Văn hóa dùng đũa (civilisation des baguettes)

Văn hóa dùng đũa

Version française

Trong văn hóa phương đông nhất là ở các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Hoa thường thấy tục lệ hay dùng đũa khi ăn cơm. Vậy nguồn gốc của đôi đũa  nó có từ đâu. Theo một số tài liệu nghiêu cứu của phương tây thì chiếc đũa là dụng cụ thuộc về văn hoá Trung Hoa nhất là   được tìm thấy một cặp đũa kim loại dưới triều đại nhà Ân-Thương (khoảng năm 1600-1406 TCN) ở điạ điểm Ân Khư. Nhưng theo các sử gia và  học giả Trung Quốc như Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Quách Mạt Nhược, Đàm Gia Kiện thì  tổ tiên của người Hoa là người du mục đến từ Tây lưu vực sông Hoàng Hà mà được gọi là người Yi ăn bốc các thức ăn như thịt, bánh bao, bánh mì thì với văn hóa nông nghiệp khô (kê, lúa mạch)  cần chi đến đôi đũa. Dụng cụ nầy nó phải thuộc về các người nông dân trồng lúa nước mà thường được gọi là Miêu tộc  (tổ tiên cũa người Bách Việt và Lạc Việt) mà người Hoa Bắc vay mượn sau khi  đánh bại  Xi Vưu ở Trác Lộc trong cuộc hành trình thôn tính phương nam (lãnh thổ của dân Bách Việt).

Theo cố giáo sư  Trần Quốc Vượng, động tác gấp thức ăn là mô phỏng việc con chim lạc hay chim hồng dùng mỏ để mổ và nhặt hạt. Chính con chim lạc nầy mà chúng ta được thấy  trên trống đồng. Chắc chắn là một loại cò mà thường được thấy ở trên các cánh đồng Việt Nam ngày nay. Theo sử gia Trung Hoa Đạm Gia Kiện thì người Hoa Bắc vẫn còn ăn bốc . Chỉ dưới thờì nhà Tần Hán  khi nước Bách Việt bị thôn tính thì người Tàu mới bắt chước nguời Bách Việt mà dùng đũa để gấp các thức ăn cứng trong canh và cháo. Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm, việc dùng đũa cụ thể hóa được tình thần tổng hợp và lý luận. Một đôi đũa có được nhiều chức năng như gắp thức ăn, quấy trộn, xé ra từ mảnh nhỏ, đẩy cơm vân vân… Khác hẵn với người Tây Phương, họ cần ít nhất ba dụng cụ: dao, thìa, nĩa, mỗi thứ có một chức năng rõ ràng.  

Người dân Việt biết dùng đũa rất sớm từ thời Hồng Bàng qua sử tích trầu cau. Để phân biệt hai anh em Cao Tân và Cao Lang, cô con gái của người thầy buộc lòng dùng một mẹo nhỏ bằng cách chỉ dọn một tô cháo để trên bàn cùng một đôi đũa. Tục lệ thời đó, em phải nhường cho anh trước. Nhờ vậy cô con gái mới biết Cao Tân là anh và Cao Lang là em vì Cao Lang nhường cho anh ăn. (trái ngược thời buổi bây giờ anh phải nhường cho em  thì cũng đúng thôi). Thời đó anh phải lập gia đình trước em. Vì vậy cô con gái mới chọn Cao Tân làm chồng. Nói tóm lại, các đôi đũa nầy chỉ làm ra được từ những vùng có nhiều tre.  Chỉ có vùng phía nam Trung Quốc và Đông Nam Á.  Đũa là công cụ thô sơ được chế biến theo hình giống mỏ chim để có thế bắt lấy dễ dàng hột gạo hay cá và tránh việc bẩn tay với các món ăn có nước (súp, cháo, nước  mắm vân vân…). Người ta tìm thấy ở nơi người dân Việt một triết lý giản dị và hóm hỉnh trong việc dùng đôi đũa.  Đôi đũa thường được xem như cặp vợ chồng:

Vợ chồng như đôi đũa có đôi
Bây giờ chồng thấp vợ cao như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

Dưới thời nhà Lê, việc bẻ gãy đôi đũa đồng nghĩa với hai chữ ly dị.  Thà có một bà vợ ngây ngô hơn là có một cặp đũa cong vòng. Chính vì vậy ta thường nghe qua tục ngữ nầy như sau: Vợ dại không hại bằng đũa vênh

Ngoài tính cách nhanh nhẹn và linh hoạt trong việc dùng đũa, người ta không thể quên tính cách tập thể mà thuờng gán cho đũa. Thông thuờng người ta ám chỉ bó đũa để nhắc đến sự đoàn kết. Tục ngữ : « Vơ đũa cả nắm » phản ánh cái ý niệm nầy khi người ta muốn chỉ trích người nào hay gia đình của họ từ một cuộc tranh cãi hay thảo luận nào mà không cần biết đến tính cá biệt.

Cũng như các văn hóa khác ở châu Á, người Việt dùng đũa cũng có những qui tắc cần phải biết nếu không sẽ bị đánh giá là thiếu văn hóa. Bởi vậy phải thực tập từ thưở nhỏ. Có vụng về đến đâu đi nữa có một điều tối kị cần phải biết là không được cấm đũa thẳng đứng vào bát cơm vì  tương ứng như việc cắm nhang vào bát hương để cúng người qua đời. Đũa còn mang cả triết lý Âm Dương. Nó được chuốt từ tre, trúc hay cây với hai đầu, một tròn và một vuông để biểu tượng Trời tròn và Đất vuông. Khi cầm đôi đũa để gắp thức ăn, chiếc đũa nằm dưới ở thể tĩnh (âm), chiếc đũa nằm trên thì động để kẹp chặt miếng gắp (dương). Vì vậy mà đôi đũa được ví như cặp khí âm dương, như cặp vợ chồng (âm dương) gắn bó keo sơn:« vợ chồng như đũa có đôi ». Người ta  thường gọi là đôi đũa (Âm Dương) chớ không được nói là « hai chiếc đũa ». Đũa là một sản phẩm của người Bách Việt mà người Tàu cố tình làm sở hửu riêng tư cũng như triết lý Âm Dương Ngũ Hành, Kinh Dịch, trống đồng, con Rồng vân vân …Xuất phát từ nền văn hóa trồng lúa nước, đôi đũa là một phần không thể thiếu trong đời sống của người  dân Việt. 

Version française

Dans la culture asiatique, en particulier dans les pays comme le Vietnam, le Japon, la Corée ou la Chine, on a l’habitude de manger du riz avec des baguettes. Alors d’où vient-elle l’origine  de ces ustensiles? Selon certains documents de recherche occidentaux, les baguettes font partie de la culture chinoise car  une paire de baguettes en métal datant de la période de la dynastie des Shang (vers 1600-1406 avant JC) fut trouvée à  An Yang dans la province de Henan. Mais selon les historiens et érudits chinois tels que Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, Quách Mạt Nhược, Đàm Gia Kiện, les  Proto-Chinois (ancêtres des Han) étaient des nomades du bassin occidental du fleuve Jaune et étaient connus sous le nom des « Yi » . Ceux-ci étaient habitués à se nourrir de la viande, des brioches, du  pain avec les mains. Ils vivaient de la culture « sèche » du millet et  d’orge, ce qui ne nécessitait pas l’emploi des baguettes. Ces ustensiles  devaient  appartenir aux riziculteurs  connus  communément sous le nom des Proto-Miao  苗 (ou les ancêtres des Bai Yue et des Luo Yue)  et ils étaient empruntés par les Proto-Chinois après avoir vaincu  Chiyou (Xi Vưu) à Zhuolu (Trác Lộc)  lors de  leur  processus de pacification dans le sud de la Chine (territoire des Bai Yue).

Selon feu professeur Trần Quốc Vượng, le geste de prendre la nourriture ressemble davantage à la simulation d’un oiseau « Lạc » ou « Hồng » ayant l’habitude d’utiliser son bec pour prendre ou picoter la graine. C’est bien l’oiseau « Lạc » trouvé sur les tambours de bronze. Il est probablement l’échassier qu’on est habitué à voir dans les champs de riz vietnamiens. Selon le chercheur chinois Đạm Gia Kiện ,les Proto_chinois (ou les Hoa Bắc) continuaient à manger avec les mains. C’est seulement sous la période des Tsin-Han que lors  de  l’annexion du territoire des Bai Yue, ils commencèrent à imiter ces derniers à utiliser  les baguettes pour prendre l’aliment solide dans la soupe ou le potage. Selon le professeur vietnamien Trần Ngọc Thêm, se servir des baguettes concrétise l’esprit de synthèse et de raisonnement. Une paire de baguettes a une multitude de fonctions: se saisir des aliments, remuer, touiller, déchiqueter en petits morceaux, pousser le riz etc.. Contrairement aux Européens, ils ont besoin d’au moins d’un jeu de trois instruments: couteau, fourchette et cuillère, chacun ayant une fonction  bien déterminée.

Les Proto-Vietnamiens savaient se servir très tôt des baguettes à l’époque de la dynastie des Hồng Bàng à travers la légende intitulée « La chique de bétel ». Pour discerner les deux frères, la fille de leur maître devait recourir  à une petite ruse en mettant sur la table un seul bol de soupe avec une paire de baguettes.  Avec la coutume de cette époque, le petit frère dut laisser la place à son grand frère. Grâce à cette tradition, elle sut que Cao Tân était l’aîné et Cao Lang le cadet car ce dernier laissa au premier de se servir du bol de soupe. (Contrairement à l’époque actuelle, le grand frère doit céder la place au petit-frère. C’est aussi juste). À cette époque, l’aîné dut se marier avant le cadet dans la tradition vietnamienne. C’est pour cela que la fille prit l’aîné pour époux. Bref, les baguettes devaient prendre naissance dans les régions où il y avait l’abondance des bambous. On ne les trouve qu’en Asie du Sud Est et dans le sud de la Chine. Les baguettes sont conçues de manière qu’elles puissent simuler le bec de l’échassier pour prendre avec facilité les grains de riz ou les morceaux de poisson et éviter de salir les mains avec les mets contenant  parfois du liquide (soupe, potage, jus de poisson etc…). On trouve dans l’utilisation des baguettes des Vietnamiens une philosophie à la fois simple et humoristique. Une paire de baguettes est toujours comparée à un couple de mariés.

Vợ chồng như đôi đũa có đôi
Bây giờ chồng thấp vợ cao như đôi đũa lệch so sao cho bằng.

Le mari et la femme sont analogues à une paire de baguettes.
Comment peut-on effectuer la comparaison lorsqu’une paire de baguettes est disproportionnée à l’image d’un mari minuscule et d’une épouse de taille élevée ?

A l’époque de la dynastie des Lê, casser une paire de baguettes est synonyme de la rupture du mariage. On préfère une épouse stupide à la place du désastre qu’on peut avoir avec une paire de baguettes qui gondolent. C’est cette préférence qui est maintes fois évoquée dans le dicton suivant:

Vợ dại không hại bằng đũa vênh.

Outre le caractère « vif » et « animé » trouvé dans le maniement des baguettes, on ne peut pas ignorer non plus le caractère « collectif  » qu’on aime attribuer à cet ustensile rudimentaire. On fait référence souvent à une botte de baguettes pour évoquer la solidarité. Le dicton : Vơ đũa cả nắm (Saisir les baguettes en grande quantité) reflète bien cette idée lorsqu’on voudrait critiquer quelqu’un et sa famille lors d’une dispute ou d’un débat sans tenir compte des individualités. Analogues à d’autres cultures trouvées en Asie, en se servant des baguettes, les Vietnamiens doivent respecter un certain nombre de règles qu’il faut connaître absolument pour éviter d’être taxé « personne n’ayant pas assez d’éducation ». C’est pour cela qu’on est obligé de manier  les baguettes à l’âge précoce. Bien qu’on puisse être maladroit jusqu’à un certain point, on est censé de connaître là  règle  d’interdiction suivante: ne pas planter verticalement les baguettes dans un bol de riz. Cela ressemble à l’acte de mettre les baguettes d’encens  dans un brûle-encens pour honorer un trépassé.  Les baguettes portent en elles toute la philosophie du Yin et Yang.  Elles sont taillées à partir du bambou avec les deux bouts dont l’un est rond et l’autre carré pour représenter respectivement le ciel et la terre. En se servant d’une paire de baguettes dans un repas, on met la baguette au dessous à l’état « immobile (Yin) » (ou tĩnh ») et celle au dessus à l’état « mobile (Yang) » (ou động) pour faciliter la prise de la nourriture. C’est pourquoi on compare   les deux  baguettes à un couple d’énergies « Yin et « Yang ».  C’est cette analogie qu’on doit trouver dans le lien indestructible du couple de femme et mari (Yin et Yang). On est habitué à appeler une paire de baguettes (Yin et Yang) mais il est interdit de désigner « deux baguettes ». Les baguettes étaient le pur produit d’invention des Bai Yue que les Chinois avaient l’intention d’accaparer sciemment comme la théorie du Yin et du Yang, Yi King, le tambour de bronze, le dragon etc…Issues de la civilisation du riz inondé, les baguettes ne peuvent pas être manquantes dans la vie journalière des Vietnamiens.

Bibliographie 

Trần Ngọc Thêm:  Recherche sur l’identité de la culture vietnamienne. Edition Thế Giới, 2008
Đàm Gia Kiện: Lịch sử văn hóa Trung Quốc . (Histoire de la culture chinoise). Edition Khoa Học Xã hội, Hànôi.

 

 

Văn hóa Lạc Việt

Văn hóa Việt có phải là bản sao của văn hóa Tàu không?
La civilisation vietnamienne est-elle une copie de la civilisation chinoise?

 Version française

Từ lâu, dựa trên sử tàu, các nhà học giã  Việtnam  như Trần Trọng Kim trong « Việt Nam sử lược » hay Đào Duy Anh trong « Việt Nam văn hóa sử cương » còn cho rằng người Việt cổ  có nguồn gốc từ Trung Quốc hay Tây Tạng. Bởi vậy dưới thời Bắc thuộc phải cần các quan thái thú Tàu Tích Quan (Si Kouang)Nhâm Diên (Ren Yan) dạy người Việt cổ mới biết trồng lúa và cách ăn mặc (Hậu Hán thư). Đây là một lỗi  lầm dễ hiểu thôi vì các nhà học giã Việt nầy phải dựa trên sử tàu để tìm lại nguồn gốc chớ không thể tin ở truyền thuyết được nhất là không thể tưởng được nước ta có thể giáp ranh với Động Đinh hồ chẳng hạn. Không những vậy mà luôn cả người Tây Phương khi đến Đông Nam Á cũng có cái nhìn thiển cần vì chỉ thấy ở nơi nầy (Viêtnam, Lào và Cao Miên)  có hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Quốc. Bởi vậy họ mới gọi Đông Dương với cái tên Indochine (Ấn-Trung Hoa). Những khám phá gần đây của các nhà khảo cổ học danh tiếng người Mỹ như  các ông Wilhelm G. Solheim II,  Carl Sauer, Chester Gorman (1965), Donn Bayard, Stephen Oppenheimer dẩn chứng rằng vùng Đông Nam Á là nơi phát sinh nông nghiệp rất sớm.  Những người dân ở nơi nầy vào khoảng 9000 đến 10000 năm trước Công Nguyên là  những người  canh nông chuyên nghiệp chớ không phải là họ chỉ sống bằng săn bắn ban sơ như các giới khảo cổ học Tây Phương thường mô tả. Vảo khoảng 8000 năm có xảy ra một trận đại hồng thủy và trận lụt vĩ đại khiến những người nông dân nầy phải di tản đi các nơi khác để mưu sinh. Theo S. Oppenheimer dấu vết của họ còn để lại trên các quần đảo Mélanesie, Polynésie và Micronesie. Họ nói tiếng thuộc về ngôn ngữ Nam Đảo (Austronésien) và có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Điều nầy nó phù hợp với các dữ kiện di truyền phân tích của   của nhóm người Mỹ do Giáo sư J.Y. Chu của đại học Texas dẫn đầu được công bố vào tháng 7 năm 1998 trên tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ với tựa đề « Mối quan hệ di truyền của dân số ở Trung Quốc »: người Trung Quốc ngày nay nhất ở phiá nam Trung Quốc (người Hoa Nam) có tổ tiên ở vùng Đông Nam Á. Như vậy người Bách Việt nhất là người Lạc Việt không phải là người Trung Quốc và biết canh nông rất sớm. Một cây rìu  được tìm thấy có niên đại 7000  năm trước CN ở  Động Linh Hồn, Thái Lan  (Spirit Cave, Thailand) bởi ông Chester Gorman vào năm 1965 trong lúc đó chiếc rìu mà người ta cho là Trung Quốc mang sang qua Đông Nam Á chỉ có 3000 năm trước CN. Văn hoá Hà Mỗ Đồ (Hemudu) (5000 TCN- 4500 TCN)  khám phá ở Giang Nam và được xem coi là  nền văn hóa đầu tiên canh tác lúa ở Trung Quốc cũng là văn hóa của dân Bách Việt vì Giang Nam thời Chiến Quốc thuộc về nước Ngô Việt của Cẫu Tiễn (Goujian)(496–465 TCN).

 

Nói đúng hơn,  văn hóa Hoà Bình (12000 TCN-10000 TCN)  mà bà Madeleine Colani đã khám phá được ở Việtnam và  khởi nguồn cho nền văn minh của người Việt, được lan truyền sau đó và ảnh hưởng lên đến phương bắc. Cư dân ở đây được gọi là Miêu tộc (Việt tộc về sau nầy). Họ  rất gỉỏi về canh nông. Bởi vậy họ được người Hoa dùng chữ tượng hình  Điền    trên đầu thêm chữ tượng hình « Thảo »  thành ra chữ  Miêu   chỉ họ là những  người gỉỏi về làm ruộng. Họ ra đi từ dãy núi Thiên Sơn  ở cao nguyên Hi Mã Lạp Sơn (Tây Tạng) nhiều chục ngàn năm theo các dòng nước chảy về hướng Đông và Đông Nam xuống định cư  ở Đông Nam Á rồi sau đó lên các vùng  ở phiá nam của Trung Hoa (hay vùng châu thổ ở phiá nam của sông Dương Tử ). Họ còn được gọi là Viêm tộc (bộ tộc sống ở xứ nóng) dưới thời nhà Châu hay Bách Việt về sau nầy.  Như vậy văn hóa Hoà Bình là văn minh lúa nước của người Việt. Rồi nó thuận lợi cho sự ra đời các văn minh  Hà Mỗ Đồ (Hemudu) (5500 TCN) ở miền nam xứ Tàu, văn minh Đồng Sơn vân vân … Còn người  Hoa tộc thì cũng xuất phát từ  Thiên Sơn nam lộ như Miêu tộc  mà họ là người du mục, sống nghề săn bắt thú,  chăn nuôi và sống ở Tân Cương.   Khi nơi nầy biến thành sa mạc (5000 TCN) thì  họ mới theo sông Hoàng Hà tiến vào Bắc Trung Hoa nơi  mà có  người Miêu tộc cư trú. Họ được gọi là  bộ tộc « Yi« .  Bởi vậy chữ tượng hình Yi được có nguồn gốc từ hình chữ  người  có mang một cây cung   Họ được nổi bật trong việc cởi ngựa bắn cung và họ rất thiện chiến.   Bởi vậy họ dành thắng lợi trong cuộc chiến tranh với người Miêu tộc do Xi Vưu (Chiyou) cầm đầu tại Trác Lộc (Zhuolu)  năm 2704 TCN. 

Văn minh của họ  khởi đầu từ thời đồ đá mới  ở  thủ đô nhà Thương An Dương (Hà Nam) (Anyang, Henan) và ở Yangshao (Shaanxi, Thiểm Tây) mà thường gọi là văn hoá Ngưỡng Thiều  được nhà khảo cổ học Thụy Điển Johann Andersson phát hiện vào năm 1921.  Văn hoá nầy nó có niên đai khoảng 5000 TCN tới 3000 TCN,  thịnh vượng  ở vùng đồng bằng  trung nguyên mà được sông Hoàng Hà  tưới và uốn nắn từ bao thế kỷ. Họ sống trồng kê, lúa mì và luá mạch.Theo sử gia pháp René Grousset thì lúa không ở  miền bắc xứ Trung Hoa.(trang 8) trong quyển sách tựa đề là « Lịch sử Trung Hoa ». Điều nầy nó phù hợp với sự lan truyền và ảnh hưởng về phương  bắc của nền văn hóa Hoà Bình (12000TCN-10000 TCN). Người Tàu ở phía nam của Trung Hoa  thường gọi là người Hoa Nam. Chính là người Bách Việt bị người Tàu đồng hoá bởi vì trong máu người Hoa Nam có gen của người Miêu tộc hay Bách Việt (như Mân Việt, Ngô Việt, U Việt, Sơn Việt, Nam việt vận vân…). Bới thế họ thường tự hào văn hóa họ rất phong phú và đa dạng. Âm Dương ngũ hành, kinh dịch, trà, mái cong, giấy,  rồng, đũa  luôn cả trống đồng điều thuộc về họ vì tất cả đều nằm ở trong điạ phận của dân Bách Việt tức là vùng đất phía nam (Lĩnh Nam) của Trung Quốc hiện nay ngọai trừ Việt Nam. Chớ một thưở nào, họ xem người dân Bách Việt là người man di man rợ.

Đây là một trong những điểm nổi bật của văn hóa Trung Hoa: Nó biết cách chấp nhận và tiếp thu văn hóa nước ngoài mà không bao giờ có thể bị chao đảo hay có sự thay đổi văn hóa. Đây là những gì nhà triết học Trung Quốc nổi tiếng của thế kỷ 20 Liang Shuming đã viết trong phần giới thiệu tác phẩm của mình mang tựa đề là « Những ý tưởng chính về văn hóa Trung Hoa » (do nhà xuất bản Michel Masson dịch).  Điều này được gắn liền với sự nhận xét sau đây của nhà dân tộc học và Hán học người Pháp Brigitte Baptandier trong bài giảng của một ngày nghiên cứu APRAS về  các dân tộc học trong khu vực, ở Paris vào năm 1993: Văn hóa Trung Quốc do đó đã hình thành qua nhiều thế kỷ như một bức tranh khảm của nhiều nền văn hóa. Cần có một dòng máu man rợ truyền chậm cho Trung Quốc bằng cách làm cho nó thích hợp  lại với công thức đẹp của nhà sử học F. Braudel dành cho nước Pháp với những người man rợ.

 Người Hán cũng đưa vào văn học của họ một huyền thoại về sự sáng tạo thế giới được thu thập từ tổ tiên của người Yao, chuyện thần thoại về ông Bàn Cổ. Từ thời Tần-Hán, có một cơ quan hoàng gia thường gọi là  « fangshi » gồm có các học giả địa phương được xem như là những pháp sư chuyên về các nghi lễ liên quan đến các ngôi sao ở trên trời  và lo các doanh thu của triều đình.

Vai trò của họ là thu thập ở trong địa phận của mình, tất các cách thức nghi lễ, các tín ngưỡng, các thuốc địa phương, các hệ thống tiêu biểu, vũ trụ học, các  chuyện thần thoại và truyền thuyết cũng như các sản phẩm địa phương và  đề trình lên  cho triều đình để có thể  chọn lọc giữ lại hay không và kết hợp lại sau đó dưới dạng các quy định nhằm tăng cường quyền lực của hoàng đế trong một  quốc gia rất đa dạng về mặt dân tộc học và mang lại cho hoàng đế  những phương tiện để thực hiện  chức vụ thiêng liêng mà Trời ủy thác. Mọi thứ  nầy phải được thu thập và bổ sung vào việc phục vụ con của Trời nhầm để thiết lập tính cách hợp pháp  ở các lãnh thổ được chinh phục gần đây của các dân man rợ. Bởi vậy trong lịch sử Trung Hoa có nhiều chuyện hoang đường khó tin nổi lấy râu thằng A cắm qua thằng B nhất là thời tam hoàng ngủ đế. Tất cả điều này một phần lớn là do sự vay mượn các truyền thống, phong tục và các nhân vật thần thoại hoặc động vật từ các dân tộc mà họ đã thành công trong việc thán hóa.

Các  thần Trung Quốc như Phục Hi, Nữ Oa, Thần Nông được vay mượn từ các dân cư  ở phía nam. Đây là trường hợp của học giả Trung Quốc vĩ đại Ruey Yih-Fu. Ông đã nhìn thấy ở Phục Hi và Nữ Oa một nét văn hóa cụ thể của Nan Man (Rợ phương Nam) hay là dịch giả của Hoài Nam Tử, ông Charles Le Blanc  thì  Phục Hi Nữ Oa là một truyền thống của nước Sỡ (thời Chiến Quốc). Người ta thường quên rằng từ thời Tần Hán về sau, văn hóa nông nghiệp trồng lúa của người dân Bách Việt bị hoà nhập vào văn hóa Trung Hoa khiến không còn thấy sự khác biệt nhiều nửa. Trung Hoa chỉ thành công một phần lớn trong việc hán hoá các bộ tộc của Bách Việt chỉ trừ dân Lạc Việt.  Họ thoát khỏi  được sự thống trị của Trung Hoa sau một ngàn năm đô hộ. Người Hoa lấy được tất cả  những gì mà người Lạc Việt có nhưng không hán hoá được vì người Lạc Việt vẫn giữ nếp sống cá biệt của một nền văn minh lúa nước cốt yếu dựa trên nền tảng làng xã tự trị khiến hạn chế  được sự thống trị của kẻ xâm lăng với các tập tục (Phép vua còn thua lệ làng). Bởi vậy họ chỉ cần hai yếu tố vỏn vẹn Đất và Nước  để ám chỉ  đất nước  và nền  văn minh của họ. Chỉ cần có đất và nước thì có thể thuần hóa được cây lúa hoang thành cây lúa trồng trong nước và giúp họ bám đất giữ nước mà tổ tiên của họ đã thành công  thể hiện nhiều lần trước hiểm họa phương Bắc từ bao nhiêu thế kỷ.

Version française

Lac_viet

Depuis longtemps, en se basant sur les annales chinoises, les érudits vietnamiens célèbres  comme Trần Trọng Kim dans son ouvrage « L’histoire du Vietnam » ou Đào Duy Anh dans « L’esquisse d’histoire de la civilisation vietnamienne» ont reconnu que les Proto-vietnamiens ont leur origine en Chine ou au Tibet. C’est pourquoi au temps de la domination chinoise  les gouverneurs chinois Si Kouang et Ren Yan devaient  leur apprendre à savoir cultiver le riz et la manière de vivre et de s’habiller (Livre des Han postérieurs).  C’est une erreur  compréhensible car ils ont besoin de s’appuyer sur des annales chinoises pour retrouver la source des informations fiables au lieu de croire aux légendes vietnamiennes relatant des choses invraisemblables, l’ancien territoire du Vietnam étant délimité par le lac Dongting  du royaume de Chu à l’époque des Royaumes combattants par exemple. Même les Européens durant leur séjour au 19 ème siècle en Asie du Sud-Est avaient aussi une vision assez  courte car  ils ne découvrirent que  deux civilisations majeures et  brillantes : l’Inde et la Chine. C’est pourquoi ils ont appelé l’Indochine pour rappeler l’influence notable de ces deux civilisations dans cette région  comprenant le Vietnam, le Cambodge et le Laos. Les récentes découvertes des archéologues célèbres américains tels que  Wilhelm G. Solheim II, Carl Sauer, Chester Gorman (1965), Donn Bayard, Stephen Oppenheimer apportent des preuves confirmant que la naissance de l’agriculture avait lieu très tôt en Asie du Sud-Est. Entre 9000 et 10000 ans avant J.C., ses habitants étaient des agriculteurs expérimentés. Ils ne vivaient pas seulement de la chasse  comme  les archéologues européens avaient l’habitude de le décrire. Vers 8000 ans avant J.C., il y a eu un grand cataclysme et un déluge qui ont forcé ces agriculteurs à s’enfuir vers d’autres régions sûres  pour se protéger et gagner leur vie. Selon S. Oppenheimer, leurs traces ont été retrouvées  sur les îles Mélanésie, Polynésie et Micronésie. Ils parlaient la langue appartenant à la famille des langues austronésiennes  et ils étaient originaires de l’Asie du Sud Est. Cela  est  entièrement cohérent avec les données génétiques analysées par l’équipe américaine dirigée par le professeur J.Y. Chu  de l’Université du Texas et publiées en juillet 1998 dans la revue de l’académie américaine des sciences sous le titre « Genetic Relations of Population in China »: les Chinois d’aujourd’hui, en particulier ceux de la Chine du Sud (Hoa Nam) ont des ancêtres en Asie du Sud Est. On peut dire ainsi que les Bai Yue, en particulier les Luo Yue (les Proto-vietnamiens) n’étaient pas des Chinois et ils connaissaient très tôt l’agriculture. Une hache datant de 7000 ans avant J.C. fut retrouvée par Chester Gorman en 1965 à la grotte de l’esprit en Thaïlande tandis que la hache  attribuée à la Chine  et ramenée en Asie du Sud Est ne data que de 3000 ans avant J.C. La culture de Hemudu  découverte  en 1973 (5000 TCN- 4500 avant J.C.) et considérée  comme la première culture du riz domestique  très ancienne en Chine est aussi la culture des Bai Yue car  la province Jiangnan appartint à l’époque des Royaumes combattants au roi célèbre des Wu-Yue  Goujian (496–465 avant J.C.).

À  vrai dire,  la culture Hoa Binh (12000 BC-10000 BC) que Madeleine Colani a découverte au Vietnam et qui a été à l’origine de la civilisation vietnamienne  s’est répandue plus tard et a apporté l’influence notable dans le  nord. Les gens vivant à Hoà Bình  sont appelés à cette époque les Proto-Miao (ils deviendront plus tard ls Proto-Vietnamiens). Ils excellaient en agriculture. C’est pour cela que les Proto-Chinois  se servaient du pictogramme Rizière au  dessous duquel figure le pictogramme Végétation pour  former  le mot Miao désignant les gens sachant faire l’agriculture. Ils furent partis de la chaîne montagneuse de l’Himalaya, Tiānshān (Thiên Sơn) il y a plusieurs milliers d’années, suivirent les cours d’eau dans la direction Est et Sud Est et s’installèrent en Asie du Sud Est avant de parcourir les régions situées dans le sud de la Chine (ou  le sud du delta du fleuve Yang-Tsé). Ils furent appelés aussi les gens vivant dans le pays chaud (ou Viêm tộc) à l’époque de la dynastie des Chu (nhà Châu) ou les Bai Yue plus tard. On peut dire que la culture de Hoà Bình était la culture du riz inondé des Vietnamiens. Elle favorisait  aussi  la naissance de la culture de Hemudu (5500 TCN) , la culture de Đồng Sơn (500 ans avant J.C.) etc…

Quant aux Proto-Chinois, ils étaient originaires aussi de  Tiānshān (Thiên Sơn) mais ils faisaient partie des tribus  nomades vivant de la chasse et de l’élevage du bétail dans la région Xinjiang. Quand celles-ci devenait désertique (5000 avant J.C.), les Proto-Chinois furent obligés de suivre le long du fleuve Jaune et s’avancèrent dans le nord de La Chine  où se trouvaient les Proto-Miao.  Ils furent appelés à cette époque les Yi.  Ce pictogramme Yi   est l’association de deux pictogrammes Homme  et Arc pour désigner un homme sachant tirer à l’arc. Les Proto-Chinois étaient des excellents guerriers. C’est pourquoi il y a une confrontation ayant eu lieu entre eux et les Proto-Miao dirigés par Chiyou à Zhuolu en 2704 avant J.C. Ils en sortirent victorieux avec la mort de ce dernier. 

Pour les Chinois, les premières traces de leur civilisation  remontent à la période néolithique  dans la capitale des Shang,  Anyang (Henan) et à Yangshao (Shaanxi) avec plusieurs sites. C’est l’archéologue suédois Johann Andersson qui a découvert le premier site en 1921. Cette culture  remontant entre  5000  environ et 3000 ans  avant J.C., a prospéré dans les plaines des hauts plateaux du centre irriguées et modelées par le fleuve Jaune pendant des siècles. Ils cultivaient le millet, le blé et l’orge. Selon l’historien français René Grousset, le riz est étranger au nord de la Chine (page 8) dans son ouvrage intitulé « Histoire de la Chine« . Ce fait est en concordance avec la propagation et l’influence exercée par la culture de Hoà Binh (12000TCN-10000 TCN) dans le nord. Les Chinois vivant dans le sud de la Chine sont des Bai yue que les Chinois ont réussi à siniser car on trouve dans leur sang le gène des Proto-Miao ou des Bai Yue (comme les Man Yue, les U Yue, les Shan Yue, les Wu Yue etc…). C’est pourquoi les Chinois sont fiers de la richesse et la diversité de leur culture. Le Yin et Yang et les 5 éléments, le Yi King, le thé, le toit incurvé des maisons, le papier, le dragon, les baguettes y compris les tambours de bronze, tout leur appartient désormais car il se trouve dans le territoire des Bai Yue càd dans le sud des 5 Passes (Lĩnh Nam) de la Chine excepté le Vietnam. Pourtant à une certaine époque, les Bai Yue étaient encore des Nan Man ou des barbares méridionaux. C’est l’un des traits caractéristiques de la culture chinoise : Elle sait accepter et absorber les cultures étrangères sans qu’on puisse jamais parler de vacillation ou de modifications culturelles. C’est ce qu’a écrit le célèbre philosophe chinois du XXème siècle Liang Shuming dans l’introduction de son ouvrage intitulé « les idées maîtresses de la culture chinoise » (traduction de Michel Masson). Cela rejoint la remarque suivante qu’a soulignée l’ethnologue et sinologue française Brigitte Baptandier dans son texte de conférence lors d’une journée d’étude de l’APRAS sur les ethnologies régionales à Paris en 1993: La culture chinoise s’est donc formée au cours des siècles comme une sorte de mosaïque de cultures. II faut une lente perfusion de sang barbare à la Chine  en réadaptant la belle formule de l’historien F. Braudel pour la France avec les barbares. Les Chinois introduisent dans leur littérature un mythe de création Pangu recueilli chez les ancêtres de Yao. (Baptandier).

Il existe à partir de l’époque des Qin-Han, une institution impériale, les fangshi qui étaient des lettrés locaux considérés comme des magiciens spécialisés dans les rites aux étoiles et dans les recettes du gouvernement. Leur rôle consistait à recueillir chacun dans son territoire propre, les procédés rituels, les croyances, les médecines locales, les systèmes de représentations, les cosmologies, les mythes, les légendes au même titre que les produits locaux et à les soumettre à l’autorité politique afin que celle-ci pût les retenir ou non et les incorporer sous forme de règlements dans le but d’augmenter la puissance impériale dans une nation ethnologiquement très diversifiée et de donner à l’empereur les moyens de sa vocation divine. Tout devait être collecté et ajouté au service du fils du Ciel dans le but d’asseoir sa légitimité sur des territoires récemment conquis aux barbares. C’est pourquoi dans l’histoire de la Chine il y a une incohérence difficile à comprendre car les Chinois ont l’habitude de prendre la tenue de Monsieur A pour habiller Monsieur B à l’époque des Cinq empereurs et Trois Augustes.  Tout cela est dû en grande partie à l’emprunt des traditions, des us et des personnages ou animaux mythiques chez les peuples qu’ils ont réussi à siniser.

Les démiurges chinois tels que Fuxi, Nuwa, Pangu, Shennong  ont été empruntés aux populations méridionales.  C’est le cas du grand érudit chinois Ruey Yih-Fu qui voit en Fuxi et Nuwa un trait culturel spécifique des Nan Man (Barbares du Sud) ou celui de Charles Le Blanc, le traducteur de Huainanzi (Hoài Nam Tử). Pour ce dernier, le cycle de Fuxi-Nuwa est une tradition du royaume de Chu. On a l’habitude d’oublier qu’à partir de l’époque de Qin-Han, la culture agricole des Bai Yue était intégrée dans la culture chinoise si bien qu’on ne distingue plus la différence entre ces deux cultures. La Chine réussit à siniser en grande partie  la plupart des Bai Yue sauf les Luo Yue. Ceux-ci réussissent à sortir du joug des gens du Nord après une longue domination  durant presque 1000 ans. Les Chinois accaparent tout ce qui appartient aux Vietnamiens mais ils échouent à les siniser car les Vietnamiens continuent à garder le mode de vie caractéristique  de la culture du riz inondé basé  essentiellement  sur l’autonomie des villages rendant ainsi inefficace la pénétration des agresseurs étrangers  avec leurs traditions et us. (l’autorité du roi cédant aux coutumes locales du village). C’est pourquoi   ils ont besoin seulement de deux éléments essentiels « Terre » et « Eau » pour faire allusion à leur pays et à leur civilisation. « Terre » et « Eau » leur permettent de domestiquer le riz sauvage  et les aident à s’attacher profondément à leur sol  pour  protéger l’eau (ou  pays  en vietnamien), c’est ce que leurs ancêtres ont réussi à manifester maintes fois  face au péril des gens du Nord depuis des siècles.

Paris 9/11/2020

Zhao Tuo (Triệu Đà)

Version française

Sau khi thống nhất 7 nước, Tần Thủy Hoàng mới bắt đầu thôn tính vùng đất của Bách Việt ở phiá nam của Lĩnh Nam vào năm 218 TCN với tướng Đồ Thư cùng 50 vạn binh. Sau đó, các vùng được bình định  chia ra thành quận: Nam Hải, Quảng Đông, Quế Lâm (Quảng Tây) và được Nhâm Ngao Triều Đà cai trị. Chính ở các nơi nầy Nhâm ngao và Triệu Đà dùng chính sách hoà tập người Bách Việt với người Hoa và đồng thời di dân 500.000 người Hoa Hạ (Trung Hoa) vào các vùng đất của người dân Bách Việt. Đây là chính sách đồng hóa mà người Tàu áp đặt từ ngàn xưa mỗi lần xâm chiếm một vùng đất mới. Nhờ chính sách hoà hoãn nầy mà Triệu Đà mới xưng vương được cùng người Việt sau nầy khi Nhâm ngao qua đời và cùng lúc nhà Tần sụp đổ ở Trung Hoa.

Chỉ có vùng đất Tây Âu, nơi mà có vương quốc Nam Cương (Cao Bằng) thì có sự kháng cự mãnh liệt khiến tướng nhà Tần Đồ Thư bỏ mạng. Sau khi nhà Tần bị diệt, Triều Đà xưng vương lập nước Nam Việt và cai trị từ năm 207 đến 137 trước Công Nguyên dưới tên là Triệu Vũ Vương đóng tại Phiên Ngung (Quảng Châu) ngày nay. Bao lần tấn công nước Âu Lạc, ông bị thất bại vì thành Cổ Loa rất được củng cố vững chắc nhờ sự hiểu biết địa thế của người dân Lạc Việt với các vòng đai đất xoán ốc nhất là có nỏ liên châu do tướng Cao Lỗ chế tạo bắn ra một lần nhiều phát mũi tên khiến quân của Triệu Đà phải khiếp sợ. Nhưng sau đó cũng bị thất thủ vì có nội gián và sự chia rẻ giữa người Việt qua chính sách mua chuộc của Triệu Đà. Chính vì thế qua truyền thuyết nỏ thần có nhắc đến giặc ở trong nhà qua hình ảnh cô công chúa Mị Châu.
Dưới thời Triều Vũ Vương, nước Nam Việt gồm có Quảng Đông, Quảng Tây, Vân nam và Âu Lạc của Thục Phán. Theo sách Thuỷ kinh chú của Trung Hoa, dưới triều đại Nam Việt quốc nầy, các lạc tướng của Hùng Vương vẫn cai trị dân như cũ. Triệu Vũ Vương chủ trương sử dụng các hào trưởng người Việt có uy tín và lực lượng, lại thông hiểu ngôn ngữ và phong tục tập quán địa phương, để quản lý dân Lạc Việt. Chính ở các vùng nầy có sự hưởng ứng mãnh liệt của người dân Việt về sau nầy khi hai bà Trưng khởi nghĩa chống lại quân Tàu (75 thành trì thất thủ) để giành lại độc lập. Qua truyền thuyết nỏ thần, có nhắc đến Trọng Thủy nhưng không ai nhắc đến trong lịch sử. Người thừa kế của Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) là Triệu Muội (tức là Triệu Văn Đế) và là cháu nội của Triệu Đà. Như vậy Trọng Thủy là người có thiệt hay không?.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì Triệu Văn Đế là con của Triệu Trong Thủy. Trọng Thủy không được thừa kế vì Triệu Đà sống rất thọ ít nhất một trăm tuổi. Triệu Đà sinh ở huyện Chân Định (Zhending) nước Triệu thời Chiến Quốc nay là tỉnh Hà Bắc. Triệu Đà là võ tướng nhà Tần được lệnh chinh phạt miền nam nhưới Tàu. Triệu Đà là nhân vật gây ra nhiều tranh luận cho giới sử học Việt Nam. Có nhiều người sử gia Việt xem ở triều đại của ông là triều đại chính thống Việt Nam tiếp nối cho triều đại An Dương Vương. Còn có nhóm sử gia khác thì xem thời kỳ của ông là thời kỳ Bắc thuộc vì ông là người Hoa Hạ hay người Hán. Thậm chí còn có nghi vấn đưa ra giã thuyết là có hai Triệu Đà nửa. Nhờ sự khám phá lăng mộ của Triệu Văn Đế vào năm 1983 và nằm dưới độ sâu 20 thước dưới chân núi Tượng Cương ở thành phố Quảng Châu thì giã thuyết có hai Triệu Đà không còn đứng vững nửa. Triệu Văn Đế (hay Triệu Mộ) là cháu nội của Triệu Đà và người thừa kế ông. Trong lăng mộ, có hơn 1000 đồ tùy táng trong đó có một thạp đồng Đồng Sơn với cuộc khai quật nầy. Lăng mộ Triệu Văn Đế được xem như một triều đình thu nhỏ của thiên hạ không thua kém các hoàng đế phương Bắc nhưng khác hẳn nó có rất nhiều hiện vật tập tục bản địa của vùng Lĩnh Nam.  Còn thấy có nhiều  ấn  trong đó có một cái ấn cổ có khắc bốn chữ « Văn Đế hành tỷ » biểu dương được quyền lực của một đế vương phương nam. Nếu có ấn chôn theo tức là theo ý của đương sự lúc còn sống. Như vậy Triệu Văn Đế tự xem mình là một hoàng đế  của các người dân Việt ngự trị ở phương nam chớ không phải một vua chư hầu của nhà Hán. Ngoài các đồ mai táng quý giá ra còn có cả thân nhân gia quyến của cả một triều đình cùng kẻ hầu hạ (15 người) cũng được chôn theo. Như vậy cho chúng ta suy luận rằng nước Nam Việt có tính cách hành sự độc lập chớ không phải một chư hầu của nhà Hán như sử Tàu thường nói đến.

Version française

Après la réunification des sept royaumes combattants, Qin Shi Huang Di commença  à annexer le territoire  de Bai Yue au sud  des 5 arêtes (Lĩnh Nam)   en 218 avant J.C. avec le général Tu Sui (Đồ Thư)  et ses 50 000 soldats. Les  régions conquises ont été divisées en commanderies: Nan Hai (Nam Hải), Guangdong (Quảng Đông), Guilin (Guangxi) et gouvernées par  Ren Xiao (Nham Ngao) et Zhao Tuo (Triệu Đà). C’est  dans ces territoires conquis que Ren Xiao et Zhao Tuo  ont appliqué  la politique de mélange des Bai Yue avec les Chinois et ont déplacé en même temps 500 000 Chinois venant du Nord. C’est cette politique d’assimilation que les Chinois  ont  mise en place depuis la nuit des temps,  chaque fois une nouvelle terre conquise.

Profitant de l’effondrement de la dynastie des Qin en Chine et de la disparition du gouverneur militaire Ren Xiao à Nan Hai, Zhao Tuo vint d’être déclaré roi avec les Yue.  Il y a seulement dans  le territoire des Xi Ou englobant  le royaume de Nam Cương qu’on nota une résistance farouche contre les Qin avec la mort du général Tu Sui (Đồ Thư). Après la disparition de l’empire des Qin, Zhao Tuo créa le royaume de Nanyue,  régna de 237 à 107 avant J.C. sous le nom Zhao Wu Di (Triệu Vũ Đế) et s’installa à Panyu (Phiên Ngung) devenu aujourd’hui  Canton (Quảng Châu). Il tenta d’annexer maintes fois le royaume de Âu Lạc mais ce projet échoua car la citadelle Cổ Loa  était tellement fortifiée et imprenable  grâce à la connaissance du terrain traduite par  la présence des douves et des trois remparts en forme de spirales concentriques et la possession des arbalètes conçues avec ingéniosité par Cao Lỗ permettant de lancer d’une manière efficace plusieurs flèches à la fois, ce qui provoqua la panique chez les adversaires. Malgré cela, la citadelle tomba quand même à cause de la présence de la cinquième colonne et la division entre les Yue par la politique de corruption  menée par Zhao Tuo. C’est pourquoi dans la légende de l’arbalète magique, on ne cesse pas de rappeler la présence de l’ennemi dans le pays par le biais de la princesse Mị Châu.  Sous le règne de Zhao Wu Di (Zhao Tuo), le royaume de Nanyue  fut composé de Guangdong, GuangXi, Yunnan et Âu Lạc de Thục Phán.

Dynastie des Yue du Sud

Selon le livre chinois « Thủy Kinh Chú » , durant la dynastie des Yue du Sud, les généraux du roi  Hùng Vương continuaient à diriger le peuple comme avant. Triệu Vũ Vương préconisait employer les chefs et les responsables locaux réputés connaissant  la langue et les coutumes locales, pour gérer le peuple du Lac Viet. C’est dans ces zones que les Yue réagiront plus tard lorsque les deux sœurs Trưng se sont rebellées contre l’armée chinoise (la chute de 75 citadelles dans un laps de temps très court) pour retrouver leur indépendance. Dans la légende  de l’arbalète magique,  le nom de Trọng Thủy  est mentionné mais on ne le trouve nulle part dans l’histoire. L’héritier de Zhao Tuo (ou Zhao Wu Di)  était Zhao Mo (Zhao Wen Di). Celui-ci  était son petit-fils. Alors Trọng Thủy est-il un personnage historique ou pas? Selon le livre vietnamien intitulé « Đại Việt sử ký toàn thư  (Le Livre complet sur l’histoire du Đại Viêt) » de Ngô Sĩ Liên, Zhao Wen Di (Triệu Văn Đế) était le fils de  Zhao Shi (Triệu Trọng Thủy). Celui-ci ne pouvait pas  être le principal héritier car Zhao Tuo mena  une très longue vie au moins de cent ans.

Zhao Tuo  est né  à  Zhending dans  l’actuelle province du Hebei (le royaume Zhao de l’époque des royaumes combattants). Zhao Tuo est un général de la dynastie Qin ayant reçu l’ordre de conquérir le Sud de la Chine. Zhao Tuo est un personnage  ayant  suscité beaucoup de controverses chez les historiens vietnamiens. Certains voient dans sa dynastie une certaine légitimité pour remplacer la dynastie de An Dương Vương. D’autres sont très réticents et considèrent son règne comme la période de l’occupation chinoise car il était d’origine chinoise. Même on jette le doute sur son personnage car selon la rumeur il y a deux Zhao Tuo, un pro-Han et un pro-Yue. Mais cela ne convainc personne grâce à découverte de la tombe à linceul de jade du roi Zhao Mo, petit-fils de Zhao Tuo à Canton en 1983.

Cette tombe est située à une profondeur de 20 mètres du mont Xiangang à Canton. Dans sa tombe, lors de la fouille, on recense plus de 1000 objets funéraires parmi lesquels un objet particulier retient l’attention des archéologues: une situle Đồng Sơn dans la chambre des épouses. La tombe de Zhao Wen Di est considérée comme une cour en miniature  qui n’est pas inférieure à celle des empereurs du Nord  mais elle est différente dans la mesure où elle possède de nombreux objets relatant les coutumes de la région de Lingnan (1).  On trouve également un nombre de sceaux parmi lesquels figure  un sceau en or gravé portant l’inscription « Wen Di xing xi » pour démontrer la puissance d’un empereur du sud. Si le sceau est dans la tombe, cela traduit la volonté du propriétaire de l’avoir dans la mort lors de son vivant.  Cela reflète ainsi le comportement de Zhao Wen Di à cette époque  comme celui de l’empereur des Yue du Sud. Ce n’est pas un roi vassal des Han. Outre les objets funéraires précieux, il y a une quinzaine de proches de la cour et de serviteurs enterrés vivants pour accompagner le défunt dans l’au-delà. Nous sommes amenés à conclure ainsi que le royaume de Nan Yue avait l’occasion de se montrer comme un pays indépendant mais non pas un pays vassal de la dynastie des Han comme on l’avait dit souvent dans les annales chinoises.  

Bibliographie 

Girard Geslan Maud : La tombe à linceul de jade du roi Nanyue à Canton. Arts asiatiques, tombe 41, 1986.pp 96-103
Nguyễn Duy Chính: Lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu, Nguồn: http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/chu-de/12963-phát-hiện-mộ-triệu-đà-nam-việt/

Con rồng cháu tiên (Version vietnamienne)

Version française

Con Rồng cháu Tiên

Thưở xưa, Việt Nam là  vùng đất  nửa hoang vu, nửa trồng trọt, tràn ngập thú dữ sống chung với con người trong các hang sâu trong rừng. Có một chàng trai tên là Lạc Long Quân thông minh và có khả năng phi thường. Chàng nầy có trong huyết quản một dòng máu được hòa lẫn cùng dòng máu của những con Rồng của nước Bách Việt (Bai Yue). Trong lúc đi lang thang qua những ngọn đồi và thung lũng, chàng ta mới đặt chân đến vùng bờ biển đông nam của xứ Lạc Việt. Nhìn thấy dân chúng ở đây  bị tàn sát  bởi một con quái vật biển (ngư tinh), anh ta chộp lấy một cây lao được nung nóng bỏng trong lửa và ném vào miệng của con quái vật nầy và nhờ vậy anh ta mới giết được nó. Anh ta mới chặt con ngư tinh nầy thành ba khúc rồi ném ở ba nơi khác nhau: khúc đầu ở  hòn núi Cầu Đầu Sơn, khúc mình  thì ở núi Cầu Đầu Thủy và khúc đuôi là ở đảo  Bạch Long Vỹ.

Người dân Lạc Việt  được sống lại trong hòa bình. Người anh hùng mới tìm đến vùng Long Biên, nơi mà cư dân khiếp sợ vì một con cáo hóa thành hồ tinh. Con nầy thường biến thành một chàng thanh niên để vào các ngôi làng và bắt cóc các phụ nữ và các em gái. Lạc Long Quân phải chiến đấu trong ba ngày ba đêm trước khi mới giết chết được con quái vật và vào hang động sau đó để giải thoát những người sống sót. Đến đất Phong Châu, chàng ta phải đối mặt với con mộc tinh xuất thân từ cây cổ thụ rất dữ tợn  khiến chàng phải nhờ đến vua cha là Kinh Dương Vương để xua đuổi nó về phương Nam. Sau khi đem lại hòa bình cho ba vùng này, chàng ta cảm động trước những con người bất hạnh và bình dị nầy. Chàng ta quyết định ở lại để bảo vệ họ và dạy họ trồng lúa, nấu cơm, chặt cây làm nhà che mưa gió và tránh thú dữ. Người dân tôn kính nể chàng và coi chàng như là thủ lĩnh của họ. Chàng còn  dạy cho họ có những đức tính mà cha mẹ và vợ chồng con cái cần phải có ở trong gia đình. Vì vậy, chàng được người dân ở đây xem như là cha của họ và là người tạo ra cho họ sự sống. Trước khi gặp lại mẹ ở thủy cung, chàng dặn dân chúng rằng trong trường hợp có hoạn nạn, hãy lớn tiếng gọi chàng: Bố ơi thì  bố sẽ quay lại ngay lập tức. Một thời gian sau, chúa tể vùng núi phương Bắc là Ðế Lai cầm đầu một đạo quân xâm lược nước Lạc Việt. Ông mang theo một người con gái xinh xắn tên là Âu Cơ  và áp bức buộc dân  chúng ở nơi nầy phải cung cấp thịt và gạo cho đạo quân của ông.

Trong cơn túng quẫn, người dân kêu gọi: Bố ơi, hãy trở lại và cứu chúng con. Lạc Long Quân quay trở lại liền nhưng không tìm thấy Ðế Lai. Chỉ có Âu Cơ ở đó,  đang đi dạo cùng  đám thị tỳ. Lóa mắt trước sắc đẹp của nàng, chàng rước Âu Cơ về cung điện của mình. Âu Cơ bị chàng quyến rũ và đồng ý sống chung với chàng. Ðế Lai tức giận trở về, đem quân vây thành.

Nhưng Lạc Long Quân chỉ huy bầy thú dữ đã đẩy lùi được ông. Không thể chống lại một người con rể quyền lực như vậy, Ðế Lai  đành thu quân ra khỏi đất Lạc Việt, để lại con gái ở nơi đất khách quê người. Sau một thời gian, Âu Cơ sinh ra một cái túi lớn, từ đó đẻ ra một bọc trăm trứng, sinh ra một trăm người con trai khỏe mạnh như cha chúng. Đến ngày biệt ly để trở về với mẹ, Lạc Long Quân nói với vợ Âu Cơ rằng: “Nàng là giống tiên. Ta thì đến từ loại rồng. Chúng ta không thể ở bên nhau trọn đời. Nàng cần phải sống nơi có độ cao. Ta thì cần phải sống ở nơi có bờ biển. Vì vậy, nàng hãy ở lại đây với năm mươi đứa trẻ. Ta sẽ đưa năm mươi đứa kia đến vùng biển và định cư trên đất liền. Kể từ đó, Âu Cơ  ở trên núi với năm mươi người con của mình. Những người này đã trở thành tổ tiên của tất cả các dân tộc sống trên vùng cao nguyên và miền núi ngày nay (đây là những người miền núi và các dân tộc thiểu số). Về phần Lạc Long Quân, ông cùng các con xuống đồng bằng ở ven biển mà ông dạy họ khai khẩn để lập vương quốc. Con trai cả của ông trở thành vị vua đầu tiên của Việt Nam, lấy niên hiệu là Hùng Vương và được gọi là nước Văn Lang.

La rue du train (Phố đường tàu Hà nội)

Phố đường tàu ở Hànội
La rue du train (Hànội)

Phố nầy chỉ những năm gần đây là điểm mà giới trẻ Hànội cùng du khách chọn làm nơi để lưu niệm các ảnh đám cưới hay tìm một lối « sống ảo » với những khoảnh khắc hồi hộp lúc mà chuyến tàu vụt ngang qua sát bên họ như ở Đài Bắc với phổ cổ Thập Phần. Không biết từ lúc nào dưới thời kỳ Pháp thuộc xóm phố đường tàu nầy được dựng bên hành lang đường sắt. Dạo đầu chỉ dân nghèo không ở nơi khác mới cư ngụ ở xóm nầy cùng với dân tứ xứ. Bởi vậy rất có nhiều thế hệ lớn lên ở nơi nầy từ cha đến con hay cháu. Nay nó trở thành « danh lam thắng cảnh » giữa lòng Hànôi. Xóm nầy rất nhỏ, chỉ chừng 5 hay 600 thước cây số bề dài từ ga Long Biên đến phố Lê Duẫn mà dạo trước mình có đến đây không có tấp nập đông người như bây giờ nhất là buổi tối. Các nhà ở nơi nầy trở thành phần đông các quán café, đèn đuốc sáng ngời về đêm với số lượng du khách ngoại quốc không ít vì lúc đó có các chuyến tàu đêm hai chiều (có chuyến đi Sapa) hay sáng sớm (từ Sapa về). Chớ ban ngày xóm nầy hơi vắng vẽ. Họ đến đây để thỏa chí sự tò mò và tìm cảm giác lạ chớ họ dư biết hành lang đường sắt rất siêu hẹp, mỗi bên hông chỉ cách xe lửa có 0,4m khiến lúc nào cũng có thể xảy ra chuyện không may. Gần đây phố đường tàu bị cấm buôn bán nhưng nghe nói gần đây được buôn bán lại, không biết có đúng hay không ? Giữa thời điểm dịch COVID-19 hoành hành, cùng sự buông lỏng của lực lượng chức năng, du khách nước ngoài lại thoải mái kéo vào « checkin » phố đường tàu Phùng Hưng.

GA_TAU

Chùa Chiền Việt Nam: Phần 1 (Version vietnamienne)

 

Thân là nguồn sinh diệt, Pháp tính vẫn như xưa
Thiền sư Thuần Chân của phái  Tì Na Lưu Đà Chi(1101)

pagoda

Version française

Không giống như chữ « Đền » thường chỉ nơi thờ một danh nhân (anh hùng, vua hoặc thần), chữ « Chùa » thì chỉ được dùng để chỉ nơi thờ phượng  tôn kính Đức Phật. Trước khi xây dựng tòa nhà này, điều cần thiết là phải xem xét kỹ vị trí vì cần phải có sự hòa hợp với thiên nhiên ở xung quanh. Mặt khác, không giống như những ngôi chùa ở Trung Quốc, Ấn Độ hay Cao Miên, việc hoành tráng và xa hoa không nằm ở trong các tiêu chuẩn được lựa chọn trong việc thực hiện công trình này. Đây là lý do tại sao các vật liệu cơ bản được sử dụng chủ yếu thường là gỗ, gạch và ngói. Chùa không nhất thiết phải trội hơn các toà nhà ở xung quanh.  Trên thực tế  ở trong mỗi ngôi làng đều có một ngôi chùa. Tương tự như đình, chùa thường khơi lại đối với mọi người  dân Việt hình ảnh làng quê mà còn lại bao hàm cả hình ảnh quê hương. Chùa  vẫn có  một sức lôi cuốn quyến rũ đối với họ.

pagode0

Chùa được ghé thăm nhiều hơn đình vì không có phân chia giai cấp nào được nhìn thấy ở nơi đó. Đây là sự bình đẳng tuyệt đối giữa  các con người với nhau mà cũng là phương châm do chính Đức Phật thuyết giảng để chia sẻ và giải thoát những đau khổ của con người. Ngay cả trong khung cảnh nghiêm túc và trang trọng này, đôi khi còn tìm thấy ở trong sân chùa các vở kịch cổ điển. Đây không phải là trường hợp của đình nơi  cần có sự tôn trọng nghiêm ngặt. Sự phân biệt thứ bậc có thể thấy được ít nhiều. Ngay cả phép vua cũng không thể ảnh hưởng đến phong tục lệ làng đựơc. Đó cũng là lý do tại sao chùa rất gần gũi với người dân Việt hơn bao giờ hết. Chúng ta vẫn thường quen nói: Đất vua, chùa làng, cảnh Phật để gợi nhớ không chỉ sự gần gũi, gắn bó hữu tình của chùa với dân làng mà còn là sự hòa hợp với thiên nhiên.icone_lotus

Chùa có được  một vai trò then chốt trong đời sống xã hội của làng xã cho đến nỗi chùa được nhắc đến thường xuyên trong các  câu ca dao:

Ðầu làng có một cây đa,
Cuối làng cây thị, đàng xa ngôi chùa.

hay

Rủ nhau xuống bể mò cua,
Lên non bẻ củi, vào chùa nghe kinh.

khiến cho chúng ta nhận thấy người dân Việt rất gắn bó sâu  sắc với biển cả và núi non để được nuôi dưỡng và với  chùa  chiền  để  đáp ứng nhu cầu tâm linh. Chùa chiền đúng là nơi nương tựa lý tưởng và tâm linh của họ trước những thiên tai, hiểm họa thường gặp trong cuộc sống hàng ngày.

Cho đến ngày nay, nguồn gốc của từ « chùa » vẫn chưa được làm sáng tỏ. Không có mối liên hệ nào được tìm thấy về nguồn gốc của chữ từ « tự (chùa) » trong tiếng Hán. Theo một số nhà chuyên môn, nguồn gốc của nó nên được tìm thấy trong chữ Pali « thupa » hoặc « stupa » viết bằng tiếng phạn vì lúc mới xây dựng, chùa Việt Nam có dáng dấp của một bảo tháp. Do đó người Việt Nam  hay quen rút gọn trong cách phát âm của các từ  được du nhập từ nước ngoài, từ « stupa » trở thành từ « stu » hoặc « thu » để nhanh chóng dẫn đến từ « chùa » qua nhiều năm. Theo nhà nghiên cứu Việt Nam Hà Văn Tấn, đây chỉ là  sự phỏng đoán mà thôi. 

pagode_chuachien

Còn từ “Chiền” thì có ở trong tiếng Việt cổ, ngày nay được dùng cùng với từ “chùa” để gợi lên kiến ​​trúc của chùa. Tuy nhiên, từ « chiền » này thường được nhắc đến một mình trong quá khứ để chỉ chùa. Đây là điều chúng ta  tìm thấy trong bài thơ “Chùa vắng vẻ, tịch mịch” của vua Trần Nhân Tôn hay bài “Cảnh ở tự chiền” của Nguyễn Trãi.  Đối với nhiều người, từ « chiền » này có nguồn gốc từ tiếng Pali « cetiya » hoặc trong từ « Caitya » trong tiếng phạn để chỉ bàn thờ Phật trong mọi trường hợp.

Công trình xây dựng chùa đòi hỏi nhiều thời gian và công sức nghiên cứu nhất là việc thăm dò sơ bộ mặt bằng. Nó phải đáp ứng nghiêm ngặt một số tiêu chí nhất định ở  trong phong thủy vì theo người dân Việt, môn khoa học này có thể gây ra   một ảnh hưởng tai hại hay không đối với đời sống xã hội của dân làng. Nhà sư Khổng Lộ của phái Vô Ngôn Thông (1016-1094), cố vấn triều Lý, đã có dịp đề cập đến vấn đề này trong một bài thơ của mình với câu như sau: Tuyển đắc long xà địa khả  cư  (chọn được đất rồng mới có thể ở yên). Chúng ta thường quen xây dựng chùa trên một ngọn đồi hoặc một gò đất hoặc trên một khu vực đủ cao để nó có thể chiếm ưu thế đới với các nhà của dân làng. Bởi vậy vì có liên hệ với địa hình của chùa nên từ « Lên chùa » được người Việt sử dụng ngay cả khi chùa được nằm trên mặt đất bằng.

Hầu hết ở các chùa, đặc biệt là các chùa ở miền bắc Việt Nam, khung cảnh rất thanh bình, huyền bí và tráng lệ. Sông, núi, đồi, suối vân vân… luôn hiện hữu ở nơi đó, đôi khi còn tạo nên những cảnh quan ngoạn mục bởi sự hòa nhập hài hòa với thiên nhiên. Đây là trường hợp của chùa Thầy ở tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hànội 20 cây số nằm  giữa núi và nước. [Tiếp theo]

Chronologie des Han orientaux (Version vietnamienne)

Version française

Niên đại nhà Đông Hán

Ở các vùng lãnh thổ bị người Hán chinh phục, đặc biệt là ở miền nam Trung Quốc, công cuộc hán  hóa vẫn tiếp tục diễn ra một cách mạnh mẽ. Đây là lý do khiến các cuộc nổi dậy khởi đầu liên tục tiếp nối nhau ở Điền quốc (86, 83 trước Công nguyên, 14 sau Công nguyên từ năm 40 đến năm 45) và bị trấn áp nghiêm khắc. Những cuộc nổi dậy này một phần lớn là do sự lạm dụng của các quan chức người Hán và hành vi của những người định cư Trung Hoa nhằm chiếm sỡ hữu những vùng đất màu mỡ và đẩy dân cư địa phương đến  những nơi xa xôi hẻo lánh ở trên lãnh thổ của họ. Ngoài ra, họ còn  phải chấp nhận dùng ngôn ngữ, phong tục và tín ngưỡng tôn giáo của người Hán.

Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng

Vào năm 40, một cuộc nổi loạn nghiêm trọng đã xảy ra ở tỉnh Giao Châu  bao gồm lúc bấy giờ một phần lãnh thổ của Quảng Tây ( Si) và Quảng Đông (Kouang Tong). Cuộc khởi nghỉa nầy được dẫn đầu bởi hai đứa con gái của một tỉnh trưởng địa phương Trưng Trắc (Zheng Cè) và Trưng Nhị (Zheng Èr). Vì sự  phản đối chính sách đồng hóa của Trung Quốc do thái thú Trung Quốc Tô Định (Su Ding) thực hiện một cách tàn bạo bởi Thi Sách, chồng của Trưng Trắc nên khiến Tô Định không ngần ngại xử tử ông nầy để noi gương  cho  quân nổi dậy, đặc biệt là người dân Việt.

Cuộc hành quyết gương mẫu này đã làm phẩn nộ hai bà Trưng và dấy lên phong trào nổi dậy ở toàn các vùng lãnh thổ của người Yue. Hai bà Trưng đã thành công trong việc chiếm được 65 thành trì trong một khoảng thời gian ngắn. Hai bà tự phong là nữ vương ở  trên các lãnh thổ được chinh phục và định cư ở  Mê Linh (Meiling). Vào năm 41 sau Công Nguyên, hai bà bị đánh bại bởi  Phục Ba Tướng Quân Mã Viện và tự sát để tránh  đầu hàng bằng cách tự trầm mình xuống sông Hát Giang. Vì vậy, hai bà trở thành biểu tượng của cuộc kháng chiến của người Việt Nam. Ngày nay, hai bà vẫn tiếp tục được thờ cúng không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều vùng thuộc lãnh thổ Việt của Trung Quốc (Quảng Tây và Quảng Đông). Mã Viện bắt đầu áp dụng chính sách khủng bố và cưỡng bức bằng cách đặt người Trung Quốc ở tất cả các cấp chính quyền địa phương và áp đặt tiếng Trung Hoa là ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Đây là sự thống trị đầu tiên của Trung Quốc kéo dài gần một ngàn năm trước khi cuộc chiến tranh giải phóng do tướng Ngô Quyền khởi xướng. Trong khi đó,  Hán Quang Vũ Đế đã thành công trong việc mang lại sự thịnh vượng và ổn định đế chế của mình bằng cách giảm thuế từ một phần mười xuống còn một phần ba mươi ở  các lợi nhuận thu thập được . Sau khi ông qua đời, con trai của ông, tương tự như Hán Vũ Đế, hoàng đế Hiếu Minh (Minh Đế) tiếp tục chính sách mở rộng  bờ cõi bằng cách phát động một cuộc tấn công chống lại Hung Nô phía bắc với mục đích giải phóng các quốc gia Trung Á khỏi sự giám hộ của Hung Nô và tái lập lợi ích cho Trung Quốc với sự an toàn ở con đường tơ lụa. Tướng Ban Siêu (Ban Chao), anh trai của nhà sử học nổi tiếng Bàn Cổ hay Mạnh Kiên (Ban Gu)  phụ trách lúc bấy giờ cuộc thám hiểm quân sự này. Ông đã thành công trong việc đến biển Caspi và khuất phục được người Nguyệt Chi (Yuezhi) với sự giúp đỡ của người Kusana.

 Nhân vật bất tử

Từ năm 91 sau công nguyên, Trung Quốc của Hán Minh  Đế  đã kiểm soát các đường mòn của các đoàn lữ hành trên con đường tơ lụa ở lưu vực Tarim. Nhờ con đường này, các sứ thần của Hán Minh Đế  mang về từ Tây Vực (Tianzu) những hình tượng của Đức Phật sau khi hoàng đế nhìn thấy được Đức Phật trong giấc mơ. Do đó, Phật giáo bắt đầu vào Trung Quốc với sự thành lập của chùa Bạch Mã. Trung Quốc chỉ  rời xa đế chế La Mã (Da Qin) bởi vương quốc Parthia (Ba Tư cổ đại). Bất chấp những công lao mỡ mang lãnh thổ, Hán Minh Đế không để lại trong sử sách nhà Hán hình ảnh  của một vị hoàng đế tài giỏi như cha mình là  Quang Vũ Đế hay con trai của ngài là Hán Chương Đế (Zhandi)(75-88) được tô điểm với tất cả các đức tính bởi vì dưới thời trị vì của ngài, một cuộc khởi nghĩa nông dân đã diễn ra vào năm 60 do  các lao dịch nặng nề, các công việc đắp đê sông Hoàng Hà và các công trình xây dựng cung điện mới ở phương Bắc được xem coi là tốn kém và quá đổi. Thiếu tiềm năng, những người kế nhiệm của Hán Chương Đế đã không thể đi theo con đường của những người tiền nhiệm. Họ trở thành các đồ chơi mưu mô của triều đình do các hoạn quan và các sĩ phu cầm đầu trong khi đó ở các tỉnh, các điền chủ bắt đầu độc chiếm các đặc quyền của chính phủ và lập thành các đội quân riêng tư. Sự tan rã của đế quốc nhà Hán ngày càng trở nên khó tránh khỏi.

Vào năm 189, vụ thảm sát 2000 hoạn quan do tướng Viên Thiệu ra lệnh khiến làm rối loạn triều đình nhà Hán. Cuộc tàn sát này sau đó được diễn ra bởi vị tướng Đổng Trác trúc phế Hán Thiếu Đế (Shaodi). Điều nầy dẩn đến một thời kỳ chính trị hỗn loạn và bất ổn khiến ai cũng cố gắng có vận may để chiếm được đế chế. Ba người  xuất chúng trong đám quân nhân và nổi tiếng qua những chiến công hiển hách Tào Tháo,  Lưu BịTôn Kiên  cùng nhau chia  trị gần một thế kỷ đế chế của nhà Hán. Đây cũng là sự kết thúc của một nhà nước tập quyền và bắt đầu cho thời kỳ Tam Quốc.

Niên đại Đông Hán (Đông Hán)

25-57: Triều đại của Hán Quang Vũ Đế (Guangwudi)
57-75: Triều đại của  Hán Minh Đế (Mingdi)
75-88: Triều đại của  Hán Hiếu Chương Đế (Zhandi)
88-106: Triều đại của Hiếu Hoà Đế (Heidi)
106: Triều đại của Hiếu Thương Đế (Shangdi)
106-125: Triều đại của  Hiếu An Đế (Andi).
125: Vương triều của Shaodi.
125-144: Triều đại của  Hiếu Thuận Đế (Chongdi).
145-146: Triều đại của Hiếu Chất Đế (Zhidi).
146-168: Triều đại của Hiếu Hoàn Đế (Huandi).
168-189: Triều đại của Hiếu Linh Đế (Lingdi).
184 Cuộc nổi dậy của Khăn vàng (Turbans jaunes)
189: Truất phế  Hán Thiếu Đế (Shaodi) bởi Đổng Trác.
189-220: Triều đại của  Hán Hiếu Hiến Đế (Xiandi).
190: Sự trỗi dậy và quyền lực của tướng quân Tào Tháo.
Chương 220: Cái chết của Tào Tháo và Hán Hiếu Hiến Đế. Cuối thời nhà Hán
220-316: Thời Tam Quốc.

Đây là một triều đại được tồn tại bốn thế kỷ (từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 220 sau Công nguyên). Chính dưới triều đại nhà Hán mà  Khổng giáo  được phát triển và thịnh hành. Từ một học thuyết triết học, nó để lại cho Trung Quốc ngày hôm nay một di sản tinh thần và luân lý  và tiếp tục có một ảnh hưởng trọng đại cho hàng triệu người châu Á. Đây cũng là thời điểm phong phú nhất với các biến cố và các nguồn lực sáng tạo khoa học và nghệ thuật ở một nước Trung Quốc vừa rạng rỡ vừa chinh phục. Đây là lý do tại sao người Trung Hoa cảm nhận hơn bao giờ hết là những đứa con trai của nhà Hán bởi vì triều đại nầy mang lại cho họ một khoảnh khắc thiết yếu trong việc thành hình và làm rạng rỡ bản sắc của họ. [TRỞ VỀ]

Chonologie des Han occidentaux (Version vietnamienne)

 

Version française

Niên đại nhà Tây Hán


Năm 202 TCN: Lưu Bang tự xưng là hoàng đế. (Hán Cao Tổ)
195 TCN : Hán Cao Tổ qua đời
198-188 TCN: trị vì của Hán Huệ Đế.
188-180 TCN: nhiếp chính của Lữ Hậu.
180-157 TCN: trị vì của Hán Văn Đế.
157-141 TCN: triều đại của Hán Cảnh Đế.
154 TCN: nổi loạn của bảy nước chư hầu.
141-87 TCN: trị vì của Hán Vũ Đế.
87-74 TCN: trị vì của Hán Chiêu Đế.
80-68 TCN: nhiếp chính của tướng Hoắc Quang.
74 TCN: trị vì 27 ngày của Lưu Anh, bị phế truất hoàng đế.
74-48 TCN: trị vì của Hán Tuyên Đế.
48-33 TCN: trị vì của Hán Nguyên Đế.
33-7 TCN: trị vì của Hán Thành Đế.
7-1 TCN: trị vì của Hán Ai Đế.
1 TCN-5 SCN : trị vì của hoàng đế trẻ tuổi Hậu Phế Đế, bị Vương Mãng hạ độc.


Sau khi nắm quyền, Vương Mãng bắt đầu thay đổi một loạt cải cách tiền tệ (3 lần vào các năm 9, 10 và 14 sau Công Nguyên) và kinh tế của đất nước. Các tầng lớp bị ảnh hưởng nhiều nhất là các giới quý tộc và thương nhân bởi vì với mỗi lần thay đổi tiền tệ, những đồng tiền cũ được đổi lấy các đồng tiền mới với tỷ giá kém ưu đãi hơn khiến mọi người làm ra đồng tiền giả thay vì làm mất đi giá trị lúc đổi. Việc làm tiền giả bị trừng phạt nghiêm khắc. Mặt khác, các nông dân không bị ảnh hưởng nhiều bởi qua các cuộc cải cách này họ bán ngũ cốc với số lượng nhỏ để mua thực phẩm cần thiết trên thị trường và họ không phải lo lắng về tiền mặt. Từ đó về sau, Vương Mãng làm giới quý tộc và thương nhân giàu có căm ghét nhưng theo nhà Hán học Thụy Điển H. Bielenstein, vào thời điểm thực hiện cải cách kinh tế nầy, nguyên nhân chính thực sự khiến ông bị sa sút là do hàng loạt thiên tai (hạn hán, lũ lụt, các con cào cào) đầu tiên dẫn đến nạn đói, sau đó lại là cướp bóc, nổi dậy và cuối cùng là cuộc nội chiến. Trận lũ lụt khiến một số lượng lớn người dân sống ở các vùng bị ảnh hưởng phải di cư. Thảm họa này khiến những người tị nạn chết đói tập hợp lại thành các băng cướp bóc những khu vực họ đi qua và nổi dậy chống lại quân của chính phủ được phép đàn áp họ. Được biết đến với cái tên Xích Mi vì họ nhuộm lông mày màu đỏ, đám người này sớm giành được chiến công đầu tiên vào năm 22 sau Công nguyên và bắt đầu xâm chiếm các vùng khác của phía tây. Trong khi đó, có những cuộc khởi nghĩa do tầng lớp quý tộc Hán lãnh đạo nhưng đều bị đàn áp và bị dập tắt. Mãi đến mười ba năm nội chiến, gia tộc họ Lưu mới lấy lại niềm tin được ở Lưu Tú, một nhân vật tài năng và hào kiệt sau này được gọi là Quang Vũ (Hán Quang Vũ Đế) để khôi phục lại  đế chế và vương triều nhà Hán.

Đây là sự khởi đầu của thời kỳ nhà  Đông Hán. Khi lên nắm chính quyền, Hán Quang Vũ Đế không ngừng có những hành động ủng hộ dân nghèo và nô lệ. Không giống như Hán Vũ Đế, ông không thực hiện chính sách can thiệp vào các nước chư hầu. Tuy nhiên, sau đó chính ông là người đã cử Mã Viện đi dẹp cuộc nổi dậy của hai chị em Trưng Trắc Trưng Nhị trên lãnh thổ người Việt. Ông được các nhà sử học  xem coi là một trong những vị hoàng đế vĩ đại của nhà Hán cùng với Hán Vũ Đế. Qua các cuộc khai quật khảo cổ học, chúng ta biết rằng  người Hán đã hơn người La Mã trong một số lĩnh vực vào thời điểm này. Họ là những người đầu tiên phát minh ra một sản phẩm để truyền đạt tư tưởng và kiến ​​thức của mình. Họ thường gọi sản phầm nầy  với cái tên « zhi » hoặc giấy. Vào năm 105 sau Công Nguyên, một hoạn quan tên là Thái Luân của triều đình, khi quan sát cách các con ong vò vẽ nhai các sợi gỗ trong việc xây tổ, đã nảy ra ý tưởng bắt chước chúng và nhờ đó đã phát minh ra loại giấy nầy mà trình lên sau đó cho hoàng đế Hán Hòa Đế của nhà Đông Hán.

Khảo cổ học gần đây đã biện bác việc nầy vì các mảnh giấy được làm từ các sợi thực vật nầy được tìm thấy rõ ràng trước thời Thái Luân, một số có niên đại từ triều đại của  Hán Vũ Đế và một số khác được khai quật từ các lăng mộ của thời Tây Hán và từ đầu  thời kỳ nhà Đông Hán. Rất thường ghi nhận sự mâu thuẫn về niên đại mà người Trung Hoa cố tình đưa vào lịch sử truyền thống của họ được thiết lập  cho đến giờ bởi các triều đại, đặc biệt nhất là thời nhà Tần và Hán, trong chính thống Nho giáo và trong thời kỳ chinh phục thôn tính các lãnh thổ mới nếu chúng ta tiếp tục có  trí óc lý luận theo Descartes. 

Các nhân vật huyền thoại của Trung Hoa như Phục Hi, Nữ Oa, Bàn Cổ, Thần Nông được vay mượn từ các dân cư ở phía Nam. Đây là trường hợp mà nhà học giả Trung Hoa vĩ đại Ruey Yih-Fu, người đã nhìn thấy ở Phục Hi và Nữ Oa một nét văn hóa cụ thể của người Man Di,  người man rợ ở phương Nam hoặc dịch giả người Pháp Le Blanc của bộ sách  Hoài Nam Tử. Theo ông nầy thì chu kỳ Phục Hi Nữ Oa là một truyền thống của Sỡ Quốc. Các người Hán thậm chí còn đưa vào văn học của họ một huyền thoại sáng tạo Bàn Cổ  được lấy lại từ tổ tiên của người Dao (Brigitte Baptandier). Nhà khảo cổ học Trung Hoa Yan Wenming mô tả đây là một sản phẩm độc đáo của nhiều nguồn gốc hoặc một người như nhà Hán học  học nổi tiếng Chang Kwang-Chih để nói đến hiện tượng ở trong lĩnh vực tương tác văn hóa.

Cho đến giờ, người Hán hay thường viết bằng bút lông hoặc mực đen trên các bảng gỗ, lụa hoặc bảng tre. Có vẻ theo như một số nhà khảo cổ học, phương pháp sản xuất mà  Thái Luân trình lên hoàng đế Hán Hoà Đế vào năm 105 sau Công nguyên chỉ là sự tổng hợp và cải tiến các kinh nghiệm trước đó nhầm tạo điều kiện cho việc thay thế dần dần các tơ lụa và tre bằng giấy mà sản phẩm nầy ít tốn kém hơn trước sự yêu cầu càng ngày càng tăng lên ở thời bấy giờ.

Cấu trúc của các ngôi mộ

Vào đầu thời Tây Hán, các mộ hố đứng thẳng vẫn còn  trọng dụng rất nhiều. Truyền thống kiến ​​trúc này được thể hiện qua các ngôi mộ của  bà Đại ở Mã Vương Đôi  gần Trường Sa (Hồ Nam), Dabaotai gần Bắc Kinh và Fenghuangshan gần Jiangling (Hà Bắc). Sau đó, những ngôi mộ này được thay thế theo năm tháng bằng mô hình lăng nằm ngang trải khắp đế quốc Hán. Nhiều yếu tố đã góp phần vào sự thay đổi này và mang đến cho nghệ thuật tang lễ một sức sống mới. Ngoài kích thước bề thế của các ngôi mộ, chúng ta  còn nhận thấy đến sự phong phú của đồ đạc trong nhà mộ và niềm tin tôn giáo có liên quan đến sự thuyên chuyển  qua thế giơí bên kia của người Hán. Chính vì lý do đó mà các hoàng tử, quý tộc, đại địa chủ, các quan, các thương nhân giàu có đã không ngần ngại phô trương những đặc ân mà họ có trong xã hội và chức năng mà họ mong muốn được duy trì trong cuộc sống ở thế giới bên kia  và để thể hiện lòng mộ đạo và sự tận tâm của họ đối với người đã khuất bằng cách cố gắng cung cấp cho mọi thứ cần thiết qua các đồ vật tang lễ (hoặc minh khí). Những phẩm vật nầy dưới thời trị vì của nhà Hán đặc biệt rất  tinh vi. Với ý nghĩa biểu tượng, các vật nầy gồm có các mô hình thu nhỏ của các bình nghi lễ và nhạc cụ ở các nghi lễ hay các nhà nông trại hoặc các nhà ở.

Được biết thời đó  người Hán đã sử dụng xe cút kít và ròng rọc để di chuyển hàng hóa, trong khi đó  trong nông nghiệp, họ sử dụng búa bập bênh để nghiền ngũ cốc và khoáng sản. Đó là dưới thời trị vì của nhà Hán, người Trung Hoa  đã sử dụng bánh xe mái chèo cho nhiều mục đích khác nhau. Nhờ tiếp xúc với những người man rợ của phương Bắc, người Hung Nô, các nghệ nhân Trung Hoa đã vay mượn từ các người nầy những kỹ thuật mà họ rất thành công trong việc thông thạo  và sản xuất những đồ vật có chất lượng vượt trội. Đây là những gì chúng ta phát hiện ra nhờ các quá trình khai quật trong các ngôi mộ cổ kính với đồ trang trí xe ngựa, đồ sành sứ, đồ trang sức, khóa thắt lưng, vân vân … vào năm 132 sau Công Nguyên, máy đo địa chấn đầu tiên trên thế giới có thể cảnh báo triều đình nhà Hán và chỉ ra hướng của tâm chấn của trận động đất. Việc phát minh ra đồng hồ đo đường cùng đến lúc với quả cầu thiên thể quay đầu tiên. Ở Trung Quốc, đồ sứ ra đời, có độ tinh khiết và trắng sáng phù hợp với cái tên mà người Ý gọi nó là « vỏ trai (porcellana) » vào thế kỷ 15. Nguyên tố chính trong thành phần của đồ sứ là kaolin (thạch cao) được biết đến vào thời Đông Hán. Dưới triều đại này, đồ sứ bắt đầu có  được một sự bùng nổ thực sự.

Từ thời Chiến quốc cho đến thời nhà Tây Hán, người Trung Hoa đã có thể vẽ các bản đồ trên lụa và đựng trong hộp. Vào thời Xuân Thu anh hùng Kinh Kha được cử đi bởi thái tử Đan người nước Yên, cố  tình sử dụng một bản đồ gấp lại giấu một con dao găm để ám sát Tần Thủy Hoàng. Chỉ đến năm 1973, người ta mới phát hiện ra sự tồn tại của những tấm bản đồ này ở lăng mộ Mã Vương Đôi số 3 (168 trước Công nguyên). Do đó, hai bản đồ nầy cùng một bản đồ thành phố được xem là những bản đồ cổ nhất ở Trung Hoa và trên thế giới. Trong lĩnh vực thiên văn, Trung Hoa có sự phát triển nổi bật. Văn bản thiên văn được phát hiện trong lăng mộ số 3 ở Mã Vương Đôi (168 TCN) báo cáo chính xác những quan sát liên quan đến chuyển động của năm hành tinh trong khoảng thời gian 246-177 TCN. Toàn bộ hành trình của sao thổ trên bầu trời được tính là 30 năm, một con số không xa với 29,46 năm mà các nhà thiên văn học ngày nay cung cấp. 

Ngọc bích là một trong những loại đá khó gia công nhất. Tuy nhiên, kể từ thời kỳ đồ đá, những người thợ chạm khắc ngọc bích ở Trung Hoa đã khéo léo chạm khắc ngọc có lẽ bằng cách sử dụng bột nhão quartzite hoặc grenat, điều này mang lại cho ngọc bích một giá trị nghệ thuật đặc biệt với những chiếc nhẫn, các vòng tròn, hình tượng rồng vân vân… Dưới  thời nhà Thương (triều đại Thương Ân), ngọc bích được dùng cho việc trang trí thuần túy. Đây là những gì mà các nhà khảo cổ học phát hiện ra trong lăng mộ của hoàng hậu Phù Hảo (tìm thấy 755 ngọc bích). Sau đó, vào thời Tây Chu, người ta đã có phong tục che mặt cho người đã khuất bằng một chiếc mặt nạ và ngực với các mảnh giáp ghép được tạo thành từ nhiều mảnh. Đây là một dấu hiệu khác biệt hay quý tộc bằng cách đặt  các mảnh giáp trên cơ thể của người quá cố  thường mặc đồ tơ lụa. Các mặt nạ và các tấm vải liệm không dùng với mục đích trang trí mà có chức năng tôn giáo nhằm tìm kiếm sự bất tử dưới thời nhà Hán. Những chiếc bùa nhỏ bằng ngọc bích được sử dụng để bịt kín 9 lỗ trên cơ thể của người đã khuất để linh hồn người đó có thể sống mãi ở thế giới bên kia. Mặt khác, chúng ta không biết vai trò của viên ngọc « bi », được đặt trên trán của vua Nam Việt, Triệu Muội. Tấm vải liệm của Liu Shen, anh trai của hoàng đế Hán Vũ Đế và  bà vợ, công chúa Dou Wan, được tìm thấy ở Mancheng, gồm có đến 2498 tấm ngọc bích với các kích cỡ khác nhau được khâu bằng chỉ vàng, minh chứng cho sự hoàn hảo của người thợ mài ngọc Trung Hoa trong việc  chế tạo các tấm vải liệm và các vật trang trí sang trọng từ thời nhà Hán. 

Người Trung Hoa hay thường sơn mài nhiều loại  đồ khác nhau. Một số đồ vật sơn mài, đặc biệt là chiếc cốc gỗ đỏ được tìm thấy trong một ngôi mộ ở Chiết Giang tiết lộ  sự biết làm phi thường của họ từ thời đồ đá (thiên niên kỷ 5-4 trước Công nguyên). Cần nhớ lại rằng khu vực này thuộc nước Ngô Việt, một phần lãnh thổ cũ của đại tộc Bách Việt  trước khi bị sát nhập bởi  nước Sỡ, sau này bị Tần Thủy Hoàng chinh phục trong quá trình thống nhất đế chế. Đây có phải là kỹ năng của họ hay của người Bách Việt? Dù sau  bắt chước  người nước Sỡ, những người Hán đã thể hiện được sự thành thạo hoàn hảo trong nghệ thuật uốn gỗ bằng cách tạo ra các tác phẩm nguyên bản và cách điệu có chất lượng tuyệt vời khiến các nhà khảo cổ phải sững sờ thán phục trong  các cuộc khai quật khảo cổ học. Những lớp sơn mài này gợi lại những hoa văn và kiểu dáng phức tạp được tìm thấy trên các chiếc bình bằng đồng. Họ đã thành công trong việc đưa sơn mài trở thành một sản phẩm chủ đạo trong thời kỳ trị vì của nhà Hán. Được biết các đồ vật sơn mài được chôn trong các lăng mộ có thể được bảo quản hàng chục thế kỷ nhờ sự hiện diện của một loại enzyme đóng vai trò như chất xúc tác protit (urushiol) trên màng mỏng của các đồ vật, không nhạy với nhiệt nóng, không thấm nước và không để axit ăn mòn. Hơn một trăm đồ vật sơn mài (khay, cốc erbei, bình hoa vân vân..) đã được khai quật ở Mã Vương Đôi gần Trường Sa (Hồ Nam). Các tác phẩm khác còn nguyên vẹn được lấy được từ lăng mộ của hầu tước Yi họ Zeng ở Leigudun (Hồ Bắc). [TRỞ VỀ]

Tài liệu tham khảo:

Cây đèn dầu hình phượng hoàng

  • La Chine des Han. Histoire et civilisation. Office du Livre. 1982
  • Splendeur des Han. Essor de l’empire céleste. Editeur Flammarion. 2014
  • Chine ancienne. Des origines à la dynastie des Tang. Maurio Scarpari. Gründ.
  • Trésors de Chine millénaires mais intacts. National Geographic. Octobre 2001
  • La dynastie des Han. Vingt siècles d’influence sur la société chinoise. National Geographic. Février 2004.
  • Chine. La gloire des empereurs. Paris Musées. Editions Findakly.
  • La Chine des premiers empereurs. Editions Atlas. 1991
  • Splendeurs des Han. Essor de l’empire céleste. Editions des Beaux Arts. 2014.

Niên đại nhà Đông Hán (Tiếp theo)

 

Dynastie des Han: Art de vivre (version vietnamienne)

Version française

Nghệ thuật sống  dưới thời nhà Hán

Dưới thời  nhà Hán, xã hội Trung Hoa được cơ cấu đến mức độ chỉ có sĩ phu và nông dân mới được kính trọng so với  các nghệ nhân và thương nhân theo Hán thư của Ban Cố vào thế kỷ thứ nhất. Tuy nhiên, chỉ có người buôn bán mới được hưởng lợi từ hệ thống kinh tế của đế chế mặc dầu có một số hạn chế do triều đình  áp đặt. Sự gia tăng các công ty tư nhân và việc mở các tuyến đường thương mại (như con đường tơ lụa chẳng hạn) đã giúp họ trở nên giàu có dễ dàng. Họ bán những phẩm vật không cần thiết và hàng hóa xa xỉ được ưa thích bởi tầng lớp quý tộc Hán và điền chủ. Nhờ nghệ thuật tang chế  mà  mới có được các bài học bổ ích về nghệ thuật sống cũng như các trò tiêu khiển dưới thời đại đó. Tơ lụa được dành cho triều đình, giới quý tộc và các quan chức trong khi vải lanh thì người dân  hay thường dùng và được thấy trong  các bộ trang phục truyền thống và được trang trí  phong phú thêm nhờ các phụ kiện nhầm thể hiện được địa vị  của họ ở  trong xã hội. Tơ lụa đang có sự  phát triển đáng kể vì phẩm vật nầy thuộc về hàng hóa thương mại sang trọng  nhưng nó cũng được sử dụng trong hệ thống cống nạp  cho Hung Nô và các nước chư hầu. Vào năm thứ nhất  trước Công nguyên, việc quyên góp tơ lụa đã đạt đến đỉnh cao với 370 quần áo, 30.000 cuộn lụa và 30.000 chỉ tơ lụa. Các thương nhân lợi dụng các  cuộc trao  đổi nầy để bắt đầu giao dịch sinh lợi với  các người nước ngoài, đặc biệt là với người Parthe và người La Mã. Các xưởng tư nhân cạnh tranh với các  công xưởng của triều đình. Điều này thúc đẩy việc sản xuất tơ lụa và gia tăng sự đa dạng ở trong khu vực. Việc dệt vải cho thấy được  mức độ kỹ thuật cấp cao qua một chiếc áo lụa dài 1,28 thước  và sải cánh 1,90 thước  được tìm thấy  ở lăng mộ của bà Đại chỉ nặng có 49 gam.

Ngoài tấm vải lụa che quan tài của người quá cố và được trang trí bằng các bức vẽ minh họa vũ trụ quan của Lão giáo  còn phát hiện ra các bản thảo Di Kinh viết trên lụa, hai bản sao của Đạo Đức Kinh, hai quyển sách y học và hai văn bản về Âm-Dương, ba bản đồ ở một trong ba ngôi mộ của Mã Vương Đôi, một số được viết bằng chữ lishu (chữ viết của người ghi chép) và xiaozhuan (chữ viết dưới dạng dấu ấn) có niên đại từ thời Hán Cao Tổ, những chữ khác được viết hoàn toàn bằng tiếng lishu có niên đại của thời Hán Vũ Đế. Mặc dù giá rất đắt đỏ, tơ lụa vẫn được ưa chuộng hơn vì dễ tiện dụng hơn, nhẹ hơn và dễ vận chuyển hơn so với các thẻ bằng gỗ. Dưới thời nhà Hán, sơn mài mà  công việc nầy vẫn được xem coi là một nghề thủ công tinh tế, bắt đầu lan tràn vào  các nhà của những người giàu có.

 Noi theo tầng lớp quý tộc của nước Sỡ, họ sử dụng  các chén đĩa gỗ sơn mài, thường có màu đỏ ở mặt trong và màu đen ở mặt ngoài với các hoa văn sơn nổi, những màu này được tương ứng với  các màu của Âm Dương. Cũng tương tự như vậy với các khay và các hộp thì họ dùng để đựng quần áo xếp, đồ vệ sinh cá nhân, các bản thảo, vân vân… Đối với các gia đình quý tộc, ngọc thạch được thay thế bằng sơn mài. Còn đối với các người bình dân, gốm cùng gỗ những vật liệu được trọng dụng ở chén đĩa. Tương tự như các mâm hình tròn hoặc hình chữ nhật riêng lẻ,  các bàn thấp, thường có chân, được sử dụng để phục vụ các bữa ăn với các món ăn, đũa (kuaizi), thìa, cốc  erbei để uống nước và rượu. Về lương thực chính, kê và gạo là những loại ngũ cốc được phổ biến nhất.

Kê được dành cho các ngày lễ ở miền bắc Trung Quốc trong khi gạo, một sản phẩm của vương quốc Sỡ cổ đại, bị hạn chế ở miền nam Trung Quốc vì nó là một sản phẩm xa xỉ. Đối với người nghèo, lúa mì và đậu nành vẫn chiếm ưu thế trong bữa ăn của họ. Đồ ăn Trung Quốc cũng giống như thời Tần. Geng, một loại thịt hầm, vẫn là thức ăn truyền thống của Trung Quốc trong đó  các miếng thịt và rau được trộn với nhau. Tuy nhiên, sau khi bành trướng lãnh thổ và sự xuất hiện và thuần hóa các sản phẩm mới từ các nơi khác của đế chế, những  sáng kiến đổi mới bắt đầu xuất hiện từ từ trong việc sản xuất mì sợi, các thức ăn hấp và  các bánh từ bột mì. Rang, luộc, chiên, hầm và hấp là một số phương pháp nấu ăn được thấy. Chiếu được dùng để ngồi bởi mọi tầng lớp xã hội cho đến cuối triều đại. Chiếu được giữ cố định ở bốn góc bằng những quả cân nhỏ làm bằng đồng và được  tượng trưng qua các con vật đáng yêu: hổ, báo, hươu, cừu, vân vân.. Để giảm bớt sự khó chịu do tư thế quỳ trên gót chân,việc dùng vật dụng dựa lưng hoặc tay vịn bằng gỗ sơn mài rất thông thường.  Chiếu còn được dùng để ngủ bởi những người dân bình thường ở  miền trung và miền nam Trung Hoa. Mặt khác, ở phía bắc Trung Quốc, vì thời tiết quá lạnh, người ta phải dùng đến một cái « kang», một loại giường đất được đắp bằng gạch và trên đó trải chiếu và chăn. Dưới kang này, có một hệ thống đường ống  nước để phân phối hơi nóng  từ lò sưởi được đặt ở bên trong hoặc bên ngoài ngôi nhà.

Giải trí và thú ăn chơi không bị lãng quên dưới thời nhà Hán

Nhờ các văn bản, chúng ta mới biết rằng truyền thống âm nhạc của nước Sỡ giữ một vị trí quan trọng trong triều đình nhà Hán và được tiếp tục yêu chuộng. Theo nhà Hán học người Pháp J.P. Diény, người Hán thích loại âm nhạc bi ai, buồn thảm hơn tất cả các loại nhạc khác. Các chủ đề được yêu chuộng trong các bài hát  thường  là chia ly, trốn tránh và  khoái lạc. Chính ở trong những ngôi mộ cổ kính những tượng hình  nhỏ của  các vũ công (minh khí) mới được phát hiện ra. Thông qua các cử chỉ, những tượng hình này cho thấy khả năng tài ba của  các vũ công khi  múa với các đường lượn bay nhờ qua các  cánh tay áo dài của chiếc váy.

Các điệu múa nầy được dựa trên các chuyển động của quần áo do sự khởi động cơ thể và cánh tay khiến tạo ra cho vũ công kèm theo bài hát đôi khi u sầu, một bức chân dung sống động trong nghệ thuật vũ đạo của người Hán. Đối với họ, theo quan niệm của Nho giáo, gia đình là đơn vị cơ bản của hệ thống xã hội mà việc thờ cúng tổ tiên, các nghi lễ, yến tiệc và hôn nhân được tổ chức thường xuyên nên mang lại rất nhiều cơ hội trong suốt cả năm và lý do để có được âm nhạc làm cho cuộc sống hài hòa. Là biểu tượng của sự uy quyền và sức mạnh nên không thể  thiếu được tiếng chuông đồng. Các công cụ nầy được sử dụng thường xuyên trong các nghi lễ mà còn có ở trong âm nhạc cung đình. Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ học, chúng ta  được biết rằng cuộc sống của các hoàng tử nhà Hán nổi bật với các bữa tiệc linh đình, các trò chơi và các buổi hòa nhạc kèm theo các điệu múa. Còn các trò tiêu khiển thì chỉ dành cho nam giới. Liubo (một loại trò chơi cờ vua) là một trong những trò chơi phổ biến nhất thời bấy giờ với trò chơi xúc xắc có tới 18 mặt. Thà chơi còn hơn nhàn rỗi, đây là lời khuyên của Đức Khổng Tử ở trong sách « Văn tuyến », một trong tập tứ thư.

Không giống như khảo cổ học của các thời kỳ trước, khảo cổ học của người Hán cho phép chúng ta tiếp cận lĩnh vực thân mật như việc trang điểm của các phụ nữ. Họ dùng kem che khuyết điểm bằng bột gạo hoặc chì trắng để trang điểm khuôn mặt. Những vết màu đỏ được bôi lên trên gò má, quầng thâm dưới mắt, chấm màu trên môi vân vân… Thời nhà Hán, giáo dục là  việc ưu tiên cho giới trẻ. Từ lúc còn ấu thơ, sự vâng lời, lễ phép và tôn trọng đối với người lớn tuổi đã được dạy dỗ. Lên mười tuổi, cậu bé bắt đầu nhận được những bài học của thầy. Cũng phải học những điều suy ngẫm của Đức Khổng Tử (Luận ngữ), kinh điển về đạo hiếu (Xiao jing) vân vân… trước khi bước vào khoảng mười lăm đến hai mươi tuổi thì đọc Kinh điển.

 
Được xem là thấp kém hơn nam giới, phụ nữ buộc phải học nghề dệt lụa và nấu ăn ngay từ khi còn bé và phải có những đức tính chủ yếu được truyền như dịu dàng, khiêm tốn, tự chủ. Còn phải chịu ba phục tùng (Tam Tòng): lúc nhỏ thì phục tùng cha, lấy chồng phục tùng chồng và khi góa chồng thì phục tùng con. Người phụ nữ có thể lấy chồng vào khoảng 14-15 tuổi để đảm bảo sự nối dõi tông đường. Bất chấp những ràng buộc của Nho giáo, người phụ nữ vẫn tiếp tục có được quyền lực thực sự trong cấu trúc gia đình, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa mẹ và con trai. Sự quan tâm đến việc tôn vinh những người đã khuất khiến người Hán, đặc biệt là người Tây Hán, tạo ra những khu chôn cất xa hoa và những kho báu thực sự là những tấm vải liệm ngọc bích để tìm kiếm sự bất tử. Đây là trường hợp  mộ chôn cất cha của Hán Vũ Đế, Hán Cảnh Đế.

Cho đến nay, các nhà khảo cổ học đã khai quật được hơn 40.000  hiện vật ở xung quanh gò chôn cất của hoàng đế. Người ta dự đoán toàn bộ khu tang lễ này sẽ cung cấp khoảng 300.000 đến 500.000 hiện vật vì ngoài phần mộ còn có hai huyệt riêng biệt để khám phá, đó là huyệt của hoàng hậu và người thiếp yêu thích của hoàng đế Hán Cảnh Đế. Theo một nhà khảo cổ Trung Quốc phụ trách cuộc khai quật này, điều quan trọng không phải là số lượng hiện vật được phát hiện mà là tầm quan trọng của mỗi hiện vật phát hiện được tìm thấy ở trong khu mộ táng này. Người ta đựợc  dẫn đến kết luận rằng nhà Tây Hán rất trân trọng các ngôi mộ hoành tráng mặc dù qua sự tiết lộ của các cuộc khai quật,  các  đồ vật rất nhỏ hơn nhiều so với các đồ vật tìm thấy ở trong các lăng mộ nhà Tần. [RETOUR]

Niên đại Tây Hán (Còn tiếp)

Empire de Wudi. Conquêtes chinoises: route de la soie (version vietnamienne)

Version française

 

Đê Chế Hán Vũ Đế

Về mặt chính trị, đế chế của Hán Vũ Đế bắt đầu  củng cố vững chắc hơn với sự canh tân Nho giáo. Nó mang lại nhiều khả năng cho những người có tham vọng và xuất sắc của tầng lớp bình dân có thể tiếp cận được các vị trí quan trọng trong chính quyền mà cho đến thời điểm đó chỉ được  các đội cận vệ cũ, bao gồm chủ yếu là các quý tộc, các đạo sĩ và những người ủng hộ hoàng tộc nắm giữ. Nhờ  các cuộc thi tuyển, công trạng mới được thay thế  các đặc ân mà nó đến từ dòng dõi. Nhưng đế chế của Hán Vũ Đế vẫn không tránh khỏi  những cuộc nổi loạn và sự tranh đua quyền lực tiếp tục hoành hành trong triều đình nhà Hán. Sự thất bại của chủ nghĩa ly khai (năm -122 trước Công nguyên) của hoài nam vương Lưu An, được biết đến với tác phẩm bách khoa Hoài Nam Tử về  các thông tin của thời bấy giờ, đã minh chứng sự khó khăn trong việc chỉnh đốn lại nhóm dòng dõi quý tộc sau mười lăm năm trị vì của Hán Vũ Đế.

Cũng như cha ông, hoàng đế Hán Cảnh Đế (Jindi), đã biết trong thời ngự  trị, cuộc nổi dậy  liên minh của bảy nước tổ chức vào năm -154 trước Công nguyên bởi Ngô vương Lưu Tỵ, Hán Vũ Đế quyết định hoàn thành việc hủy bỏ hệ thống đất phong của các chư hầu để ngăn chặn mọi âm mưu nổi loạn. Do đó, đặc quyền không chỉ thuộc về con trai cả của vị vua chư hầu đã qua đời mà nó sẽ được chia cho tất cả các con trai sau này. Những người này không có đóng bất kỳ  một vai trò chính trị nào khác ngoài đặc ân tài sản mà đất phong cho họ thừa hưởng.Do  sự phân chia  khéo léo này, chỉ cần một vài thế hệ kế tiếp là có thể phá hủy các chư hầu  chính quan trọng và phân tán các lực lượng của chúng. Ngoài ra, ngài còn bổ nhiệm cho mỗi vùng một thanh tra lưu động (thứ sử) chịu trách nhiệm kiểm soát và giám sát không chỉ các gia tộc quyền thế mà còn luôn cả các tổng trấn. Đối với các cuộc cạnh tranh quyền lực trong triều đình, ngài biết cách tận dụng một cách khéo léo bằng cách thúc đẩy các cuộc đối đầu và cạnh tranh của các cố vấn trong các cuộc tranh luận đôi khi vô ích nhằm củng cố một quyền lực trung ương mạnh mẽ nhưng lại công bằng và đạo đức.

Qua cách chỉ định một ban thư ký nhằm để xem xét các báo cáo và kiến ​​nghị của các quan, trên thực tế, ngài đã loại bỏ vai trò thủ tướng. Chính vì suy nghĩ này mà ngài đã củng cố tính cách chuyên quyền suốt thời gian ngự trị . Ngài  không tha thứ cho bất kỳ lỗi lầm nào khi một trong những cố vấn hoặc các tướng lĩnh của ngài phạm lỗi.

Đó là trường hợp của xạ thủ Lý Quảng được mệnh danh đặt biệt bởi quân Hung Nô là « phi tướng quân« . Ông ta đã bị cách chức  vì đã sai lầm để  bị thất lạc trong sa mạc cùng với binh lính trong một cuộc giao tranh chống lại quân Hung Nô. Nhưng bản án của ông ta có thể được giảm bằng một khoản tiền phạt thay thế. Việc giảm án và phạt tiền rất phổ biến vào thời nhà Hán. Ngay cả việc người bào chữa cầu xin cũng có nguy cơ đến tính mạng vì bị buộc tội lừa dối hoàng đế. Đó là trường hợp nhà sử học nổi tiếng Tư Mã Thiên bị cung hình (thiến) để bảo vệ gia đình viên quan Lý Lăng, cháu của tướng quân Lý Quảng, bị buộc tội theo quân Hung Nô. Những biện pháp  mà Hán Vũ Đế áp dụng trong nhiều lĩnh vực minh chứng các phương pháp tồi tệ nhất. Các quan cố vấn và tướng lĩnh đều bị xử phạt tùy theo sự nhận xét   của ngài. Họ dễ dàng bị cách chức dễ dàng bởi những tội phạm nhỏ trước khi được thăng chức nhờ việc khác. Ban thưởng và hình phạt là một phần của quy tắc ứng xử mà ngài áp dụng cho các cận thần. Sự sợ hãi của họ cho phép Hán Vũ Đế phát triển nghệ thuật cai trị của mình một cách tinh vi. Rất hiếm có quan chức nào trong triều đại của Hán Vũ Đế  giữ được chức vụ của họ quá năm năm ngoại trừ Gongsunhe,một quan lại lo về trang bị có thể giữ chức vụ của mình hơn ba mươi năm. Chỉ có học giả Đông Phương Sóc mới biết rút lui ra khỏi triều đình đúng lúc để ẩn dật và tránh sự thất sủng.

Về mặt kinh tế, theo lời khuyên của Công Tôn Hoằng, ngài bãi bỏ luật cho phép người giàu đúc tiền, chiết xuất muối bằng cách bốc hơi và luyện gang. Kể từ bây giờ, nhà nước độc quyền các hoạt động này để tăng nguồn thu lợi. Để giúp đỡ nông dân, nhà nước mua lại một số hàng hóa dư thừa khi giá giảm và bán lại với giá thấp hơn khi có  tình trạng thiếu thốn. Mục đích của biện pháp này là để kiểm soát biến động giá cả và ngăn chặn tình trạng đầu cơ của các thương gia lớn. Đây cũng để nhà nước  đảm bảo kiểm soát thực phẩm qua junshu (hoặc các văn phòng giao thông của nhà nước). Hán Vũ Đế  thiết lập ra một loại thuế đánh vào tài sản (xe cộ, gia súc, thuyền vân vân …) của các thương nhân và những người cho vay nặng lãi có trách nhiệm kê khai vốn liếng của họ. Trong trường hợp lừa đảo, họ có nguy cơ mất tài sản và bị phạt hai năm nghĩa vụ quân sự ở biên giới. Theo tài liệu của nhà sử học Tư Mã Thiên, sự khởi đầu của triều đại của Hán Vũ Đế  được hỗ trợ bởi sáu thập kỷ phục hồi dần dần các lực lượng sản xuất được khuyến khích bởi những người tiền nhiệm của ngài. Quỹ nhà nước được thăng thừa. Dân chúng được cơm no áo mặc.

Vào đầu thời ngự trị này thường được gọi là thời kỳ dương thì có sự ổn định chính trị cùng với số lương thực dồi dào cho toàn bộ dân số ước tính khoảng hơn 50 triệu người theo cuộc điều tra dân số quy mô lớn đầu tiên ở năm thứ hai sau Công Nguyên  được Tư Mã Thiên đề cập trong hồi ký lịch sử của ông. Theo nhà Hán học người Pháp, Marcel Granet, chính sách mà Hán Vũ Đế áp dụng phản ánh rất rõ tính cách cách mạng. Hán Vũ Đế chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt của mình, cố gắng tìm giải pháp từng trường hợp cho các vấn đề khẩn cấp, bỏ lại sau đó  một khi giải quyết xong và sử dụng các quan viên chỉ trong một thời gian ngắn để đạt được kết quả mong muốn. Khi họ được biết đến với những chiến công và trở nên quá « nguy hiểm », ngài quyết định khai trừ ngay. Sự ngờ vực của  một bạo chúa được hổ trợ bởi các quan cố vấn « pháp gia » không có đầu óc sâu sắc đã không cho phép Trung Hoa  vào thời điểm đó nắm bắt cơ hội hiếm có để trở thành một quốc gia vững chắc và có tổ chức.

Đế chế của Hán Vũ Đế có thể sụp đổ trong một sớm một chiều. Hung Nô vẫn là một mối quan tâm lớn đối với Vũ Đế  mặc dù chính sách heqin được những người tiền nhiệm của ngài  áp dụng cho đến lúc đó. Sự không phục tùng và xấc xược của  Hung Nô tiếp tục làm bẽ mặt nhà Hán. Để đánh bại một kẻ thù vô hình như Hung Nô, Hán Vũ Đế có nghĩa vụ tổ chức lại quân đội của mình và làm cho nó phù hợp hơn để di chuyễn mà mục tiêu chính là đánh bật kẻ thù và cướp gia súc  của địch  ở giữa nơi họ cấm trại qua  các cuộc tấn công nhanh chóng bằng một số ít kỵ mã cũng như sự điều hành của Hung Nô. Vì vậy, việc sử dụng chiến xa bị loại bỏ trong các cuộc giao tranh quân sự. Sau đó, còn phải bỏ truyền thống của quan chức thường hay mặc lễ phục truyền thống để mặc ưu tiên quần dài tránh không bị cản trở trong việc cưỡi ngựa và khắc phục sự miễn cưỡng của quân nhân khi cưỡi ngựa bởi vì vị trí hai chân dạt ra mỗi bên  được xem như với tư thế ngồi xổm bởi những người bình thường hay dùng. Chiến thuật này làm choáng váng quân Hung Nô, nhưng nó không thể làm chúng khuất phục được. 

Đế chế của Hán Vũ Đế có thể sụp đổ trong một sớm một chiều. Hung Nô vẫn là một mối quan tâm lớn đối với Vũ Đế  mặc dù chính sách heqin được những người tiền nhiệm của ngài  áp dụng cho đến lúc đó. Sự không phục tùng và xấc xược của  Hung Nô tiếp tục làm bẽ mặt nhà Hán. Để đánh bại một kẻ thù vô hình như Hung Nô, Hán Vũ Đế có nghĩa vụ tổ chức lại quân đội của mình và làm cho nó phù hợp hơn để di chuyễn mà mục tiêu chính là đánh bật kẻ thù và cướp gia súc  của địch  ở nơi họ cấm trại qua  các cuộc tấn công nhanh chóng bằng một số ít kỵ mã cũng như sự điều hành của Hung Nô. Vì vậy, việc sử dụng chiến xa bị loại bỏ trong các cuộc giao tranh quân sự. Sau đó, còn phải bỏ truyền thống của quan chức thường hay mặc lễ phục truyền thống để mặc ưu tiên quần dài tránh không bị cản trở trong việc cưỡi ngựa và khắc phục sự miễn cưỡng của quân nhân khi cưỡi ngựa bởi vì vị trí hai chân dạt ra mỗi bên  được xem như với tư thế ngồi xổm mà  những người dân bình thường có thói quen  dùng. Chiến thuật này làm choáng váng quân Hung Nô, nhưng nó không thể làm khuất phục được chúng.

Đây là lý do tại sao Vũ Đế  phải lựa chọn các biện pháp khác bao gồm việc cải thiện mạng lưới đường xá không chỉ nó là xương sống của hệ thống kinh tế mà còn là chìa khóa thành công trong việc vận chuyển quân lính và tiếp tế. Trên các con đường của người Hán hiện nay có các trạm thư, chuồng ngựa, nhà trọ cho quan chức, ký túc xá cho du khách bình thường và thậm chí  có cả nhà giam cho tù nhân. Mạng lưới đường bộ do đó qua nhiều thế kỷ trở thành yếu tố then chốt của sự bảnh trướng quân sự và là công cụ hữu hiệu của sự thâm nhập văn hóa của người Hán. Nó được xem ngang hàng với mạng lưới đường bộ của người La Mã.


Triều đại của Vũ Đế  đánh dấu thời kỳ hoàng kim của nhà Hán. Chính ở  triều đại này, Việt Nam đã bị thôn tính vào năm 111 trước Công nguyên. Đây là sự thống trị đầu tiên của Trung Hoa có gần 1000 năm.
Tham khảo tài liệu.

  • Précis d’histoire de Chine. Editions de langues étrangères. Beijing
  • Văn Hóa Nam Chiếu-Đại Lý. Nhà xuất bản văn hóa thông tin. Hànội 2004
  • La grande époque de Wudi. Editions You Feng. Dominique Lelièvre. 2001
  • Lịch sử văn minh Trung Hoa. Will Durant. Nguyễn Hiến Lê dịch. NBX Nhà văn hóa thông tin. 2006

Mạng lưới đường bộ này, dọc theo biên giới phía bắc ở vùng Cam Túc, cũng cần phải bố trí một số đồn trú, xung quanh các tháp canh mà một số có độ cao 18 thước dùng để theo dõi sự di chuyển của quân Hung Nô mà báo hiệu bằng tín hiệu khói, bảo vệ những người sử dụng đường bộ và có các hành động phòng thủ phối hợp với bộ tham mưu. Chiến thắng của nhà Hán còn phụ thuộc vào các yếu tố khác quan trọng cũng như mạng lưới đường bộ này. Cung cấp lương thực cho các đơn vị đồn trú thường là một thách thức hàng ngày chưa kể đến những khó khăn lớn mà quân đội của Hán Vũ Đế gặp khi truy đuổi quân Hung Nô ở ngoài biên giới đến những vùng không xác định được. Điều này đòi hỏi sự tham gia của một số lượng lớn ngựa và kiến thức về địa hình dần dần được cải thiện bằng cách vẽ các  bản đồ và xác định vị trí các điểm nước cũng như sự hợp tác của người dân địa phương.

Đôi khi điều cần thiết là phải nhanh chóng phục hồi kỵ binh trong trường hợp bị tổn thất đáng kể. Chúng ta có thể nói đến ví dụ của chiến dịch Ferghana chống lại Dayuan (Đại Uyển) vào năm 104 TCN. Trong số 60.000 binh lính giao chiến và 3000 con ngựa bị bắt, tướng của Hán Vũ Đế, Li Guanli (Lý Quảng Lợi) đã trở về với 10.000 binh lính và 1000 con ngựa. Vì vậy, triều đình nhà Hán đã phải khuyến khích người dân chăn nuôi ngựa, định giá một con ngựa giống với mức giá tiêu chuẩn khá cao, và xúc tiến đến việc đưa các giống ngựa mới từ các vùng đất phương Tây. Việc phục hồi nhanh chóng của kỵ binh rất cần thiết trong các cuộc viễn chinh xa. Không còn xa lạ với số lượng trang trại nuôi giống ngựa không ngừng tăng lên và việc cải thiện thức ăn gia súc bằng cách trồng cỏ linh lăng (Chi linh lăng) mà hạt giống được Zhuang Qian (Trương Khiên) mang về trong chuyến thám hiểm ở Trung Á. Nhờ đó Trương Kiên đã phát hiện ra ở thung lũng Ferghana (Uzbekistan ngày nay) có những con ngựa  tốt, ngựa hãn huyết (đổ mồ đỏ như máu) và mang về vào năm -114 trước Công nguyên một số mẫu vật được cung cấp bởi  người Wusun, đồng minh của Hán Vũ Đế ở Trung Á. Kích thước, tốc độ và sức mạnh của các con ngựa nầy  làm hài lòng Hán Vũ Đế vô cùng. Nhưng thành tích của các con ngựa nầy  được cho là kém hiệu quả hơn  các con ngựa của  người Đại Uyển (Ferghana). Nhờ có móng guốc cứng hơn, những con ngựa Đại Uyển có thể  đi đến một nghìn li mỗi ngày. Mong muốn có được những con ngựa này, Vũ Đế  tổ chức một cuộc thám hiểm quân sự chống lại người Đại Uyển đã sai lầm từ khước cung cấp các con ngựa nầy để đổi lấy quà tặng. Ngài không ngần ngại đặt cho những con ngựa này sau này cái tên là « thiên mã » (tianma) (thiên mã).

Những con ngựa nầy trở thành biểu tượng của quyền lực và uy tín vì Hán Vũ Đế cảm thấy bị sĩ nhục và bẽ mặt trước sự từ chối của một  tiểu vương quốc nằm ở trong thung lũng Ferghana. Chi phí dành cho cuộc thám hiểm quân sự rất quá mức không chỉ về trang bị và ngựa mà còn nhân mạng nửa  để có một kết quả không đáng  với khoảng ba mươi con  thiên mã và ba nghìn con ngựa giống và ngựa cái bình thường. Tuy nhiên, quân đội của Vũ Đế  được lựa chọn khéo léo, chủ yếu là những người lính chuyên nghiệp và phạm nhân thực sự cũng như kỵ binh do các chỉ huy của các vùng biên giới cung cấp. Những người lính nhập ngũ này phải có sức bền bỉ về thể chất đáng kể để thực hiện những cuộc hành quân nhiều ngày và tiếp quản một thành phố. Theo nhà sử học Tư Mã Thiên, không phải cái chết ở chiến trường hay thiếu lương thực là nguyên nhân dẫn đến những tổn thất đáng kể này mà chỉ là nỗi khát khao và ám ảnh của các tướng lĩnh muốn giành chiến thắng trong cuộc chiến bằng mọi giá vì mạng sống của họ còn phụ thuộc vào chiến thắng hay thất bại của các tác chiến này. Phần thưởng và hình phạt nghiêm khắc hoặc thậm chí án tử hình là một trong những giải thưởng mà Hán Vũ Đế sẽ dành cho họ mà họ không hề ảo tưởng khi họ trở về Trung Hoa. Các tướng lĩnh uy quyền buộc phải tự sát hoặc đầu hàng kẻ thù (Lý Quảng, Lý Lăng, Lý Quang Lợi  vân vân..). Chiến dịch của Ferghana đã hoàn thành chỉ trong vòng một năm (từ mùa xuân năm -102  đến mùa xuân năm -101).

Sự ra đời của con đường tơ lụa

Từ đây, sau chiến dịch Ferghana, tất cả các vương quốc  nằm trên con đường mà quân Hán đi ngang qua (sau này được gọi là « Con đường tơ lụa« ) đã chấp nhận thành chư hầu của Trung Hoa, ngoại trừ người Hung Nô. Để chống lại  những người nầy, Hán Vũ Đế  cố gắng tìm kiếm liên minh với kẻ thù của quân Hung Nô, đấy là người Đại Nguyệt Chi (Yuezhi) bằng cách cử một phái đoàn do Trương Khiên dẫn đầu đến Trung Á vào năm -139. Cuối cùng, Trương Khiên không thành công trong việc hoàn thành nhiệm vụ của mình vì ông ta đã bị quân Hung Nô giam giữ trong 10 năm trước khi trốn thoát để khám phá được Ferghana (Đại Uyển), Sogdiana (vùng Samarkand), Bactriane (Turkmenistan hiện nay) và phía bắc  Á Phú Hãn (Afghanistan ngày nay). Tuy nhiên, khi trở về Trung Hoa vào năm -126 trước Công nguyên, ông đã báo cáo với Hán Vũ Đế. Điều này cho phép Vũ Đế khám phá các quốc gia mà Trương Khiên đã đến tham quan và  nhắc đến cho Vũ Đế  biết có khả năng gia nhập vương quốc Shendu (Ấn Độ) từ nước Thục (Tứ Xuyên)  mà còn có một đế chế  hùng cường xa xôi có tên là  Daquin (Đế chế La Mã). 

Nếu không  tìm kiếm được đồng minh chống lại Hung Nô, người ta  lại có thể thấy giờ đây các đối tác thương mại quan tâm đến các sản phẩm của Trung Hoa như lụa, đồ sơn mài, công cụ bằng sắt vân vân… để đổi lấy ngọc, ngựa và lông thú. Con đường tơ lụa vì thế mới ra đời và trở thành sợi dây liên kết giữa Đông và Tây. Chỉ đến năm -115, Trương Kiên lại được Vũ Đế ủy thác dẫn một phái đoàn ngoại giao đến các vùng ở phía tây. Lần này, ông ấy cố gắng mang về không chỉ nhiều loại thực vật và sản phẩm tự nhiên (cỏ linh lăng, rượu vang, nho, quả hạch, quả lựu, đậu, len, thảm vân vân..) mà còn cả những người chăn nuôi ngựa, người Wusun. Bị ấn tượng bởi sự tráng lệ và giàu có của triều đình nhà Hán, người Wu Sun đồng ý tham gia trong cuộc liên minh  sau nầy do Hán Vũ Đế  đề xuất và mặc nhiên công nhận quyền bá chủ  của Trung Hoa. Liên minh này được tiếp  theo sau đó với sự cống hiến một  cô công chúa Trung Hoa cho nhà vua của người Wusun. Vua nầy có cơ hội báo cáo hai lần cho Hán Vũ Đế về ý định hung hăng thù địch của quân Hung Nô qua cuộc liên minh nầy.

HAI THẾ GIỚI, HAI ĐẾ CHẾ:

Đến năm 100 sau Công Nguyên, đế chế nhà Hán có thể sánh ngang với đế chế  La Mã. Nền kinh tế của Trung Hoa  chủ yếu dựa vào nông dân trong khi nền kinh tế của La Mã dựa trên chế độ nô lê. [TRỞ VỀ]

Sự thôn tính hai vương quốc: Nam Việt và Dạ Lang (tiếp theo)