Chronologie des Han orientaux (Version vietnamienne)

Version française

Niên đại nhà Đông Hán

Ở các vùng lãnh thổ bị người Hán chinh phục, đặc biệt là ở miền nam Trung Quốc, công cuộc hán  hóa vẫn tiếp tục diễn ra một cách mạnh mẽ. Đây là lý do khiến các cuộc nổi dậy khởi đầu liên tục tiếp nối nhau ở Điền quốc (86, 83 trước Công nguyên, 14 sau Công nguyên từ năm 42 đến năm 45) và bị trấn áp nghiêm khắc. Những cuộc nổi dậy này một phần lớn là do sự lạm dụng của các quan chức người Hán và hành vi của những người định cư Trung Hoa nhằm chiếm sỡ hữu những vùng đất màu mỡ và đẩy dân cư địa phương đến  những nơi xa xôi hẻo lánh ở trên lãnh thổ của họ. Ngoài ra, họ còn  phải chấp nhận dùng ngôn ngữ, phong tục và tín ngưỡng tôn giáo của người Hán.

Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng

Vào năm 40, một cuộc nổi loạn nghiêm trọng đã xảy ra ở tỉnh Giao Châu  bao gồm lúc bấy giờ một phần lãnh thổ của Quảng Tây ( Si) và Quảng Đông (Kouang Tong). Cuộc khởi nghỉa nầy được dẫn đầu bởi hai đứa con gái của một tỉnh trưởng địa phương Trưng Trắc (Zheng Cè) và Trưng Nhị (Zheng Èr). Vì sự  phản đối chính sách đồng hóa của Trung Quốc do thái thú Trung Quốc Tô Định (Su Ding) thực hiện một cách tàn bạo bởi Thi Sách, chồng của Trưng Trắc nên khiến Tô Định không ngần ngại xử tử ông nầy để noi gương  cho  quân nổi dậy, đặc biệt là người dân Việt.

Cuộc hành quyết gương mẫu này đã làm phẩn nộ hai bà Trưng và dấy lên phong trào nổi dậy ở toàn các vùng lãnh thổ của người Yue. Hai bà Trưng đã thành công trong việc chiếm được 65 thành trì trong một khoảng thời gian ngắn. Hai bà tự phong là nữ vương ở  trên các lãnh thổ được chinh phục và định cư ở  Mê Linh (Meiling). Vào năm 41 sau Công Nguyên, hai bà bị đánh bại bởi  Phục Ba Tướng Quân Mã Viện và tự sát để tránh  đầu hàng bằng cách tự trầm mình xuống sông Hát Giang. Vì vậy, hai bà trở thành biểu tượng của cuộc kháng chiến của người Việt Nam. Ngày nay, hai bà vẫn tiếp tục được thờ cúng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều vùng thuộc lãnh thổ Việt của Trung Quốc (Quảng Tây và Quảng Đông). Mã Viện bắt đầu áp dụng chính sách khủng bố và cưỡng bức bằng cách đặt người Trung Quốc ở tất cả các cấp chính quyền địa phương và áp đặt tiếng Trung Hoa là ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đây là sự thống trị đầu tiên của Trung Quốc kéo dài gần một ngàn năm trước khi cuộc chiến tranh giải phóng do tướng Ngô Quyền khởi xướng. Trong khi đó,  Hán Quang Vũ Đế đã thành công trong việc mang lại sự thịnh vượng và ổn định đế chế của mình bằng cách giảm thuế từ một phần mười xuống còn một phần ba mươi ở  các lợi nhuận thu thập được . Sau khi ông qua đời, con trai của ông, tương tự như Hán Vũ Đế, hoàng đế Hiếu Minh (Minh Đế) tiếp tục chính sách mở rộng  bờ cõi bằng cách phát động một cuộc tấn công chống lại Hung Nô phía bắc với mục đích giải phóng các quốc gia Trung Á khỏi sự giám hộ của Hung Nô và tái lập lợi ích cho Trung Quốc với sự an toàn ở con đường tơ lụa. Tướng Ban Siêu (Ban Chao), anh trai của nhà sử học nổi tiếng Bàn Cổ hay Mạnh Kiên (Ban Gu)  phụ trách lúc bấy giờ cuộc thám hiểm quân sự này. Ông đã thành công trong việc đến biển Caspi và khuất phục được người Nguyệt Chi (Yuezhi) với sự giúp đỡ của người Kusana.

 Nhân vật bất tử

Từ năm 91 sau công nguyên, Trung Quốc của Hán Minh  Đế  đã kiểm soát các đường mòn của các đoàn lữ hành trên con đường tơ lụa ở lưu vực Tarim. Nhờ con đường này, các sứ thần của Hán Minh Đế  mang về từ Tây Vực (Tianzu) những hình tượng của Đức Phật sau khi hoàng đế nhìn thấy được Đức Phật trong giấc mơ. Do đó, Phật giáo bắt đầu vào Trung Quốc với sự thành lập của chùa Bạch Mã. Trung Quốc chỉ  rời xa đế chế La Mã (Da Qin) bởi vương quốc Parthia (Ba Tư cổ đại). Bất chấp những công lao mỡ mang lãnh thổ, Hán Minh Đế không để lại trong sử sách nhà Hán hình ảnh  của một vị hoàng đế tài giỏi như cha mình là  Quang Vũ Đế hay con trai của ngài là Hán Chương Đế (Zhandi)(75-88) được tô điểm với tất cả các đức tính bởi vì dưới thời trị vì của ngài, một cuộc khởi nghĩa nông dân đã diễn ra vào năm 60 do  các lao dịch nặng nề, các công việc đắp đê sông Hoàng Hà và các công trình xây dựng cung điện mới ở phương Bắc được xem coi là tốn kém và quá đổi. Thiếu tiềm năng, những người kế nhiệm của Hán Chương Đế đã không thể đi theo con đường của những người tiền nhiệm. Họ trở thành các đồ chơi mưu mô của triều đình do các hoạn quan và các sĩ phu cầm đầu trong khi đó ở các tỉnh, các điền chủ bắt đầu độc chiếm các đặc quyền của chính phủ và lập thành các đội quân riêng tư. Sự tan rã của đế quốc nhà Hán ngày càng trở nên khó tránh khỏi.

Vào năm 189, vụ thảm sát 2000 hoạn quan do tướng Viên Thiệu ra lệnh khiến làm rối loạn triều đình nhà Hán. Cuộc tàn sát này sau đó được diễn ra bởi vị tướng Đổng Trác trúc phế Hán Thiếu Đế (Shaodi). Điều nầy dẩn đến một thời kỳ chính trị hỗn loạn và bất ổn khiến ai cũng cố gắng có vận may để chiếm được đế chế. Ba người  xuất chúng trong đám quân nhân và nổi tiếng qua những chiến công hiển hách Tào Tháo,  Lưu BịTôn Kiên  cùng nhau chia  trị gần một thế kỷ đế chế của nhà Hán. Đây cũng là sự kết thúc của một nhà nước tập quyền và bắt đầu cho thời kỳ Tam Quốc.

Niên đại Đông Hán (Đông Hán)

25-57: Triều đại của Hán Quang Vũ Đế (Guangwudi)
57-75: Triều đại của  Hán Minh Đế (Mingdi)
75-88: Triều đại của  Hán Hiếu Chương Đế (Zhandi)
88-106: Triều đại của Hiếu Hoà Đế (Heidi)
106: Triều đại của Hiếu Thương Đế (Shangdi)
106-125: Triều đại của  Hiếu An Đế (Andi).
125: Vương triều của Shaodi.
125-144: Triều đại của  Hiếu Thuận Đế (Chongdi).
145-146: Triều đại của Hiếu Chất Đế (Zhidi).
146-168: Triều đại của Hiếu Hoàn Đế (Huandi).
168-189: Triều đại của Hiếu Linh Đế (Lingdi).
184 Cuộc nổi dậy của Khăn vàng (Turbans jaunes)
189: Truất phế  Hán Thiếu Đế (Shaodi) bởi Đổng Trác.
189-220: Triều đại của  Hán Hiếu Hiến Đế (Xiandi).
190: Sự trỗi dậy và quyền lực của tướng quân Tào Tháo.
Chương 220: Cái chết của Tào Tháo và Hán Hiếu Hiến Đế. Cuối thời nhà Hán
220-316: Thời Tam Quốc.

Đây là một triều đại được tồn tại bốn thế kỷ (từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220 sau Công nguyên). Chính dưới triều đại nhà Hán mà  Khổng giáo  được phát triển và thịnh hành. Từ một học thuyết triết học, nó để lại cho Trung Quốc ngày hôm nay một di sản tinh thần và luân lý  và tiếp tục có một ảnh hưởng trọng đại cho hàng triệu người châu Á. Đây cũng là thời điểm phong phú nhất với các biến cố và các nguồn lực sáng tạo khoa học và nghệ thuật ở một nước Trung Quốc vừa rạng rỡ vừa chinh phục. Đây là lý do tại sao người Trung Hoa cảm nhận hơn bao giờ hết là những đứa con trai của nhà Hán bởi vì triều đại nầy mang lại cho họ một khoảnh khắc thiết yếu trong việc thành hình và làm rạng rỡ bản sắc của họ. [TRỞ VỀ]

Chonologie des Han occidentaux (Version vietnamienne)

 

Version française

Niên đại nhà Tây Hán


Năm 202 TCN: Lưu Bang tự xưng là hoàng đế. (Hán Cao Tổ)
195 TCN : Hán Cao Tổ qua đời
198-188 TCN: trị vì của Hán Huệ Đế.
188-180 TCN: nhiếp chính của Lữ Hậu.
180-157 TCN: trị vì của Hán Văn Đế.
157-141 TCN: triều đại của Hán Cảnh Đế.
154 TCN: nổi loạn của bảy nước chư hầu.
141-87 TCN: trị vì của Hán Vũ Đế.
87-74 TCN: trị vì của Hán Chiêu Đế.
80-68 TCN: nhiếp chính của tướng Hoắc Quang.
74 TCN: trị vì 27 ngày của Lưu Anh, bị phế truất hoàng đế.
74-48 TCN: trị vì của Hán Tuyên Đế.
48-33 TCN: trị vì của Hán Nguyên Đế.
33-7 TCN: trị vì của Hán Thành Đế.
7-1 TCN: trị vì của Hán Ai Đế.
1 TCN-5 SCN : trị vì của hoàng đế trẻ tuổi Hậu Phế Đế, bị Vương Mãng hạ độc.


Sau khi nắm quyền, Vương Mãng bắt đầu thay đổi một loạt cải cách tiền tệ (3 lần vào các năm 9, 10 và 14 sau Công Nguyên) và kinh tế của đất nước. Các tầng lớp bị ảnh hưởng nhiều nhất là các giới quý tộc và thương nhân bởi vì với mỗi lần thay đổi tiền tệ, những đồng tiền cũ được đổi lấy các đồng tiền mới với tỷ giá kém ưu đãi hơn khiến mọi người làm ra đồng tiền giả thay vì làm mất đi giá trị lúc đổi. Việc làm tiền giả bị trừng phạt nghiêm khắc. Mặt khác, các nông dân không bị ảnh hưởng nhiều bởi qua các cuộc cải cách này họ bán ngũ cốc với số lượng nhỏ để mua thực phẩm cần thiết trên thị trường và họ không phải lo lắng về tiền mặt. Từ đó về sau, Vương Mãng làm giới quý tộc và thương nhân giàu có căm ghét nhưng theo nhà Hán học Thụy Điển H. Bielenstein, vào thời điểm thực hiện cải cách kinh tế nầy, nguyên nhân chính thực sự khiến ông bị sa sút là do hàng loạt thiên tai (hạn hán, lũ lụt, các con cào cào) đầu tiên dẫn đến nạn đói, sau đó lại là cướp bóc, nổi dậy và cuối cùng là cuộc nội chiến. Trận lũ lụt khiến một số lượng lớn người dân sống ở các vùng bị ảnh hưởng phải di cư. Thảm họa này khiến những người tị nạn chết đói tập hợp lại thành các băng cướp bóc những khu vực họ đi qua và nổi dậy chống lại quân của chính phủ được phép đàn áp họ. Được biết đến với cái tên Xích Mi vì họ nhuộm lông mày màu đỏ, đám người này sớm giành được chiến công đầu tiên vào năm 22 sau Công nguyên và bắt đầu xâm chiếm các vùng khác của phía tây. Trong khi đó, có những cuộc khởi nghĩa do tầng lớp quý tộc Hán lãnh đạo nhưng đều bị đàn áp và bị dập tắt. Mãi đến mười ba năm nội chiến, gia tộc họ Lưu mới lấy lại niềm tin được ở Lưu Tú, một nhân vật tài năng và hào kiệt sau này được gọi là Quang Vũ (Hán Quang Vũ Đế) để khôi phục lại  đế chế và vương triều nhà Hán.

Đây là sự khởi đầu của thời kỳ nhà  Đông Hán. Khi lên nắm chính quyền, Hán Quang Vũ Đế không ngừng có những hành động ủng hộ dân nghèo và nô lệ. Không giống như Hán Vũ Đế, ông không thực hiện chính sách can thiệp vào các nước chư hầu. Tuy nhiên, sau đó chính ông là người đã cử Mã Viện đi dẹp cuộc nổi dậy của hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị trên lãnh thổ người Việt. Ông được các nhà sử học  xem coi là một trong những vị hoàng đế vĩ đại của nhà Hán cùng với Hán Vũ Đế. Qua các cuộc khai quật khảo cổ học, chúng ta biết rằng  người Hán đã hơn người La Mã trong một số lĩnh vực vào thời điểm này. Họ là những người đầu tiên phát minh ra một sản phẩm để truyền đạt tư tưởng và kiến ​​thức của mình. Họ thường gọi sản phầm nầy  với cái tên « zhi » hoặc giấy. Vào năm 105 sau Công Nguyên, một hoạn quan tên là Thái Luân của triều đình, khi quan sát cách các con ong vò vẽ nhai các sợi gỗ trong việc xây tổ, đã nảy ra ý tưởng bắt chước chúng và nhờ đó đã phát minh ra loại giấy nầy mà trình lên sau đó cho hoàng đế Hán Hòa Đế của nhà Đông Hán.

Khảo cổ học gần đây đã biện bác việc nầy vì các mảnh giấy được làm từ các sợi thực vật nầy được tìm thấy rõ ràng trước thời Thái Luân, một số có niên đại từ triều đại của  Hán Vũ Đế và một số khác được khai quật từ các lăng mộ của thời Tây Hán và từ đầu  thời kỳ nhà Đông Hán. Rất thường ghi nhận sự mâu thuẫn về niên đại mà người Trung Hoa cố tình đưa vào lịch sử truyền thống của họ được thiết lập  cho đến giờ bởi các triều đại, đặc biệt nhất là thời nhà Tần và Hán, trong chính thống Nho giáo và trong thời kỳ chinh phục thôn tính các lãnh thổ mới nếu chúng ta tiếp tục có  trí óc lý luận theo Descartes. 

Các nhân vật huyền thoại của Trung Hoa như Phục Hi, Nữ Oa, Bàn Cổ, Thần Nông được vay mượn từ các dân cư ở phía Nam. Đây là trường hợp mà nhà học giả Trung Hoa vĩ đại Ruey Yih-Fu, người đã nhìn thấy ở Phục Hi và Nữ Oa một nét văn hóa cụ thể của người Man Di,  người man rợ ở phương Nam hoặc dịch giả người Pháp Le Blanc của bộ sách  Hoài Nam Tử. Theo ông nầy thì chu kỳ Phục Hi Nữ Oa là một truyền thống của Sỡ Quốc. Các người Hán thậm chí còn đưa vào văn học của họ một huyền thoại sáng tạo Bàn Cổ  được lấy lại từ tổ tiên của người Dao (Brigitte Baptandier). Nhà khảo cổ học Trung Hoa Yan Wenming mô tả đây là một sản phẩm độc đáo của nhiều nguồn gốc hoặc một người như nhà Hán học  học nổi tiếng Chang Kwang-Chih để nói đến hiện tượng ở trong lĩnh vực tương tác văn hóa.

Cho đến giờ, người Hán hay thường viết bằng bút lông hoặc mực đen trên các bảng gỗ, lụa hoặc bảng tre. Có vẻ theo như một số nhà khảo cổ học, phương pháp sản xuất mà  Thái Luân trình lên hoàng đế Hán Hoà Đế vào năm 105 sau Công nguyên chỉ là sự tổng hợp và cải tiến các kinh nghiệm trước đó nhầm tạo điều kiện cho việc thay thế dần dần các tơ lụa và tre bằng giấy mà sản phẩm nầy ít tốn kém hơn trước sự yêu cầu càng ngày càng tăng lên ở thời bấy giờ.

Cấu trúc của các ngôi mộ

Vào đầu thời Tây Hán, các mộ hố đứng thẳng vẫn còn  trọng dụng rất nhiều. Truyền thống kiến ​​trúc này được thể hiện qua các ngôi mộ của  bà Đại ở Mã Vương Đôi  gần Trường Sa (Hồ Nam), Dabaotai gần Bắc Kinh và Fenghuangshan gần Jiangling (Hà Bắc). Sau đó, những ngôi mộ này được thay thế theo năm tháng bằng mô hình lăng nằm ngang trải khắp đế quốc Hán. Nhiều yếu tố đã góp phần vào sự thay đổi này và mang đến cho nghệ thuật tang lễ một sức sống mới. Ngoài kích thước bề thế của các ngôi mộ, chúng ta  còn nhận thấy đến sự phong phú của đồ đạc trong nhà mộ và niềm tin tôn giáo có liên quan đến sự thuyên chuyển  qua thế giơí bên kia của người Hán. Chính vì lý do đó mà các hoàng tử, quý tộc, đại địa chủ, các quan, các thương nhân giàu có đã không ngần ngại phô trương những đặc ân mà họ có trong xã hội và chức năng mà họ mong muốn được duy trì trong cuộc sống ở thế giới bên kia  và để thể hiện lòng mộ đạo và sự tận tâm của họ đối với người đã khuất bằng cách cố gắng cung cấp cho mọi thứ cần thiết qua các đồ vật tang lễ (hoặc minh khí). Những phẩm vật nầy dưới thời trị vì của nhà Hán đặc biệt rất  tinh vi. Với ý nghĩa biểu tượng, các vật nầy gồm có các mô hình thu nhỏ của các bình nghi lễ và nhạc cụ ở các nghi lễ hay các nhà nông trại hoặc các nhà ở.

Được biết thời đó  người Hán đã sử dụng xe cút kít và ròng rọc để di chuyển hàng hóa, trong khi đó  trong nông nghiệp, họ sử dụng búa bập bênh để nghiền ngũ cốc và khoáng sản. Đó là dưới thời trị vì của nhà Hán, người Trung Hoa  đã sử dụng bánh xe mái chèo cho nhiều mục đích khác nhau. Nhờ tiếp xúc với những người man rợ của phương Bắc, người Hung Nô, các nghệ nhân Trung Hoa đã vay mượn từ các người nầy những kỹ thuật mà họ rất thành công trong việc thông thạo  và sản xuất những đồ vật có chất lượng vượt trội. Đây là những gì chúng ta phát hiện ra nhờ các quá trình khai quật trong các ngôi mộ cổ kính với đồ trang trí xe ngựa, đồ sành sứ, đồ trang sức, khóa thắt lưng, vân vân … vào năm 132 sau Công Nguyên, máy đo địa chấn đầu tiên trên thế giới có thể cảnh báo triều đình nhà Hán và chỉ ra hướng của tâm chấn của trận động đất. Việc phát minh ra đồng hồ đo đường cùng đến lúc với quả cầu thiên thể quay đầu tiên. Ở Trung Quốc, đồ sứ ra đời, có độ tinh khiết và trắng sáng phù hợp với cái tên mà người Ý gọi nó là « vỏ trai (porcellana) » vào thế kỷ 15. Nguyên tố chính trong thành phần của đồ sứ là kaolin (thạch cao) được biết đến vào thời Đông Hán. Dưới triều đại này, đồ sứ bắt đầu có  được một sự bùng nổ thực sự.

Từ thời Chiến quốc cho đến thời nhà Tây Hán, người Trung Hoa đã có thể vẽ các bản đồ trên lụa và đựng trong hộp. Vào thời Xuân Thu anh hùng Kinh Kha được cử đi bởi thái tử Đan người nước Yên, cố  tình sử dụng một bản đồ gấp lại giấu một con dao găm để ám sát Tần Thủy Hoàng. Chỉ đến năm 1973, người ta mới phát hiện ra sự tồn tại của những tấm bản đồ này ở lăng mộ Mã Vương Đôi số 3 (168 trước Công nguyên). Do đó, hai bản đồ nầy cùng một bản đồ thành phố được xem là những bản đồ cổ nhất ở Trung Hoa và trên thế giới. Trong lĩnh vực thiên văn, Trung Hoa có sự phát triển nổi bật. Văn bản thiên văn được phát hiện trong lăng mộ số 3 ở Mã Vương Đôi (168 TCN) báo cáo chính xác những quan sát liên quan đến chuyển động của năm hành tinh trong khoảng thời gian 246-177 TCN. Toàn bộ hành trình của sao thổ trên bầu trời được tính là 30 năm, một con số không xa với 29,46 năm mà các nhà thiên văn học ngày nay cung cấp. 

Ngọc bích là một trong những loại đá khó gia công nhất. Tuy nhiên, kể từ thời kỳ đồ đá, những người thợ chạm khắc ngọc bích ở Trung Hoa đã khéo léo chạm khắc ngọc có lẽ bằng cách sử dụng bột nhão quartzite hoặc grenat, điều này mang lại cho ngọc bích một giá trị nghệ thuật đặc biệt với những chiếc nhẫn, các vòng tròn, hình tượng rồng vân vân… Dưới  thời nhà Thương (triều đại Thương Ân), ngọc bích được dùng cho việc trang trí thuần túy. Đây là những gì mà các nhà khảo cổ học phát hiện ra trong lăng mộ của hoàng hậu Phù Hảo (tìm thấy 755 ngọc bích). Sau đó, vào thời Tây Chu, người ta đã có phong tục che mặt cho người đã khuất bằng một chiếc mặt nạ và ngực với các mảnh giáp ghép được tạo thành từ nhiều mảnh. Đây là một dấu hiệu khác biệt hay quý tộc bằng cách đặt  các mảnh giáp trên cơ thể của người quá cố  thường mặc đồ tơ lụa. Các mặt nạ và các tấm vải liệm không dùng với mục đích trang trí mà có chức năng tôn giáo nhằm tìm kiếm sự bất tử dưới thời nhà Hán. Những chiếc bùa nhỏ bằng ngọc bích được sử dụng để bịt kín 9 lỗ trên cơ thể của người đã khuất để linh hồn người đó có thể sống mãi ở thế giới bên kia. Mặt khác, chúng ta không biết vai trò của viên ngọc « bi », được đặt trên trán của vua Nam Việt, Triệu Muội. Tấm vải liệm của Liu Shen, anh trai của hoàng đế Hán Vũ Đế và  bà vợ, công chúa Dou Wan, được tìm thấy ở Mancheng, gồm có đến 2498 tấm ngọc bích với các kích cỡ khác nhau được khâu bằng chỉ vàng, minh chứng cho sự hoàn hảo của người thợ mài ngọc Trung Hoa trong việc  chế tạo các tấm vải liệm và các vật trang trí sang trọng từ thời nhà Hán. 

Người Trung Hoa hay thường sơn mài nhiều loại  đồ khác nhau. Một số đồ vật sơn mài, đặc biệt là chiếc cốc gỗ đỏ được tìm thấy trong một ngôi mộ ở Chiết Giang tiết lộ  sự biết làm phi thường của họ từ thời đồ đá (thiên niên kỷ 5-4 trước Công nguyên). Cần nhớ lại rằng khu vực này thuộc nước Ngô Việt, một phần lãnh thổ cũ của đại tộc Bách Việt  trước khi bị sát nhập bởi  nước Sỡ, sau này bị Tần Thủy Hoàng chinh phục trong quá trình thống nhất đế chế. Đây có phải là kỹ năng của họ hay của người Bách Việt? Dù sau  bắt chước  người nước Sỡ, những người Hán đã thể hiện được sự thành thạo hoàn hảo trong nghệ thuật uốn gỗ bằng cách tạo ra các tác phẩm nguyên bản và cách điệu có chất lượng tuyệt vời khiến các nhà khảo cổ phải sững sờ thán phục trong  các cuộc khai quật khảo cổ học. Những lớp sơn mài này gợi lại những hoa văn và kiểu dáng phức tạp được tìm thấy trên các chiếc bình bằng đồng. Họ đã thành công trong việc đưa sơn mài trở thành một sản phẩm chủ đạo trong thời kỳ trị vì của nhà Hán. Được biết các đồ vật sơn mài được chôn trong các lăng mộ có thể được bảo quản hàng chục thế kỷ nhờ sự hiện diện của một loại enzyme đóng vai trò như chất xúc tác protit (urushiol) trên màng mỏng của các đồ vật, không nhạy với nhiệt nóng, không thấm nước và không để axit ăn mòn. Hơn một trăm đồ vật sơn mài (khay, cốc erbei, bình hoa vân vân..) đã được khai quật ở Mã Vương Đôi gần Trường Sa (Hồ Nam). Các tác phẩm khác còn nguyên vẹn được lấy được từ lăng mộ của hầu tước Yi họ Zeng ở Leigudun (Hồ Bắc). [TRỞ VỀ]

Tài liệu tham khảo:

Cây đèn dầu hình phượng hoàng

  • La Chine des Han. Histoire et civilisation. Office du Livre. 1982
  • Splendeur des Han. Essor de l’empire céleste. Editeur Flammarion. 2014
  • Chine ancienne. Des origines à la dynastie des Tang. Maurio Scarpari. Gründ.
  • Trésors de Chine millénaires mais intacts. National Geographic. Octobre 2001
  • La dynastie des Han. Vingt siècles d’influence sur la société chinoise. National Geographic. Février 2004.
  • Chine. La gloire des empereurs. Paris Musées. Editions Findakly.
  • La Chine des premiers empereurs. Editions Atlas. 1991
  • Splendeurs des Han. Essor de l’empire céleste. Editions des Beaux Arts. 2014.

Niên đại nhà Đông Hán (Tiếp theo)

 

Dynastie des Han: Art de vivre (version vietnamienne)

Version française

Nghệ thuật sống  dưới thời nhà Hán

Dưới thời  nhà Hán, xã hội Trung Hoa được cơ cấu đến mức độ chỉ có sĩ phu và nông dân mới được kính trọng so với  các nghệ nhân và thương nhân theo Hán thư của Ban Cố vào thế kỷ thứ nhất. Tuy nhiên, chỉ có người buôn bán mới được hưởng lợi từ hệ thống kinh tế của đế chế mặc dầu có một số hạn chế do triều đình  áp đặt. Sự gia tăng các công ty tư nhân và việc mở các tuyến đường thương mại (như con đường tơ lụa chẳng hạn) đã giúp họ trở nên giàu có dễ dàng. Họ bán những phẩm vật không cần thiết và hàng hóa xa xỉ được ưa thích bởi tầng lớp quý tộc Hán và điền chủ. Nhờ nghệ thuật tang chế  mà  mới có được các bài học bổ ích về nghệ thuật sống cũng như các trò tiêu khiển dưới thời đại đó. Tơ lụa được dành cho triều đình, giới quý tộc và các quan chức trong khi vải lanh thì người dân  hay thường dùng và được thấy trong  các bộ trang phục truyền thống và được trang trí  phong phú thêm nhờ các phụ kiện nhầm thể hiện được địa vị  của họ ở  trong xã hội. Tơ lụa đang có sự  phát triển đáng kể vì phẩm vật nầy thuộc về hàng hóa thương mại sang trọng  nhưng nó cũng được sử dụng trong hệ thống cống nạp  cho Hung Nô và các nước chư hầu. Vào năm thứ nhất  trước Công nguyên, việc quyên góp tơ lụa đã đạt đến đỉnh cao với 370 quần áo, 30.000 cuộn lụa và 30.000 chỉ tơ lụa. Các thương nhân lợi dụng các  cuộc trao  đổi nầy để bắt đầu giao dịch sinh lợi với  các người nước ngoài, đặc biệt là với người Parthe và người La Mã. Các xưởng tư nhân cạnh tranh với các  công xưởng của triều đình. Điều này thúc đẩy việc sản xuất tơ lụa và gia tăng sự đa dạng ở trong khu vực. Việc dệt vải cho thấy được  mức độ kỹ thuật cấp cao qua một chiếc áo lụa dài 1,28 thước  và sải cánh 1,90 thước  được tìm thấy  ở lăng mộ của bà Đại chỉ nặng có 49 gam.

Ngoài tấm vải lụa che quan tài của người quá cố và được trang trí bằng các bức vẽ minh họa vũ trụ quan của Lão giáo  còn phát hiện ra các bản thảo Di Kinh viết trên lụa, hai bản sao của Đạo Đức Kinh, hai quyển sách y học và hai văn bản về Âm-Dương, ba bản đồ ở một trong ba ngôi mộ của Mã Vương Đôi, một số được viết bằng chữ lishu (chữ viết của người ghi chép) và xiaozhuan (chữ viết dưới dạng dấu ấn) có niên đại từ thời Hán Cao Tổ, những chữ khác được viết hoàn toàn bằng tiếng lishu có niên đại của thời Hán Vũ Đế. Mặc dù giá rất đắt đỏ, tơ lụa vẫn được ưa chuộng hơn vì dễ tiện dụng hơn, nhẹ hơn và dễ vận chuyển hơn so với các thẻ bằng gỗ. Dưới thời nhà Hán, sơn mài mà  công việc nầy vẫn được xem coi là một nghề thủ công tinh tế, bắt đầu lan tràn vào  các nhà của những người giàu có.

 Noi theo tầng lớp quý tộc của nước Sỡ, họ sử dụng  các chén đĩa gỗ sơn mài, thường có màu đỏ ở mặt trong và màu đen ở mặt ngoài với các hoa văn sơn nổi, những màu này được tương ứng với  các màu của Âm Dương. Cũng tương tự như vậy với các khay và các hộp thì họ dùng để đựng quần áo xếp, đồ vệ sinh cá nhân, các bản thảo, vân vân… Đối với các gia đình quý tộc, ngọc thạch được thay thế bằng sơn mài. Còn đối với các người bình dân, gốm cùng gỗ những vật liệu được trọng dụng ở chén đĩa. Tương tự như các mâm hình tròn hoặc hình chữ nhật riêng lẻ,  các bàn thấp, thường có chân, được sử dụng để phục vụ các bữa ăn với các món ăn, đũa (kuaizi), thìa, cốc  erbei để uống nước và rượu. Về lương thực chính, kê và gạo là những loại ngũ cốc được phổ biến nhất.

Kê được dành cho các ngày lễ ở miền bắc Trung Quốc trong khi gạo, một sản phẩm của vương quốc Sỡ cổ đại, bị hạn chế ở miền nam Trung Quốc vì nó là một sản phẩm xa xỉ. Đối với người nghèo, lúa mì và đậu nành vẫn chiếm ưu thế trong bữa ăn của họ. Đồ ăn Trung Quốc cũng giống như thời Tần. Geng, một loại thịt hầm, vẫn là thức ăn truyền thống của Trung Quốc trong đó  các miếng thịt và rau được trộn với nhau. Tuy nhiên, sau khi bành trướng lãnh thổ và sự xuất hiện và thuần hóa các sản phẩm mới từ các nơi khác của đế chế, những  sáng kiến đổi mới bắt đầu xuất hiện từ từ trong việc sản xuất mì sợi, các thức ăn hấp và  các bánh từ bột mì. Rang, luộc, chiên, hầm và hấp là một số phương pháp nấu ăn được thấy. Chiếu được dùng để ngồi bởi mọi tầng lớp xã hội cho đến cuối triều đại. Chiếu được giữ cố định ở bốn góc bằng những quả cân nhỏ làm bằng đồng và được  tượng trưng qua các con vật đáng yêu: hổ, báo, hươu, cừu, vân vân.. Để giảm bớt sự khó chịu do tư thế quỳ trên gót chân,việc dùng vật dụng dựa lưng hoặc tay vịn bằng gỗ sơn mài rất thông thường.  Chiếu còn được dùng để ngủ bởi những người dân bình thường ở  miền trung và miền nam Trung Hoa. Mặt khác, ở phía bắc Trung Quốc, vì thời tiết quá lạnh, người ta phải dùng đến một cái « kang», một loại giường đất được đắp bằng gạch và trên đó trải chiếu và chăn. Dưới kang này, có một hệ thống đường ống  nước để phân phối hơi nóng  từ lò sưởi được đặt ở bên trong hoặc bên ngoài ngôi nhà.

Giải trí và thú ăn chơi không bị lãng quên dưới thời nhà Hán

Nhờ các văn bản, chúng ta mới biết rằng truyền thống âm nhạc của nước Sỡ giữ một vị trí quan trọng trong triều đình nhà Hán và được tiếp tục yêu chuộng. Theo nhà Hán học người Pháp J.P. Diény, người Hán thích loại âm nhạc bi ai, buồn thảm hơn tất cả các loại nhạc khác. Các chủ đề được yêu chuộng trong các bài hát  thường  là chia ly, trốn tránh và  khoái lạc. Chính ở trong những ngôi mộ cổ kính những tượng hình  nhỏ của  các vũ công (minh khí) mới được phát hiện ra. Thông qua các cử chỉ, những tượng hình này cho thấy khả năng tài ba của  các vũ công khi  múa với các đường lượn bay nhờ qua các  cánh tay áo dài của chiếc váy.

Các điệu múa nầy được dựa trên các chuyển động của quần áo do sự khởi động cơ thể và cánh tay khiến tạo ra cho vũ công kèm theo bài hát đôi khi u sầu, một bức chân dung sống động trong nghệ thuật vũ đạo của người Hán. Đối với họ, theo quan niệm của Nho giáo, gia đình là đơn vị cơ bản của hệ thống xã hội mà việc thờ cúng tổ tiên, các nghi lễ, yến tiệc và hôn nhân được tổ chức thường xuyên nên mang lại rất nhiều cơ hội trong suốt cả năm và lý do để có được âm nhạc làm cho cuộc sống hài hòa. Là biểu tượng của sự uy quyền và sức mạnh nên không thể  thiếu được tiếng chuông đồng. Các công cụ nầy được sử dụng thường xuyên trong các nghi lễ mà còn có ở trong âm nhạc cung đình. Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ học, chúng ta  được biết rằng cuộc sống của các hoàng tử nhà Hán nổi bật với các bữa tiệc linh đình, các trò chơi và các buổi hòa nhạc kèm theo các điệu múa. Còn các trò tiêu khiển thì chỉ dành cho nam giới. Liubo (một loại trò chơi cờ vua) là một trong những trò chơi phổ biến nhất thời bấy giờ với trò chơi xúc xắc có tới 18 mặt. Thà chơi còn hơn nhàn rỗi, đây là lời khuyên của Đức Khổng Tử ở trong sách « Văn tuyến », một trong tập tứ thư.

Không giống như khảo cổ học của các thời kỳ trước, khảo cổ học của người Hán cho phép chúng ta tiếp cận lĩnh vực thân mật như việc trang điểm của các phụ nữ. Họ dùng kem che khuyết điểm bằng bột gạo hoặc chì trắng để trang điểm khuôn mặt. Những vết màu đỏ được bôi lên trên gò má, quầng thâm dưới mắt, chấm màu trên môi vân vân… Thời nhà Hán, giáo dục là  việc ưu tiên cho giới trẻ. Từ lúc còn ấu thơ, sự vâng lời, lễ phép và tôn trọng đối với người lớn tuổi đã được dạy dỗ. Lên mười tuổi, cậu bé bắt đầu nhận được những bài học của thầy. Cũng phải học những điều suy ngẫm của Đức Khổng Tử (Luận ngữ), kinh điển về đạo hiếu (Xiao jing) vân vân… trước khi bước vào khoảng mười lăm đến hai mươi tuổi thì đọc Kinh điển.

 
Được xem là thấp kém hơn nam giới, phụ nữ buộc phải học nghề dệt lụa và nấu ăn ngay từ khi còn bé và phải có những đức tính chủ yếu được truyền như dịu dàng, khiêm tốn, tự chủ. Còn phải chịu ba phục tùng (Tam Tòng): lúc nhỏ thì phục tùng cha, lấy chồng phục tùng chồng và khi góa chồng thì phục tùng con. Người phụ nữ có thể lấy chồng vào khoảng 14-15 tuổi để đảm bảo sự nối dõi tông đường. Bất chấp những ràng buộc của Nho giáo, người phụ nữ vẫn tiếp tục có được quyền lực thực sự trong cấu trúc gia đình, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa mẹ và con trai. Sự quan tâm đến việc tôn vinh những người đã khuất khiến người Hán, đặc biệt là người Tây Hán, tạo ra những khu chôn cất xa hoa và những kho báu thực sự là những tấm vải liệm ngọc bích để tìm kiếm sự bất tử. Đây là trường hợp  mộ chôn cất cha của Hán Vũ Đế, Hán Cảnh Đế.

Cho đến nay, các nhà khảo cổ học đã khai quật được hơn 40.000  hiện vật ở xung quanh gò chôn cất của hoàng đế. Người ta dự đoán toàn bộ khu tang lễ này sẽ cung cấp khoảng 300.000 đến 500.000 hiện vật vì ngoài phần mộ còn có hai huyệt riêng biệt để khám phá, đó là huyệt của hoàng hậu và người thiếp yêu thích của hoàng đế Hán Cảnh Đế. Theo một nhà khảo cổ Trung Quốc phụ trách cuộc khai quật này, điều quan trọng không phải là số lượng hiện vật được phát hiện mà là tầm quan trọng của mỗi hiện vật phát hiện được tìm thấy ở trong khu mộ táng này. Người ta đựợc  dẫn đến kết luận rằng nhà Tây Hán rất trân trọng các ngôi mộ hoành tráng mặc dù qua sự tiết lộ của các cuộc khai quật,  các  đồ vật rất nhỏ hơn nhiều so với các đồ vật tìm thấy ở trong các lăng mộ nhà Tần. [RETOUR]

Niên đại Tây Hán (Còn tiếp)

Les tombes des princes Han (Version vietnamienne)


Version française

Các lăng mộ của vua chúa nhà Hán

Tương tự như người tiền nhiệm  Tần Thủy Hoàng, các hoàng đế của nhà Hán, trong thời gian trị vì hay thường cử sứ giả đi tìm kiếm các nơi thiên thai để tìm kiếm sự bất tử và tiếp cận với thế giới thần tiên. Những vùng đất thần thoại này thường được gắn liền với đảo Bồng Lai  ở phía đông và núi Côn Lôn  ở phía tây trong tín ngưỡng ở thời nhà Hán. Đây là ngọn núi nơi mà  Tây Vương Mẫu  (Xiwangmu) ở, người mà nắm giữ được thần dược trường sinh bất lão. Chính vì lý do này mà người ta hay tìm thấy  thường xuyên  hình ảnh nầy trong việc  trang trí các lăng mộ của người Hán. Đây là một bằng chứng  không chỉ cho sự phổ biến mà còn là một quan niệm của Lão giáo liên quan đến việc kéo dài sự sống sau khi qua đời. Theo một số tin đồn chưa được xác minh và không có căn cứ, Trương Khiên  được Hán Vũ Đế  ủy thác  vụ tìm kiếm ban đầu các công thức trường sinh bất tử ở sườn núi Côn Luân, nơi sống của những người bất tử. Vẫn thường mặc áo choàng dài, những người này có khuôn mặt góc cạnh, miệng rộng trên một cằm nhọn, lông mày cong và tai to khiến họ có một dáng người khá kỳ quặc và hốc hác. Khi họ đã đạt được đến con đường đạo của  Lão giáo, họ có đôi cánh trên vai. Trong quan niệm của Lão giáo về thế giới bên kia, để giữ đuợc toàn vẹn cơ thể  của người qua đời và sự bất tử của linh hồn thì phải lấp 9 lỗ ở trên cơ thể của con người bằng  các vật thể bằng vàng và ngọc. (miệng, tai, mắt, lỗ mũi, niệu đạo và trực tràng). Sau đó, người quá cố phải được đeo mặt nạ hay  mặc một bộ y phục bằng ngọc thạch mà việc sử dụng phải được điều chỉnh bởi một nghi thức thứ cấp bậc rất nghiêm ngặt. Đối với hoàng đế, trang phục bằng ngọc được may với các chỉ vàng. Còn đối với các  vua chúa và các quan chức kém quan trọng khác, thì trang phục bằng ngọc của họ chỉ có  những sợi bạc hay đồng. Việc sử dụng trang phục phản ánh lại tín ngưỡng  của người Hán về sự trường tồn của linh hồn ở thế giới bên kia vì ngọc thạch được cho là có đặc tính yểm trừ ma qủy để dẫn đến sự bất tử của linh hồn.

Vào thời nhà Hán, quan niệm nhị nguyên về linh hồn đã được đề cập đến trong một số văn bản Trung Hoa  như ở quyển sách Hoài Nam Tử của Lưu An. Mỗi cá nhân có hai linh hồn: một cái gọi là hun được lên thiên đường và cái còn lại được gọi là po, biến mất đi cùng với thể xác của người đã khuất. Để ngăn chặn linh hồn « hun » thoát ra ngoài qua các khe hở trên khuôn mặt, mặt nạ hoặc trang phục là điều rất cần thiết.

Quan niệm nhị nguyên về linh hồn này thực sự là của người Trung Hoa hay vay mượn từ một nền văn minh khác của người Bách Việt không? Nó được tìm thấy ở những người Mường, anh em họ hàng của người dân Việt, sống ở những nơi xa xôi hẻo lánh nhất của miền núi Việt Nam. Đối với người Mường, có một số linh hồn được có ở trong con người mà họ gọi là wai. Chúng được chia thành hai loại: wại kang (linh hồn xa hoa) và wại thặng (linh hồn cứng rắn).  Linh hồn loại đầu là cao cấp và bất tử trong khi loại thứ nhì thì gắn liền với cơ thể, được xem là xấu. Cái chết chỉ là hậu quả  siêu thoát của các linh hồn này.

Cần  nên nhớ rằng văn hóa của Sỡ Quốc bị Tần Thủy Hoàng  chinh phục trong thời kỳ thống nhất Trung Hoa có một nét đặc thù, một ngôn ngữ riêng tư, đó là tiếng nói của người Bách Việt. Từ thời Tần-Hán, có một cơ quan hoàng gia thường gọi là  « fangshi » gồm có các học giả địa phương được xem như là những pháp sư chuyên về các nghi lễ liên quan đến các ngôi sao ở trên trời  và lo các doanh thu của chính quyền.

Vai trò của họ là thu thập ở trong địa phận của mình, tất các cách thức nghi lễ, các tín ngưỡng, các thuốc địa phương, các hệ thống tiêu biểu, vũ trụ học, các  chuyện thần thoại và truyền thuyết cũng như các sản phẩm địa phương và  đề trình lên  cho chính quyền để có thể  chọn lọc giữ lại hay không và kết hợp lại sau đó dưới dạng các quy định nhằm tăng cường quyền lực của hoàng đế trong một  quốc gia rất đa dạng trên mặt dân tộc học và mang lại cho hoàng đế  những phương tiện để thực hiện  chức vụ thiêng liêng mà Trời ủy thác. Mọi thứ  nầy phải được thu thập và bổ sung vào việc phục vụ con của Trời nhầm để thiết lập tính cách hợp pháp  ở các lãnh thổ được chinh phục gần đây của các dân man rợ.

__ Đây là một trong những điểm nổi bật của văn hóa Trung Hoa: Nó biết cách chấp nhận và tiếp thu văn hóa nước ngoài mà không bao giờ có thể bị chao đảo hay có sự thay đổi văn hóa .__

Đây là những gì nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng của thế kỷ 20 Liang Shuming đã viết trong phần giới thiệu tác phẩm của mình mang tựa đề là « Những ý tưởng chính về văn hóa Trung Hoa » (do nhà xuất bản Michel Masson dịch). Điều này được gắn liền với sự nhận xét sau đây của nhà dân tộc học và Hán học người Pháp Brigitte Baptandier trong bài giảng của một ngày nghiên cứu APRAS về  các dân tộc học trong khu vực, ở Paris vào năm 1993:

Văn hóa Trung Quốc do đó đã hình thành qua nhiều thế kỷ như một bức tranh khảm của nhiều nền văn hóa. Cần có một dòng máu man rợ truyền chậm cho Trung Quốc bằng cách làm cho thích hợp  lại công thức đẹp của nhà sử học F. Braudel  dành cho Pháp quốc.



Lư hương Boshanlu (lư hương có dạng núi Bo) được tượng trưng là những ngọn núi thần thoại được chìm ngập  trong mây và hơi khí qi (năng lượng vũ trụ quan trọng). Sự nổi tiếng của những lư hương này phần lớn là do người Hán nghĩ về sự bất tử và sự sùng bái các núi thiêng liêng.

Boshanlu


Theo ước tính của nhà khảo cổ học lâu đời nhất Trung Hoa Wang Zhongsu, kể từ năm 1949 đã có hơn 10.000 ngôi mộ được khai quật chỉ riêng thời nhà Hán. Nhờ những phát hiện khảo cổ lớn từ lăng mộ của bà Đai và con trai của bà ở Mã Vương Đôi (Trường Sa, Hồ Nam) vào năm 168 TCN hoặc lăng mộ của con trai hoàng đế Hán Cảnh Đế (Jing Di), hoàng tử Hán Lưu Sheng và vợ ông là Dou Wan (Mancheng, Hà Bắc) vào năm 113 TCN hay lăng mộ của Triệu Muội, cháu nội của Triệu Đà và vua của Nam Việt (Xianggang, Quảng Châu) vào năm 120 TCN, các nhà khảo cổ bắt đầu hiểu rõ hơn nghệ thuật của người Hán thông qua hàng nghìn đồ vật đặc biệt bằng ngọc thạch, sắt và đồng, gốm sứ, sơn mài, vân vân… Các hiện vật nầy biểu lộ sự sự giàu có và quyền lực của các hoàng tử dưới thời nhà Hán. Đôi khi còn là các kiểu mẫu duy nhất không chỉ thể hiện công việc kỹ thuật của nghề thủ công tinh xảo và quý giá của các vật liệu mà còn là đặc điểm riêng tư của khu vực.

Trong  các cuộc khai quật, các nhà khảo cổ học đã phát hiện ra rằng có sự giáng đoạn  ở trong nghệ thuật Trung Hoa, một sự thay đổi sâu sắc tương ứng về mặt lịch sữ với sự phát triển của các đế chế thống nhất (Tần và Hán) nhất là  khi có tiếp xúc liên tục với các ảnh hưởng nước ngoài. Sự hiện diện của các vật thể lâu đời, đặc biệt là các bát đĩa bằng đồng mà chúng ta quen tìm thấy vào thời nhà Châu, đã nhường lại cho sự phát triển của nghệ thuật tượng hình. Chắc chắn là có ảnh hưởng đáng kể của các vùng văn hóa khác trong lĩnh vực nghệ thuật Hán, đặc biệt là trong lĩnh vực văn minh vật chất. Việc thờ cúng tổ tiên không còn diễn ra ở trong đền thờ như đã từng được thực hiện vào thời kỳ đồ đồng, mà diễn ra ngay ở trong các lăng mộ và các đền thờ gần đó. Ngoài ra, tựa như hoàng đế Tần Thủy Hoàng, các hoàng đế nhà Hán cùng các hoàng tử có xu hướng biến lăng mộ mình trở thành một bản sao của ngôi nhà của họ sống ở trên trần gian.

Quan niệm này đã có từ thời nhà Châu và thường được trông thấy  thường xuyên trong các phong tục tang lễ của giới thượng lưu ở Sỡ quốc. Tương tự như người nước Sỡ, người Hán tin vào sự trường tồn của linh hồn ở thế giới bên kia. Viễn cảnh về cái chết được xem như là sự tiếp tục của cuộc sống. Tín ngưỡng này vẫn tiếp tục tồn tại cho đến ngày nay ở Trung Quốc vào lễ thanh minh với những lễ vật cúng cho tổ tiên: tiền giấy giả và đồ tang lễ được đốt sau đó.

Chính vì lý do này mà người ta được tìm thấy trong các cuộc khai quật, mọi thứ mà họ sở hữu trong suốt cuộc đời: những đồ vật yêu thích, những bức tượng nhỏ bằng đất nung tượng trưng cho những người hầu cận của họ cũng như những tấm vải liệm bằng ngọc thạch để làm giảm nhẹ đi cái chết về cõi hư vô. Các ngôi mộ hoàng gia của nhà Hán được trông thấy nhờ sự hiện diện của một cái gò nhân tạo cao nằm ở trong một khu bao quanh hình chữ nhật, nơi cũng có  đặt thêm các ngôi mộ phụ. Cấu trúc của lăng mộ ngày càng trở nên phức tạp hơn và thường được thấy có sự tranh đua với các cung điện ở trên trần gian  với những  hào huyệt riêng biệt mà mỗi cái có một chức năng rõ ràng (kho, chuồng trại, nhà bếp, phòng tiệc vân vân…) Đây là trường hợp của mộ của Lưu Kỳ được gọi là hoàng đế Hán Cảnh Đế và vợ ông, hoàng hậu họ Vương ở ngoại ô của  thành phố Tây An. Chính trong những cái hố này, chúng ta tìm thấy các hiện vật xa xỉ (bình hoa, chậu, lò đốt nước hoa, gương, cân chiếu, vạc, đèn, dao găm vân vân…) hoặc ở  trong cuộc sống hàng ngày  như ngũ cốc, vải, thịt vân vân… của người đã khuất mà làm các nhà khảo cổ sững sờ ngưỡng mộ và không nói nên lời, được chôn cất ở bên cạnh các tượng nhỏ bằng đất nung (mingqi). Đây có thể là các tượng động vật quen thuộc nuôi ở  trong nhà hoặc  các tượng người hầu cận.

Nhờ con đường tơ lụa và sự mở rộng bờ cõi của Trung Quốc, một số lượng lớn của các truyền thống nghệ thuật ở trong các khu vực, các thời trang nước ngoài và các sản phẩm mới  đóng góp phần vào sự nở rộ nghệ thuật của nhà Hán. Chủ nghĩa thế giới chắc chắn có đóng một vai trò quan trọng vào thời điểm này. Sự lộng lẫy của những món đồ xa xỉ được tìm thấy trong các lăng mộ không chỉ cho thấy sự  tráng lệ và  cầu kỳ của các triều đình vua chúa dưới thời nhà Hán mà còn cho thấy sở thích ngoại lai. Các điệu múa và âm nhạc của Sỡ quốc, các bài hát của nước Điền, nghệ thuật múa ba lê của Trung Á thay mới các trò tiêu khiển của triều đình. Những cuộc tiếp xúc với các nghệ thuật của các vùng đồng hoang  làm phong phú thêm các thư mục trang trí.

Tương tự như ngọc thạch , đồng là một trong những vật liệu phổ biến nhất của người Trung Hoa. Trong thời kỳ nhà Hán, sự phổ biến các đồ đồng bắt đầu giảm bớt vì để thờ cúng tổ tiên, các bộ bình hoa nghi lễ bằng đồng hoàn chỉnh không còn cần thiết nữa mà thay vào đó là các đồ vật sơn mài bắt chước theo Sỡ quốc.  Nước nầy có cơ hội trang trí thường xuyên các vật thể qua các họa tiết hoặc hình vẽ theo trí tưởng tượng tuyệt vời và theo thần thoại của riêng tư vào thời Chiến Quốc. Mặc dầu có sự suy giảm dùng đồng ở  trong các lăng mộ của các hoàng tử Hán, đồng vẫn được sử dụng rộng rãi trong ở các đồ trang trí xe ngựa và các vật dụng xa xỉ được tìm thấy. [RETOUR]

Nghệ thuật sống (tiếp theo)

Conquêtes chinoises: Nan Yue et Yelang (Version vietnamienne)


Version française

Các cuộc chinh phục của nhà Hán (Nam Việt và Dạ Lang)

Vào thời điểm Trương Khiên lãnh trách nhiệm tìm kiếm  các liên minh vào năm -126 để kềm kẹp quân Hung Nô thì họ lại tiếp tục thực hiện các cuộc tấn công mãnh liệt càng ngày nhiều hơn với hàng nghìn người Hoa chết hoặc bị giam giữ ở dọc theo biên giới (Dai, Yanmen hoặc Shang) ở miền bắc Trung Quốc khiến Hán Vũ Đế phải có biện pháp củng cố quyền lực và hậu phương và áp dụng một chính sách mới đối với những kẻ man rợ này. Kể từ bây giờ, các cuộc tấn công của quân Trung Hoa được thường xuyên hơn nhằm ngăn cản sự tập trung của quân Hung Nô ở dọc lãnh thổ Trung Quốc.

Cuộc thắng lợi  đầu tiên được diễn ra vào mùa thu -128 tại vùng Yuyang với Vệ Thanh (Wei Qing), người được xem là anh hùng mới của quân đội Trung Hoa. Tiếp theo là những cuộc chinh phạt rực rỡ và quyết định khác vào mùa xuân -121, do Hoắc Khứ Bệnh (Hua Qubing), con trai của chị cả của Vệ Thanh, một nhà lãnh đạo xuất sắc được xem là « nhà vô địch của quân đội » với danh hiệu  được Hán Vũ Đế ban tặng đặc biệt nhờ cách dùng chiến thuật mới để tấn công nhanh như sấm sét quân Hung Nô ở giữa lòng lãnh thổ của họ. Nhờ đó  quân Trung Hoa mới  tái chiếm lại được vùng  Ordos, một khu vực ở phía nam của sông Hoàng Hà, để thành lập các khu chỉ huy ở Shuofang và Wuyuan và di dân đến đây với mục đích mang lại  lâu dài một nguồn hầu cận đáng kể cho quân đội trong việc truy đuổi kẻ thù đến các khu vực khác xa xôi. Đế chế của Hán Vũ Đế có đủ phương tiện để thực hiện chính sách thuộc địa này với một dân số 50 triệu người có được vào thời điểm đó. Ước tính có hơn 2 triệu người Trung Hoa bị di chuyển  dưới thời kỳ cai trị của Vũ Đế  dọc theo biên giới phía bắc.  Chính sách này đã được có lợi vì những vùng di dân  nông nghiệp này đã trở thành những bức tường thành an toàn của Trung Quốc trong vài năm sau đó để  chống lại những “kẻ man rợ” này. Điều này làm chúng ta nhớ đến  chính sách của người Việt trong việc chinh phục Chiêm Thành và đồng bằng sông Cửu Long cũng như của người Hoa ở Tây Tạng ngày nay. Sự quấy rối không ngừng quân Hung Nô  phấn khích nầy như các con ong bị quấy rầy với các tổ của chúng, buộc Vũ Đế phải thay đổi chiến thuật bằng cách dành ưu tiên cho các mặt trận phía bắc ngay bây giờ và tạm thời từ bỏ mọi tham vọng lãnh thổ ở phía tây nam của đế chế ở vùng Vân Nam và vương quốc Nam Việt trước đây mà miền bắc Việt Nam thuộc về.

Nhờ chiến lược bất biến sau đây:

1°) Công kích và đẩy lùi quân Hung Nô càng xa  lãnh thổ của chúng nhờ dùng yếu tố bất ngờ.

2°) Lưu đày các dân bị nạn các lũ lụt hoặc những người bị kết án về các khu vực xâm chiếm thuộc về quân Hung Nô và tạo ra các đồn trú quân mới ở đó. Đây là trường hợp của các đồn trú quân Jiuquan, Dunhuang, Zhangye và Wuvei dọc theo hành lang Cam Túc.

 3°) Làm suy yếu  các lực lượng Hung Nô bằng cách dùng lá bài chia rẽ và dụ dỗ các đồng minh của quân Hung Nô mới bằng hệ thống cống nạp (tạo ra năm quốc gia đồng minh độc lập (hoặc shuguo) đóng vai trò là các vùng nằm giữa đế chế Trung Hoa  và quân thù Hung Nô dưới thời trị vì của Vũ Đế) .Do đó, ngài thành công trong việc kiềm chế đựợc đà tiến của quân Hung Nô hiếu chiến khiến buộc họ phải dời tổng hành dinh của họ  về gần hồ Baïlkal (Siberia) và nới lỏng được  quyền kiểm soát của Hung Nô ở  phương đông của vùng Turkestan.

Điều này cho phép Vũ Đế rảnh tay và có lại mộng  bành trướng ở phía Nam và phía đông-bắc nhằm đảm bảo thương mại và có các đồng minh khác vì Trương Khiên đã đưa ra có một tuyến đường trực tiếp để đến vương quốc Shendu (Ấn Độ) từ vương quốc Thục (mà bị Tần Thủy Hoàng chinh phục vào thời Xuân Thu (hay Chunqiu, 722-453 TCN). Việc suy luận này Trương Khiên đã có được trong thời gian ở Daxia (Bactriane), nơi mà ông đã khám phá ra  các sản phẩm của nước Thục (tre  nứa, vải vân vân…) được vận chuyển bằng con đường tiếp cận trực tiếp này. Vũ Đế  cố gắng sử dụng lại chiến lược tương tự mà ngài đã lựa chọn cho Hung Nô.

Sự thôn tính các vương quốc ở phương Nam

Lợi dụng sự bất hòa của giữa người dân Việt và cái chết của vua Triệu Anh Tề (Zhao Yingqi), Vũ  Đế tìm thấy có cơ hội để sáp nhập vương quốc Nam Việt vào đế chế của mình. Khi vị vua mới là Triệu Ái Đế (Zhao Xing) có 6 tuổi, việc nhiếp chính được giao cho mẹ của ông. Bà nầy là một phụ nữ người Hoa tên là Cù Thị (Jiu) và không bao giờ che giấu sự lưu luyến  của bà đối với quê hương cũ bởi vì bà không được ưa chuộng bởi các  người dân Việt bản xứ . Vũ Đế cố gắng mua chuộc bà nầy  bằng cách đề nghị một thỏa ước sát nhập vương quốc Nam Việt vào đế chế của mình để đổi lại bà được chức tước hoàng gia. Dự án này đã bị hủy bỏ do một cuộc đảo chính được tổ chức bởi thủ tướng Lữ Gia với sự ủng hộ của nguời dân Việt.  Vị hoàng hậu bội bạc này cùng  cậu con trai của bà, vị vua mới và các quan chức nhà Hán bị tàn sát bởi Lữ Gia và những người Việt ủng hộ  ông ta. Những người này cài đặt vị vua mới Triệu Dương Đế (Zhao Jiande) nhất  mẹ của ngài là một người Việt. Quá tức giận, Vũ Đế không thể để cho một sự sỉ nhục như vậy diễn ra mà không bị trừng phạt khi ngài có cơ hội chiếm đoạt dứt khoát một khu vực được biết đến nhờ  sự giàu có tự nhiên với các cảng Quảng Châu và Hepu nầy rất thuận lợi cho việc tiếp cận biển ở phương Nam. Theo các thương nhân người Hoa, kinh tế  ở Nam Việt phát triển rất  mạnh vì ngoài ngọc trai, sừng tê giác, mai rùa mà  lại còn có cả đá quý và các loài cây bản điạ hiếm có. Những sản phẩm kỳ lạ này có thể trở thành các sản phẩm thời trang cho triều đình nhà Hán.

Cuộc viễn chinh  quân sự do phục ba tướng quân Lộ Bác Đức chỉ huy với một trăm nghìn thủy thủ cùng các thuyền tháp được vận chuyển  đến đó để dập tắt cuộc nổi dậy ở Nam Việt. Ông ta được hỗ trợ trong nhiệm vụ này bởi Dương Bộc (Yang Pu) nổi tiếng có tính cách tàn nhẫn đối với các nạn nhân của mình tựa như con diều hâu săn mồi. Mặt khác, Lộ Bác Đức rất hào hiệp và dựa trên tên tuổi của mình mà mời quân thù ra  đầu hàng. Ông  ta đã thành công  thuyết phục được sự gia nhập của ngừời dân Việt  sau khi cuộc đụng độ quân sự kết thúc. Về phần Lữ Gia và vị vua trẻ Triệu Dương Đế, họ bị bắt vào mùa xuân -111 trong lúc chạy trốn. Đầu của họ được treo ở cổng phía bắc của  thành Trường An. Nam Việt được  biết đến  giờ nhờ có  uy thế làm bá chủ ở trong khu vực, sự thất bại nầy  được xem như là hồi chuông báo tử cho sự hy vọng của  các người dân Việt và buộc họ phục tùng nhà Hán từ đây. Đây là trường hợp của nước Tây Âu và vua của vùng Cangwu (Quảng Tây) cũng như vương quốc Dạ Lang nằm vào thời điểm đó giữa lãnh thổ Quý Châu  và Quảng Tây. Miền bắc Việt Nam cũng bị chiếm đóng bởi người Hoa. Họ cố gắng dựa trên lợi thế đế chiếm  đất đến tận Rinan ở An Nam.

Vũ Đế chia miền bắc Việt Nam thành ra hai quận: Giao ChỉCửu Chân. Thủ phủ hành chính của Giao Chỉ ban đầu ở Mê Linh sau đó được chuyển đến Lũy Lâu thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đối mặt với sự tan rã của nước Mân Việt và sự phản kháng của một bộ phận dân cư của Đông Việt mà Vũ Đế xem coi là nguồn  rắc rối trong tương lai, ngài không do dự dùng các biện pháp mạnh mẽ. Ngài  ban hành một sắc lệnh cho phép trục xuất tất cả dân cư  của vương quốc này vào năm 111 trước Công nguyên và đày họ đến một khu vực khác giữa sông Hoài và sông Dương Tử.

Nhờ việc chinh phục được các lãnh thổ của người Việt và Dạ Lang, Hán Vũ Đế tiếp xúc lần đầu tiên với Điền quốc và biết được tầm quan trọng của nước nầy. Không lâu sau, ông phái các sứ thần đến đó để thuyết phục vua Changqian của vương quốc nầy đến Trường An để tuyên thệ trung thành. Trước sự miễn cưỡng của Changqian, Hán Vũ Đế ra lệnh tiêu diệt tất cả các bộ lạc thù địch, đặc biệt là người dân Laojin và người dân Mimo đang cố gắng chặn con đường phía nam mà Trương Khiên đã đề cập để đến Daxia và Trung Á. Có hơn hai vạn quân thù bị giết hoặc bị bắt trong cuộc can thiệp quân sự này. Vua Changqian của Điền quốc  buộc lòng  phải xin đầu hàng cùng thần dân của mình. Thay vì bị trừng phạt vua Changqian đã được tha thứ vì tổ tiên của ông ta là người Hoa và nhận được ấn « Điền vương chi ấn » như vua của nước Dạ Lang để cai quản vùng đất tịch thu nầy.  Điền quốc được chuyển thành vùng chỉ huy  Yzhou vào năm -109 trước Công nguyên. Đây là cách mà Hán Vũ  Đế  kết thúc cuộc sáp nhập ở phiá tây nam Trung Quốc (Vân Nam). Theo nhà sử học Tư Mã Thiên, vấn đề quan hệ giữa người Trung Hoa và những người man rợ ở Tây Nam đã nảy sinh từ việc ai đó nhìn thấy một loại nước sốt « ju » ở Phiên Ngung (Canton) và người dân Daxia có gậy tre của bộ tộc Qiong để nhắc nhở lại một cách hài hước rằng Hán Vũ Đế  chỉ quan tâm buổi  ban đầu đến sự tồn tại của tuyến đường từ phía nam đến Daxia cho việc mậu dịch. Việc thực dân hóa miền nam bắt đầu diễn ra mạnh mẽ  nhưng ngài vẫn để cho tầng lớp quý tộc người Việt  địa phương có khả năng tự chủ hơn cũng như vua của nước Điền. Trong khi đó, để tách Hung Nô ra  khỏi  các người chăn nuôi ngựa Wuhuan và Donghu, Hán Vũ Đế không chậm trễ cho  quân đội đóng binh ở Mãn Châu. Trong khoảng thời gian từ năm 109 đến 106 trước Công nguyên, quân đội của  Hán Vũ Đế  đã chiếm đóng phân nửa ở phía bắc của bán đảo Triều Tiên và thành lập được  4 vùng chỉ huy ở đó: Letun ở phía tây bắc, Zhenfan ở phía tây, Lintu ở phía đông và Xuantu ở phía bắc.

 


Sau 54 năm  trị vì, Hán Vũ Đế qua đời vào năm 87 trước Công nguyên và để lại Trung Hoa ở trong một  tình trạng phá sản và suy sụp  cũng như vua Louis XIV của Pháp quốc  mười tám thế kỷ sau đó. Nếu các chiến dịch quân sự đưa  triều đại nhà Hán lên đỉnh cao của vinh quang và quyền lực nhưng  ngược lại làm cạn kiệt ngân sách của quốc gia. Sự khởi đầu của triều đại của Hán Vũ Đế  tương ứng với thời kỳ Dương mà dân chúng có cơm no áo mặc, đây là điều mà Tư Mã Thiên đã viết trong hồi ký lịch sử của mình. Các kho thóc cũng như các kho bạc công cộng cũng được lấp đầy. Đế chế đã ổn định. Tất cả điều này phần lớn là do nỗ lực của người tiền nhiệm Hán Cảnh Đế  (Jing Di) để cai trị trong suốt 17 năm trị vì theo nguyên lý của Đạo giáo: lãnh đạo với mức can thiệp tối thiểu (Wu wei er zhi). Các lao dịch và thuế má rất thấp.

Thật không may, sự xa hoa của triều đình cùng với chính sách  đối ngoại tốn kém đối với Hung Nô và các nước chư hầu (hệ thống triều cống) và chính sách thôn tính đã nuốt chửng tất cả tài sản cùng tài nguyên của đất nước. Điều này cho phép Dương chuyển qua Âm. Các quý tộc và quan chức độc quyền sở hữu các phần đất màu mỡ bằng cách mua  lại với giá rẻ từ các  nông dân nghèo đói khiến tạo ra một tình huống thảm khốc: người giàu càng giàu thêm, người nghèo càng nghèo thêm. Người dân ở thủ đô Lạc Dương sống phung phí và xấc xược và dùng toàn đồ gấm, ngọc trai và ngọc bích tinh xảo trong khi đó hoàn cảnh của người dân  nghèo trở nên tồi tệ hơn. Một số người thích trở thành nô lệ của tư nhân hoặc chính phủ. Thiên tai và lũ lụt cũng không  ngừng ở đất nước. Trong khi đó, các âm mưu và sự trác táng càng ngày gia tăng ở trong triều đình nhà Hán vào cuối thế kỷ thứ nhất. Quyền lực của triều đình suy yếu do các phe phái khác nhau, sự ganh đua giữa các phu nhân hoàng gia và các trò chơi của họ hàng, điều này cho phép Vương Mãng, một quan nhiếp chính đầy tham vọng lợi dụng thời cơ để đầu độc hoàng đế trẻ tuổi Hán Bình Đế  (9 tuổi) vào năm thứ 5 sau Công Nguyên và chiếm đoạt ngai vàng với sự giúp đỡ của bà dì mình, thái hậu họ Vương của đế chế. [TRỞ VỀ]

Lăng mộ của các hoàng tử Hán: đi tìm sự bất tử

 

Palais d’été (Di hoà viên, Bắc Kinh)

Bâti sous la dynastie des Jin (1115-1234), le palais a été sans cesse embelli et agrandi au fil des siècles.  Sous les Qing (1644-1911), il devint un superbe jardin luxuriant. Une grande partie du palais d’été fut détruite par les troupes franco-anglaises en 1860. C’est l’impératrice douairière Ci Xi (Từ Hi) qui prit l’initiative de reconstruire le palais en 1888 en crevant le budget initialement prévu et attribué à la construction navale.

Situé au nord-ouest de Pékin et dominé par la Colline de longévité et le lac Kunming, le palais couvre une surface de 2,9km2 dont les trois quarts sont occupés par le plan d’eau. On trouve dans ses 70.000m2 de surface construite, une grande variété de palais et de jardins.

 

Yihéyuán

Le palais d’été fut aménagé par l’empereur Qian Long (Càn Long), contemporain de Louis XV en 1750 dans le but de le transformer en un lieu de résidence pour sa mère. Plus tard, il fut témoin de la séquestration du jeune empereur Guangxu (Quang Tự) dans la salle Yu Lan Tang par l’impératrice douairière Cixi. Ayant appris que Guangxu, sous l’influence de Kang Youwei (Khang Hữu Vi en vietnamien ), se laissa convaincre d’entreprendre des réformes constitutionnelles, celle-ci n’hésista pas à fomenter avec le concours du commandeur Yuan Shikai, un coup d’état en 1898. Elle assuma dès lors la régence tout en arguant de l’incapacité de ce jeune empereur de gouverner. Guangxu fut emprisonné et isolé dans un pavillon de la cité interdite. Il mourut empoisonné par l’arsenic, la veille de la disparition de Cixi.

Qui a donné l’ordre d’assassiner Guangxu? Certains pensent que le donneur d’ordre pourrait être Cixi. Mais d’autres attribuent ce meurtre à Yuan Shikai car ce dernier a maltraité Guangxu durant son captivité. C’est une énigme à élucider pour les historiens.

Cung điện mùa hè

Quelques chiffres à retenir:

– 3000 édifices parmi lesquels on doit citer le pavillon des fragrances bouddhiques, la galerie couverte la plus longue du monde (720 mètres) avec plus de 14.000 dessins retraçant les grandes épisodes de l’histoire de la Chine, le plus grand bateau de marbre de la Chine.

– 420.000 arbres à tailler.

– 280.000 mètres carrés de pelouse à tondre.

– 290 ha pour son gigantesque jardin.

 

Tử Cấm Thành Bắc Kinh: phần 3 (Cité interdite Pékin)

Version française
cite_interdite_chine3

Tử Cấm Thành Bắc Kinh: phần 3

Đóng đinh trên các cửa, truyền thống nầy đã có từ lâu có từ thời nhà Tùy Đường (581-907). Riêng về cố cung thì trên bốn cửa chính  thì  đều có đóng đinh nhưng ngoài việc nầy,  chỉ có ngọ môn thì có thêm năm cổng còn các cửa khác thì chỉ có ba cổng.

Trừ cửa Đông Hoa Môn có 8 hàng ngang 9 hàng dọc đinh màu vàng ( 8*9=72)  với con số chẵn (số Âm) , tất cả cửa khác  đều có  9 hàng ngang và 9 hàng dọc  tức là 9*9=81, nghĩa là với con số Dương ( số lẻ). Qua việc dùng đinh đống cửa, ngoài chức năng cấu tạo và  trang trí, người ta còn nhận thấy  nó còn  thể hiện khía cạnh trang nghiêm và uy nghi của một chế độ phong kiến của thời đó.

Đinh cửa

Có rất nhiều câu hỏi về sự chọn lựa số Âm trên cửa phía Đông (hay là Đông Hoa Môn). Đây là một nghi vấn mà các sử gia chưa tìm được câu trả lời. Có người nghĩ rằng lúc an táng Gia Khánh Đế và Đạo Quang Đế thì phải  mượn cửa nầy để đem đi chôn. Vì thế cửa nầy thường được gọi là Qủi Môn. Có thể đây là sự giải thích hợp tình hợp lý vì với số Âm người qua đời mới về với Âm Phủ . Số lượng đinh đóng trên các cửa được cố định tùy theo chức vụ giai cấp của chủ nhân trong chế độ phong kiến.

Vì thiên tử là con của Thiên Đế (Trời) nên   số lượng phòng  trong cố cung  phải ít hơn số gian nhà mà Trời có trên thiên đình (10.000). 9999 là con số Dương và là con số mang tính cách vô tận ở Trung Hoa.  Theo cuộc điều tra vào năm 1973 thì  có ở cố cung tất cả 8704 phòng.

Riêng về màu vàng, trong Âm Dương Ngũ Hành, thì màu nầy thường được gán với hành  Thổ (hay đất)  được tọa lạc ở trung tâm  trong việc quản lý vạn vật và giám sát  bốn phương. Vì là màu của mặt trời ở giữa trưa, màu nầy rực rỡ chỉ thuộc về hoàng đế vì nó biểu hiệu  sự kính trọng và che chở của thiên đế. Có tục lệ không được dùng một số màu ở thời kỳ phong kiến: màu đỏ, màu vàng, màu xanh da trời.

img_3307

Lư hương

Ngược lại dân chúng được dùng: màu đen, màu trắng và màu xám. Bởi vậy không có chi ngạc nhiên khi thấy lại sự trọng dụng hai màu nổi bật nầy : màu đỏ tía và màu vàng  trong việc xây cất cung đình ở cố cung. Các vách tường thì màu đỏ tím còn các ngói  lưu ly  của cung đình thì màu vàng . Nhưng cũng có ngọai lệ đều có liên quan đến thuyết Âm Dương Ngũ Hành.  Đó là cung Wenyuan, nơi  có  thư viện Hoàng gia. Nơi nầy có mái nhà màu đen. Lửa là một vấn đề lo ngại ở cố cung. Đã bao lần lửa đựợc phát giác ở cố cung. Lần chót có lửa là lúc hoàng đế Quang Tự sắp thành hôn  còn một tháng với cô em họ Long Dụ. Đây là điềm báo không tốt cho cuộc hôn nhân.  Dựa lấy cớ nầy, thái hậu Từ Hy hành quyết lập tức hai thái giám phụ trách trong việc bố trí các lồng đèn.  Bởi vậy   màu đen tượng trưng nước,  được dùng ở cung Wenyuan trong việc phòng tránh hỏa họan và để bảo vệ các bộ sách ở thư viện. Có những gian nhà ở gần Đông Hoa Môn thì có mái nhà sơn màu xanh vì đây là nơi  ở của các hoàng tử.  Đấy cũng là màu xanh mà được gán cho phương đông trong ngũ hành.

[Trở về trang Tử Cấm Thành ( Bắc Kinh)]

Tử Cấm Thành Bắc Kinh: phần 2 (Cité interdite Pékin)

Version française


Cung Càn Thanh  đã bao lần là nơi  chứng kiến các âm mưu, các cuộc ám sát hay phản trắc dưới hai triều đại Minh Thanh. Hơn nữa, sau ngai vàng,  trên tấm bình phong, luôn luôn có treo một bức hoành   mà   hoàng đế Thuận Trị đề tự như sau: Quang minh chính đại. Còn thấy luôn cả lời bình luận  tôn vinh của người kế vị của ông , đó là hoàng đế Khang Hi. Đây là một kết cấu   tuyệt  vời , vượt qua cổ kim, còn  rạng rỡ và vĩnh cửu đáng làm tấm  gương học tập  cho hậu thế. Nhưng khốn  nổi sau  bức hoành nầy có bao nhiêu chuyện xung đột tiềm tàng,   tranh dành quyền hành ở trong  cung.

Trong thời gian 500 năm ngự trị của hai triều đại Minh  Thanh,  có nhiều biến cố đã xảy ra ở trong cung nầy. Trước hết là chuyện của hoàng đế Gia Tĩnh nhà Minh (1507-1567)  nổi tiếng hoang dâm và tàn ác không tả xiết được , súyt nửa bị chết ngạt bởi các cung nữ trong cung.  Lợi dụng ông ngủ say và rửa hận bởi cử chỉ hoang tưởng của ông, các cung nữ toa rập dùng dây  thừng thắt cổ ông trên long sàng.  Nhưng vì bị tố giác bởi một cung nữ trong nhóm với hoàng hậu nên hoàng đế được cứu sống. Các cung nữ đều bị hành quyết  tức khắc  luôn cả bà vương phi sùng ái của hoàng đế.  Rồi sau đó hoàng đế Thái Xương của nhà Minh (1582-1620) được biết dưới tên Chu Thường Lạc  chết đột ngột sau một tháng đăng cơ.  Người ta nghi ông  lạm dụng tình dục hay  bị  đầu độc.   Khiến làm triều đình lâm vào cuộc tranh giành quyền lực .   Vụ nầy được biết duới tên là Án Hồng Hoàn vì trước khi chết đột ngột,  hoàng đế có uống thuốc. Sau cùng hoàng đế áp chót của nhà Minh, con của Minh Quang Tông, Chu Do Hiệu  (1605-1628)  được biết với  niên hiệu  Thiên Hỷ (Tianqi) để  vuớng víu vào vụ Án Di Cung. Lợi dùng tuổ i nhỏ của hoàng đế, một vương phi của cha ông (vua Vạn Lịch),  Lý Tuyên Thi cố tình  thống chế Chu Do Hiệu . Bà cố  tình  ở lại Cung Càn Thanh và yêu cầu hoàng đế phong bà làm thái hậu để bà  có thể  điều hành triều chính.  Trước đòi hỏi và phản đối  mạnh mẽ của các quần thần, vua Thiên Hỷ ( Chu Do Hiệu) hạ chiếu bắt bà rời khỏi cung  và sống ở cung khác bị cháy vài tuần sau. Cuối cùng bà không bị chết  cùng cô con gái. Qua việc nầy , ai cũng nhận thấy có sự nhúng tay của hoàng đế tuy rằng có sự phản đối ở nơi ông.  Các sử gia thường tập hộp lại ba án trên đây dưới cái tên là  Vãn Minh Tam Án.

Dưới triều nhà Thanh,  có hai biến cố quan trọng. Mặc dầu Khang Hi được xem là một ông vua vĩ đại trong lịch sử Trung Hoa nhưng ông cũng gặp khó khăn trong việc lập thái tử nối ngôi vì có cuộc đấu tranh giành hoàng vị giữa các con của ông. Lúc đầu , ông phong cho Yinreng làm thái tử lúc mới hai tuổi sau đó Khang Hy đổi ý và chọn hoàng tử thứ 14 Dẫn Trinh làm ngưởi thừa kế.  Ông thầm kín  cất giấu  sau lưng bức hoành có bốn chữ  Quang minh chính đại môt cái hộp trong đó có di chiếu  « Truyền vị thập tứ tử  »  có nghĩa nhường ngôi lại cho thế tử thứ 14 vì Dẫn Trinh là hoàng tử được ông yêu chuộng.   Theo  truyền thuyết nói rằng,  khi Khang Hy đau nặng  thì Dẫn Trinh lúc đó đang viễn chinh ở vùng Tân Cương (Xinjiang) thì hoàng tử  Dẫn Chân ( Yingzheng ) lợi dụng thời cơ để lấy cái hộp và sửa chữa « Truyền vị thập tứ tử »  thành  » Truyền vị dư tứ tử  » bằng cách bỏ chữ « thập ». Nhờ vậy Ung Chính trở thành hoàng đế. Theo  bàn luận của người đời, Dẫn Chân còn chạy trốn ra vườn xem bệnh tình của Khang Hy mà trước đó ông có cho Khang Hy uống một bát  canh sâm. Theo các sử gia, Ung Chính có phần  trách nhiệm  trong cái chết đột ngột của Khang Hy  và vẫn tiếp tục là môt nghi vấn, một câu chuyện bàn tán của người đời.  Vừa lên ngôi dưới tên là Ung Chính, ông  liền diệt trừ hay lưu đày tất cả những người  có tiềm năng chống đối .  Sau khi đăng quang, để tránh việc thừa kế mà ông là người  thông hiểu và gian nan  trong cuộc tranh giành quyền lực,  ông  mới thiết lập một phương pháp khéo léo bằng viết chiếu chỉ người thừa kế sau nầy thành hai bản, một bản niêm phong để trong hôp  cất sau bức hoành « Quang Minh chính đại » còn một bản ông mang trong người.  Khi ông lâm chung thì  có thể kiếm di chiếu ở trong hộp và  so sánh với bản ông có trong người thì sẻ nhận ra được người kế thừa hoàng vị .  Như vậy không có sự phản kháng nào cả. Phương pháp lập thái tử vẫn có tác dụng đến đời vua Hàm Phong nhưng vì Hàm Phong chỉ có một đứa con duy nhất  Đồng Trị với Từ Hy hoàng hậu nên phương pháp nầy hết còn hiệu lực. Để củng cố chức vụ nhiếp  chính, Từ Hy thái hậu ủy bỏ phương pháp nầy bằng cách tấn phong lần lượt  những  » hoàng đế con  nít » đó là Quang TựPhố Nghi.

[Tử  Cắm Thành (Bắc Kinh): Phân 3]

 

 

 

 

Tử Cấm Thành Bắc Kinh (Cité interdite Pékin)

Version française

Tử Cấm Thành Bắc Kinh (Phần 1)
Sau khi đánh bại người cháu Chu Doãn Văn (hay là Kiến Văn Đế)  mà cái chết vẫn còn là một ẩn ngữ cho các sử gia, hoàng đế thứ ba của nhà Minh, Chu Đệ (hay  là Vĩnh Lạc Đế)  quyết định dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh  âu cũng vì lý do chiến lược. Trước mối đe dọa trầm trọng Mông Cổ cho đế chế, ông nghĩ  đây là một giải pháp mau lẹ nhất trong việc  đối phó  với các cuộc đột kích. Ông ủy thác cho  kiến trúc sư  trưởng, thái giám  Nguyễn An gốc Việt,  lo việc xây cất Tử Cấm Thành trên thành phố điêu tàn Khanbalik của nhà Nguyên được dựng bởi Hốt Tất Liệt  vào năm 1267 và được miêu tả bởi Marco Polo trong cuốn sách mang tựa đề là « Bản mô tả thế giới » vào năm 1406 theo một giao thức chỉ định. 200 ngàn công nhân được tuyển dụng trong công tác vĩ đại nầy,  nó kéo dài có 14 năm.

Cố Cung

Ngoài sự tham gia của  một số lớn các tỉnh trong việc cung cấp vật liệu: đá hoa của Xuzhou (Giang Tô), gạch của Linqing (Sơn Đông),  đá từ các công trường Fangshan và Panshan không cách xa bao nhiêu Bắc Kinh, gỗ làm sườn nhà (nanmu) đến từ Tứ Xuyên, các cột thì ở Qúi Châu và Vân Nam vân vân…., thì còn cần phải sùng tu con kênh lớn hay Đại Vận Hà  có từ thời nhà Tùy. Con kênh nầy rất cần thiết để chuyên chở các vật liệu và các thực phẩm đến kinh đô Bắc Kinh. Từ năm 1420 đến 1911 có tất cả 24 hoàng đế của hai triều đại Minh  Thanh cư trú ở đây.  Vị  hoàng đế cuối cùng  ở cố cung nầy đó là hoàng đế Phố Nghi (Pu Yi ) của nhà Thanh.
   

Có nhiều câu hỏi về việc giữ lại và bảo tồn kinh thành bởi  quân Thanh khi họ cướp được chính quyền ở Trung Hoa vì cho đến giờ nầy , trong truyền thống Trung Hoa thì kẻ chiến thắng thường ủy phá triệt để tất cả cung điện thuộc về các triều đại trước họ. Có thể xem gương của Chu Nguyên Chương còn được gọi là Hồng Vũ Đế.  Ông nầy  đã ra lệnh cho quân lính của ông phá ủy hoàn toàn kinh thành của đại hản ở Bắc Kinh và dời đô về quê quán của ông ở Nam kinh. Không hiểu lý do gì thúc đẩy mà nhà Thanh giữ lại vẹn toàn kinh thành của nhà Minh. Mặc dầu  các hoàng đế nhà Thanh có cố gắng trong việc canh tân  ở  cố cung, xây cất thêm không ít  các cung điện  nhưng cố cung nầy vẫn giữ mãi mãi dấu  ấn của người sáng lập ra nó, đó là hoàng đế  Vĩnh Lạc (Chu Đệ). Một trong ba hoàng đế  nổi tiếng  cùng Hán Vũ ĐếĐuờng Thái Tôn trong lịch sử Trung Hoa,  Chu Đệ phong thái giám  Trình Hoà làm đô đốc  để thống lãnh đội hải thuyền thám hiểm “Tây Dương” mà được kể lại sau nầy bởi bạn đồng hành Mã Hoàng trong quyển sách mang tên là Ying-yai Sheng-lan (Merveille des océans). Lợi dụng sự soán đoạt ngôi của Hồ Qúi Ly, Chu Đệ thôn tính Việt nam vào năm 1400. Không có 10 năm kháng cự  của người dân Việt với Lê Lợi, Việt Nam có thể chắc là một tỉnh lị của Trung Hoa ngày nay cũng như Vân Nam hay Quảng Đông. © Đặng Anh Tuấn


1 Porte du Midi (Ngọ Môn)

2 Tiền Triều (Waichao)

  • Điện Thái Hoà (Taihe)
  • Điện Trung Hoà (Zhonghe) 
  • Điện Bảo Hoà  (Baohe) 

3  Hậu tẩm (Neichao)

  • Cung Càn Thanh (Qianqing)
  • Điên Giao Thái (Jiaotai)
  • Cung Khôn Ninh (Kunning)

4) Six Palais de l’Ouest (Lục viện)

5) Six Palais de l’Est (Luc viện)


Cố cung thật sự là một thành phố  trong một thành và được xây dựng trên vùng đất hình chữ nhật  có chiều dài 960 thước trên 750 thước chiều ngang, cố cung chia ra hai phần: phần phiá trước gọi Tiền triều (waichao) dành cho cuộc sống nghi lễ ( lễ đăng quang, lễ tấn phong  và lễ cưới hoàng gia) còn phần sau được gọi là hậu tẩm dành cho vua và gia đình.  Có 3 điện ở tiền triều [2]: điện Thái Hoà, điện Trung Hòa và điện Bảo Hòa  hợp thành quần thể Tiền Tam Điện án ngữ  và ở hậu tẩm [3] thì có  cung Càn Thanh, điện Giao Thái và cung Khôn Ninh được bao xung quanh mỗi bên ở phiá Đông và phía Tây bởi  6 lục viện [4] [5]. Thường nói cố cung  có Tam Cung Lục viện  là  vậy.

Khi  đến tham quan cố cung, du khách buộc lòng phải đi qua cửa Ngọ Môn. Đây là cửa chính của cố cung.  Một thời, cửa nầy đã từng chứng kiến bao nhiêu lần các nghi lễ có liên quan đến việc xuất binh  hay trở về vinh quan của quân  hoàng gia và  sự công bố một âm lịch mới. Nó là cửa duy nhất  hay nói đúng hơn là một  kiến trúc  hình   chữ U, cao 8 thước và trên đó 5 toà nhà có mái nhà đôi và  có năm cổng  nhưng cổng  giữa chỉ dành cho vua. Quần thể  kiến trúc nầy thường được gọi Lầu Ngũ Phụng vì nó có dáng hình con phụng đấy. Sau  ngọ môn thì có một sân rất rộng mà được con sông giả tạo có nước  vàng óng ánh tên là Neijindhuihe băng qua. Con sông  nầy có 5 cầu được trang trí rất đẹp, cầu ở giữa dành cho hoàng đế. Còn  dọc theo sông,   hai bên bờ thì có  những lan can bằng đá hoa chạm khắc rồng phượng.

Tiền triều được hưởng khí Dương nên các điện nơi nầy thường được  xây cất cao hơn các cung điện ở hậu tẩm nhờ có   môt nền tảng chung khổng lồ  ba bậc  được chạm  bằng đá ngọc thạch  được  tăng cao lên khiến làm nổi bật không những vẻ lộng lẫy của các điện ở tiền triều  mà luôn cả tính chất uy phong lẫm liệt  của khí Dương.   Cũng như ở hậu tẩm thì thụ hưởng khí Âm nên các cung ở đây đều thấp cả  chỉ có  cung Càn Thanh nơi vua  làm việc  và bàn việc triều chính với các quan đại thần  được hưởng khí dương  nên cao hơn hết so với các cung kia. Ở nơi nầy  mới thấy được một  tỷ dụ điển hình đó là Dương trong Âm mà thường nghe nói. Giữa cung Càn Thanh  (Qianqing ) nơi mà vua ở  và  hưởng khí Dương và cung Khôn Ninh, nhà nghỉ của hoàng hậu thụ khí Âm thì có điện Giao Thái (Jiaotai).   Vì được xem là  gạch  nối của hai  cung Càn Thanh và Khôn Ninh , điện Giao Thái  biểu hiện  không những sự hài hòa hoàn hảo  của âm dương   mà còn thể hiện thái bình ở  trong cố cung. Tất cả cung đình ở cố cung đều hướng về phiá Nam để thụ hưởng những lợi ích của khí Dương.

Dựa trên  phong thủy truyền thống của Trung Hoa, cố cung  có ở phiá bắc một cái núi gỉả tạo  Jinshian và vạn lý trường thành để  tránh những  tác động tai hại của khí Âm đến từ phương Bắc (gió lạnh, hung nô, ma qủy vân vân ).  Còn ở phía nam thì nhờ các hố đầy nước và  con sông gỉả tạo có nước vàng óng ánh  (Neijindhuihe)   nên làm lưu thông  được khí (qi) chôn vùi  trong đất  mà  nó khó phân tán được nhờ có những cấp bậc  được tạo ra ở  trên mặt  đất. Đó là cách thức bố trí mà được trông thấy trong việc xây cất  cái nền tảng 3 bậc  cho ba điện dành cho nghi  lễ  ở tiền triều. Nhờ vậy  khí (Qi) được hướng dẫn lên xuống  qua các điện để phá vỡ đi sự đơn điệu  của mặt đất  bằng phẳng và đi đến thượng đỉnh nơi mà có ngôi vua ở Điện Thái Hoà. Vì nối gạch giữa Trời và Đất, vua ngồi  thường  ngó về  hướng nam, sau lưng là hướng  bắc, bên trái là  hướng đông và bên phải là hướng tây. Mỗi phương được bảo trợ bởi một  linh vật:  chim hồng nhạn phiá nam, rùa đen phía bắc, rồng xanh (thanh long) phiá đông và cọp trắng (bạch hổ) phía tây. Ở trần nhà,  nơi  trục đứng  của ngai vàng và trên đầu thiên tử thì có vòm trời  trang trí  vô cùng đẹp được thể hiện qua một ô lõm trong đó có  hai  rồng  vàng chạm khắc đang đùa giỡn với một ngọc trai kếch xù. Chính ở nơi nầy, khi đến tham quan, người du khách tự hỏi có bao nhiêu con rồng được dùng trong việc trang trí của điện nầy vì nơi nào cũng có con linh vật nầy cả. Theo vài tại liệu, thì có tất cả 13844 con rồng đủ loại và đủ tầm vóc khiến  làm nơi nầy có một vẻ long trọng và trang nghiêm chưa bao giờ có ở các điện khác. 

Nằm trên hướng  trục chí ( nam bắc),  cố cung  được trang trí  tuân theo  qui tắc luật  số và   màu sắc.  Việc  chọn lựa các con số Dương ( hay số lẻ)  là việc thông  thường được trông thấy  qua cách  bố  trí  các thần thú  trên các mái hiên  cung điện hoặc là  việc phô trương  hoa mỹ các cửa của cố cung với các đinh màu vàng  hay là số gian   mà  cố  cung có.  

 



Số lượng thần thú    trên  góc mái hiên  của  cung điện  có thể  gồm từ  1 đến 10 . Tùy theo vai trò  quan trọng  quy mô của cung điện  và tùy theo đẳng  cấp  của chủ nhân trong triều đình mà con số  nầy nó  có thể thay đổi. Số lượng thần thú nầy được chỉ định trong bộ sách  ghi chép lại   tất cả  những điển pháp  dưới nhà Thanh  và được biết với cái tên là  Đại Thanh Hội Điển (Da Qing Hui Dian).  Các thần thú   nầy được sắp xếp theo số lẻ  1-3-5-7-9   trên  góc mái hiên    và theo thứ tự rõ ràng như sau:  rồng, phượng, sư tử, thiên mã, hải mã, áp ngư, đấu ngưu, toan nghê, hải trãi và khỉ. Luôn luôn dẩn đầu các thần thú  nầy bởi một vị tiên cởi gà hay phượng thường đựơc gọi là hoàng tử Min. Gần đó có thêm một con thú có sừng đó là con thứ chín của con rồng. Mỗi thần thú biểu hiện  điều lành hay đức tính nên được quý chuộng và sùng bái.Tuy nhiên có một việc ngoài lệ đó là điện Thái Hoà có đến 10  thần thú trên  các góc mái hiên  vì ở nơi nầy hoàng đế  tổ chức các lễ hội quan trọng (như lễ tấn phong, lễ cưới, lễ  sinh nhật, lễ  tất niên vân vân….). Việc sử dụng các con thần thú  nầy cốt yếu là để bảo vệ các cung điện chống lại ma qủy và biểu dương quyền lực và uy thế của hoàng đế. Ngược lại, cung Càn Thanh dù là nơi  hoàng đế làm việc và bàn việc triều chính với quan thần nhưng không có một vai trò quan trọng như điện Thái Hoà nên chỉ có 9 thần thú trên góc mái hiên  mà thôi. Còn cung Khôn Ninh thì tìm thấy  7 thần thú trên góc mái hiên điện vì đây là cung của hoàng hậu  lúc thời nhà Minh. Nhưng nơi nầy cũng là nơi   tế lễ quỷ thần Tát Mãn giáo  phù hợp với địa vị của Âm trong Dương dưới thời nhà Thanh nhất  là nên nhớ trước khi thôn tính Trung Hoa, nhà Thanh vẫn gốc gác người Mãn châu nên vẫn giữ tôn  giáo của họ.[Tử Cấm Thành: Phần 2]

 

 

 

Chronologie des Han orientaux (Niên đại nhà Đông Hán)

 

Version vietnamienne 

Dans les territoires conquis par les Han, notamment dans le Sud de la Chine, la sinisation continua à battre son plein. C’est pourquoi les révoltes se succédèrent d’abord dans le royaume de Dian (86, 83 av. J.C., 14 apr. J.C., de 42 à 45 ). Elles furent réprimées avec sévérité. Ces soulèvements étaient dus en grand partie aux exactions des fonctionnaires Han et aux comportements des colons chinois de prendre possession des sols fertiles et de refouler les populations locales dans les coins perdus de leur territoire. De plus, ces dernières devaient adopter la langue, les coutumes, les croyances religieuses des fils des Han.


La révolte des deux sœurs Trưng Trắc et Trưng Nhị

 En l’an 40, une grave rébellion éclata dans la province Jiaozhou (ou Giao Châu en vietnamien) incluant à cette époque une partie du territoire de Kouang Si (Quảng Tây) et de Kouang Tong (Quảng Đông). Elle fut menée par les filles d’un préfet local, Trưng Trắc (Zheng Cè) l’aînée et Trưng Nhị (Zheng Èr) sa cadette. Comme le mari de l’aînée Shi Suo (Thi Sách) s’opposa à la politique d’assimilation chinoise menée brutalement par le proconsul chinois Tô Định (Su Ding), ce dernier n’hésita pas à l’exécuter pour faire un exemple contre les insurgés yue, notamment les Vietnamiens. Cette exécution exemplaire révolta les soeurs Trưng et déclencha immédiatement le mouvement d’insurrection dans les territoires yue. Les deux sœurs Trưng réussirent à y enlever 65 citadelles dans un laps de temps très court. Elles se proclamèrent reines sur les territoires conquis et s’établirent à Meiling (ou Mê Linh). En l’an 41, elles furent vaincues par le général Ma Yuan (Mã Viện, Phục Ba Tướng Quân) (Dompteur des flots) et préférèrent le suicide à la reddition en se jetant dans le fleuve Hát Giang. Elles devinrent ainsi le symbole de la résistance des Vietnamiens. Elles continuent à être vénérées aujourd’hui non seulement au Vietnam mais aussi dans certains endroits des territoires Yue de la Chine (Kouangsi et Kouang Tong). Ma Yuan commença à appliquer une politique de terreur et de sinisation à marche forcée en plaçant à tous les échelons de l’administration, des hommes de confiance chinois et en imposant le chinois comme langue officielle dans tout le territoire des Vietnamiens. C’est la première domination chinoise durant presque 1000 avant la guerre de libération entamée par le général Ngô Quyền. Entre-temps, Guangwudi réussit à apporter la prospérité et la stabilité dans son empire en ramenant l’impôt du dixième au trentième des récoltes et des bénéfices. Après sa mort, son fils, analogue à Han Wudi, l’empereur Mingdi poursuivit la politique d’expansion en lançant une offensive contre les Xiongnu septentrionaux dans le but de libérer les états d’Asie centrale de la tutelle de ces derniers et de rétablir au profit de la Chine la sécurité de la route de la Soie. Le général Ban Chao (Ban Siêu), frère de l’historien Ban Gu de cette époque, fut chargé de cette expédition militaire. Il réussit à atteindre la mer Caspienne et à soumettre les Yuezhi grâce au concours des Kusana.

À partir de l’an 91, la Chine de Mingdi contrôla les pistes caravanières de la route de la Soie dans le bassin de Tarim. Par cette route, les envoyés de Mingdi ont ramené de Tianzu (Tây Vực) les effigies de Bouddha après que l’empereur l’aurait vu dans son rêve. Le bouddhisme commença à s’introduire ainsi en Chine avec l’établissement du temple du Cheval Blanc (Chùa Bạch Mã). La Chine était séparée seulement de l’empire romain (Da Qin) par le royaume des Parthes.(Perse antique). Malgré ses exploits territoriaux, Mingdi (Minh Đế) n’a pas laissé dans l’historiographie des Han l’image d’un brillant empereur comme son père Guangwudi ou son fils Zhandi (75-88) paré de toutes les vertus car sous son règne, une révolte paysanne eut lieu en l’an 60 à cause du poids des corvées, des travaux publics pour la consolidation des digues du fleuve jaune et de la construction du nouveau palais du Nord jugée démesurée et dispendieuse. Manquant d’envergure, les successeurs de Zhandi étaient incapables de suivre la voie de leurs prédécesseurs. Ils devinrent les jouets des intrigues de cours menées par les eunuques et les fonctionnaires lettrés tandis que dans les provinces, les propriétaires fonciers commencèrent à accaparer les prérogatives gouvernementales et à monter des armées privées. La dislocation de l’empire des Han devint de plus en plus inévitable. En l’an 189, le massacre de 2000 eunuques ordonné par le militaire Yuan Shao (Viên Thiệu) illustra bien le désordre dans la cour des Han. Cette tuerie fut suivie ensuite par la destitution de l’empereur Shaodi (Hán Thiếu Đế) par le cruel général Dong Zhuo (Đổng Trác). Cela aboutit à une période de troubles et de désordres politiques où chacun des militaires tenta sa chance pour accaparer l’empire. Trois généraux, Cao Cao (Tào Tháo), Liu Bei (Lưu Bị) et Sun Quan (Tôn Kiên) sortis du lot de ces militaires et rendus célèbres par leurs victoires, se partagèrent désormais presque d’un siècle, l’empire des Han. C’est la fin de l’état centralisé et le début de la période des Trois Royaumes (Tam Quốc).

Chronologie des Han orientaux (Đông Hán)

  • 25-57: Règne de Guangwudi
  • 57-75: Règne de Mingdi
  • 75-88: Règne de Zhandi
  • 88-106: Règne de Heidi
  • 106: Règne de Shangdi
  • 106-125: Règne de Andi.
  • 125: Règne de Shaodi.
  • 125-144: Règne de Chongdi.
  • 145-146: Règne de Zhidi.
  • 146-168: Règne de Huandi.
  • 168-189: Règne de Lingdi
  • 184 Révolte des turbans jaunes
  • 189: Destitution de Shaodi
  • 189-220 Règne de Xiandi.
  • 190: Montée et puissance du général Cao Cao (Tào Tháo)
  • 220 Mort de Cao Cao et de Xiandi.
  • Fin de la dynastie des Han
  • 220-316: Période des Trois Royaumes (Tam Quốc)

C’est une dynastie qui au bout de quatre siècles (de 206 avant  J.C. à 220 après J.C.) de son existence, a ouvert la porte de son empire au confucianisme. Étant une doctrine philosophique, celui-ci a laissé à la Chine d’aujourd’hui un héritage spirituel et moral ne cessant pas d’avoir une influence notable sur  des millions d’Asiatiques. C’est aussi une époque riche en événements et en innovations artistiques et scientifiques dans une Chine à la fois rayonnante et conquérante. C’est pour cela que les Chinois se sentent plus que jamais, être les Fils des Han car ces derniers leur donnent un moment essentiel de la formation et du rayonnement de leur identité. [RETOUR]