Con đò (Le sampan)

 

Version française

Tình nào thổn thức đêm dài
Đò nào bến cũ tháng ngày tiếc thương
Bao năm chồng chất tóc sương
Sông nào đãi hết tỏ tường với ai

Việt Nam là một vùng  đất có một hệ thống sông ngòi chặn chịt nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy ở nơi nầy có sự phổ biến và sự đa dạng của các thuyền bè mà được người dân Việt sử dụng trong các cuộc giao thông đường thủy: từ những chiếc thuyền  nhẹ và nhỏ nhất đến các thuyền  lớn mà được tìm thấy cho đến giờ  ở các nước láng giềng như Trung Quốc hoặc Nam Dương. Qua các chiếc thuyền đóng này, mới thấy được có sự ảnh hưởng của các nước ngoài đáng kể như ở miền Bắc với người Trung Hoa còn ở miền Nam Việt Nam thì với người Nam Dương, Ấn Độ và ngay cả với người Tây Phương. Ảnh hưởng này nó được thể hiện rõ ràng nhất là ở miền Trung Việt Nam, vì nơi nầy  cho đến thế kỷ 13 là vùng đất của những người Viking ở châu Á. Đấy là những người Chămpa mà nền văn minh của họ bị suy tàn trước cuộc nam tiến của người dân Việt. Tuy nhiên trải qua kinh nghiệm sống sâu sắc trước các cuộc bão tố thường xuyên ở các  vùng bờ biển, người dân Việt có được ý thức quan sát nên biết cách kết hợp sự hài hoà  tất cả dữ liệu của các kỹ thuật khác nhau ở nước ngoài  để rồi thực hiện được một cách mỹ mãn  những chiếc thuyền dễ điều khiển hơn các mẫu được trông thấy ở Trung Quốc, Mã Lai hoặc Ấn Độ, như ông  P. Paris đã từng lưu ý lại trong cuốn sách của ông mang tựa đề « Nghiên cứu sự quan hệ của bốn chiếc thuyền Đông Dương, BIIEH, 1946 ». Vì sự khắc nghiệt của thiên nhiên và cuộc đấu tranh hầu như vĩnh cửu chống lại Trung Hoa, người dân Việt buộc lòng tập trung nỗ lực chinh phục các đồng bằng. Tự giam mình trong chính sách biệt lập được phát huy mạnh mẽ ở Viễn Đông thời đó và thêm vào đó có sự hiện diện gần như thường trực của các tàu nước ngoài ở các hải cảng  như Hội An, Đà Nẵng, Sài Gòn, vân vân … khiến người dân Việt không thấy có lợi ích nào để ưu đãi sự vận tải hàng hải mặc dù họ được xem như là những người thủy thủ khéo léo nhất ở Viễn Đông. Trung Hoa đã công nhận  sự ưu thế của họ ở trên sông nước. Một ông quan cao cấp Trung Hoa thời nhà Tống, Bao Chi, đã có lần thông báo chuyện nầy qua một  bản báo cáo bí mật mà ông  có dịp trình lên cho  hoàng đế nhà Tống. Hầu hết các cuộc chiến thắng của người dân Việt chống lại Trung Quốc đều được diễn ra ở trên sông biển.

Người Việt Nam có thói quen  sử dụng thuyền làm phương tiện vận chuyển lương thực hay quân lính, đây là sự nhận xét của cha Prévost trong cuốn « Histoire des Voyages »  vào năm 1751 dựa trên sự mô tả của Samuel Baron được  xuất bản năm 1732. Hải quân Việt Nam chỉ được đạt đến đỉnh cao vào nửa đầu thế kỷ 19. Đó là thời kỳ vua Gia Long, được các trung úy người Pháp Jean-Baptiste Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng), Philippe Vannier (Nguyễn Văn Chấn), vân vân…giúp đỡ, đánh bại  quân Tây Sơn ở Qui Nhơn  nhờ có hải quân  hoàng gia bao gồm một trăm thuyền buồm lớn từ 50 đến 70 mái chèo, súng đại bác và súng bắn đá  cùng ba tàu lớn  đóng theo phong cách  Âu Châu (Phénix (tàu Phụng), Aigle (tàu Đại Bàng) và Dragon-Volant (tàu Long)). Không hơn ba tháng ở xưởng tàu, các tàu nầy được đóng một cách khéo léo  mà cha Lelabousse đã lưu ý lại  trong báo cáo của ông đề ngày Nha Trang, ngày 24 tháng 4 năm 1800.

Để xin được thụ phong tước vị làm vua ở phương Nam với hoàng đế Trung Quốc, vua Gia Long đã gửi đi vào năm 1802 nhà thơ vĩ đại Trịnh Hoài Đức. Ông nầy là  người đại biểu đầu tiên của Việt Nam dùng đường biển để đi đến Bắc Kinh. Thật không may, thời kỳ hoàng kim nầy chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngũi bởi vì những người kế vị của vua Gia Long, được các quan lại Nho giáo phụ tá và vướng vào chính sách ngu dân, tiếp tục áp dụng chính sách cô lập đất nước một cách trầm trọng hơn nửa mặc dù có giác thư của học giả hiện đại Nguyễn Trường Tộ. Nhờ thế hải quân Pháp mới có dịp  thành công thả neo vài chục năm sau ở vùng biển Vietnam sau khi đánh chìm ở hải cảng Đà Nẵng (Tourane) năm chiếc thuyền bọc thép đầu tiên của hạm đội Việtnam vào ngày 15 tháng 4 năm 1847. Mặc dù người dân Việt không xem trọng  chuyện vận tải hàng hải, nhưng dầu vậy họ cũng dùng đủ mọi phương tiện trong việc  đóng thuyền. Có rất nhiều loại thuyền khác nhau được trông thấy và di chuyển dễ dàng hàng ngày ở trên sông biển vì ngoài  rừng ngập mặn được xếp hạng thứ hai sau Ba Tây trên thế giới (rừng U-Minh 1000 km2 ) ở bán đảo Cà Mau, Việt Nam còn có nhiều kinh rạch, các con sông cái như sông Hồng và sông Cửu Long và cả ngàn con sông nho nhỏ ( phụ lưu và phân lưu). Hơn nữa mạng lưới giao thông Vietnam vẫn còn thiếu thốn vào thời điểm đó.  Các chiếc thuyền của Việt Nam được phân chia ra thành hai loại:  một loại được đan với những thanh tre và được phủ lên bên ngoài với một lớp sơn mài (thuyền nan) và một loại khác được làm với các thân cây hay  hay đóng bằng gỗ (thuyền gỗ). Về loại thứ nhất, nếu là thuyền nhỏ thì thường được gọi là thuyền câu. Đấy là một chiếc thuyền rất nhỏ, có thể chứa được một người. Nếu chiếc thuyền nó nhẹ có kích thước tròn xoe, nó được gọi là « thuyền thúng » và được sử dụng thường xuyên bởi các ngư dân ở miền Trung Việt Nam.

 
img_3005

Thuyền thúng này nó có từ  thế kỷ thứ 10. Dương Vân Nga, người con gái của đất Hoa Lư, được nổi tiếng giỏi  chèo thuyền thúng này. Nhưng hôm thi đấu người thủ lĩnh của một nhóm trai tráng đối thủ ở trong làng, Đinh Bộ Lĩnh đã thành công làm bất động chiếc thuyền thúng của nàng bằng cách đục thủng thuyền qua một cây sào. Nhờ chiến thắng này  anh họ Đinh chinh phục được không những sự ngưỡng mộ mà  luôn cả tình yêu của Dương Vân Nga. Chiếc thuyền thúng này giúp sự vận chuyển mau lẹ  quân lính  qua các đầm lầy và  các kinh rạch nhỏ và đem lại cho  vợ chồng Dương Vân Nga và Đinh Bộ Lĩnh vài năm sau đó một chiến thắng vẽ vang  khi  đối phó  với  Trung Hoa. Còn loại thứ nhì, thành phần cơ bản vẫn là cây gỗ. Có vô số thuyền khác nhau nhưng nổi tiếng và được người dân Việt trọng dụng nhiều nhất là thuyền tam bản hoặc thuyền có ba ván.  Thuyền nầy thường được dùng để vượt các kinh rạch hay dùng làm đò ngang. Hầu hết những người chèo loại thuyền nầy là các cô gái trẻ. Đó là lý do tại sao có  rất nhiều câu chuyện tình yêu từ những chiếc thuyền này. Chúng ta thường được nghe nói rất nhiều về các  câu chuyện nầy,  nhất là về  vua Thành Thái với  cô lái đò. Người Vietnam hay có thói quen thường dùng đò ngang để sang sông lúc còn trẻ, một thời mà cầu cống còn hiếm hoi. Có lẽ là những lúc đó mà người khách quá giang có thể cảm thấy áy náy, nhớ lại các kỷ niệm và có những cảm xúc mãnh liệt khi có dịp trở lại bến sông. Anh ta cảm nhận bất lực  khi biết rằng cô lái đò xinh tươi duyên dáng mà anh ta tiếp tục có sự cảm tình riêng biệt và lo lắng cho số phận,  nay không còn ở đó nữa. Có lẽ, cô ấy bây giờ  đã làm mẹ của một gia đình  hay là sang thế giới bên kia. Cô không còn ở đó để chào đón anh với nụ cười duyên dáng và khéo léo. Anh cũng  không còn có dịp để nghe lại  điệp khúc của cô và nhìn thấy hai tà áo dài phất phơ trong gió, nhẹ nhàng  bay bay khi sang sông. Chính trong bối cảnh bất thường này, anh cảm thấy lòng nặng trĩu không thể diễn tả được. Anh cảm nhận có lỗi  vì đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội để tìm thấy lại bến đỗ, dòng sông, quê hương và quên đi từ lâu nay sự quyến rũ vĩnh cửu của con đò và Việt Nam trước kia.

Nhà đạo diễn nổi tiếng nhất hiện nay ở Việt Nam, Đặng Nhật Minh, không ngần ngại thể hiện trường hợp ngược lại, một tình yêu kín đáo của cô lái đò trẻ sống  ở trên sông Hương, với công chúng nước ngoài và Việt Nam qua bộ phim của ông mang tựa đề « Cô gái trên sông (1987)». Đây là câu chuyện về  cô lái đò tên Nguyệt.  Dù tính mạng bị đe dọa, Nguyệt đã không ngần ngại cứu một chàng  thanh niên bị thương  mà cảnh sát miền nam Việtnam được biết đến bởi các hoạt động phản động của anh ta trong thời chiến tranh. Cô cố gắng giấu anh ta  trong  thuyền của mình. Một khi hòa bình được trở lại, chàng trai trẻ này trở thành một cán bộ cộng sản quan trọng. Cô gái nầy cố gắng tìm lại anh nầy vì cô vẫn tiếp tục giữ tình cảm sâu đậm với anh. Thật không may, cô cảm thấy đau khổ và bị phản bội vì anh chàng này giả vờ phớt lờ cô và không muốn nhớ lại thời gian khó khăn của cuộc đời mình. Cô cố gắng lập lại cuộc đời  của mình với người yêu cũ Sơn mà cô đã từ chối vài năm trước và người nầy đã bị đi học tập vài năm ở trại cải tạo vì anh đã sai lầm gia nhập quân đội miền Nam Việt Nam.Mặc dù được đóng với các vât liệu giản dị và tầm thường, các đò ngang vẫn tiếp tục quyến rũ người dân Việt. Họ không ngần ngại trọng dụng nó trong cuộc sống hằng ngày mà còn nhắc đến nó qua các bài hát và các bài thơ.

Những tác phẩm như « Con Thuyền Không Bến » của Đặng Thế Phong và « Đò Chiều » của Trúc Phương từng có niên đại từ nhiều thập kỷ và nhiều thế hệ, vẫn  tiếp tục được sự yêu chuộng và thể hiện  được  sự gắn bó sâu sắc của tất cả người dân Việt với con đò. Còn những bài thơ miêu tả các con đò, chỉ có ai là người dân Việt và có dịp đi đò mới nhận thấy được  sự tinh tế và vẻ đẹp được tìm thấy trong các câu thơ. Có thể khám phá qua  những bài thơ này  một đoạn đường đời của mình.  Nó chìm đắm trong ký ức với nhiều cảm xúc và nỗi buồn hơn là niềm vui và hạnh phúc. Cũng như câu ca dao  của người miền Trung dưới đây:

Trăm năm đã lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa.

người đọc có thể nhận ra cũng như bao nhiêu người Việt khác bị níu trở về với những kỷ niệm  mà tưởng chừng đã xóa bỏ được nhiều năm qua trong ký ức. Cũng không thể tiếp tục buồn rầu như lúc còn trẻ và yêu đương qua hai câu thơ như sau:

Tương tư thuyền nhớ sông dài
Tương tư là có hai người nhớ nhau

Mà đến lúc phải có can đảm quên đi và bền lòng ra đi khi con đò đó không còn nữa.

Vô duyên đã lỗi hẹn hò
Mong làm chi nữa con đò sang sông
Thôi đành chẳng gặp là xong
Nhớ thương bền chặt bền lòng ra đi.

Cô ấy bây giờ ra sao? Cô ấy đã qua đời hay sống có hạnh phúc? Cô ấy có xứng đáng với cuộc sống mà cô ấy có không? Có được như một cô lái đò trẻ tuổi, chị Thắm, người đã từng cứu nhiều người thoát chết và chết đuối mà không có ai giúp đỡ cô ấy về sau  trong câu chuyện « Chảy đi sông ơi (1988) » của nhà văn tài ba Nguyễn Huy Thiệp? Hay là cô ấy giống như người phụ nữ trẻ tuổi Duyên, tiếp tục ngân nga một bài hát cho đứa con của mình ngủ:Nước chảy đôi dòng …Con sông Thương … Nước chảy đôi dòngvà  không bao giờ tự hỏi về cuộc sống của mình cũng như con sông lặng lẽ theo dòng nước ra biển  trong « Nước chảy đôi dòng của Nhất Linh (1932)»?. Đây cũng là những câu hỏi khiến người đọc tự hỏi trong lòng mình với các kỷ niệm riêng tư. Đó cũng là nỗi buồn sâu thẳm, nỗi đau sâu sắc của một người không còn cơ hội để tìm lại được thời tuổi trẻ của mình với con đò ngang và bến sông.  Rồi cũng nghĩ rằng với thời gian, có thể xóa đi tất cả những ký ức như dòng nước sông được khơi lại trong bài rất lạ mà chị Thắm thường hát  trên bờ sông trong câu chuyện ngắn « Chảy đi sông ơi (1988)  » của Nguyễn Huy Thiệp:

Chảy đi sông ơi
Băn khoăn làm gì ?
Rồi sông đãi hết
Anh hùng còn chi ? …

Vương quốc Phù Nam (Royaume du Founan)

founan

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Version française

Vương quốc Phù Nam

Cho đến đầu buổi bình minh của thế kỷ 20, mới có sự  thông báo về vương quốc Hindu cổ này trong vài văn bản chữ Hán. Vương quốc cổ nầy được đề cập lần đầu tiên vào thời Tam Quốc (220-265) qua một văn bản  chữ Hán vào lúc có sự thiết lập quan hệ ngoại giao của nhà Đông Ngô  với các nước ngoại bang. Trong báo cáo này, người ta có biên chép rằng thống đốc của hai tỉnh Quãng Đông và Bắc Kỳ tên là Lu-Tai có cử các đại diện (congshi) đến các vùng ở phía nam của nước ông. Các vua ở các vùng nầy trong đó có nước Phù Nam, Lâm Ấp và Tang Ming (một quốc gia được xác định ở phía bắc của Chân Lạp vào thời nhà Đường), cũng có từng gửi một sứ giã đến cống vật cho Lu Tai. Sau đó, nước Phù Nam cũng được nhắc đến trong các biên sử từ nhà Tấn cho đến nhà Đường. Tên Phù Nam đây là phiên âm của từ cổ bhnam (núi) của người Khờ Me trong chữ Hán. Tuy nhiên, điều này cũng tạo ra sự dè dặt và nỗi e ngại của một số chuyên gia về việc giải thích từ « Phù Nam » với  từ « núi ». Họ nhận thấy từ Phù Nam theo nghĩa « gò » nó  đúng hơn trong sự biện minh bởi vì với thời gian gần  đây, trong các cuộc nghiên cứu dân tộc học [Martin 1991; Porée-Maspero 1962-69] người Khờ Me thường có thói quen thực hành các nghi lễ xung quanh các gò nhân tạo. Người Hoa không biết phong tục này nên họ ám chỉ đến cách thức thực hành này để chỉ định vương quốc này. Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ bắt đầu vào năm 1944 tại Óc Eo thuộc tỉnh An Giang ở miền nam Việt Nam hiện nay dưới sự hướng dẫn của ông Louis Malleret  thì không còn sự nghi ngờ  nào nữa về sự tồn tại và thịnh vượng của vương quốc Ấn Độ hóa này. Những kết quả thu thập từ các cuộc khai quật này đã được ghi chép trong luận án tiến sĩ của ông, sau đó còn được công bố  trong một cuốn sách có tựa đề là « Khảo cổ học của đồng bằng sông Cửu Long ». Nó bao gồm được 6 tập.

Điều đó mới có thể xác minh được các dữ liệu của người Hoa và càng làm rõ ràng hơn  trong việc giới hạn địa phận của vương quốc nầy. Vì tìm ra được rất nhiều các vật khảo cổ bằng thiếc nên nhà khảo cổ Pháp Louis Malleret không ngần ngại dùng tên Óc Eo để chỉ định văn hóa đồ thiếc nầy. Bây giờ  mới bắt đầu có một ánh sáng rực rỡ trên vương quốc này cũng như về các mối quan hệ bên ngoài của nó trong quá trình nối lại các chiến dịch khai quật được thực hiện với các é-kip Việt Nam (Đào Linh Côn, Võ Sĩ Khải, Lê Xuân Diêm) cũng như với é-kip Pháp-Việt dưới sự hướng dẫn của Pierre-Yves-Manguin từ năm 1998 đến 2002 trong các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và Long An, những nơi mà tìm ra được nhiều di tích của văn hóa Óc Eo. Được biết Óc Eo là một hải cảng quan trọng của vương quốc này và là trung tâm thương mại một mặt giữa bán đảo Mã Lai và Ấn Độ và mặt khác giữa sông Mê Kông và Trung Quốc. Khi những chiếc thuyền của khu vực không thể đi được quãng đường dài và phải đi dọc theo bờ biển, Óc Eo trở thành vì thế một lối đi bắt buộc và cũng là một chặng chiến lược trong suốt 7 thế kỷ sung túc và thịnh vượng của  xứ Phù Nam.  Vương quốc nầy có một chu vi hình tứ giác giữa vịnh Thái Lan và miền tây của đồng bằng sông Cửu Long (Transbassac) ở miền nam Việt Nam. Nó được bao bọc ở phía tây bắc bởi biên giới Kampuchia và về phía đông nam bởi các thị trấn Trà Vinh và Sóc Trăng. Những bức ảnh được người Pháp chụp từ trên không vào những năm 1920 mới tiết lộ rằng Phù Nam là một đế chế hàng hải (hay một cường quốc hải dương).Theo các tác giả Trung Hoa, các thành phố tự trị nầy được bao bọc bởi các thành lũy và các mương đầy cá sấu, nối tiếp kề nhau và được chia ra thành nhiều khu nhờ sự rẻ nhánh các kênh rạch và các đường giao thông. Người ta có thể hình dung được những ngôi nhà cùng các cửa hàng nhà sàn có ở chung quanh các thuyền đậu như ở thành phố Ý Venise hay ở các thành phố của miền bắc Âu Châu. Qua mạng lưới đáng kinh ngạc này được tạo thành từ các dãy kênh rạch được bố trí dọc thẳng  theo hướng đông bắc /tây nam (từ sông Hậu ra biển)  và liên lạc thông qua với nhau, ngừời ta khám phá được vai trò quan trọng của sông Hậu trong việc sơ tán được nước lũ ra biển. Nhờ vậy mới có thể rửa sạch đất bị phèn, đẩy lùi sự xâm nhập của  các vùng nước lợ qua các trận lũ của sông Hậu, ưu đãi  việc trồng lúa nổi và bảo đảm được việc cung cấp  hàng hóa trong nước đến từ Trung Hoa, Mã Lai, Ấn Độ mà còn có luôn cả vùng Địa Trung Hải. Việc phát hiện ra các đồng tiền vàng với hình nộm của hoàng đế La Mã Antonin le Pieux, có từ năm 152 sau Công nguyên hay hoàng đế Marc Aurèle và các bức phù điêu của các vị vua Ba Tư dẫn  chứng cho vai trò quan trọng của vương quốc này trong việc trao đổi hàng hóa ở  đầu kỷ nguyên công giáo. Thậm chí còn có một kênh lớn nối từ thành phố hải cảng Óc Eo đến biển một mặt và mặt khác từ sông Mê Kông đến thành phố cổ  Angkor Borei nằm ở thượng nguồn 90 cây số trên lãnh thổ Cao Miên. Đây có lẽ là thủ đô của xứ Phù Nam trong thời kỳ suy tàn. Đối với nhà khảo cổ học người Pháp Georges Coedès, sự nghi ngờ  nầy  không còn nữa vì vị trí của Angkor Borei tương ứng chính xác với Na-fou-na, được mô tả trong các văn bản Trung Quốc là thành phố mà các vị vua Phù Nam ẩn cư sau khi họ bị trục xuất ra khỏi cố đô của Phù Nam, Tö-mu. Thành phố nầy được xác định là thành phố Vyādhapura và nằm trong vùng Bà Phnom thuộc lãnh thổ Cao Miên bởi  Georges Coedès. Sự phong phú của địa điểm khảo cổ này và sự đa dạng của các di tích cổ tìm thấy chứng minh được sự xác nhận của ông. Nhờ các vật thể được phát hiện qua các chiến dịch khai quật  ở các địa điểm của văn hóa Óc Eo, chúng ta có thể nói rằng vương quốc này đã có được  ba thời kỳ quan trọng trong quá trình tồn tại của nó:

  • Thời kỳ đầu tiên, kéo dài từ thế kỷ thứ nhất đến thế kỷ thứ ba, được nỗi bật bởi các đồ làm với đất nung (đồ gốm, gạch, ngói), các đồ thủy tinh (ngọc trai và dây chuyền), các đồ kim hoàn (nhẫn, hoa tai), các loại đá được khắc (con dấu, vòng mặt nhẫn, ngọc hòn) và các đồ vật làm bằng đồng, sắt và đặc biệt nhất là thiếc.Chúng ta được chứng kiến ​​sự chiếm đóng đầu tiên của con người trên các gò đất ở đồng bằng Óc Eo và trên các sườn núi thấp của núi Ba Thê. Môi trường sống ở đây là nhà sàn bằng gỗ. Việc chôn cất trong chum thường phổ biến ở Đông Nam Á vẫn còn được thực hiện. Công trình Ấn Độ hóa vẫn chưa có với sự vắng mặt của các di tích làm bằng tượng và tôn giáo. Nhưng vẫn có sự liên lạc thường xuyên giữa vương quốc này và Ấn Độ. Sự trao đổi thương mại được củng cố nhờ các cuộc liên minh địa phương và sự xuất hiện các tu sĩ Ấn Độ. Được giữ lại lâu hơn ở vương quốc này vì lúc có gió mùa, những người này tiếp tục dẫn dạy và thuyết giáo  (Bà La Môn giáo, Phật giáo). Họ bắt đầu thuyết phục được những người bản địa và giúp họ thiết lập một mạng lưới thủy lực để giúp họ cách thức làm thoát nước ở  đồng bằng mà cho đến tận bây giờ  họ xem như kẻ thù nghịch với lũ lụt và làm cho nó trở nên « hữu ích » cho sự trồng trọt, môi trường sống và luôn cả việc chỉnh đốn vương quốc. Người Ấn được biết họ là những người thực hiện một cách tinh vi các công trình thủy lực nông nghiệp và trồng trọt. Đây là những gì chúng ta đã thấy được ở đất nước của người dân Ta-Mun (tamoul) dưới triều đại Pallava chẳng hạn. Việc trồng lúa nổi được chứng minh nhờ các dấu vết mà họ để lại trong việc sử dụng loại lúa này như là một chất tẩy dầu mỡ cho các đồ gốm. Đối với nhà nghiên cứu Pháp J.Népote, người chuyên nghiệp về bán đảo Đông Dương, vương quốc Phù Nam đã thu thập được cốt yếu của tất cả nguồn lực nông nghiệp của mình trong kỹ thuật trồng lúa nổi. Không cần phải canh tác hoặc phải gieo đất, cũng đừng nói đến việc cấy cây lúa vào thời điểm đó bởi vì các rìa bờ biển của Phù Nam là những  khu vực  đất lấn biển (polders). Cây lúa tự phát triển cùng với mực nước, nó có thể đạt tới ba mét chiều cao. Lúa sau đó nó được gặt  thu hoạch bởi những chiếc thuyền. Đối với việc canh tác lúa nổi, sự ràng buộc duy nhất  bị đòi hỏi là  sự điều chỉnh và phân phối lũ lụt thông qua việc đào  các kênh để quản lý nước tưới được  tốt hơn và tạo điều kiện thuận lợi cho các phương tiện giao thông.

 

  • Thời kỳ thứ hai của lịch sử Phù Nam  (thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 7) được đánh dấu bằng việc phát hiện ra một số lượng lớn các di tích tôn giáo và Phật giáo Vishnu trên các gò của đồng bằng Óc Eo và trên các sườn núi Ba Thê. Các nhân vật biểu tượng của Ấn Độ ( như  thần Shiva, Vishnu, Brahma, Nanin, Ganesha và Đức Phật)  đã được khai quật. Đây cũng là thời kỳ mà các nhà sàn bằng gỗ  được dời đi từ các gò đến các vùng ngập nước và các sườn núi dốc thấp của núi Ba Thê.Việc Ấn Độ hóa vương quốc được diễn ra khi một người Ấn Độ tên là Chu Tchan-t’an viết theo chữ Hán, sống vào khoảng năm 357, có thể là người gốc Xi-tơ (scythe) và thậm chí cũng có thể là gốc Kanishka, trị vì ở vương quốc Phù  Nam [The Founan: Paul Pelliot, trang 269]. Có thể  đây là sự giải thích việc thành công của giáo phái Surya và biểu tượng của nó trong nghệ thuật của người dân Phù Nam. Một người Bà la môn khác tên Trung Hoa là Kiao-Tchen-Jou (hay còn gọi là Kawa-Jayavarma) được  kế vị sau đó và cai trị Phù Nam trong khoảng thời gian từ 478 đến 514. Đây là thời kỳ nổi tiếng nhờ có những văn khắc địa phương viết bằng tiếng Phạn. Ngay cả huyền thoại về việc thành lập vương quốc cũng được xuất phát từ Ấn Độ: Một người dũng sĩ Bà La môn tên là Kaundinya trong một giấc mơ có được một cây cung ma thuật trong một ngôi đền và  hướng dẫn thuyền đến các bờ biển mà anh ta thành công đánh bại một  người phụ nữ tên là Soma, con của một vị vua đang cai trị vùng bản địa được xem như là vua Naga (một con rắn tuyệt vời). Sau đó anh kết hôn với cô nầy để cai trị đất nước này. Có thể nói rằng trong thời kỳ này, vương quốc Phù Nam đã đạt đến đỉnh cao và duy trì mối quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc.Sự phát triển thương mại của Phù Nam không thể chối cãi được khi phát hiện ra một số lượng lớn các vật thể không phải của Ấn Độ được tìm thấy ở trên bờ của Phù Nam: những mảnh gương bằng đồng có từ thời Tây Hán, các tượng phật bằng đồng được gán cho nhà Ngụy, một nhóm vật thể thuần túy La Mã, các bức tượng theo phong cách Hy Lạp, đặc biệt là một đại diện bằng đồng của  thần Poseidon. Những đồ vật này có lẽ đã được trao đổi để lấy hàng vì người dân Phù Nam chỉ biết mậu dịch đổi hàng. Để mua hàng hóa có giá trị, họ  sử dụng các thỏi vàng và bạc, ngọc trai và nước hoa. Họ được biết đến như những thợ kim hoàn xuất sắc. Vàng đã được gia công một cách  tinh xảo với nhiều biểu tượng Bà la môn. Những đồ nữ  trang (bông tai bằng vàng với cái móc  tinh tế, những sợi vàng đáng ngưỡng mộ,  các hạt thủy tinh, các đá màu chạm hình vân vân..) được trưng bày ở các bảo tàng của Đồng Tháp, Long An và An Giang chứng minh không những  bí quyết và tài năng của họ mà còn là sự ngưỡng mộ của người Trung Hoa qua những câu chuyện mà họ có dịp tiếp xúc với người dân Phù Nam.

 

  •  Thời kỳ cuối cùng tương ứng với sự suy tàn và sự kết thúc của vương quốc Phù Nam. Một thay đổi quan trọng đã được báo cáo trong thời kỳ Cheng-kuan (627-649) tại vương quốc Founan trong biên niên sử Trung Quốc. Vương quốc Chen-la (Chân Lạp) (Campuchia tương lai) nằm ở phía tây nam Lâm Ấp (Champa tương lai) và là quốc gia chư hầu của Phù Nam xâm chiếm và chinh phục  Phù Nam. Sự thật này đã được báo cáo không những trong lịch sử mới của nhà Đường (618-907) bởi nhà sử học Trung Hoa Ouyang Xiu, mà còn trên một bản khắc chưa được công bố của Sambor-Prei Kuk, trong đó nhà vua của Chân Lạp  Içanavarman  nhận được  sự chúc mừng vì ông đã thành công mở rộng lãnh thổ của bố mẹ ông. Các khu nhà ở và các nơi tôn giáo ở đồng bằng Óc Eo đang bị bỏ hoang vì sự hình thành chính trị mới đến từ phương Bắc đang di chuyển tách  rời bờ biển và tiếp cận dần dần địa điểm Angkor, thủ đô tương lai của Đế quốc Khơ Me. Đối với nhà nghiên cứu J. Népote, người Khơ Me đến từ miền Bắc nước Lào xuất hiện dưới dạng các nhóm người Giéc Ma Ni với đế chế La Mã , cố gắng tạo thành ở nội địa một vương quốc thống nhất với tên là Chân Lạp. Họ không thấy có lợi ích để giữ kỹ thuật trồng lúa nổi vì họ sống xa bờ biển. Họ cố gắng kết hộp việc kiểm soát các hồ chứa nước riêng tư của mình (barays) với phần bổ sung trong khoa học thủy lực của người Ấn để phát triển  qua nhiều thử nghiệm, một hệ thống thủy lợi phù hợp hơn với hệ sinh thái của vùng nội địa và các giống lúa địa phương. Mặc dù có những khám phá gần đây xác nhận sự tồn tại của vương quốc này, nhiều câu hỏi vẫn chưa được có  câu trả lời. Chúng ta không biết ai là người bản địa ở vương quốc này. Chúng ta chắc chắn một điều: họ không phải là người Việt Nam chỉ đến đồng bằng sông Cửu Long vào thế kỷ 17. Có phải họ là tổ tiên của người Khơ Me? Một số người tin chắc là vậy lúc thời điểm mà Louis Malleret bắt đầu khai quật vào những năm 40 bởi vì tên tuổi của khu vực hoàn toàn là tiếng Khơ Me. Vào thời Phù Nam, chúng ta vẫn chưa biết rõ họ là ai. Mặt khác, nhờ việc nghiên cứu về  các di tích xương ở bán đảo Cà Mau, chúng ta  tìm thấy được  một dân số rất gần gũi với người Nam Á. Sự đóng góp của người Môn Khmer ở ​​phía bắc của vương quốc này có thể nghĩ đến để  mang lại cho Phù Nam  sự kề nhau và hợp nhất của hai tầng lớp không xa nhau chi cho mấy  trước khi trở thành chủng tộc Phù Nam. Trong giả thuyết được chấp nhận thường xuyên này, người dân Phù Nam là tổ tiên hoặc là người anh em họ của người Khơ Me. Sự gia nhập một thành phố từ bán đảo Mã Lai (được gọi là Dunsun theo các nguồn báo cáo của Trung Quốc) trong một khu vực mà ảnh hưởng của người Môn-Khmer không thể phủ nhận được ở thế kỷ thứ ba bởi Phù Nam là một trong những yếu tố  chính dẫn đến sự ủng hộ giả thuyết này. Trong điều kiện nào Óc Eo bị biến mất? Tuy nhiên, Óc Eo đóng một vai trò kinh tế quan trọng trong việc trao đổi thương mại suốt bảy thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Kitô giáo. Các nhà khảo cổ tiếp tục tìm kiếm nguyên nhân của sự biến mất của thành phố hải cảng này: lũ lụt, hỏa hoạn, đại hồng thủy, dịch bệnh v.v … Vương quốc Phù Nam có phải là một quốc gia thống nhất với một quyền lực trung ương mạnh mẽ hay là một liên đoàn các trung tâm quyền lực chính trị được đô thị hóa và tự trị trên bán đảo Đông Dương như trên bán đảo Mã Lai  để được gọi là các quốc gia thành phố?  P.Y. Manguin đã nêu câu hỏi nầy tại một hội nghị chuyên đề do trung tâm Copenhagen Polis tổ chức tại các quốc gia ở ven biển Đông Nam Á vào tháng 12 năm 1998. Thủ đô của Phù Nam nằm  ở đâu nếu quyền lực trung ương được nhấn mạnh nhiều lần bởi người Trung Quốc trong văn bản của họ? Angkor Borei, Bà Phnom có ​​thực sự là thủ đô cổ của vương quốc này như đã được Georges Coèdes xác định? Cho đến nay, những gì đã được tìm thấy không cung cấp được câu trả lời mà  chỉ làm tăng thêm gấp đôi sự mong muốn và khao khát của các nhà khảo cổ để tìm thấy trong những năm tới bởi vì họ có cảm giác  có được một nền văn minh rực rỡ của đồng bằng sông Cửu Long.

Références bibliographiques

Georges Coedès: Quelques précisions sur la fin du Founan, BEFEO Tome 43, 1943, pp1-8
Bernard Philippe Groslier: Indochine, Editions Albin Michel, Paris 
Lê Xuân Diêm, Ðào Linh Côn,Võ Sĩ Khai: Văn Hoá Oc eo , những khám phá mới (La culture de Óc Eo: Quelques découvertes récentes) , Hànôi: Viện Khoa Học Xã Hội, Hô Chí Minh Ville,1995 
Manguin,P.Y: Les Cités-Etats de l’Asie du Sud-Est Côtière. De l’ancienneté et la permanence des formes urbaines. 
Nepote J., Guillaume X.: Vietnam, Guides Olizane 
Pierre Rossion: le delta du Mékong, berceau de l’art khmer, Archeologia, 2005, no422, pp. 56-65.

 

Pourquoi les pagodes japonaises ne s’écroulent pas en cas du séisme?

 

Tại sao các chùa Nhật Ban không bị sụp đổ khi có động đất?

Version française

Đến xứ Nhật Bản, du khách thường có dịp đi tham quan các chùa Nhật bằng gỗ ở Nara và Kyoto.  Qua nhiều trận động đất thường xuyên ở Nhật Bản, các chùa nầy vẫn đứng vững dù đã có trải  qua hơn 1300 năm xây cất. Cũng như chùa Senso-ji 5 tầng ở Tokyo không phải bị phá hủy bởi  động đất mà bị oanh tạc trong thời kỳ  chiến tranh thế giới thứ hai. Như vậy có bí quyết nào khiến các chùa không bị sụp đổ và được bảo vệ trước sự tàn phá của động đất ? Đó là một câu hỏi mà chính mình cũng tự nêu ra khi đến tham quan các chùa như Senso-ji và Kiyomizu Dera.  Theo kiến trúc sư Nhật Ueda Atsushi thì sự  bảo vệ an toàn nầy được giải thích với chùa Hôryûji, một chùa Nhật có lâu đời nhất dựa trên các lý do như sau trong quyển Nipponia số 33.  Trước hết là việc sử dụng vật liệu. Tất cả phần cấu trúc của chùa đều làm bằng gỗ. Nó có thể cong uốn nhưng không dễ bị gãy, đó là nhờ tính linh hoạt khiến nó có thể  làm tiêu tan và thu hút năng lượng địa chấn. Kế đó là sự lựa chọn thiết kế kiến trúc. Không có một cây đinh nào trọng dụng ở các nơi nối các thanh trúc với nhau (như lỗ mộng, lưỡi gà vân vân..). Các đầu của các thanh trúc nầy được đục mỏng và hẹp hơn vào trong các khe khiến tạo ra một lề di chuyển, cọ xát lẫn nhau và kiềm chế lại được việc truyền năng lượng địa chấn lên đỉnh tháp. Với kỹ thuật nầy, một chùa Nhật Bản năm tầng như Senso-ji có ít nhất một ngàn thanh trúc nối với nhau qua các lỗ mộng. Hơn nữa, chùa có một cấu trúc có nhiều lớp hay nhiều hình hộp chồng lên, cái to ở dưới chót cái nhỏ ở trên cao mà người Nhật họ gọi là go-ju no to. Khi mặt đất rung chuyển thì các hộp từ từ đu đưa nhưng mỗi lớp của cái hộp hoàn toàn độc lập với các lớp khác khiến cho toàn bộ cấu trúc dễ « uốn nắn », linh hoạt  như một con rắn vặn vẹo và tìm lại được lại sự thăng bằng như  một món đồ chơi con lắc jaijirobe của người Nhật. Khi lớp hộp ở dưới xoay bên trái thì lớp hộp nắp trên xoay bên phải rồi trên nữa xoay bên trái …Nhưng sự thăng bằng nầy có thể bị phá vỡ nếu có một lớp nào tách rời xa quá trung tâm và nếu nó không được kéo về lại vị trí  khiến làm toàn bộ cấu trúc sẽ sụp đổ. Đấy là trong trường hợp có một trận động đất cực kỳ quan trọng. Vì vậy để ngăn ngừa sự sụp đổ nầy mà cần  có cây cột trụ lớn từ  dưới đất lên tới đỉnh nằm ở trung tâm. Nó có nhiệm vụ là đưa về vị trí củ  một trong những lớp hộp nào muốn trượt ra khỏi ngoài. Như thế cây cột trụ trung tâm (shinbashira) giữ vai trò chốt then và xem như một chiếc đũa mà được đâm xuyên qua ở dưới đích của 5 cái chén úp chồng lên nhau khiến các chén nầy khó mà bay ra ngoài. Các chén nầy được  kiến trúc sư Nhật Ueda Atsushi gọi là các chén của Christophe Colomb » bằng cách tìm nguôn cảm hứng với quả trứng của Christophe Colomb.  Quả trứng nầy đứng vững trên bàn sau khi một phần nhỏ của vỏ đã bị san phẳng ở một đầu của nó.  Những kỷ thuật truyền thống của các chùa Nhật 5 tầng vẫn còn được trọng dụng và là nguồn cảm ứng không ít  hiện nay cho các toà nhà cao ốc như ngọn tháp Tokyo Skytree.

Version française

De passage au Japon, le touriste a l’occasion de visiter les pagodes japonaises de Nara et Tokyo. Malgré la fréquence des séismes au Japon,  ces  pagodes continuent à tenir bon durant 1300 ans de leur construction. C’est le cas de la pagode Senso-ji à 5 étages.  Celle-ci n’a jamais  été détruite par le séisme mais elle a été anéantie entièrement  par les bombardements  durant la deuxième guerre mondiale. Quel est le secret pour ces pagodes de ne pas s’écrouler face à la dévastation provoquée par le séisme ? C’est aussi la question que je me pose moi-même sans cesse lors de la visite des pagodes Senso-ji  (Tokyo) et  Kiyomizu Dera (Kyoto). Selon l’architecte japonais Ueda Atsushi, l’entière protection trouve son explication avec la très ancienne  pagode Hôryûji.  Celle-ci  est basée essentiellement  sur les raisons suivantes trouvées dans le livre  Nipponia n° 33. D’abord c’est l’utilisation du matériel. Toute la structure de la pagode a été faite avec du bois.  Celui-ci peut être flexible mais il n’est pas cassable. Ce matériau de construction  a la vertu d’être souple, ce qui permet de dissiper et d’absorber l’énergie sismique. Puis c’est le choix de la conception architecturale. Aucun clou n’est utilisé dans les réseaux de joints où les pièces de bois (comme les mortaises, les languettes etc…) peuvent être rabotées de façon mince et rétrécies dans les fentes, ce qui donne une large marge de déplacement et provoque le frottement entre ces pièces jouant ainsi un rôle de frein à la propagation sismique ver la partie haute de la pagode. Avec cette technique, une pagode japonaise comme Senso-ji possède au moins un millier de joints assemblés par mortaises ou tenons. De plus la pagode a une structure en « couches ou boîtes superposées »  où  l’empilement s’effectue d’une manière progressive de bas en haut, de la plus grande à la plus petite au sommet de la pagode. Les Japonais désignent cette structure sous le nom « go-ju no to ». Quand la surface du sol commence à bouger, chaque boîte oscille indépendamment de ses voisines. La tour effectue une sorte de « danse de serpent » et retrouve son équilibre à l’état intial comme le jouet artisanal japonais jaijirobe. Quand la boîte formant l’étage inférieur a tendance à  tourner vers la gauche, celle au dessus oscille vers la droite et celle au dessus encore vers la gauche … Cette manière à osciller peut provoquer un déséquilibre et aboutit à un écroulement de la structure lorsqu’une boîte s’écarte trop du centre et ne réussit pas à revenir à son état initial. C’est le cas où le tremblement de terre est très violent. Pour cela, il s’avère indispensable d’avoir au centre de la base  de la pagode un gros pilier central (ou  shinbashira) s’élançant du bas jusqu’au sommet pour empêcher le déséquilibre ainsi que l’écroulement de la structure. Ce pilier a pour rôle de ramener  la « boîte empilée » à son état initial lorsque cette dernière s’éloigne trop du centre. On peut dire que le pilier central ou (shinbashira) assume la fonction de verrou. Il est considéré comme une baguette transperçant au centre  les fonds de cinq bols empilés à l’envers sur un plateau, ce qui les empêche de tout écartement. L’architecte japonais Ueda Atsushi  désigne ces bols sous le nom des « bols de Christophe Colomb » en trouvant l’inspiration dans l’exemple de l’œuf de Christophe Colomb. Celui-ci peut se maintenir sur la table lorsqu’une petite partie de sa coquille est aplatie à l’une de ses extrémités. Les techniques classiques servant la construction des pagodes japonaises  à 5 étages continuent à être employées encore aujourd’hui et constituent au moins une source d’inspiration pour les gratte-ciel. C’est le cas de la tour Tokyo Skytree.

Art de vivre propre à la japonaise (lối sống sạch của người Nhật)

Version française

Lối sống siêu sạch củng người Nhật
L’art de vivre « propre » à la japonaise.

Đến xứ mặt trời mọc, mình rất bỡ ngỡ ngày đầu khi khám phá được lối sống siêu sạch của người Nhật. Mới đến phi trường thì mình đã nhận thấy dọc theo hành lang ra cổng có rất nhiều phòng vệ sinh. Lên xe ca thì mỗi du khách phải quản lí rác của mình cho đến ngày trở ra phi trường chớ tài xế không có dọn cho đâu, đó là lời nói của HDV Ngọc Anh nói với đoàn mình ngày đầu trên đường về khách sạn. Từ phi trường đến khách sạn rồi trong những ngày tiếp đi tham quan mọi nơi thì nhận thẩy ở đâu cũng sạch luôn cả phòng vệ sinh. Đến nơi nào như nhà hàng, chuyện đầu tiên phải làm là cổi giày để trước cửa hay bỏ trong tủ. Họ rất sạch sẻ từ trang phục đến giày. Khi có mưa, họ chuẩn bị túi nylon để bạn gói dù ướt lại và để tránh nước mưa nhỏ trên nền đất. Thùng rác ở công cộng được chia ra nhiều loại chẳng hạn như chai nước vứt đi cũng phải bỏ vào 3 thùng rác khác nhau: nút chai, vỏ chai và nhãn giấy trên chai nước. Tại sao họ sạch đến thế ? Sỡ dĩ họ được như vậy vì họ có một thói quen từ thưở nhỏ lúc còn là học sinh tiểu học hay cấp hai ở trường. Họ có một môn học gọi là « Kỷ năng lao động » khiến họ có trách nhiệm làm sạch nơi mình dùng. Họ rất nhạy cảm về hình ảnh của họ trong mắt người khác. Họ còn được giáo huẩn để biết tôn trọng tài sản của người khác mà muốn được thế, họ phải có lòng tự trọng ở bản thân họ. Họ không bao giờ ăn xin dù họ nghèo, vô gia cư, nằm ngủ trong hầm điện métro. Mình cho tiền thì họ lấy. Họ không bao giờ đòi hay nhận tiền bo ở nhà hàng vì họ xem đó là nhiệm vụ họ phải hoàn thành mà thôi. Họ rất tự hào về họ, về dân tộc của họ.
Việc cội rửa bụi bẩn ở tinh thần cũng như ở thể chất là những việc hằng ngày mà họ phải làm thôi. Họ xem đây là một thể thức rèn luyện, tu tập mà họ phải cố gắng cũng như thiền định vậy. Cũng nên nhớ là trước khi Phật giáo được truyền bá vào Nhật Bản thì người dân Nhật đã theo Thần đạo mà trong đạo nầy có nghi lễ thanh tẩy trước khi vào đền Thần đạo. Bỡi vậy họ phải cần đảm bảo sạch sẻ và tinh khiết để có được một tâm hồn lẫn tâm trí thanh tịnh. Có vậy mới bày t ỏ được lòng thành kính với Thần. Đấy là những lý do khiến lối sống của người dân Nhật quá siêu sạch và quá thanh tao. Đây là một ấn tượng để lại cho mình lúc đầu sự bỡ ngỡ rồi sau đó sự khâm phục trong thời gian ở xứ Phù Tang

Version française

En débarquant au Japon, je suis un peu déboussolé et étonné le premier jour par le fait de découvrir l’art de vivre « super propre » des Japonais. Je m’aperçois qu’il y a pas mal de toilettes mises à la disposition des touristes tout le long du couloir de l’aéroport. Dans le car qui nous ramène à l’hôtel, chacun de notre groupe doit gérer jusqu’au jour de notre départ, les ordures avec le sac en nylon distribué. C’est ce que le guide vietnamien Ngọc Anh nous dit tout de suite car pour lui, le chauffeur du car ne le fait pas. Ce n’est pas sa mission. Il faut rendre propre le car à son état initial. Du premier jour jusqu’au dernier jour de mon voyage, la propreté est visible partout y comprises les toilettes publiques.(dans la gare du métro par exemple). Arrivé dans n’importe quel restaurant, la première chose à faire est d’enlever les chaussures et de les ranger soit dans un casier à chaussures soit à l’entrée de l’établissement. Les Japonais aiment s’habiller de la manière la plus propre et simple. En cas de pluie, ils distribuent à chacun de leurs clients un sac en nylon pour couvrir son parapluie mouillé et éviter le trempage de l’eau sur le plancher de leur boutique. Les poubelles urbaines publiques sont divisées en plusieurs catégories. En prenant l’exemple de la bouteille en plastique, il faut effectuer le rangement en trois poubelles différentes: la première réservée à son bouchon, la deuxième pour sa marque collée en papier et la dernière pour la bouteille elle-même. Pour quelle raison sont-ils si propres ? Ils le sont ainsi car ils ont cette habitude dès leur jeune âge à l’école primaire. Ils ont une matière intitulée « la compétence dans le travail » à apprendre, ce qui les oblige à avoir la responsabilité de rendre propre l’endroit où ils travaillent. Ils sont tellement susceptibles d’être mal vus dans le regard des autres. Ils sont éduqués de manière à respecter le bien d’autrui mais pour cela il faut qu’ils s’engagent à se respecter eux-mêmes. Ils ne mendient pas même s’ils sont pauvres, sans domicile et se traînent dans le métro, c’est ce que je constate moi-même. Ils ne sollicitent pas le pourboire dans les restaurants car pour eux, c’est une mission à accomplir, une manière de reconnaître leur valeur et leur compétence dans le travail. Ils sont très fiers d’eux et de leur pays.

Le fait de se purifier l’esprit ou le corps est le travail journalier qu’ils tentent d’assumer tout simplement. Ils le prennent comme une façon importante de se corriger et de se perfectionner avec effort et patience comme la méditation. Il faut rappeler qu’avant l’implantation du bouddhisme au Japon, les Japonais ont eu le shintoïsme. Dans cette religion locale, il y a le rite de purification avant de visiter le jinja (le temple où réside la divinité shintoïste). Le visiteur doit s’assurer qu’il est « propre » et « pur » afin d’avoir une âme et un esprit calme et serein. Cela lui permet de montrer son respect envers la divinité. Ce sont les raisons expliquant leur art de vivre « propre ». Cela me laisse pantois d’étonnement et d’admiration durant mon séjour au Japon.

Thách thức (Le défi)


Version française

Thách thức

Từ nầy không xa lạ đối với người dân Việt. Mặt khác, nó còn đồng nghĩa với sự kiên trì, kháng cự, khéo léo và đối đầu dành cho những người mảnh khảnh nầy mà chân lúc nào cũng chôn vùi dưới bùn ở các ruộng lúa kể từ buổi ban sơ. Từ thế hệ này sang thế hệ khác, họ đã không ngừng chấp nhận mọi thách thức áp đặt bởi một thời tiết khắc nghiệt của một môi trường sống không bao giờ thuận lợi và một nước Trung Hoa mà họ vừa xem như là một người anh cả láng giềng mà cũng là kẻ thù truyền kiếp của họ. Đối với đế chế Trung Hoa nầy, họ lúc nào cũng có sự ngưỡng mộ đáng kinh ngạc nhưng đồng thời họ thể hiện sự kháng cự không thể tưởng tượng được vì lúc nào ở nơi họ cũng có sự quyết tâm để bảo vệ nền độc lập dân tộc và những đặc thù văn hóa mà họ đã có từ 4 nghìn năm. Đế chế Trung Hoa đã cố gắng hán hóa bao lần Việt Nam suốt thời kỳ Bắc thuộc có đến nghìn năm nhưng chỉ thành công làm mờ nhạt đi một phần nào các đặc điểm của họ mà thôi và nhận thấy mỗi lần có cơ hội thuận lợi, họ không ngớt bày tỏ sự kháng cự và sự khác biệt hoàn toàn. Họ còn tìm cách đương đầu với người Trung Hoa trên lãnh vực văn hóa mà được nhắc lại qua những câu chuyện còn được kể lại cho đến ngày nay trong lịch sử văn học Việt Nam. Theo dao ngôn được truyền tụng trong dân gian, sau khi thành công chế ngự được cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng (Trưng Trắc Trưng Nhị) và chinh phục xứ Giao Chỉ (quê hương của người dân Việt), Phục Ba tướng quân Mã Viện của nhà Đông Hán truyền lệnh dựng cột đồng cao nhiều thước ở biên thùy Trung-Việt vào năm 43 và có được ghi chép trên cái bảng treo như sau:

Ðồng trụ triệt, Giao Chỉ diệt
Ðồng trụ ngã, Giao Chỉ bị diệt.

Để tránh sư sụp đổ của đồng trụ, người dân Việt cùng nhau vun đấp bằng cách mỗi lần đi ngang qua mỗi người vứt bỏ đi một cục đất nho nhỏ khiến đồng trụ huyền thoại nầy biến mất dần dần theo ngày tháng để trở thành một gò đất. Cố tình trêu nghẹo và mĩa mai trên sự sợ hải và nổi kinh hoàng mất nước của người dân Việt, vua nhà Minh Sùng Trinh ngạo mạng đến nỗi không ngần ngại cho cận thần ra câu đối như sau với sứ thần Việt Nam Giang Văn Minh (1582-1639) trong buổi tiếp tân:

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Cột đồng đến giờ đã xanh vì rêu.

để nhắc nhở lại sự nổi dậy của hai bà Trưng bị quân Tàu tiêu diệt.
Không lay chuyển trước thái độ lố bịch nầy, sứ thần Giang Văn Minh trả lời một cách thông suốt lạ thường nhất là với lòng quyết tâm cứng cỏi:

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng
Sông Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu

để nhắc nhở lại với vua nhà Minh những chiến công hiển hách của người dân Việt trên sông Bạch Đằng.
Không phải lần đầu có cuộc thi văn học giữa hai nước Trung Hoa và Việt Nam. Ở thời đại của vua Lê Đại Hành (nhà Tiền Lê), nhà sư Lạc Thuận có cơ hội làm cho sứ giã nhà Tống Lý Gi ác tr ầm trồ ngư ỡng mộ bằng cách giã dạng làm người lái đò tiển đưa Lý Giác sang sông. Khi Lý Giác khám phá ra được hai con ngỗng đang đùa cợt trên đỉnh sóng và ngâm hai câu thơ đầu của bài tứ tuyệt như sau:

Ngỗng ngỗng hai con ngỗng
Ngữa mặt nhìn trời xanh

thì Lạc Thuận không ngần ngại đối lại qua hai câu thơ cuối như sau:

Nước biếc phô lông trắng
Chèo hồng sóng xanh khua

Trong bốn câu thơ nầy, người ta nhận thấy không những có sự ứng khẩu nhanh chóng của sư Lạc Thuận mà còn có cả sự tài tình của ông trong việc dàn dựng song song những thuật ngữ và ý kiến tương đồng trong bài tứ tuyệt nầy.

Hình ảnh nhà thờ Giang Văn Minh và văn miếu

Nhưng nói công lao trong việc đối đầu thì phải dành dĩ nhiên cho học giả Mạc Đĩnh Chi vì ông nầy trong thời gian ở Trung Quốc, đã thể thể hiện được khả năng chống cự mà còn có tài năng vô song để biết đối đáp lại một cách khéo léo tất cả mọi câu hỏi và tránh được mọi cạm bẫy. Ông được gửi đi sang Tàu vào năm 1314 bởi vua Trần Anh Tôn sau khi vua đánh bại quân Mông Cổ của Hốt Tất Liệt với tướng Trần Hưng Đạo. Do sự chậm trể vô tình, ông không có đến trình diện đúng giờ trước cổng thành ở biên giới Trung-Việt. Ông quan giữ cỗng thành chịu mở cửa nếu ông trả lời được một cách thích hợp câu hỏi mà người quan nầy đưa ra mà trong câu hỏi đó gồm có bốn chữ “quan”:

Quá quan trì, quan quan bế,
nguyện quá khách quá quan
Qua cửa quan chậm, cửa quan đóng,
mời khách qua đường qua cửa quan.

Không có chút nào nao núng cả trước sự thách thức văn học, ông trả lời ngay cho quan cổng với sự tự nhiên đáng kinh ngạc:
Xuất đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

Ra câu đối dễ, đối câu đối khó
xin tiên sinh đối trước.

Trong lời đối đáp nầy, ông dùng chữ “đối” cũng 4 lần như chữ “quan” và nó được dựng lên ở vị trí của chữ “quan”. Mạc Đỉnh Chi còn điêu luyện biết giữ vần và những luật lệ âm điệu trong thơ để cho quan cổng biết là ông ở trong hoàn cảnh khó xữ với đoàn tùy tùng. Quan cổng rất hài lòng vô cùng. Ông nầy không ngần ngại mở cổng và đón tiếp Mạc Đỉnh Chi một cách linh đình. Chuyện nầy được báo cáo lên triều đình Bắc Kinh và làm nô nức biết bao nhiêu quan lại văn học Trung Hoa muốn đo tài cao thấp với ông trong lĩnh vực văn chương. Một ngày nọ, tại thủ đô Bắc Kinh, ông đang đi dạo với con lừa. Con nầy đi không đủ nhanh khiến làm một người Trung Hoa khó chịu đang theo sát ông trên đường. Quá cáu bởi sự chậm chạp này, quan lại nầy quay đầu nói lại với ông ta với một giọng kiêu ngạo và khinh bỉ:

Xúc ngã ky mã, đông di chi nhân dã, Tây di chi nhân dã?
Chạm ngựa ta đi là người rợ phương Ðông hay là người rợ phương Tây?

Ông quan lại lấy cảm hứng từ những gì ông đã học được trong cuốn sách Mạnh Tử để mô tả người những người man rợ không có cùng văn hóa với đế chế Trung Hoa bằng cách sử dụng hai từ  » đông di « . Ngạc nhiên trước lời nhận xét tổn thương này khi ông biết rằng Trung Hoa bị cai trị vào thời điểm đó bởi các bộ lạc du mục (người Mông Cổ), Mạc Đỉnh Chi mới trả lời lại với sự hóm hỉnh đen tối của mình:

Át dư thừa lư, Nam Phương chi cường dư, Bắc phương chi cường dư
Ngăn lừa ta cưởi, hỏi người phương Nam mạnh hay người phương Bắc mạnh?

Một hôm, hoàng đế nhà Nguyên đã không ngần ngại ca ngợi sức mạnh của mình ví nó với mặt trời và làm cho Mạc Đỉnh Chi biết rằng Việt Nam chỉ được so sánh với mặt trăng, sẽ bị hủy diệt và thống trị sớm bởi người Mông Cổ. Điềm nhiên, Mạc Đỉnh Chi trả lời một cách kiên quyết và can đảm:

Nguyệt cung, kim đạn, hoàng hôn xa lạc kim
Trăng là cung, sao là đạn, chiều tối bắn rơi mặt trời.

Hoàng đế Kubilai Khan (Nguyễn Thê ‘Tổ) phải công nhận tài năng của ông và trao cho ông danh hiệu « Trạng Nguyên đầu tiên » (Lưỡng Quốc Trạng Nguyên) ở cả Trung Hoa và Việt Nam, khiến một số quan lại ganh tị. Một trong số người nầy cố tình làm bẽ mặt ông ta vào một buổi sáng đẹp trời bằng cách ví ông ta như một con chim bởi vì âm điệu đơn âm của ngôn ngữ, người dân Việt khi họ nói cho cảm giác người nghe như họ luôn luôn hót líu lo:

Quích tập chi đầu đàm Lỗ luận: tri tri vi tri chi, bất tri vi bất tri, thị tri
Chim đậu cành đọc sách Lỗ luận: biết thì báo là biết, chẳng biết thì báo chẳng biết, ấy là biết đó.

Đây là một cách để khuyên Mạc Ðỉnh Chi nên khiêm tốn hơn và cư xử như một người đàn ông có phẩm chất Nho giáo (Junzi). Mạc Đỉnh Chi trả lời bằng cách ví anh nầy như một con ếch. Người Trung Hoa thường có thói nói to  và tóp tép lưỡi  qua tư cách họ uống rượu.

Oa minh trì thượng đọc Châu Thư: lạc dữ đọc lạc nhạc, lạc dữ chúng lạc nhạc, thục lạc.
Châu chuộc trên ao đọc sách Châu Thu: cùng ít người vui nhạc, cùng nhiều người vui nhạc, đằng nào vui hơn.

Đó là một cách để nói lại với người quan lại nầy nên có một tâm trí lành mạnh để hành xử một cách công bằng và phân biệt nghiêm chỉnh.
Tuy rằng có sự đối đầu trong văn học, Mạc Đỉnh Chi rất nổi tiếng ở Trung Quốc. Ông được Hoàng đế của nhà Nguyên ủy nhiệm việc sáng tác bài văn tế để vinh danh sự qua đời của một công chúa Mông Cổ. Nhờ sự tôn trọng truyền thống của Trung Hoa dành cho những người tài năng Việt Nam, đặc biệt là các học giả có tài trí thông minh nhanh chóng và học hỏi mau lẹ mà Nguyễn Trãi đã được cứu bởi đại quản gia Hoàng Phúc. Trong tầm mắt của tướng Tàu Trương Phụ, Nguyễn Trãi là người phải giết, một người rất nguy hiễm cho chính sách bành trướng của Trung Hoa ở Việt Nam. Ông bị giam giữ bởi Trương Phụ trong thời gian ở Ðồng Quang (tên xưa của Hànội) trước khi ông theo Lê Lợi về sau ở Lam Sơn. Không có cử chỉ hào hiệp và bảo vệ của hoạn quan Hoàng Phúc, Lê Lợi không thể trục khỏi quân nhà Minh ra khỏi Việt Nam vì Nguyễn Trãi là cố vấn quan trọng và chiến lược gia nổi tiếng mà Lê Lợi cần dựa vào để lãnh đạo cuộc chiến tranh du kích trong thời gian mười năm đấu tranh chống lại Trung Quốc.

Cuộc đối đầu văn học này phai nhạt dần dần với sự xuất hiện của người Pháp tại Việt Nam và chấm dứt vĩnh viễn khi vua Khải Định quyết định chấm dứt hệ thống cuộc thi quan lại ở Việt Nam theo mô hình của người Trung Quốc dựa chủ yếu vào tứ thư Ngũ Kinh của Đức Khổng Tử.

Cuộc thi quan lại cuối cùng được tổ chức tại Huế vào năm 1918. Một hệ thống tuyển dụng kiểu Pháp khác đã được đề xuất trong thời kỳ thuộc địa. Do đó, Việt Nam không còn cơ hội để đối đầu văn học với Trung Quốc nửa và biểu hiện được sự khác biệt cũng như sự phản kháng trí tuệ và các đặc thù văn hóa.

Vietnam qua dòng lịch sữ (Histoire du Vietnam)

 

Vietnam qua dòng lịch sữ

English version

French version

Vietnam được biết đến từ thế kỷ 19 khi vua Gia Long quyết định đổi tên nước Nam Việt. Marco Polo có nhắc đến xứ nầy trong cuộc hành trình của ông với quyển sách tựa đề là « Những kỳ quan của thế giới » dưới tên là Giao Chỉ. (Caucigui). Có thể tóm gọn lịch sữ xứ nầy qua vài lời như sau: chiến đấu để dành độc lập, chinh phục những « đất mới » và thống nhất đất nước. Người dân Việt được nhắc đến ở thời kỳ đồ đồng (Văn hóa Đồng sơn). Những bộ tộc Việt sống rãi rác ở miền nam nước Trung Hoa và miền bắc Vietnam, có lẽ họ là một dân tộc thuờng thích đi săn. Vì vậy họ thưòng di chuyển liên tục ra khỏi biên thùy. Chữ Nam (hay nan tiếng quan thoại) thường dùng để ám chỉ họ và để phân biệt họ với những nguời Việt sống ở Trung Hoa. Còn chữ Việt (hay Yue) thì được dùng đến dưới thời đại nhà Châu (1050-249 trước công nguyên) để chỉ những vùng đất ở phiá nam nước Trung Hoa. Những người dân Việt ở nơi nầy, họ đã hình thành các vương quốc từ cuối niên kỷ thứ hai. Các vương quốc nầy dưới các triều đại huyền thoại (thời Hùng vương) thường nằm ở miền bắc Vietnam và được mang các tên như Văn Lang, Âu Lạc. Ở niên kỷ thứ 10, ở đồng bằng sông Hồng thường được xem là cái nôi của dân tộc người Việt, khởi đầu bằng một cuộc Nam Tiến. Quốc gia nầy không ngừng sinh sản các « tế bào mới » ở các vùng đất nào thuận lợi cho phương thức canh tác và trên phương diện chính trị, còn dựa vào các hộ dân nho nhỏ độc lập mà được tạo thành từ những người lính nông dân. Các hộ nầy đôi khi còn được củng cố bỡi chính quyền trung ương nên được hành xữ dần dần để hình thành một đảo san hô to tác, rồi bao vây sau đó và đồng hóa cuối cùng các vùng đất mới đó khiến nhờ thế bờ cỏi Vietnam mới được mở rộng thêm. Đây là một lợi thế không thể phủ nhận được cho chính sách bành trướng nhưng phải cần có một chính quyền trung ương mạnh mẽ. Đức Không Tử thường nhắc đến các ngừời Việt trong Kinh Lễ. Nhờ có năng lực bám giữ ngón chân cái tách rời được các ngón chân khác nên họ vượt sông leo núi rất dễ dàng mà chẳng bao giờ biết mệt cả.

Lịch sữ Vietnam không phải là lịch sữ của các triều đại vua chúa hay là những phong trào tư duy vĩ đại. Mà nó là lịch sữ của những người nông dân bền bỉ từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, làm việc vất vã ở ngoài đồng và thường hay để lại dấu ấn của họ trên quan cảnh. Chỉ cần sự nới giản của chính quyền trung ương thì đất nước nầy dễ dàng bị phân chia. Bỡi vậy đó là một trong những lý do chính, thể hiện lịch sữ Vietnam thường có tình trạng bất ổn và chiến tranh thường xuyên. Nó được lợi thế là nhờ có ba cấu trúc dân tộc thích hợp như sau: một bộ máy hành chánh dựa trên mô hình nho giáo dưới triều đại vua chúa (người có thiên mệnh), gia đình và làng mạc xem như đến từ một nền văn hóa nông dân mà mỗi người dân Việt lúc nào cũng cảm nhận có sự gắn bó mật thiết của họ với tổ tiên và đất nước. Nhờ chính sách ngặm nhấm của con tầm mà người dân Việt mới chiếm được những mảnh đất của người dân Cao Miên và Chàm. Những di tích của những người nầy thường đựơc thấy ở miền trung hiện nay (Phan Thiết, Phan Rang, Đà Nẵng vân vân …) và đồng bằng sông Cửu Long đã minh hoạ được sự chinh phục của người dân Việt. Họ đã bao lần chứng minh trong quá khứ và chiến tranh Vietnam sự gắn bó thâm sâu của họ với nền độc lập dân tộc. Họ phải chịu qua bao nhiêu thế kỷ chiến đấu, giặc dã và đau thương để Vietnam trở thành hiện nay môt con rồng con ở Á Châu. Người ta tìm thấy trong lịch sữ của người dân Việt có 2000 năm đấu tranh không ngừng đối chọi với thiên nhiên và nước. Vì thế người nông dân Việt lúc nào cũng gắng bó mật thiết với mảnh đất nầy mà còn có sự thỏa thuận sâu sắc với thiên nhiên. Nhà học giã Pháp Paul Mus không ngần ngại nhấn mạnh chuyện nầy trong quyển sách mang tựa đề là « Vietnam, sociologie d’une guerre, Paris, Le Seuil 1952 » (hay là Vietnam, xã hội học của một cuộc chiến tranh, Ba Lê, nhà xuất bản Le Seuil 1952). Chính sự thỏa thuận mật thiết nầy khiến ở đâu đi nửa mà có cơ hội thuận tiện thì khó mà có ai có thể chống lại được sự bành trướng của họ mà luôn cả lực lượng ngoại bang cũng không thể thắng họ khi có đụng chạm với họ trên mảnh đất nầy. Bất chấp sự đô hộ bỡi người Trung Hoa có một ngàn năm, người dân Việt, thấm nhuần nền văn hóa của họ, đã giữ được ngôn ngữ của họ dù biết rằng ngôn ngữ nầy bị phiên âm bằng tiếng Trung Hoa và latin hóa sau nầy khi thầy tu dòng jésuite Alexandre de Rhodes đến Vietnam. Nếu người dân Việt không từ chối bất kỳ sự đóng góp nào từ nước ngoài là vì họ đã thành công việt nam hóa và giữ được tất cả những gì qúi giá mà mọi người ở trên thế giới đều có đó là các truyền thống dân tộc mà được truyền lại từ thế hệ nầy sang thế hệ sau và từ những người mảnh khảnh, chân vùi chôn trong bùn của các ruộng lúa.

Làm thể nào để không gắn bó với Việt Nam, một đất nước mà sự hy sinh không phải là một từ rỗng. Sự hy sinh nầy đã bao lần tìm thấy trong các biên sữ của Vietnam. Thà làm qủi nước nam chớ không thèm làm vương đất Bắc, đó là lời nói dũng khí của danh tướng Trần Bình Trọng trước khi ông bị giặc Nguyên giết chết vào năm 1257. Cuộc đời là một trò chơi may rủi. May mắn nó không đến với chúng ta. Bây giờ tốt hơn là chết cho đất nước và để lại một tấm gương hy sinh cao cả, đó là lời nói của nhà lãnh đạo Nguyễn Thái Học trước khi bị chém đầu vào ngày 17 tháng 6 năm 1930 tại Yên Bái. Làm thế nào để xóa trong ký ức tập thể khuôn mặt ngây thơ của một hoàng đế trẻ bi gian cầm Hàm Nghi, bị lưu đày lúc 18 tuổi ở Algérie, nước mắt lưng tròng ? Làm thế nào để quên đi các chết bi thảm của một vị vua trẻ Duy Tân (một tai nạn máy bay tại OuBangui-Chari ở Châu Phi) mà sự trở về Vietnam của ông có lẽ thay đổi những sự kiện đáng tiếc của lịch sữ Việt Nam trong những thập niên vừa qua vào năm 1945 ? Làm thế nào để không nuối tiếc Viêtnam quê hương tôi, một mảnh đất không bao giờ được bình yên ? Đó là là ấn tượng mà nhà văn Huỳnh Văn Nhường cảm nhận được qua cuốn sách nổi tiếng của ông tựa đề là: « The Land I lost » dành cho giới trẻ và được biên tập bởi nhà xuất bản Castor Poche Flammarion.

Một đất nước mà tôi yêu thương có bao giờ còn tồn tại qua dòng lịch sữ không?

Dân tộc Hmong (Version vietnamienne)

 

 

Dân tộc Hmong

Version française

Tại sao dân tộc Hmong không có quốc gia như người Việt? Tại sao họ sống nghèo nàn tạm bợ ở miền nam Trung Hoa hay ở bán đảo Đông Dương, trở thành một dân tộc thiểu số của Vietnam tuy rằng họ rất đông dân có ít nhất 20 triệu dân trên đia bàn họ cư ngụ.

Dân tộc Hmông được chia nhiều nhóm:Hmong xanh (hay Hmong Lênh), Hmong Hoa, Hmong Đen, Hmong Trắng và Na Miêu (Mèo Nước). Dân tộc Hmong (hay thường gọi là Miêu) sống cư ngụ hiện nay ở Vietnam là con cháu của dân di cư đến từ miền nam nước Trung Hoa. Giữa chừng cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, dân Hmông mới đến định cư ở bán đảo Đông Dương (Lào, Vietnam và Thái Lan). Họ thường ở những vùng miền núi của Việtnam từ 800 đến 1500 thước so với nước biển.(Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La vân vân…) và có liên hê mật thiết với các cư dân đồng tộc ở trong địa bàn khá rộng lớn dọc theo biên giới Việt Trung và Việt Lào. Lịch sữ của họ nhìn lại kỹ là một dân tộc không bao giờ chịu đầu phục dưới sự thống trị và chính sách đồng hóa của người phương bắc (Trung Hoa) cũng như dân tộc Vietnam. Theo truyền thuyết được kể lại qua nhiều thế hệ, ông cha của họ sống ở vùng đầy tuyết và nước đá và ít có mặt trời trong vòng sáu tháng. Bởi vậy họ thường quen sống ở các vùng nhiệt đới và không có dịp thấy được tuyết nên thường dùng những danh từ như nước cứng và cát trắng mịnh để ám chỉ nước đá và tuyết. Theo các sữ gia, họ có nguồn gốc ở Tây Bá Lợi (Sibérie) và các vùng cao nguyên của Mông Cổ. Những nét da trắng của vùng Cáp Ca (Caucase) thường thể hiện ở những người Hmông ngày nay. Còn có nhiều người nghỉ rằng họ đến từ Tây Tạng vì họ có các nghi lễ shaman. Thường hay có sự phỏng đoán nhiều hơn sự xác thực về nguồn gốc người Hmong. Trong các văn bản của người Trung Hoa, người Hmong được gọi là người Miêu. Danh từ nầy dùng để ám chỉ tất cả những dân tộc không phải là người Hán sống ở các vùng tây nam của Trung Hoa. Ngày nay, danh từ nầy dùng để chỉ rõ các dân tộc Hmong ở vùng bán đảo Đông Dương và các dân tộc thiểu số Miêu ở Trung Hoa (Hmong, Hmou, Qoxiong và Hmau) cùng liên hệ mật thiết về ngôn ngữ và văn hóa.

Một dân tộc luôn luôn đi tìm tự do

Nhìn lại danh từ Miao trong chữ Hán (hay Miêu) thì thấy nó đã có nguồn gốc với chữ Điền (ruộng) trên đầu còn thêm tượng hình Thảo (cỏ)(Khóa 140) . Đây là cách ám chỉ của người Trung Hoa trong ngôn ngữ, để chỉ nguời Hmong thời đó. Họ là những người giỏi về làm ruộng ở đồng bằng. Cứ bị lấn áp mất ruộng đất bởi người Trung Hoa, họ buộc lòng trở thành những dân cư miền núi cho đến ngày nay. Họ đến cư ngụ những vùng núi có độ cao khắc nghiệt và khó mà tiếp cận. Họ buộc lòng hoà mình với thiên nhiên tìm ra một cách khéo léo cho mỗi môi trường một mô hình nông nghiệp để trồng lúa (các ruộng lúa bậc thang). Nguời Hoa vẫn khinh khi họ, xem họ như dân mọi rợ cho đến nổi trong văn bản của Hoa có sự phân biệt giữa người Hmong chín (shu Miao) và người Hmong sống (sheng Miao), có nghĩa là những Hmong chịu theo họ hay bị đồng hóa và những người Hmong sống bên lề của văn hoá Trung Hoa. Người Hoa có nhiệm vụ biến các người « Hmong sống » thành các người « Hmong chín ». Lịch sữ người Hmong rất phong phú qua các truyền thuyết và hiện thực. Nó cũng là con đường đầy rẫy chông gai, các cuộc xung đột không ngừng với người Hoa từ buổi ban sơ. Chính vì thế lịch sử của họ là lịch sử của một dân tộc chống lại sự áp bức khiến họ thường nổi tiếng là những kẻ hiếu chiến và khó mà đồng hóa. Ở thời kỳ tiền sử, dân tộc Hmong đã sống gần với bộ tộc Hsia (dưới đời nhà Hạ) ở lưu vực của sông Hoàng Hà ở vùng thượng Hà Nam. Cùng tù trưởng Suy Vưu (Chi You), họ đụng độ lần đầu với người Hoa và thua trận ở Trác Lộc với cái chết của Suy Vưu ở tỉnh Hồ Bắc (Hubei) (khoảng chừng 2690 trưc Công Nguyên). Sau đó họ bị đẩy lui đến đồng bằng sông Dương Tử trong địa bàn của dân Bách Việt bởi hoàng đế Hiên Viên và Đại Vũ của người Trung Hoa. Trong các văn bản của nhà Ân và nhà Châu, cũng có nhắc đến các cuộc xung đột với dân tộc Hmong (1121- 256 trước công nguyên). Ở vùng trung lưu của sông Dương Tử, họ giữ một vai trò quang trọng, một thế lực đáng kể trên phương diện chính trị và xã hội ở Sỡ Quốc, một trong ba nước mạnh nhất ở thời Chiến Quốc. Ngoài việc chiêu hồn, người Hmong cùng người nước Sỡ có sự liên hệ mật thiết trên phương diện ngôn ngữ, đời sống, phong tục vân vân …Dạo đó, dân tộc Hmong cùng dân tộc Lạc Việt và dân Tây Âu (tổ tiên người Thái hiện nay) có một thế lực trọng đại trong dân cư của Sỡ Quốc khiến nước nầy trở thành một thành luỹ kiên cố của dân Bách Việt và dân tộc Hmong chống lại cuộc xâm lăng của người Hoa. Sau khi nước Sỡ bị chinh phục bởi nhà Tần (Tần Thủy Hoàng), người Hmong phải chạy trốn về các vùng núi ờ Qúi Châu, Tứ Xuyên và Vân Nam. Các cuộc xung đột vẫn tiếp diễn dưới triều đại nhà Hán (140- 87 trước công nguyên) và dưới thời Ngũ Đại (907-960 sau công nguyên). Tên Miêu tạm thời được quên đi dưới triều đai nhà Nguyên và sau đó được nhắc đến thường xuyên dưới triều đại nhà Minh. Vì sự gia tăng dân số, người Hoa tiếp tục chiếm đất của người Hmong khiến họ phải di cư và chống lại người Hoa một cách mãnh liệt để bảo vệ ruộng đất. Có nhóm thì dùng vũ khí còn có nhóm thì chạy trốn sang bán đảo Đông Dương nhất là họ sang với ba làn sóng người liên tìếp mà làn sóng quang trọng nhất là lúc có cuộc nổi dậy có liên hệ đến cuộc khởi nghĩa thần bí của nhóm Thái Bình thường được biết dưới cái tên là Thái Bình Thiên Quốc dưới triều đại nhà Thanh từ 1840 đến 1868. Dân tộc Hmong trở thành từ đó một dân tộc thiểu số của Vietnam từ ba thế kỷ.

Pont Alexandre III (Cầu Alexandre III)

Pont d’Alexandre III

Version vietnamienne

C’est le pont le plus joli enjambant la Seine romantique entre les quartiers 7 et 8 de Paris. Ce pont a été construit en même temps que les ouvrages architecturaux « Petit Palais » et « Grand Palais » à l’occasion de l’exposition universelle de Paris en 1900. C’est aussi le cadeau offert par le tsar Alexandre III à la France pour sceller l’amitié entre les deux peuples russe et français. Le tsar a demandé aux deux architectes Cassien-Bernard et Gaston cousin ainsi que deux ingénieurs Jean Résal et Amédée d’Alby d’assumer la réalisation. Aujourd’hui, ce pont est reconnu par UNESCO comme le patrimoine mondial et visité par la plupart des touristes étrangers.

Cầu Alexandre III 

Đây là một cái cầu đẹp nhất bắc qua sông Seine trữ tình giữa hai quận 7 và 8 của Paris. Cầu nầy được xây cất cùng hai công trình Petit Palais và Grand Palais nhân dịp có cuộc triển lãm thế giới năm 1900 ở Paris. Nó cũng là món quà tặng của sa hoàng Alexandre III để siết chặt tình hữu nghị Nga và Pháp và được giao cho hai kiến trúc sư Cassien-Bernard và Gaston Cousin cùng hai hai kỹ sư Jean Résal và Amédée d’Alby đảm nhiệm. Nay được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Malaisie (Malacca)


Version française

Ai có đến tham quan liên bang Mã Lai thì cũng không nên bỏ qua Malacca cả vì thành phố cổ nổi tiếng nầy nằm cách xa thủ đô Kuala Lumpur khoảng hai tiếng (150 cây số) nếu lấy xe buýt. Malacca có một thời là một thương cảng sầm uất tại khu vực Đông Nam Á nhất là nó có vị trí quan trọng nằm ở eo biển Malacca. Người Mã Lai gọi nó là Melaka. Vào thế kỷ 16, thành phố nầy  bị người Bồ Đào Nha xâm chiếm kế tiếp sang thế kỷ 17, người Hà Lan giành lại rồi nhường lại cho người Anh ở thế kỷ 18. Bởi thế ngoài sự đa dạng về dân tộc,  thành phố nầy còn  lưu giữ  hiện nay ở phiá tây  nhiều dấu tích  của các nước châu Âu ở thời kỳ thuộc địa  và ở phía đông  một khu phố tàu Jonker. Tuy diên tích khu phố đi bộ nầy nó có giới hạn nhưng lúc nào cũng đông người đi bộ nhất là thứ bảy chủ nhật. Lang thang ở con đường nầy để  lại cho tớ một ấn tượng khó quên nhất là nó có những nét đẹp độc đáo của phố cổ Hội An. Còn ở trung tâm thành phố thì có một biểu tượng  của người Hà Lan, đó là nhà thờ Christ  được sơn màu đỏ hiện nay cùng các công trình khác gần đó. Còn hai bên bờ  sông êm đềm hiền hoà  Malacca, thì có lô nhô các quán cà  phê trữ tình khiến tớ cảm thấy thích thú, không tiếc những khoãng khắc dừng chân nơi nầy để khám phá thành phố Malacca, một di sản văn hóa mà được UNESCO công nhận vào năm 2008.

Version française

Quiconque a l’occasion de visiter la Malaisie ne peut pas laisser tomber Malacca car cette vieille ville célèbre, localisée seulement à 150 km de la capitale Kuala Lumpur nécessite  à peu près deux heures de route avec le bus. À une certaine époque, elle était un port de commerce très animé dans l’Asie du Sud-Est. Elle était située stratégiquement dans le détroit de Malacca. Pour les Malais, cette ville s’appelait Melaka. Au 16ème siècle, elle fut occupée par les Portugais qui furent chassés à leur tour un siècle plus tard  par les Hollandais.  Ces derniers la cédèrent enfin au 18ème siècle aux Anglais.  C’est pourquoi,  à part la diversité de sa population, Malacca continue à garder encore en direction d’Ouest  les vestiges des pays européens durant la période coloniale et en direction d’Est un quartier chinois connu sous le nom de Jonker. Malgré la superficie de sa zone piétonne  très restreinte,  Malacca continue à être bondée de gens  le soir,  en particulier le week-end. « Se balader à pied » me laisse quand même une impression inoubliable lorsque cette ville charmante me rappelle quelques traits caractéristiques de Hội An (Faifo). Quant au centre de Malacca, il y a toujours un symbole visible venant de la Hollande. C’est l’église Christ peinte aujourd’hui  en rouge avec les autres bâtiments alentours. Beaucoup de kiosques à café longent les rives du fleuve paisible Malacca. Cela me donne  une ambiance pittoresque et  une  énorme satisfaction. Aucun regret ne vient non plus de ma part pour  consacrer un laps de temps dans la découverte de  cette ville que l’organisation internationale UNESCO a reconnue comme le patrimoine mondial culturel en 2008.

Singapour (Tân Gia Ba)

Tân Gia Ba

Version française

Nói đến Singapore  thì không thể nào không nhắc đến ông Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew). Chính nhờ ông mà Singapore, một đất nước chỉ vỏn vẹn 640 km2 cùng 5 triệu dân trở thành ngày nay một cường quốc kinh tế ở châu Á. Trước đó ở thời kỳ Singapour chưa có độc lập còn nằm  trong liên bang Mã Lai  thì chỉ là một trạm trung chuyển hàng hóa và mậu dịch do người Anh, Sir Thomas Stamford Rafles lập ra có 200 năm qua công ty Đông Ấn (East India) sau khi ông nầy thuyết phục được vua Johor nhường lại mãnh đất nầy cho Anh quốc (1819). Vì bất đồng quan điểm chính trị với chính phủ liên bang, Singapore bị trục xuất ra khỏi liên bang vào năm 1965. Trong những năm đầu độc lập, Singapore phải đối mặt với nhiều vấn đề như nạn thất nghiệp, hoà giải dân tộc vì Singapore là một quốc gia có sắc tộc đa dạng (nguời Hoa, người Ấn, người Mã Lai, người Âu Á), tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, một nền kinh tế nhược tiểu dựa lúc đầu trên các ngành sản xuất đã có ở trên đảo và đến từ các nguồn nhu cầu của các đồn quân trú người Anh  vân vân …Thế mà nhờ tâm huyết của ông, cái nhìn sâu sắc của một nhà lãnh đạo yêu nước về vị trí quan trọng chiến lược của Singapore,  lòng tin cậy của người dân, Lý Quang Diệu đã thành công giải quyết từng vấn đề bức thiết và lúc nào cũng xem thương mại và dịch vụ là hai yếu tố chính trong sự nghiệp phát triển của Singapore. Hiện nay, Singapore được xem là một cảng lớn nhất trên thế giới vì nó thu hút hàng chục công ty giao dịch hàng hóa toàn cầu và kết nối qua các tuyến đường biển với thị trường Trung Quốc. Singapour trở thành trong những năm gần đây một quốc gia xanh, một đất nước có một môi trường sống sạch sẽ. Chổ nào có một tí đất trống là có vườn, có cây. Đến đây,  du khách  sẻ thoả mái đường xá sạch sẽ không bị ô nhiễm   nhưng phải cẩn thận  cần phải biết nhiều những điều cấm kỵ : xả rác, khạc nhổ trên đường và nơi công cộng, ăn uống trên tàu điện ngầm, nhay kẹo cao su, đi tiểu mà không giật nước bồn cầu   vân vân bị phạt dưới hình thức tài chánh đôi khi còn bị trục xuất nếu còn tiếp diễn, ăn buffet lấy nhiều mà ăn bỏ mứa không hết phải trả tiền nhé. Có dịp đến Singapore, tớ chỉ nhớ đến một đất nước có kỷ luật rất nghiêm khắc, một quốc gia ít tham nhũng như ở các nước Bắc Âu (Pays Nordiques) theo khảo sát của TI (Transparency International) vì có chính sách giám sát chặt chẽ để đãm bảo tính minh bạch trong hệ thống quan chức nhà nước chớ các điểm vui chơi ở  đảo Sentosa thì tớ cũng thấy có ở các quốc gia khác như Mỹ và Âu Châu mà thôi.  Có đến thì cũng có học hỏi ít nhiều về đất nước nhỏ bé nầy.

« 1 de 2 »

Version française

Quand on évoque Singapore, on ne peut pas ignorer Lee Kuan Yew. C’est grâce à lui que le pays dont la superficie n’est que de 640 km2 avec une population de 5 millions d’habitants devient aujourd’hui une puissance économique en Asie. À l’époque où Singapore n’avait pas encore l’indépendance et faisait partie de la fédération de Malaisie, Singapore n’était qu’un hub de transport maritime et commercial que Sir Thomas Stamford Rafles, un Anglais de renom a crée il y a 200 ans par l’intermédiaire de la compagnie britannique des Indes orientales (East India) après avoir réussi de convaincre le sultan de Johor de lui céder ce petit bout de territoire en 1819. À cause du différend politique avec la fédération malaise, Singapore fut exclu de cette dernière en 1965. Durant les premières années de son existence en tant qu’un état indépendant, Singapore dut affronter un tas de problèmes comme le chômage d’une population non qualifiée, la nécessité d’une réconciliation nationale  dûe à la présence d’une population multi-ethnique (Chinois, Indiens, Malais, Européens etc …), le manque de ressources naturelles, la faiblesse d’une économie basée essentiellement sur la production industrielle locale liée en grande partie aux besoins des garnisons britanniques et malaises etc…Pourtant  grâce à la constance de son implication et de son dévouement, la vision d’un dirigeant patriote sur la position stratégique de Singapore et la confiance de son peuple, Lee Kuan Yew réussît à résoudre progressivement tous les problèmes recensés et à considérer toujours le commerce et les services comme  les deux éléments majeurs dans le développement de la prospérité de l’île. Aujourd’hui, Singapore est considéré comme l’un des plus grands ports de commerce mondiaux car il héberge des dizaines de sociétés de commerce mondiales et il établit des liens avec toutes les routes maritimes pour accéder au marché chinois. Singapore se distingue depuis quelques années comme  la  cité verte la plus durable de l’Asie et revendique son attachement à un cadre de vie  dans un environnement à la fois propre et écologique.  La verdure est omniprésente partout à Singapore. En venant ici, le touriste se sent plus satisfait  car les rues sont propres et la pollution est moindre qu’ailleurs. Mais il doit connaître une série d’interdits : jeter quoi que ce soit par terre, cracher par terre, manger dans le tramway, mâcher ou porter sur soi le chewing gum, quitter la toilette sans tirer la chasse d’eau  etc… Il sera verbalisé toute de suite avec une forte amende. En cas de récidive, il pourra  être expulsé et interdit de séjourner à Singapore. Pour un buffet à volonté, il faut manger tout ce qui est pris dans l’assiette  sinon il faut payer ce qu’on n’arrive pas à finir. Ayant eu l’occasion de venir à Singapore, je rappelle que c’est un pays où la sévérité de la loi est implacable. Selon TI (Transparency International),  la corruption y est moindre comme les pays nordiques dans la mesure où il y a une politique de contrôle très sévère, claire et transparente sur les dirigeants du pays. Par contre, les jeux et les divertissements à  l’île Sentosa n’ont rien de spécial, on peut les trouver ailleurs (USA  et Europe). Malgré cela, il me paraît utile quand même car mon séjour m’a permis de mieux connaître la Suisse de l’Asie.