của họ là thu thập ở trong địa phận của mình, tất các cách thức nghi lễ, các tín ngưỡng, các thuốc địa phương, các hệ thống tiêu biểu, vũ trụ học, các  chuyện thần thoại và truyền thuyết cũng như các sản phẩm địa phương và  đề trình lên  cho chính quyền để có thể  chọn lọc giữ lại hay không và kết hợp lại sau đó dưới dạng các quy định nhằm tăng cường quyền lực của hoàng đế trong một  quốc gia rất đa dạng trên mặt dân tộc học và mang lại cho hoàng đế  những phương tiện để thực hiện  chức vụ thiêng liêng mà Trời ủy thác. Mọi thứ  nầy phải được thu thập và bổ sung vào việc phục vụ con của Trời nhầm để thiết lập tính cách hợp pháp  ở các lãnh thổ được chinh phục gần đây của các dân man rợ.

__ Đây là một trong những điểm nổi bật của văn hóa Trung Hoa: Nó biết cách chấp nhận và tiếp thu văn hóa nước ngoài mà không bao giờ có thể bị chao đảo hay có sự thay đổi văn hóa .__

Đây là những gì nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng của thế kỷ 20 Liang Shuming đã viết trong phần giới thiệu tác phẩm của mình mang tựa đề là « Những ý tưởng chính về văn hóa Trung Hoa » (do nhà xuất bản Michel Masson dịch). Điều này được gắn liền với sự nhận xét sau đây của nhà dân tộc học và Hán học người Pháp Brigitte Baptandier trong bài giảng của một ngày nghiên cứu APRAS về  các dân tộc học trong khu vực, ở Paris vào năm 1993:

Văn hóa Trung Quốc do đó đã hình thành qua nhiều thế kỷ như một bức tranh khảm của nhiều nền văn hóa. Cần có một dòng máu man rợ truyền chậm cho Trung Quốc bằng cách làm cho thích hợp  lại công thức đẹp của nhà sử học F. Braudel  dành cho Pháp quốc.



Lư hương Boshanlu (lư hương có dạng núi Bo) được tượng trưng là những ngọn núi thần thoại được chìm ngập  trong mây và hơi khí qi (năng lượng vũ trụ quan trọng). Sự nổi tiếng của những lư hương này phần lớn là do người Hán nghĩ về sự bất tử và sự sùng bái các núi thiêng liêng.

Boshanlu


Theo ước tính của nhà khảo cổ học lâu đời nhất Trung Hoa Wang Zhongsu, kể từ năm 1949 đã có hơn 10.000 ngôi mộ được khai quật chỉ riêng thời nhà Hán. Nhờ những phát hiện khảo cổ lớn từ lăng mộ của bà Đai và con trai của bà ở Mã Vương Đôi (Trường Sa, Hồ Nam) vào năm 168 TCN hoặc lăng mộ của con trai hoàng đế Hán Cảnh Đế (Jing Di), hoàng tử Hán Lưu Sheng và vợ ông là Dou Wan (Mancheng, Hà Bắc) vào năm 113 TCN hay lăng mộ của Triệu Muội, cháu nội của Triệu Đà và vua của Nam Việt (Xianggang, Quảng Châu) vào năm 120 TCN, các nhà khảo cổ bắt đầu hiểu rõ hơn nghệ thuật của người Hán thông qua hàng nghìn đồ vật đặc biệt bằng ngọc thạch, sắt và đồng, gốm sứ, sơn mài, vân vân… Các hiện vật nầy biểu lộ sự sự giàu có và quyền lực của các hoàng tử dưới thời nhà Hán. Đôi khi còn là các kiểu mẫu duy nhất không chỉ thể hiện công việc kỹ thuật của nghề thủ công tinh xảo và quý giá của các vật liệu mà còn là đặc điểm riêng tư của khu vực.

Trong  các cuộc khai quật, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra rằng có sự giáng đoạn  ở trong nghệ thuật Trung Hoa, một sự thay đổi sâu sắc tương ứng về mặt lịch sữ với sự phát triển của các đế chế thống nhất (Tần và Hán) nhất là  khi có tiếp xúc liên tục với các ảnh hưởng nước ngoài. Sự hiện diện của các vật thể lâu đời, đặc biệt là các bát đĩa bằng đồng mà chúng ta quen tìm thấy vào thời nhà Châu, đã nhường lại cho sự phát triển của nghệ thuật tượng hình. Chắc chắn là có ảnh hưởng đáng kể của các vùng văn hóa khác trong lĩnh vực nghệ thuật Hán, đặc biệt là trong lĩnh vực văn minh vật chất. Việc thờ cúng tổ tiên không còn diễn ra ở trong đền thờ như đã từng được thực hiện vào thời kỳ đồ đồng, mà diễn ra ngay ở trong các lăng mộ và các đền thờ gần đó. Ngoài ra, tựa như hoàng đế Tần Thủy Hoàng, các hoàng đế nhà Hán cùng các hoàng tử có xu hướng biến lăng mộ mình trở thành một bản sao của ngôi nhà của họ sống ở trên trần gian.

Quan niệm này đã có từ thời nhà Châu và thường được trông thấy  thường xuyên trong các phong tục tang lễ của giới thượng lưu ở Sỡ quốc. Tương tự như người nước Sỡ, người Hán tin vào sự trường tồn của linh hồn ở thế giới bên kia. Viễn cảnh về cái chết được xem như là sự tiếp tục của cuộc sống. Tín ngưỡng này vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay ở Trung Quốc vào lễ thanh minh với những lễ vật cúng cho tổ tiên: tiền giấy giả và đồ tang lễ được đốt sau đó.

Chính vì lý do này mà người ta được tìm thấy trong các cuộc khai quật, mọi thứ mà họ sở hữu trong suốt cuộc đời: những đồ vật yêu thích, những bức tượng nhỏ bằng đất nung tượng trưng cho những người hầu cận của họ cũng như những tấm vải liệm bằng ngọc thạch để làm giảm nhẹ đi cái chết về cõi hư vô. Các ngôi mộ hoàng gia của nhà Hán được trông thấy nhờ sự hiện diện của một cái gò nhân tạo cao nằm ở trong một khu bao quanh hình chữ nhật, nơi cũng có  đặt thêm các ngôi mộ phụ. Cấu trúc của lăng mộ ngày càng trở nên phức tạp hơn và thường được thấy có sự tranh đua với các cung điện ở trên trần gian  với những  hào huyệt riêng biệt mà mỗi cái có một chức năng rõ ràng (kho, chuồng trại, nhà bếp, phòng tiệc vân vân…) Đây là trường hợp của mộ của Lưu Kỳ được gọi là hoàng đế Hán Cảnh Đế và vợ ông, hoàng hậu họ Vương ở ngoại ô của  thành phố Tây An. Chính trong những cái hố này, chúng ta tìm thấy các hiện vật xa xỉ (bình hoa, chậu, lò đốt nước hoa, gương, cân chiếu, vạc, đèn, dao găm vân vân…) hoặc ở  trong cuộc sống hàng ngày  như ngũ cốc, vải, thịt vân vân… của người đã khuất mà làm các nhà khảo cổ sững sờ ngưỡng mộ và không nói nên lời, được chôn cất ở bên cạnh các tượng nhỏ bằng đất nung (mingqi). Đây có thể là các tượng động vật quen thuộc nuôi ở  trong nhà hoặc  các tượng người hầu cận.

Nhờ con đường tơ lụa và sự mở rộng bờ cõi của Trung Quốc, một số lượng lớn của các truyền thống nghệ thuật ở trong các khu vực, các thời trang nước ngoài và các sản phẩm mới  đóng góp phần vào sự nở rộ nghệ thuật của nhà Hán. Chủ nghĩa thế giới chắc chắn có đóng một vai trò quan trọng vào thời điểm này. Sự lộng lẫy của những món đồ xa xỉ được tìm thấy trong các lăng mộ không chỉ cho thấy sự  tráng lệ và  cầu kỳ của các triều đình vua chúa dưới thời nhà Hán mà còn cho thấy sở thích ngoại lai. Các điệu múa và âm nhạc của Sỡ quốc, các bài hát của nước Điền, nghệ thuật múa ba lê của Trung Á thay mới các trò tiêu khiển của triều đình. Những cuộc tiếp xúc với các nghệ thuật của các vùng đồng hoang  làm phong phú thêm các thư mục trang trí.

Tương tự như ngọc thạch , đồng là một trong những vật liệu phổ biến nhất của người Trung Hoa. Trong thời kỳ nhà Hán, sự phổ biến các đồ đồng bắt đầu giảm bớt vì để thờ cúng tổ tiên, các bộ bình hoa nghi lễ bằng đồng hoàn chỉnh không còn cần thiết nữa mà thay vào đó là các đồ vật sơn mài bắt chước theo Sỡ quốc.  Nước nầy có cơ hội trang trí thường xuyên các vật thể qua các họa tiết hoặc hình vẽ theo trí tưởng tượng tuyệt vời và theo thần thoại của riêng tư vào thời Chiến Quốc. Mặc dầu có sự suy giảm dùng đồng ở  trong các lăng mộ của các hoàng tử Hán, đồng vẫn được sử dụng rộng rãi trong ở các đồ trang trí xe ngựa và các vật dụng xa xỉ được tìm thấy. [RETOUR]

Nghệ thuật sống (tiếp theo)

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): troisième partie (version vietnamienne)

 

peuple_bana5
Version française
Phần cuối

Sau khi cử hành hôn lễ, vợ chồng trẻ sống luân phiên với gia đình cha mẹ sau một thời gian nhất định theo sự thỏa thuận giữa hai gia đình. Chỉ sau khi sinh đứa con đầu lòng, họ mới bắt đầu xây nhà riêng cho mình. Người Bahnar áp dụng chế độ một vợ một chồng. Hiếp dâm, loạn luân và ngoại tình đều bị lên án nghiêm khắc. Trong trường hợp người hôn phối còn sống không phân biệt giới tính phạm tội ngoại tình tại thời điểm bảo trì mộ người đã khuất, người đó được xem là người nhảy qua quan tài (ko dang boăng). Người hôn phối còn lại không được giải thoát ngay lập tức  nghĩa vụ của mình đối với người chết. Người đó có nghĩa vụ không phải trả cho những người được thụ hưởng của người qua đời  mà cho chính  người chết  các khoản tiền đền bù mà người ta hiến thân một số con vật trên mộ. Đây là lý do tại sao người hôn phối còn sống cần quan tâm đến việc rút ngắn thời gian duy trì nếu muốn bắt đầu có lại  một cuộc sống mới. Ngay cả khi chết, những thiệt hại do lỗi của vợ hoặc chồng gây ra cho người chết vẫn được đền bù vật chất bằng số lượng súc vật được hiến tế trên mộ. Theo truyền thống của người Bahnar, mọi người đều được « tự do » miễn là họ không làm tổn hại đến người hoặc tài sản của người khác. Trong trường hợp người đó bị tổn hại về danh dự hoặc vật chất của mình thì được bồi thường bằng hình thức bồi thường hoặc hoàn trả các chi phí gánh chịu. Người Bahnar không áp dụng hình phạt tử hình. Đưa ai đó vào tù tương tự như tội biệt xứ. Người Bahnar biết giúp đỡ nhau khi có nạn đói. Trong nhà của người Bahnar không bao giờ uống rượu cần, không bao giờ ăn thịt mà không mời các gia đình khác. Lúa chín đầu tiên không chỉ thuộc về chủ ruộng mà của cả làng.
 

Tượng nhỏ bằng gỗ
trước các nhà tang lễ

bana_figurineQuyền tự do lựa chọn vợ chồng, phân chia công việc trong một cặp vợ chồng, quyền được đền bù vật chất hoặc luân lí, tôn trọng người khác minh chứng cho sự bình đẳng nam nữ trong truyền thống tổ tiên của người Bahnar. Không có sự khác biệt cơ bản giữa vị trí pháp lý của một người đàn ông và một người phụ nữ. Với người Bahnar, cách thức hoạt động dân chủ đã có từ lâu đời trước khi chế độ dân chủ được phát hiện và thực hành ở phương Tây. Theo nhà dân tộc học người Pháp, Georges Condominas, « những kẻ man rợ » không chờ đợi Minkowski hay Einstein mới có khái niệm về không gian-thời gian. Bằng cách sử dụng một thành ngữ liên quan đến không gian, họ chỉ ra một ngày. Họ ước tính tuổi của ai đó liên quan đến một sự kiện nổi bật. Họ không phá hủy hoàn toàn rừng vì họ biết cách để rừng tự tái sinh nhiều năm sau khi họ đã ăn nó mười hay hai mươi năm trước như người Mnong của Georges Condominas. Họ không giết thú  không phải bởi sự hứng thú để  giết mà họ giết thú chỉ để ăn và biết chia sẻ với các người đồng hương của mình.

Họ chỉ giữ một phần nhỏ trong quá trình săn mồi cho riêng mình. Sự phổ biến và sử dụng chất khai quang của người Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, việc tàn sát động vật để làm dược điển  truyền thống, sự hủy diệt cây cối và nạn phá rừng liên quan đến sự gia tăng dân số, việc hủy hoại đất đai qua bón phân hóa học quá mức, tất cả là đặc quyền của những người được gọi là « văn minh ». Đoàn kết và tương trợ không phải là lời nói suông.

 
Người dân Bahnar trên hết họ là những người « rôngơi » (hoặc tự do). Họ thường quen nói: « Tôi là rongơi hay kodră (thầy) » để nói rằng họ được tự do từ sự lựa chọn hoạt động của mình hoặc làm chủ vận mệnh của mình. Họ có phải là những kẻ “man rợ” như chúng ta vẫn nghĩ lâu nay? Mỗi người trong chúng ta phải hiểu sâu câu hỏi này và sử dụng cách sống và văn hóa của họ như một nguồn cảm hứng và suy ngẫm lại để cho phép chúng ta có cuộc sống tốt hơn và cùng nhau tôn trọng những người khác và thiên nhiên.

Trở về lại phần đầu

Phật Giáo Viêt Nam

Phật Giáo Viet Nam

Version française

Không ai biết được một cách chính xác Phật Giáo được du nhập vào Vietnam ở thời gian nào nhưng theo nhà học giả Phan Lạc Tuyên thì các tu sĩ Ấn Độ đã có mặt ở Vietnam từ đầu thế kỷ Công Nguyên vì dựa trên câu chuyện của Chử Đồng Tử sau khi gặp một tu sĩ Ấn Độ, Chử Đồng Tử bắt đầu kết nạp với đạo Phật. Đó là cũng thời kỳ Tam Quốc mà Vietnam là một tỉnh Trung Hoa (Giao Châu) dưới sự quản trị của Sĩ Nhiếp (Shi Xie). Cũng là thời mà Vietnam thuộc về Đông Ngô của Tôn Quyền (Sun Quian). Rất sùng đạo Phật, mẹ của Tôn Quyền thường mời các tu sĩ ở Luy Lâu (Bắc Ninh, Vietnam) đến thủ đô Kiến Nghiệp(Jiany), thuộc về thành phố Nam Kinh hiện nay để nghe giảng kinh và bình luận về các sách lễ Ấn Độ (sutra) của Phật giáo. Thời đó, trung tâm Phật Giáo Luy Lâu (Bắc Ninh) rất nổi tiếng và quan trọng nên có tá túc một số tu sĩnhư Khâu Đà La (Ksudra), Mahajivaca (Ma Ha Kỳ Vực), Kang-Sen Houci (Khương Tăng Hội), Dan Tian (Đàm Thiên). Là một pháp sư, khi trở về Trung Hoa có tường thuật lại với vua Tùy Văn Đế (Sui Wendi) về sự tiếntriển của Phật giáo Vietnam. Giao Châu đã có Phật giáo trước chúng ta vì ngoài việc có hai mươi ngôi bảo sát (chùa), còn có hơn 500 tu sĩ và 15 tập kinh lễ được dịch. Chứng tỏ là lúc đó Phật giáo đã phồn vinh ở Việt nam.Cũng nên cần biết là Phật giáo đã có mặt ở Chămpa rất sớm. Trong các biên sử của Trung Hoa, có nói đến việc tướng Lưu Phương (Lieou Fang) của nhà Tùy sau khi cướp bóc ở thủ đô Điền Xung (Kandapurpura) của vua Champa Phạm Phàn Chí (Sambhuvarman), có mang về nước 1350 bản văn Phật giáo được đóng thành 564 quyển. Sau một cuộc hành trình đường biển ở Đông Ấn, khi trở về Trung Hoa, một tu sĩ nổi tiếng Nghĩa Tịnh (Yijing) có đề cập đến Champa và có nói vương quốc nầy là một trong những nước Đông Nam Á xem trọng lý thuyết đạo Phật dưới thời kỳ ngự trị của Vũ Tắc Thiên (Wu Ze Tian) (Nhà Đường).Tuy rằng Viet Nam là một tỉnh lị của Trung Hoa vào thời đó (từ -111 đế n 933) nhưng Viet Nam vẫn còn là một trạm tiếp nối thật sự giữa Trung Hoa và Ấn Độ. Viet Nam được tiếp thu rất sớm Phật pháp từ đầu thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch vì Viet Nam nằm ở bên cạnh các nước như Phù Nam và Chămpa thường thông dùng chữ Phạn của các kinh Phật và còn đươc các thương gia Ấn Độ ở lại để nghĩ, cung cấp và trao đổi hàng hoá (lụa, hương liệu, trầm, quế, tiêu, ngà voi vân vân…) vì Ấn Độ thời đó có liên hệ thương mai trực tiếp với Trung Ðông và gián tiếp với các nước vùng Ðịa Trung Hải như Ðế quốc La Mã. Phật giáo đại thừa nẩy nở ở Ấn Độ với các trung tâm Amaravati và Nagarjunakonda ở miền duyên hải Ðông nam Ấn Ðộ khiến một số tăng sĩ theo thuyền nhân lúc đó đến Đông Nam Á qua các bờ biển Mã Lai, Phù Nam và Giao Chỉ để truyền bá đạo. Phật giáo ở Giao Châu do từ Ấn Độ truyền sang trực tiếp chớ không phải đến từ Trung Hoa.

Phật giáo Việt nam là Phật giáo đai thừa thường quan tâm nhiều đến sự giải thoát cho tập thể và quần chúng hơn là cho cá nhân còn Phật giáo tiểu thừa thì được xem là kết quả của bao nhiêu năm cố gắng tu luyện mà con người có được để tỉnh ngộ và trở thành Bồ Tát. Buổi ban đầu, Phật giáo Việt Nam cũng không có gặp sự trở ngại nào cả vì Phật giáo chấp nhận đạo đa thần truyền thống của người dân Việt. Phât giáo chỉ có những sinh hoạt tín ngưỡng đơn sơ (lạy Phật, cúng dường, bố thí vân vân…) chớ chưa có sự học hỏi về kinh kệ và chế độ tăng sĩ. Phật thì chỉ biết Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Nhiên Ðăng (Dipankara) vì các vị nầy che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển khơi. Các truyền thuyết như Thích Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu được xuất hiện ở thời gian có sự du nhập của thiền sư Thiên Trúc Khâu Đà La (Ksudra) ở Viet Nam. Qua các truyền thuyết nầy, Man Nương sau khi viện tịch trở thành Phật mẫu. Các truyền thuyết nầy mới dẫn chứng việc hòa nhập các tín ngưỡng dân gian vào Phật giáo một cách dễ dàng. Theo nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn, Phật giáo hội nhập rất sớm, chịu ảnh hưởng của Ấn Độ và đuợc tồn tại đến thế kỷ thứ năm. Dưới thời kỳ Bắc thuộc, thái thú Sĩ Nhiếp (177-266) đi trong thành phố thường có các thầy tu người Hồ (Ấn Độ) hay đến từ Trung Á hộ tống. Vào cuối thế kỷ thứ 2, có một trung tâm Phật giáo ở Luy Lâu(Bắc Ninh), thủ đô của Giao Châu. Rất có nhiều tu sĩ Ấn Độ và ngoại quốc đến đây tá túc giảng đạo khiến Giao Châu trở thành vài năm sau là một trung tâm dịch các kinh lễ sutra mà nổi tiếng nhất là kinh Pháp Hoa Tam Muội (Saddharmasamadhi) được dịch bởi thầy tu Chi Cương Lương Tiếp (Kalavisi) vào khoảng thế kỷ thứ 3.

Cũng cần biết là trong thời gian 6 năm (542-547) mà Lý Bí hay là Lý Nam Đế dành được độc lập thìông có công xây cất chùa nổi tiếng Khai Quốc mà nay là Trấn Quốc ở Hànội. Theo thiền sư Thích Nhất Hạnh thì người ta lầm lẫn trong quá khứ là tu sĩ Ấn Độ Ti Ni Lưu Đà Chi là (Vinaturici) người du nhập thiền đạo vào Vietnam. Trong thời gian ở Luy Lâu (năm 580), ông có ở tu viện Pháp Vân thuộc về phái thiền. Cũng thời gian đó thì tu sĩ Quán Duyên đang dẫn dạy thiền ở nơi nầy. Lúc đó có rất nhiều tu sĩ ở đây sang Trung Hoa dạy thiền trước khi Bodhidharma (Bồ Đề Đạt Ma) đến nước nầy và được xem là tổ sư của thiền Trung Hoa và người sáng lập ra võ công phu (Kongfu) Thiếu Lâm Tự. Ngày nay được mới biết rỏ là tu sĩ Khương Tăng Hội (Kang-Sen Houci), người Khương Cư (Sogdiane) mới là người có công sáng lập thiền đạo ở Vietnam chớ không phải Ti Ni Lưu Đà Chi (Vinitaruci).

Phật giáo Viet Nam bắt đầu phát triển mạnh mẽ và có được một thời vàng son sau khi đất nước khôi phục lại được độc lập với Ngô Quyền. Về sau dưới triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần, Phật giáo còn được xem chính thức là quốc giáo.

[Phật giáo dưới thời Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần]

Những loại hoa được yêu chuộng trong nền văn hóa Vietnam

Version française

Version vietnamienne

img_6909

Những loại hoa được yêu chuộng trong nền văn hoá Vietnam.

Trong truyền thống văn hóa, người dân Việt rất coi trọng các loại hoa. Họ thường thích chọn và dành tên của các loại hoa cho giới phụ nữ. Thậm chí còn có một câu chuyện về  cái tên mà vua vĩ đại Lý Thánh Tôn của triều Lý, chọn cho bà cung phi Ỷ Lan mà đựợc     biết sau nầy dưới cái tên là Linh Nhân Hoàng Hậu. Một hôm, trên đường về kinh, đang được các dân làng nô nức  đón tiếp thì vua nhận ra có một cô con gái hái dâu vẽ đẹp phi thường rụt rè đang bên cạnh gốc lan và  nhìn ông từ đằng xa. Mong muốn được biết nàng, vua mới triệu nàng đến trước  mặt. Vì yêu vẽ đẹp và trí thông minh của nàng, vua mới đem nàng về kinh, kết  hôn cùng nàng và đặt cho nàng cái tên đầu tiên « Ỷ Lan » («Ỷ là dựa, Ỷ Lan là dựa gốc cây lan »). Sau đó nàng được biết đến trong lịch sữ Việtnam là một trong những bà hoàng hậu  thực hiện được nhiều biện pháp xã hội cho những người bất hạnh nhất là giới phụ nữ. Tuy nhiên có một cái tên là « Hoa » mà không ai có quyền chọn dùng  dưới triều nhà Nguyễn. Đó là tên của bà thiếp Hồ Thị Hoa của thái tử Nguyễn Phước Đảm tức là hoàng đế Minh Mạng về sau nầy. Mất sớm, nàng nầy là con gái của quan Hồ Văn Bôi và được xem là con dâu hiếu thảo với cha mẹ chồng, tức là vua Gia Long và Thuận Thiên Cao hoàng hậu.   Để lưu danh muôn thưở nổi đau đớn nhất là tình thương mà nhà Nguyễn dành cho cô dâu nầy, họ truyền lệnh cấm từ  tất cả mọi người thân thuộc cũng như dân chúng không được dùng chữ Hoa mà luôn cả các nơi công cộng. Bởi thế chợ Đông Hoa ở Huế trở thành Đông Ba. Tỉnh Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa. Cầu qua sông Thị Nghè ở Saigon buộc lòng phải đổi tên và lấy tên là Cầu Hoa Bắc. Tuy nhiên « Hoa » vẫn  là chữ được thường trọng dụng nhiều nhất ở trong kiệc tác Kim Vân Kiều  của Nguyễn Du. Có ít nhất 130 câu thơ có chữ Hoa trong kiệt tác nầy. Ngoài ra còn có một số lượng không ít trong các thuật ngữ và cách diễn đạt với ý nghĩa Hoa trong văn học Vietnam như sau:

Hoa diện, mặt hoa: có một khuôn mặt đẹp

Hoa chúc: đèn ở trong phòng cô dâu chú rể

Hoa niên: tuổi trẻ, tuổi đẹp nhất trong đời người.

Hoa tay: có múp ở đầu ngón tay ới hình bông (Khéo léo).

Số đào hoa: được sinh dưới bông hoa đào (người được các phụ nữ hâm mộ).

Người tài hoa: người có tài năng.

Hoa tai: đồ nữ trang đeo tai có hình hoa.

Hoa đèn: đầu bấc đèn đã cháy thành than của cây đèn dầu.

Hoa khôi: Hoa được đứng hàng đầu (người đẹp nhất).

Hoa đá: san hô.

Hoa vương: hoa mẫu đơn.

Có một giai thoại liên quan đến hoa đá đó  là lúc đất nước Viêtnam bị loạn lạc, có những cuộc chiến không ngừng giữa hai gia đình cầm quyền là Trịnh và Nguyễn. Đây cũng là một trong những trò đùa của một vị quan Nguyễn Huỳnh phục vụ chúa Trịnh Cương mà thường được gọi là Cống Quỳnh hay Trạng Huỳnh. Chúa Trinh Cương người rất ham ăn và tham lam. Ông chỉ nghĩ sống trong việc giàu sang và đồi trụy. Bởi vậy Cống Quỳnh cố gắng khuyên nhũ Trịnh Cương về với lý trí và đạo lý.  Ông nói ông biết nấu một món ăn rất ngon tên là Hoa đá. Nghe vậy, ch úa Trịnh yêu cầu ông chuẩn bị nấu món ăn nầy. Nhưng ông nói với lãnh chúa rằng phải đợi ít nhất 2 ngày mới được thưởng thức món nầy vì ông phải đun nhỏ lửa trong thời gian nầy. Chúa Trịnh hớn hỡ chấp nhận đề nghị nầy. Về nhà, ông kêu người hầu đi chợ mua rong biển ăn được và đun sôi với nước. Đói khát vì đợi chờ quá lâu, chúa Trịnh nhận ra món ăn nầy được chế biến bởi Cống Quỳnh rất ngon miệng dù chỉ chứa rau sau khi nếm. Có một số tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng mang tên chữ Hoa. Đây là trường hợp của các tập thơ  như « Nhị độ Mai » (Hoa mai nở hai lần) và « Hoa Tiên ». Tập đầu tiên thuộc về một tác giả khuyết danh. Nó gồm có được 2826 câu thơ chữ nôm viết bằng lục bát và biên soạn từ một tác phẩm của Trung Hoa. Nó ca ngợi không những lòng trung thành với nhà vua mà còn sự hiếu thảo, biết ơn và tình yêu nữa. Còn tập thứ nhì thì được sáng tác bởi học giã Nguyễn Huy Tự.  Cuốn tiểu thuyết nầy gồm có hơn 1770 câu thơ. Đây là một bài thơ lãng mạn đầu tiên của Vietnam nhưng  tác giã vẫn còn giữ  được tư tưởng nho giáo.Tuy rằng có  rất nhiều loại hoa được tìm thấy ở Vietnam, người dân Việt vẫn không che giấu  được sở thích cûa họ đối với một số cây nhất định. Họ không ngần ngại phân các cây nầy vào một loại cây cao sang trong đó thấy có:

Mai, Lan, Cúc, Sen, Mẫu đơn và hoa hồng. 

Những cây hay hoa nầy đều mang một  ý nghĩa đặc biệt và có liên hệ mật thiết với đạo đức trong truyền thống của người dân Việt. Cây mai là biểu tượng của người đàn ông thượng đẳng.  Cây nầy nó cố gắng chống chọi với thời tiết lạnh và khắc nghiệt của thiên nhiên. Nó tiếp tục nở hoa vào tháng hai. Điều nầy cho phép nó tượng trưng  mùa xuân trong bốn mùa (Tứ thì). Vào dịp Tết,  đối với người dân Việt, không bao giờ có thể thiếu trên bàn thờ  của tổ tiên  một số cành hoa mai (hay hoa đào) được chọn để hoa nở đúng lúc trong ngày lễ hội. Hoa mai được các học giã và các nhà trí thức Vietnam ngưỡng mộ. Một người có cá tính độc lập như Cao Bá Quát, không bao giờ biết qui phục cái tù túng của thời quan liêu còn phải thốt lên trong suốt cuộc đời ông, ông chỉ biết cúi đầu trước hoa mai mà thôi.

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai

Suốt đời chỉ cúi đầu trước hoa mai.

Một học giã khác, Đào Tấn, cha đẻ của những vở kịch ở vùng Bình Định ở miền trung Vietnam, cũng hi vọng ngày nào đó sẻ chết giữa những cây mai. Đó là lý do tại sao trong suốt cuộc đời, ông thường dùng bút danh « Mộng Mai (Mơ với hoa mai)». Ông có cơ hội bày tỏ trạng thái tâm trí của ông qua hai câu thơ được tìm thấy trong một bài thơ của ông:

Núi mai rồi giữ xương mai nhé

Ước mộng hồn ta là đoá mai

Đó cũng không phải là một điều vớ vẫn đối với ông bởi vì thời điểm ông qua đời (tháng 7 năm 1907), ông đã đuợc chôn cất ở núi Huỳnh Mai, cách vườn mai vài cây số. Không giống người Trung Hoa, hoa mai và hoa sen rất được phổ biến hơn hoa mẫu đơn. Đây là lý do tại sao sao các hoa nầy được gọi là Hoa khôi. Người ta thường thích hoa mai vì hoa sen thường dành cho Phật giáo dù biết rằng  hoa sen vẫn tượng trưng người quân tử trong đạo Khổng.(junzi). Sen là loại cây mà sĩ phu Mạc Đỉnh Chi lựa chọn để bộc lộ tài năng xuất chúng và thiên tài chưa từng thấy. Vua Trần Anh Tôn ngần ngại phong ông làm « tiến sỹ » đầu tiên vì ông quá xấu xí vào thời điểm ông nhận bằng. Để thuyết phục nhà vua, ông tự ví mình như hoa sen trong giếng ngọc.  Ông liền làm ngay bài thơ có tựa đề « Ngọc tỉnh liên phú » (Hoa sen trong giếng ngọc) như sau :

 

Giống quý ấy ta đây có sẳn

Tay áo nầy ta chứa đã lâu

Phải đâu đào, lý thô màu

Phải đâu mai trúc dãi dầu tuyết sương

Cũng không phải tăng phường câu kỷ

Cũng không là Lạc Thủy mẫu đan

Cũng không là cúc, là lan

Chính là sen ở giếng vàng đầu non.

 

Mạc Đỉnh Chi có cơ hội soạn một bài văn tế khi ông được cử đi làm sứ thần để tham dự tang lễ của một công chúa Mông Cổ. Ngày hôm đó, trước triều đình nhà Nguyên, ông nhận được tờ giấy trong đó có bốn hàng, mỗi hàng đã có  một chữ « một » duy nhất. Đây là một vinh dự cho ông làm bài thơ nầy bằng cách bổ sung  mỗi hàng với cảm nghĩ của ông  để   bày tỏ sự tôn vinh sâu sắc đối với ký ức của cô công chúa nầy.

Chẳng nao núng chút nào,  ông làm xong bài thơ truớc sự ngạc nhiên và khâm phục của triều đình nhà Nguyên  bằng cách chỉ định cô công chúa nầy  như một bông hoa:

Trời xanh một đám mây

Lò hồng môt giọt tuyết

Vườn thượng uyển môt cành hoa

Cung quảng hàn (2) một vầng nguyệt

Than ôi! Mây tan! Tuyết tiêu!

Hoa tàn! Trăng khuyết !

Đối với hoa cúc, nó không những chỉ là cá tính của muà thu mà còn biểu tượng cho sự thư thản và sự thờ ơ của con người trước công danh và vinh quang. Tương tự như  hoa mai, hoa lan thường  biểu tượng vẽ đẹp của nữ tính. Thường được nhắc như cô gái trong các tác phẩm thơ. Tuy rằng hoa mẫu đơn được xem như hoa cao sang nhưng nó không có được một tầm quan trọng đáng kể như ở Trung Hoa. Có lẽ vì bị ảnh hưởng của Trung Hoa nên tục lệ nầy còn giữ đối với hoa nầy. Hoa mẫu đơn thường được trông thấy trong nghệ thuật trang trí của người dân Việt hay trong các truyền thuyết. (Chuyện thần tiên Từ Thức Giáng Hương chẳng hạn). Còn hoa hồng thì nó là biểu tượng cho tình yêu và tình thương. Nó là hoa tặng mẹ, hoa tặng vợ, hoa tặng thầy cô  bạn bè vân vân…Muốn biết ý nghĩa mà người dân Việt dành cho hoa nầy, chúng ta  cần phải đọc quyển sách của thiền sư  Thích Nhất Hạnh “Bông Hồng cài áo”. Thiền sư  nhắc nhở chúng ta chỉ một người mẹ mà thôi mà đôi khi chúng ta quên đi bổn phận vì sự thăng trầm trong cuộc sống. Chúng ta quên rằng nếu chúng ta còn mẹ đó là một báo vật mà Thượng đế thương yêu dành cho chúng ta đấy. Chúng ta có may mắn còn mẹ. Để chứng tỏ sự trìu mến với mẹ, chúng ta có quyền tiếp tục cài trên áo một bông hồng. Chúng ta còn có niềm vui vô tận và khó tả được mà biết  bao nhiêu người không còn có nữa. Không thấy từ lâu rồi trên quê hương nầy những  hoa Sim màu trắng mà các cô gái trẻ tuổi thường để lại trên mộ của các  người tình của họ, những người nằm xuống để bảo vệ lý tưởng hay quê hương nầy. Họ không có may mắn nhìn thấy hoà bình trở lại. Chính nhờ những người dũng cảm nầy, tất cả người dân Việt muốn tặng cho họ một bông hồng, một tình yêu mà họ dành thật sự cho đất nước nầy. Nhờ họ mà đất nước nầy còn giữ được cho đến hôm nay độc lập, bản sắc văn hóa và  truyền thống dân tộc.       

 

 

Yin and Yang numbers (Âm Dương: Part 3)

Version française

Yin and Yang numbers (Con số Âm Dương)

One is accustomed to say in Vietnamese: sống chết đều có số cả (Everyone has his D day  for life  and death). Ði buôn có số, ăn cỗ có phần   (One has his vocation in trade as one has his part in feast). In daily life, everyone a his size for his clothing and his shoes. Contrary to the Chinese, the Vietnamese emphasize odd numbers (số dương) rather than  even numbers (sô’ âm). 

One frequently  finds the use of even numbers in the Vietnamese phrases: ba mặt một lời (One needs to be in front of someone with the presence of a witness),  ba hồn bảy vía ( three souls and 7 vital supports for men i.e one is terrified), Ba chìm bảy nổi chín lênh đênh ( very  hectic), năm thê bảy thiếp ( to have  5 spouses and 7 concubines i.e. to have many  women ), năm lần bảy lượt ( many times), năm cha ba mẹ ( heterogenuos), ba chóp bảy nhoáng ( with precipitation and  no care ), Môt lời nói dối , sám hối 7 ngày (A  speech deceitful amounts to  seven days of  repentance), Một câu nhịn chín câu lành (To avoid an offensive sentence is having kind sentences ) etc …or that of integral  multiples of the number 9:18 (9×2) đời Hùng Vương ( 18 legendary kings Hùng Vương ), 27 (9×3) đại tang 3 năm (27 tháng)(or a beareavement endured  on three years or 27 months only), 36 (9×4) phố phường Hànội (Hànội with 36 neighbourhoods) etc …One don’t forget to mention the numbers 5 and 9, having each of them a role very important.   The figure 5 is the  number the most mysterious because all starts from this number. Heaven and Earth have the five elements  or agents giving birth to thousand things and objects. It is placed in the center of the River map and Writings of Luo which are the basis for the mutation of five elements (Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ)( Water, Fire, Wood, Metal and Earth). It is associated to the element Earth in the central position that the peasant needs to  known for the  management of cardinal points.  This goes to the man to have the centre in the management of things and species and four  cardinals.  That is why, in the feudal society, this place is reserved to the king because it is he who  has govern  the people. Consequently, the number 5 belonged to him as well as the yellow colour symbolizing the Earth. This  explains the colour choosen by Vietnamese  and Chinese emperors for their clothes.

Ho Tou Lo Chou

(Hà Đồ Lạc Thư)

In the addition to the centre occupied by man, an symbolic animal is associated to the each of four cardinal points: the North by the turtle, the South by the phoenix, the West by the dragon and the East by the tiger. One is’nt surprised to see at least in this attribution the presence of three animals living in the region where the agricultural life plays a notable role and water is vital. It is the land of Bai Yue group. Even the dragon very mean in others cultures becomes a kind and noble animal imagined by  peaceful peoples  Bai Yue. The number 5 is yet known  under the name « Tham Thiên Lưỡng Đia » (or  three Heaven two  Earth or 3 Yang 2 Yin) in the Yin and Yang theory because the acquisition of the number 5 coming from the union of  numbers 3 and 2 corresponds better to the reasonable percentage of Yin and Yang than that of the association of numbers 4 and 1. In this latter, the number Yang 1 very dominated by the number 4. It is’nt the case of the union of the numbers 3 and 2 because the number Yang 3 slightly overpowers the number Yin 2. This encourages the universe development in an almost perfect harmony. In ancient times, the fifth day, the fourteen en day (1+4=5) and the twenty-third  (2+3=5) day in the month were reserved for the way out of the king. It is’nt allowed to subjects  for trading during his travel and disturbing his walk. It is  perhaps the reason for which a great number of the Vietnamese continue to avoid these days for the home construction, the trip and major purchases. One is accustomed to say: 

Chớ đi ngày bảy chớ về ngày ba
Mồng năm, mười bốn hai ba
Đi chơi cũng lỗ nữa là đi buôn
Mồng năm mười bốn hai ba
Trồng cây cây đỗ, làm nhà nhà xiêu

You  avoid going  out the 7th day and coming back the 3th in the month. For the 15th, 14th and 23th days in the month, you  will be losing if you go out or you trade.  Likewise, you will see the failing tree or the tilting of your home if you make the planting tree or the house construction.

The number 5 is frequently mentioned in the Vietnamese culinary art. The most typical sauce remains the fish brine (nước mắm). In the preparation of this national sauce, one mentiones the presence of 5 flavours classified according to the 5 elements of Yin and Yang:mặn ( salty ) with the fish juice  (nước mắm), đắng (bitter)  with the lemon zest (vỏ chanh), chua (acidulous) with the lemon juice, cay (spicy) with pigments crushed  in powder or chopped  in strips and ngọt (sweet ) with sugar in powder. These  5 flavours ( mặn, đắng, chua, cay, ngọt ) combined and found in the Vietnamese national sauce  correspond to 5 elements defined in the Yin and Yang theory (Thủy, Hỏa , Mộc , Kim Thổ ) ( Water, Fire,  Wood, Metal and Earth ).

Likewise, one rediscovers these 5 flavours in the bittersweet soup (canch chua) prepared from fish: acidulous with tamarin seeds or vinegar, sweet with slices of ananas, spicy with pigments chopped in strips,  salty with fish juice and bitter with some okras  (đậu bắp)  or flowers of « fayotier in French »  (bông so đũa). When the soup is served, one will add some fragrant herbs like the panicaut (ngò gai), rau om (herb having  the  flavor  of coriander with  a  lemony   taste in addition). It is a characteristic trait of the bittersweet soup of Sud Vietnam which  is different from those found in others regions of Vietnam.

One cannot forget to mentione the sweet rice cake that the Proto-Vietnamese had succeeded to bequeath to descendants over millennia of their civilization.  This  sweet rice cake is the intangible proof of Yin and Yang theory and 5 elements belonging to Bai Yue group (Hundred Yue), the Proto-Vietnamese of which formed part  because there is  the generation cycle (Ngũ hành tương sinh)  in its composition. 

(Fire->Earth->Metal->Water->Wood)

Inside the cake, one finds a piece of porkmeat in red color ( Fire ) around which there is  a kind of paste made with broad beans in yellow color ( Earth ). The whole thing is wrapped by the sticky rice in white color ( Metal ) to be cooked with boiling water ( Water ) before having a green colouring on its surface thanks to the latanier leaves (Wood).

An other cake is not missing th weddings. This is the cake susê or phu thê (husband-spouse) having inside a round form  and enveloped by banana leaves (green colour) in order to give it the  well-tied cube appearance  with a red ribbon (red color).  The circle is  thus placed within the square (Dương trong âm)(Yang in Yin). This cake is made from tapioca flour,  perfumed in pandan and strewn with  black sesame seeds (black color). One finds in the hearth of this cake a paste made of steamed soybeans  (yellow color) and jam of lotus seeds and grated coconut.(white color). This paste is very similar to the  frangipane found in « galettes des rois ». Its sticky texture reminds the link that one can represent in the union. This cake is the symbol of the perfection in conjugal love and loyalty responding the perfect agreement with the Heaven and the Earth and 5 elements symbolized by 5 colors (red, green, black, yellow and white).

This cake is related by the following tale: in the past, there was a merchant engaged in debauchery and doing not like to go home although before his departure, his spouse gave him the cake susê  and promised to remain cordial and sweet like the cake. That is why, when she has heard this story, she did send others cakes phu thê accompagnied by two following verses: 

Từ ngày chàng bước xuống ghe
Sóng bao nhiêu đợt bánh phu thê rầu bấy nhiêu

Since your departure, waves were encountered by your boat as much as afflictions were known by the cake susê  
Lầu Ngũ Phụng

 

In architecture, the number 5 is not forgetten either. It is the case of Ngọ Môn gate (noon gate) in the forbidden city (Huế). This gate is  a powerful  masonry  foundation drilled with five passages and surmonted by an elegant wooden structure with two levels, the Belvedere of five Phoenixes (Lầu Ngủ Phụng). Viewed from the sky, this latter  with two additional wings, seems to form five phoenix in flight with intertwined beaks. This belvedere possesses 100 wood columns(gỗ lim)(ironwood) painted and tinted in yellow for allowing  to carry its nine roofs. This number 100 was well examinated  by Vietnamese specialists. According to renowned  archeologist  Phan Thuận An, it exactly corresponds to the total number obtained by adding two numbers found respectively  in the River map (Hà Đồ)  and Writings of Luo  (Lạc thư cửu tinh đồ) symbolizing the perfect harmony of the union Yin and Yang.  It is not the Liễu Thượng Văn advice.  According to this latter, this represents the strength of 100 families or people (bách tính) and reflects the notion dân vi bản (consider people as basis) in the Nguyễn dynasty’s governance.  The roof of the central pavilion is covered by yellow tiles « lưu ly », the rest being with blue tiles « lưu ly ». Being  just in the middle,  the main gate  (or noon gate) is reserved to the king and  paved with stones   « Thanh » tinted in yellow color. From both sides, one finds  left and right doors (Tả, Hữu, Giáp Môn) reserved to civilian and military mandarins.  Then two others lateral  gates Tả Dịch MônHữu Dịch Môn are intended to soldiers and horses. One is accustomed to say in Vietnamese: 

tucam

Ngọ Môn năm cửa chín lầu
Một lầu vàng, tám lầu xanh, ba cửa thẳng, hai cửa quanh »

The noon gate  possesses 5 passages and 9 roofs the one of which is varnished in yellow and the 8 others in blue.  There are  three main  doors  and two side entries.

In the east and west of the citadel, ones finds Humanty and Virtue gates which are reserved respectively for men and women. 

The number 9 is a Yang number (or odd number). It representes the Yang strength at the maximum.  It is difficult to reach it.  That is why, in the past, the emperor often uses for showing his power and supremacy. He climbs 9 stairs symbolizing the ascent of sacred mountain in which there was his throne. It is said that the forbidden city like that of Pékin possessed 9999 rooms. It is useful to recall that the forbidden city of Pékin was supervised by  Nguyễn An, a Vietnamese exiled  still  young at the time of the Ming. As his palaces, the emperor turns towards the South in Yang energy in order to receive the vital breath of Sky because he is the Heaven son. In Vietnam, one finds nine dynastic urns of Huế citadel, nine branchs of Mekon river, nine roofs of  Belvedere of five Phoenixes etc … In the tale intituled   « The God of Mountains and the God of Rivers « (Sơn Tinh Thủy Tinh) », 18th (2×9) Hùng Vương king, proposed for the dowry marriage of his daughter Mị Nương: an elephant with nine tusks, a rooster with nine spurs and a horse with nine red manes.  The number 9 symbolizes the Heaven,  the birthday of which is the ninth (9th) day of February month.

Being less important than 5 and 9, the number 3 (or Ba and Tam in Vietnamese) isclosely tied to the daily life of the Vietnamese.  They do not hesitate to evoke it in a large number of popular expressions. For meaning a certain limit, a certain degree, they have the habit of saying: 

Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời:
No person can claim to be rich  to three generations as  no one is  more  stringent to three successive lives. 

It goes to the Vietnamese to often  accomplish this certain thing at once, this obliges them to do many times this operation. It is the following expression that they uses frequently: Nhất quá tam.  It is the number 3, a limit they don’t like to exceed  in the accomplishment of this task. For saying that someone is irresponsible,  they designate him under the term “Ba trợn“.  Someone who is opportunistic is called « Ba phải » . The expression  « Ba đá » is reserved to vulgar people while those who continue to be entangled in minor matters or endless difficulties  receive the title « Ba lăng nhăng« . For weighing his words, the Vietnamese needs to bend three inches of his  tongue. (Uốn ba tấc lưỡi). 

The number 3 also is synonymous with insignificant and unimportant something.It is what one finds in following popular expressions: 

Ăn sơ sài ba hột: To eat a little bit.
Ăn ba miếng: idem
Sách ba xu: book without values. (the book costs only three  pennies).
Ba món ăn chơi: Some  dishes  for tasting. 

Analogous to number 3, the number 7 is often mentioned in Vietnamese literature. One cannot ignore either the expression Bảy nỗi ba chìm với nước non  (I  float 7 times  and I descend thee times if this  expression is translated in verbatim) that Hồ Xuân Hương poetess  has used and immortalized in her poem intituled « Bánh trôi nước” :

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bây nỗi ba chìm với nước non
………. 

for describing difficulties encountered by the Vietnamese woman in a feudal and Confucian society. This one did not spare either those having an independent mind, freedom and justice.   It is the case of  Cao Bá Quát , an active scholar who was degusted from the scholastica of his time and dreamed of replacing the Nguyễn authoritarian monarchy by an enlightened monarchy. Accused of being the actor of the grasshoppers insurrection  (Giặc Châu Chấu) in 1854, he was condemned to death and he did no hesitate his reflection on the fate reserved to those who dared to criticize  the despotism and feudal society in his poem before his death: 

Ba hồi trống giục đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa, đéo mẹ đời. 

Three gongs are reserved to the miserable fate
A sabre slice finishes this dog’s life. 

If the Yin and Yang theory continues to haunt their mind for its mystical and impenetrable character, it remains however a way of thinking and living to which a good number  of the Vietnamese continue to refer daily for common practices and respect of ancestral traditions.


Bibliography

-Xu Zhao Long : Chôkô bunmei no hakken, Chûgoku kodai no nazo in semaru (Découverte de la civilisation du Yanzi. A la recherche des mystères de l’antiquité chinoise, Tokyo, Kadokawa-shoten 1998).
-Yasuda Yoshinori : Taiga bunmei no tanjô, Chôkô bunmei no tankyû (Naissance des civilisations des grands fleuves. Recherche sur la civilisation du Yanzi), Tôkyô, Kadokawa-shoten, 2000).
-Richard Wilhelm : Histoire de la civilisation chinoise 1931
-Nguyên Nguyên: Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương
– Léonard Rousseau: La première conquête chinoise des pays annamites (IIIe siècle avant notre ère). BEFO, année 1923, Vol 23, no 1
-Paul Pozner : Le problème des chroniques vietnamiennes., origines et influences étrangères. BEFO, année 1980, vol 67, no 67, p 275-302
-Dich Quốc Tã : Văn Học sữ Trung Quốc, traduit en vietnamien par Hoàng Minh Ðức 1975.
-Norman Jerry- Mei tsulin (1976) : The Austro asiatic in south China : some lexical evidence, Monumenta Serica 32 :274-301
-Henri Maspero : Chine Antique : 1927.
-Jacques Lemoine : Mythes d’origine, mythes d’identification. L’homme 101, paris, 1987 XXVII pp 58-85
-Fung Yu Lan: A History of Chinese Philosophy ( traduction vietnamienne Đại cương triết học sử Trung Quốc” (SG, 1968).68, tr. 140-151)).
-Alain Thote: Origine et premiers développements de l’épée en Chine.
-Cung Ðình Thanh: Trống đồng Ðồng Sơn : Sự tranh luận về chủ quyền trống
đồng giữa h ọc giã Việt và Hoa.Tập San Tư Tưởng Tháng 3 năm 2002 số 18.
-Brigitte Baptandier : En guise d’introduction. Chine et anthropologie. Ateliers 24 (2001). Journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993.
-Nguyễn Từ Thức : Tãn Mạn về Âm Dương, chẳn lẻ (www.anviettoancau.net)
-Trần Ngọc Thêm: Tìm về bản sắc văn hóa Việt-Nam. NXB : Tp Hồ Chí Minh Tp HCM 2001.
-Nguyễn Xuân Quang: Bản sắc văn hóa việt qua ngôn ngữ việt (www.dunglac.org)
-Georges Condominas : La guérilla viêt. Trait culturel majeur et pérenne de l’espace social vietnamien, L’Homme 2002/4, N° 164, p. 17-36.
-Louis Bezacier: Sur la datation d’une représentation primitive de la charrue. (BEFO, année 1967, volume 53, pages 551-556)
-Ballinger S.W. & all: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration, Genetics 1992 vol 130 p.139-152….

Edouard Hocquard

Le regard d’un homme au destin exceptionnel

English version

 
Charles Edouard Hocquard, médecin militaire et  reporter correspondant pour l’agence Havas au Tonkin de 1884 à 1886 nous a légué en héritage une collection d’images de beauté de la première guerre coloniale du Vietnam. Il a rapporté plus de 200 clichés composant une porte-folio de 80 planches en photoglyptie (1) publié en 1887. Il a relaté avec acuité et humour dans « Une expédition au Tonkin », les anecdotes pittoresques avec les paysans de la région, la connaissance de la flore locale, les souvenirs  de la guerre du Tonkin et du peuple vietnamien etc..

Il n’a pas obtenu le succès commercial escompté avec la publication de ses reportages photographiques.  Mais il a réussi à montrer qu’il est possible de trouver dans le conflit franco-vietnamien un autre regard plus objectif, celui d’un homme de science à la rencontre d’une autre culture à l’aube du  XXème siècle. Il est décédé d’une grippe infectieuse le 11 Janvier 1911 à l’âge de cinquante huit ans.

 

Galerie des photos

Version anglaise

The look of a man with  extraordinary destiny

Being a medical officer and reporter for the Havas agency in Tonkin from 1884 to 1886,  Charles Edouard Hocquard  has bequeathed us as heritage a collection of  beautiful digital pictures  coming from the first colonial war in Vietnam. He brougth  back more than 200 clichés composing a portfolio of 80 boards in  « photoglyptie« (1)  and published in 1887. He related picturesque anecdotes with  local peasants, knowledge  of local flora,  memories of war and Vietnamese people with acuity and humor in the book « Une expédition au Tonkin (An expedition in Tonkin) » etc…

The commercial success was not obtained  with the publication of its  photographic articles. But he succeeded in showing that it is possible to find in the franco-vietnamese conflict an other look very impartial, that of a scientific man going out to meet with an other culture at the dawn of the twenty century. He died from an infectious influenza on 11 January 1911 when he was fifty-eight years old.


(1) photoglyptie: un procédé d’impression photomécanique inaltérable destiné à remplacer les tirages argentiques.

      An immutable  photomechanical printing process is  intended to replace silver printings.

In Search of the Origin of the Vietnamese People: Part 2 (Đi tìm nguồn gốc dân tộc Việt)

 

Đi tìm nguồn gốc dân tộc Việt (Phần 2)

French version

In search of the Origin of the Vietnamese people

This remark has been confirmed by what was discovered in the tombs at the Guigi site of Jiangxi: The weapons found bore a symbolic characteristic because they were all made of wood. They did not have an important place in people’s life or after-live. This led to the conclusion that contrary to the society of the folks from the North, that of the Yue was rather more peaceful. That is why they were not able to resist better every time there was an encroachment by the neighbors from the North, the Yi who did not stop at nibbling away their territory and pushing them a little farther south at each confrontation. The Yi distinguished themselves by their art of making bows and arrows. They were formidable warriors talented in arching and horse riding. Hardened by the roughness of nature, they were used to wrestling with wild animals and other tribes. That gave them at the start a gene of a conqueror and a fighter in their blood.

It was not the case of the folks from the South, the Bai Yue. The wise Confucius had the occasion to compare the forces that the folks from the North and from the South possessed respectively: Courage and power ( Dũng ) for the former and kindness and generosity ( Nhân từ ) for the latter. Again, the word Yi having for origin the picture of a man holding a bow gives us a pretty good idea on the particularity of the folks from the North. Under the direction of , Houang Di ( Hoàng Ðế ) they have succeeded in pushing back the first tribes of Bai Yue in the territory delimited by the yellow river Huang He and the YangTse river led by Chiyou ( Xi Bưu ) ( or Ðế Lai in Vietnamese ) in alliance with king Lôc Tục ( ou Kinh Dương Vương ) who reigned south of the blue River on a vast country of Xích Qủi ( Country of red demons ). According to a Chinese legend, this confrontation took place at Trác Lộc ( Zhuolu ) in the presently province of Hebei and has permitted the folks from the North to start progressively their expansion to the Blue River. The death of Chiyou marked the first victory of the folks from the North over the Bai Yue people some 3000 years B.C.

At the Shang period, none of the Chinese or Vietnamese historic documents talked about the relationship between the Bai Yue and the Shang besides the Vietnamese legend about « Phù Ðổng Thiên Vương » ( or the heavenly hero of Phù Ðổng village ) which reported a confrontation between the Shang and the Văn Lang kingdom of the Luo Yue. However it was noted that contact was established later between the Zhou dynasty and the king of the Luo Yue ( Hùng Vương ). A silver pheasant ( bach trĩ ) was offered by the latter to the king of Zhou according to the book Linh Nam Chích Quái. At the time of Spring and Autumn, a state of East Yue was known in the Mémoires Historiques by the historiographer of Han empire Si Ma Qian ( Tư Mã Thiên ) . It was the kingdom of the famous lord Gou Jian ( Câu Tiễn ). At the death of this one, his descendants did not succeed in maintaining hegemony. At the middle course of the Blue River, another kingdom, founded also by one of the Bai Yue tribes ( Bộc Lão ) and known as Chu ( Sở Quốc), took over at the time of Fighting Kingdoms and became one of the seven rival principalities ( Han, Zhao, Wei, Chu, Yan, Qi, Qin and Chu ).(Hàn, Triệu, Ngụy, Yên, Tề, Tần và Sỡ).

Terracotta warrior of Qin Shi Huang Di

Before being defeated by the army of Qin, the Chu kingdom has indirectly brought its undeniable contribution in favor of the future formation and unity of the Chinese nation that the Yi had begun to put in place by eliminating in 332 the state of East Yue of Goujian and starting to give a new impulsion to the development of a large state with the reforms of Wu Qi (Ngô Khởi).

The Gou Yue ( or East Yue ) began to take refuge in the southern territory of Bai Ye after the annexation of their land by the Chu kingdom. According to Léonnard Aurousseau, after their defeat, The Gou Yue or Ðông Âu (or East Âu ) found asylum in large number in the following regions: Foujian ( Phúc Kiến ), Guangdon ( Quảng Ðông ), Guangxi ( Quảng Tây ) and Jiaozhi ( Giao Chỉ ) and thus became the Man Yue ( Foujian ), Nan Yue (Jiangsu, Jiangxi) and Luo Yue (Quangxi, Jiaozhi). All were « sinisized » as centuries went by except the Luo Yue who were the legitimes descendants of Gou Yue at the Au branch and were known often as Tây Âu ( Xi Ou or West Âu ).

« There was no doubts on the origin of the Luo Yue », wrote the French scholar Leonard Aurousseau in his work « Notes sur les origines du peuple annamite ( Ghi chép nguồn gốc dân tộc An Nam ) » ( BEFEO, T XXIII, 1923, p.254 ). The other Yue peoples, particularly those living in the Chu kingdom were fast to follow them at the unification of China by Qin Shi Huang Di. This one did not hesitate to banish whoever dare resist his policy of assimilation, particularly the Yue and the Miao to forced labor on the construction of the Great Wall, to burn not only all the works of learned confucianists but also those of other unsubdued people and to maintain his policy of aggression against the Bai Yue as far as Ling Nan ( Linh Nam ). The conquest of the Xi Ou and Luo Yue (Tay Au) territory of Thục An Dương Vương that marked the second confrontation between the Chinese and the Bai Yue, was achieved in 207 with the nomination of two famous governors to the conquered territory: Nhâm Hiếu ( Jen Hiao ) and his assistant Triệu Ðà ( Zhao Tuo ).

In spite of the policy of terror and pacification, the Yue continued to run their resistance heroically. They hid in the bush and lived with the animals. No one agreed to become slave of the Chinese. The Yue picked their chiefs among their men of value. Then they attacked the Chinese at night and inflicted them with a great defeat…, that was reported in the translation of Huainan zi (Hoài nam tử) of L. Aurousseau, B.E.F.E.O. XXIII, 1923, p. 176.

At the death of Nhâm Hiếu, taking advantage of consecutive troubles following the fall of the Qin empire in 207, Triệu Ðà. ( Zhao Tuo ) became allied with other Yue to declare independence fo the Nan Yue kingdom for which he took control of Guilin and Xiang then in 184 B.C., he attacked the Chang Sha region ( Hunan ( Hồ Nam )) . This kingdom was short-lived and fell back in the hands of the folks from the North, the Han in 111 B.C. despite the heroic resistance of Prime Minister Lục Gia. This confrontation, the third one with the people of Bai Yue took away not only their land but also their cultural identity. The sinization began its full steam on the conquered territory ( Foujian (Phuc Kien), Guizhou ( Qui Chau ), Guangdong ( Quảng Ðông ), Guangxi ( Quảng Tây ), Yunnan ( Vân Nam ), Tonkin ( Giao Chỉ ). Many revolts and insurrections broke out during this long period of Chinese domination. But the most dazzling revolt remained the one run heroically by the sisters Trưng Trắc, Trưng Nhị. On appeal of the sisters in 39 A.D., the Yue living in the South of China and a large part of Tonkin joined them. That helped them to stand up with the Han army until 43 A.D. But they were finally defeated by Ma Yuan ( Mã Viện ) a great Chinese marshal at the time. Ma Yuan ( Mã Viện ) assigned by the Han emperor , Guang Wu (Quang Võ) decided to destroy all bronze drums found on the land of the Luo Yue because he knew at the confrontation that those objects had the value as an emblem of power for them. According to what people said, to move back the frontier down to the Nam Quan border gate, he did not hesitate to erect a pillar several meters high made of bronze collected from the drums and bearing this sign:

Ðồng trụ triệt , Giao Chỉ diệt
Ðồng trụ ngã, Giao Chỉ bị diệt.
Bronze pillar falls, Giao Chi disappears

But that did not upset the will and ardor for independence of the Luo Yue ( the Viet ). They decided to consolidate the pillar by throwing a piece of earth around it when they went by, which progressively helped in building up a mound and made disappear the mythical pillar. To deal with any eventuality of revolt, there was also an order from empress Kao (Lữ Hậu) in 179 B.C. providing a ban on delivery of not only plowing and metal instruments but also horses, oxen and sheep to the Barbarians and the Yue. This has been reported by E. Gaspardone in his work titled  » Matériaux pour servir à l’histoire de l’Annam » ( BEFEO, 1929 ). Because of this policy, it is not surprising to discover recently a large number of bronze drums burried in Vietnam and in neighboring areas ( Yunnan, Hunan ). The Ðồng Sơn civilization came to an end during the Chinese occupation.

Forced enlistment of the Yue into the army of the conquerors and the contacts they had with the Chinese as the years went by allowed them to know more about warfare technique ( Sunzi (Tôn Tử) for example ) and to improve their weapons in the struggle against the invaders in the years to come. On the other hand, the Chinese appropriated what belonged to the Yue during their long occupation. The Yue continued to be treated as barbarians despite their undeniable contribution to the radiance of Chinese culture. Those folks from the North could pretend from then on to be the legitimate holders of the Writing of Luo, the theory of Ying and Yang and the 5 elements, even though there exists a large number of incoherence in their mythical made up stories.

 Reconstructed model found at the Banpo site

They modified the dragon, the preferred mythical animal of the Bai Yue, which had a start with an alligator’s head and a snake’s body, to fit their temperament of a warrior and their taste by giving it the wings and a horse’s trunk and definitely adopted it as their own symbolic animal even though they had the white tiger in their Turco – Mongol traditions. Their round form house whose model has been reconstructed and found at the Banpo site has been replaced by a spacious house with a roof largely « hollow-back » and overflowing in canopy, that of the Bai Yue. In the turmoil of history, there was no more room for the Bai Yue.

Except the Luo Yue, other peoples of Bai Yue continued to be « sinized » in a way that at the end of 10th century, on their land there were only two peoples face to face, a conquering people (the Han) and the rebellious people ( the Viet ) looking for independence. The states of Gou Yue, Nan Yue, Man Yue etc…thereafter took part in Southern China. Taking advantage of the breaking up of the Tang empire, the Luo Yue declared independence with Ngô Quyền. The Vietnamese nation began to see the day. One should not believe that everything went really smoothly and harmoniously. It cost such sacrifices in order for the folks from the North to accept the reality. That is how the history page of the Bai Yue was mixed up with that of the Luo Yue.

Have recent scientific discoveries radically changed the view about the Bai Yue and particularly their history? They have called into question he idea of cultural diffusionism originated from the North. More ancient vestiges than those at Hemudu have been discovered recently in the middle Blue river at Pentoushan ( Hunan ) . Could one continue to consider the Miao , the Bai Yue as « barbarian » folks? Nevertheless the word Miao (or Miêu in Vietnamese) which is made of a ricefield picture ( Ðiền ) added on its top the pictogram « Thảo » (cỏ) ( herb ) provides evidence how the Chinese depict in their language people knowing how to grow rice. Could we continue to maintain a traditional and obsolete version written by the conquerors to the detriment of the search for historic truth? It turns out indispensable to put the train back on the tracks knowing for sure that the Chinese civilization does not need made up stories because it deserved to appear for a long time among the great civilizations of humanity. It is the ancestors of the Luo Yue that taught the folks from the North the culture of rice and not the other way around as has been written in a large number of Chinese and Vietnamese historic documents. The time has come to give the homage to our ancestors, the Yue, who because of their peaceful nature were forced to be wiped off in front of the use of force in the turmoil of history.

 


Heirs of a glorious past, tangled up successively in fraticide and colonial wars and deep in corruption, Vietnam of the Luo Yue needs to recover because it does not deserve to be part of the poorest countries in the world. The time has come for it to follow the path drawn by its ancestors and do better than them….

 

Papyrus vietnamien (Giấy dó)

 

English version

Papier dó

Celles-ci sont proposées souvent dans les kiosques réservés aux touristes étrangers. Le papier dó (papier de rhamnomeuron) est utilisé dans l’impression de ces imageries. Selon certains chercheurs vietnamiens, ce papier fut apparu vers le IIIème siècle et connût son apogée du VIIIème au XIVème siècles. Hồ Qúi Ly s’en servit à la fin du XIVème  siècle pour l’impression des monnaies fiduciaires.

La production de ce papier nécessite une préparation minutieuse. Il est fabriqué avec l’écorce de l’arbre do. Après la récolte de celle-ci entre les 8è et 10è mois lunaires, on a besoin de l’immerger dans l’eau pendant un ou deux jours. On la traite ensuite en la macérant dans une solution de chaux condensée durant 5 heures. Puis on la fait bouillir

L’enfant et le coq

durant une vingtaine d’heures avant de la piler pendant 5 heures. La farine obtenue par le pilage est diluée dans une bassine remplie d’un mélange d’eau et de résine de la plante mò ( clerodendron ). Le papier est obtenu grâce à un moule après avoir été pressé et séché.

Papyrus vietnamien

Galerie des photos

Pour cent kilos d’écorce, on obtient seulement 5 ou 6 kilos de papier. Cela explique la raison pour laquelle le marché est très limité. De plus le papyrus vietnamien do ne pousse que dans les hautes régions au Nord. Connus pour la fabrication des imageries populaires sur papier do, les villageois de Dương Ô et de Ðông Hồ ont subi le même sort. Le prix de revient  dans  la production du papier recyclé est supérieur à celui de vente  du papier dó. C’est pourquoi peu de gens continuent à s’intéresser encore à ce métier ancestral qui se perd au fil des années.

Version anglaise

Those are often proposed in the kiosks reserved to  foreign tourists. Paper dó (rhamnomeuron paper) is used in the printing of these images. According to certain Vietnamese researchers, this paper had appeared around the 3rd century and knews its apogee from the 8th to the 14th century. Hồ Qúi Ly made use of it at the end of  14th century for the printing of  fiduciary currencies. The production of this paper requires a meticulous preparation.

It is manufactured with the bark of the tree dó. After the harvest of this one between the 8th and 10th lunar months, one needs to immerse it in water during one or two days. After one treats it by macerating it in a lime solution condensed during 5 hours. Then one makes it by boiling  during about twenty hours before crushing it during 5 hours. The flour obtained by crushing is diluted in a basin filled with a mixture of water and resin of the plant mò (clerodendron). Paper is obtained thanks to a mould after being pressed and  dried.

For two hundred kilos of bark, one  gets only 5 or 6 kilos of paper. That explains why the market is very limited. In addition, the Vietnamese papyrus dó grows only in the northern  highlands. Known for making popular imagery on paper dó,  villagers of Dương Ô and Đông Hồ suffered the same fate. The cost price in the production of recycled paper is higher than the selling  price  of dó paper. That is why a few people still continue to be interesting to this ancient craft that is lost over the years.

Ceramic (Gốm Vietnam)

French version

gom

 

It is greatly surprising to see that, despite the everlasting domination of China on Viet-Nam, the latter was able to distinguish brilliantly starting from 14th century in the domain of ceramics. It became thus an active participant in the flourishing trade of South-East Asia in this domain with its junks and its compass known since 11th century. Tome Pires in his Suma Oriental (1515) summarized all these exchanges and foot-noted even the existence of a Vietnamese ceramic production intended for sale in China. At that time, there was even the counterfeit of Vietnamese blue and white in the Chinese furnaces of Snatow.

Its success was mainly due to the cobalt blue that blew into Vietnamese ceramic art a spirit which will have lasted for two centuries and enabled it to capture a foreign market as far as even the most remote corners of Asia.

It is the case of large a vase-bottle found at the Topkapi palace of Istanbul, carrying an inscription in Chinese characters, in blue under glaze that one can read in Vietnamese: Painted for pleasure by Pei de Nam Sách in the 8th year of Thái Hoà, or of a dish with blue and white floral decoration at the Treasury of Ardebil (Museum of Teheran)

If the cobalt blue was known in Vietnam for a long time even before the Chinese invasion of Ming, it appears that it was used only around the years 1430-1450. It is from this time that the blue and white definitively replace monochromic ceramics. 

Gốm

Vase (Lê dynasty)

It is thanks to the perfect control of manufacturing, decorating and baking techniques that the Vietnamese potter can improve his imagination. Even though constraints of painting under glaze do not prevent any repentance, there appear on the sandstone not only more and more sophisticated drawings but also a variety of pigments, an eruption of form s and original decorations, which made him an artist. If he does borrow a good number of decorative drawings from China ( peonies, lotus, flowers, foliated scrolls etc..), he has on the other hand the idea to create an autonomous style which is less hieratic and more vivacious than his Chinese homologous by the liveliness of his feature and his spontaneity. He can adapt these decorative elements to the Vietnamese style: the Chinese red fish becomes thus the Cá Bông, a Vietnamese freshwater fish.

It is no longer the case of China since China discovers the perspective starting from the reign of Jiajing (1522-1566). On the other hand, the quality of the central motif found on the plates, is definitely higher than that of the surrounding ones. This proves there is an intervention of several craftsmen in the realization of these plates. Because of the war, Viêt-Nam did not set up a systematic program of archaeological excavations. Few sites were exhumed so far. On the other hand one knows that the areas of Tam Tố north of Thanh Hoá, Nam Sách in the province of Hải Dương, Bát Tràng north of Hanoi to name a few sites, are surely witnesses of the manufacture of these Vietnamese ceramic pieces.

Jarres , verseuses et bols en grès à l’époque des dynasties Lý et Trần.

Pictures gallery of Vương Hồn g Sển collection

 

La céramique vietnamienne (Philippe Colomban CNRS)

Des céramiques vietnamiennes chargées d’histoire  (Philippe Colomban CNRS)

 

Art vietnamien (Nghệ thuật)

 

 

 

 Photos