Troisième invasion mongole au pays de Dai Viet

Cuộc xâm lăng  lần thứ ba của quân Nguyên-Mông ở Đại Việt.

La troisième invasion mongole au pays Đại Viêt.

Version française 
Version anglaise (en cours de traduction)
Bibliographie

Khi Thoát Hoan  cùng quân Nguyên-Mông bại trận chạy về thì Hốt Tất Liệt nổi giận lôi đình muốn bắt chém tất cả nhưng nhờ quần thần can gián nên mới thoát khỏi tội chết.  Lúc bấy giờ Hốt Tất Liệt có ý  định đi đánh Nhật Bản nhưng ông buộc lòng tạm thời gác lại. Ông sai đóng thêm 300 chiếc  thuyền và truyền hịch cho ba tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng và Giang Tây tụ tập binh sĩ để tháng tám noi theo đường châu Khâm, châu Liêm (Quảng Tây) mà đánh nước ta để  rửa nhục báo thù. Nhưng quan tỉnh Hồ Nam Duyến Kha dâng sớ can Hốt Tất Liệt nên để quân sĩ  nghỉ ngơi vài tháng khiến Hốt Tất Liệt nghe theo.(Trần Trọng Kim, ibid 128). Lúc bấy giờ vua Nhân Tông  nghe được nên mới hỏi Hưng Đạo Vương rằng: Khanh có gì để chống trả lại lần nầy nhất là quân thế của Nguyên Mông càng to hơn trước?. Hưng Đao Vương điềm nhiên  trả lời: Lúc trước quân và dân ta không có tập dượt  đến chiến trận nên rất vất vã và gặp nhiều khó khăn. Nhưng giờ đây quân dân ta đã quen việc chinh chiến, ta nhất định đánh phá  quân địch dễ  dàng hơn, xin bệ hạ đừng lo. 

Quân Nguyên-Mông vốn quen sống ở vùng thảo nguyên bao la nên khi sang Đại Việt, họ gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng về vấn đề lương thực. Điều nầy được thấy rõ qua hai lần xâm lược khiến  họ không thể áp dụng lối sống và cách đánh truyền thống xưa nay. Họ đi đến đâu  là họ cướp giựt đến đó nên không cần đem lương thực theo nhiều cồng kềnh. Bởi vậy chiến lược của họ không thể áp dụng ở Đại Việt vì ta dùng chiến lược «vườn trống nhà không». Còn họ thì đánh cấp tốc và  dùng chiến lược  «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh». Vã lại nước ta lại có địa hình  nhiều sông ngòi, đầm lầy và ruộng lúa nước nên không có cỏ để nuôi hàng vạn con ngựa chiến và gia súc. Ngựa của quân Nguyên suy kiệt và chết dần  vì bị thiếu thức ăn, khiến họ mất đi nguồn thực phẩm dự phòng và cả vũ khí chiến đấu lợi hại nhất của họ là kỵ binh. Chính đây sự khác biệt giữa chinh sách «vườn trống nhà không» và chính sách « lấy chiến tranh nuôi chiến tranh » .

Tài năng quân sự của dân tộc ta  được thể hiện rõ qua chỉ dụ của Đại Hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt gửi cho Thoát Hoan trước khi sang đánh Đại Việt. Trong Nguyên sử (元史)  có chép lại một đọan trích dẫn nằm ở quyển 14 (phần *Bản kỷ*), trang 10: « Chớ bao giờ coi thường Đại Việt, dù nước này nhỏ bé. »(1)

Lần này, mùa xuân năm Đinh Hợi (1287), bên cạnh bộ binh và kỵ binh, nhà Nguyên còn tập hợp một hạm đội hùng hậu cùng đoàn tiếp tế khổng lồ. Một tài liệu có tựa đề « Truyền thống quân sự của chúng ta » (2) của sử  gia Nguyễn Khắc Viện đã giải thích cơ sở của chiến thuật này và trình bày chi tiết việc triển khai lực lượng của quân Nguyên.

Lực lượng nửa triệu quân được chia ra thành ba cánh:

-lực lượng chủ lực của quân xâm lược, do Thoát Hoan chỉ huy, đi theo đường Lạng Sơn và giả  danh đưa Trần Ích Tắc về  nước  lên ngôi và được Hốt Tất Liệt  công nhận là vua nước An Nam.

-một cánh quân khác do tướng Áo Lỗ Xích (Auruyvci) chỉ huy, xuất phát từ Vân Nam, đi theo đường sông.

Hạm đội  do Ô Mã Nhi (Omar Al-Din) và Phàn Tiếp (Fan Ji) chỉ huy, gồm hơn 600 chiến thuyền, đã xuất phát từ Quảng Châu với lệnh đi  ngược dòng sông Đằng để tập kết tại Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Hưng).

Ngoài ra một đoàn thuyền vận tải do Trương Văn Hổ (Zhang Wenhu) chỉ huy theo đường bể  tải hơn 17 vạn thạch lương sang cấp cho quân sĩ.

Theo sư nhận xét của sử  gia Lê Đình Thông (3), thì lần nầy ba trong số bốn cuộc tiến quân của quân Nguyên-Mông được thực hiện bằng đường biển hoặc đường sông. Nói cách khác, hải quân đóng vai trò quyết định trong cuộc chiến này. Chúng ta nên nhớ thời Tống được coi là kỷ nguyên hoàng kim của công nghệ và sức mạnh hàng hải Trung Hoa. Giai đoạn này không chỉ ghi dấu ấn bởi những tiến bộ trong công nghệ hàng hải mà còn bởi sự phát triển trong lĩnh vực chế tạo hỏa khí: « Dưới thời nhà Tống, Trung Quốc là cường quốc hàng đầu thế giới về hỏa khí ». (4). Như vậy nhà Nguyên đã tiếp quản lực lượng hải quân của nhà Tống. Trên nguyên tắc, cán cân quyền lực rõ ràng nghiên về phía quân Nguyên Mông. Để đảm bảo chiến thắng của phe mạnh trước phe yếu, quân Nguyên-Mông còn áp dụng chiến thuật « biển người« .

 Được tin nầy nhờ quan trấn thủ  ở biên giới phi báo, Hưng Đạo Vương nói rằng: Binh cốt giỏi chứ không cốt nhiều. Nếu nhiều mà không giỏi thì cũng không ích lợi gì cả cũng như Bồ Kiên (hay Phù Kiên) thôi. Ông coi trọng  chất lượng, sự tinh nhuệ và tinh thần đoàn kết của dân tộc chớ như Bồ Kiên  vua của  nước Tiền Tần dù có 100 vạn quân nhiều sắc tộc  cũng vẫn thua  quân Đông Tấn chỉ có khoảng 8 vạn quân ở Trận Phì Thủy (năm 383) lúc thời Ngũ Hồ thập lục quốc (Shiliuguo)(từ 304 đến 439 sau Công Nguyên).

Ông lúc nào cũng thể hiện được cái tư duy mà ông có: Cái yếu hoàn toàn có thể thắng cái mạnh nếu biết dùng mưu lược và sự đoàn kết. Theo sử gia Pháp Paul Valery thì cái tư duy nầy  rất  có lý vì ông  đã từng nói rằng trong bài luận của  mình: các đế chế hay những kẻ chinh phạt hùng mạnh (chẳng hạn như người Mông Cổ) thường lầm tưởng rằng họ làm chủ một vùng đất chỉ vì họ đã vẽ được bản đồ về nơi đó.Nhưng thực trạng  của một quốc gia nó nằm ở địa hình, văn hóa bản địa và những nét đặc thù riêng biệt. Chính vì vậy luôn được trường tồn hoặc làm tan rã lực lượng xâm lược

Lúc đầu quân Nguyên-Mông quá đông và dùng chiến thuật biển người  nên quân ta phải thối chạy về Vạn Kiếp dù chống cự rất  mãnh liệt  của hai tướng Trần Nhật Duật và Nguyễn Khoái trên mặt trận Lạng Sơn nhất là Thoát Hoan quen đường nhờ chiến trận 1284. Thoát  Hoan còn sai Ô Mã Nhi (Omar Al-Din) dẫn quân từ Đông Lục Đầu  cùng A Bát Xích (Abaci)  đánh xuống sông Hồng. Hưng Đạo đang  giữ Quảng Yên phải bỏ và  rút về giữ Thăng Long. Còn Nhân Tông và Thái Thượng Hoàng phải dùng nghe đi ra biển về Thanh Hóa tạm trú. Tức giận vì không đuổi kịp nên vể Long Hưng (Thái Bình) mà  Ô Mã  Nhi phá tan mồ mả của nhà Trần. (Thái văn Kiểm, ibid 104) rồi tiến qua Vân Đồn vào cuối tháng 12 năm 1287 với  hàng trăm chiến thuyền.

Lực lượng quá chênh lệch, Trần Khánh Dư  buộc lòng phải  rút lui để địch đi qua. Thượng hoàng Trần Thánh Tông nghe tin Trần Khánh Dư thua và không cản được địch. Nổi giận, ông liền sai sứ ra xiềng xích Trần Khánh Dư để giải về kinh chịu tội. Trần Khánh Dư  là một nhà quân sự xuất chúng chỉ đứng sau Trần Hưng Đạo về nghệ thuật quân sự và mưu lược. Ông đã từng chấp bút  để lời tựa như sau  cho Vạn Kiếp binh thư của Trần Hưng Đạo: Người giỏi cầm quân thì không sợ bày trận, người giỏi bày trận thì không phải đánh,  người đánh giỏi thì không thua. Người khéo thua thì  không chết. Ông biết ông không thể chết dù ông đã thua. Ông bèn nghĩ kế phục binh nơi Lục Thủy Dương để chận đánh đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hổ, môt tên cướp biển qui phục Nguyên Triều dưới thời Nam Tống. Chắc chắn đây là nhược điểm của quân Nguyên-Mông mà Trần Khánh Dư thấu biết và cũng có dịp để ông không chỉ lập công chuộc tội mà còn được thưởng gấp bội lần. Bao lần ông bị tội nhưng nhờ tài năng xuất chúng nên được Nhân Tông phục chức và trọng dụng.

Một đêm dày đặc sương mù, quân ta lợi dụng thời cơ, đánh úp cả hai mặt sông, phá tan đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hổ với vô số xác chết  của Nguyên-Mông trôi lềnh bềnh ở trên sông.  Còn Trương Văn Hổ (Zhang Wenhu) thì quá khinh địch để  bị  phục kích phải dùng thuyền con chạy trốn về Quỳnh Châu bên Tàu.

Còn Ô Mã Nhi thì ngày đêm trông chờ đoàn thuyền lương thực  nên đâm ra lo lắng. Khi hay tin sự thực thì  Ô  Mã Nhi không chỉ tức giận mà càng lo sợ  vì tinh thần của binh sĩ  càng ngày càng xuống cấp. Ai nấy cũng có ý đồ thoát thân cả qua đường bộ nhưng Hưng Đạo Vương biết ý nên sai  các tướng sĩ lên giữ  chặt chẽ hai núi Kỳ Cấp và Núi Nhị (tức là Vọng Phu) ở phía Lạng Sơn  khiến họ quyết định rút về  nước kỳ nầy  bằng đường thủy qua vịnh Hạ Long. Theo sử gia Lê Đình Thông, tác chiến trên sông vẫn là phương thức giao chiến ưa thích của người Việt, đồng thời cũng là điểm yếu của quân Nguyên. Như vậy trận Bạch Đằng giang là trận quyết định sư thắng bại của cuộc xâm lăng lần thứ ba của quân Nguyên-Mông. Chính Hưng Đạo vương cũng biết chuyện nầy. Khi lúc xuất quân, ông còn trỏ sông Hà Giang (thuộc sông Thái Bình) mà thề rằng: Trận nầy không dẹp xong giặc Nguyên thì thề không về tới sông nầy nữa. Ông cùng quân sĩ kéo một mạch tới sông Bạch Đằng. Ông tận dụng  câu thành ngữ: Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hoà để thắng quân xâm lược.

Ta đã có hai thế lợi là địa thế (đất nước nhiều sông ngòi) và nhân hoà (mười người như một đồng lòng chống giặc) chỉ cần thiên thời (tức là chờ thời cơ nữa) là có thể giành được sự thắng lợi. Thời cơ là phải hiểu rõ ở đ ây là chế độ nhật triều điển hình của sông Bạch Đằng. Mỗi ngày triều lên và triều xuống chỉ có một lần. Đối với Trần Hưng Đạo thì  ông phải thông thuộc địa hình. Ông phải biết rõ  trong khoảng thời gian nào nước dâng lên và nước rút kéo dài để  ông dự đoán dụ quân Nguyên-Mông vào cuộc chiến để dành thắng lợi quyết đinh. Mực nước chênh lệch giữa lúc nước lên cao nhất  và lúc xuống thấp nhất có thể lên đến ba bốn thước. Lòng sông rộng nhưng nông. Khi triều lên, mặt sông bao la che lấp toàn bộ các chướng ngại vật ở dưới. Khi triều rút nhanh thì  trơ ra những bãi bồi, những cọc nhọn bịt sắt mà dân ta ẩn giấu từ lâu nay. Chiến thuật « đóng cọc gỗ dưới lòng sông » kết hợp  với việc mai phục để tiêu diệt các chiến thuyền của giặc là  môt nghệ thuật quân sự lợi  hại mà dân tộc ta áp dụng 3 lần  trong lịch sử  để giành chiến thắng. Lần nầy, Hưng Đạo vương   truyền lệnh cho quân sĩ bố trí trận địa cọc quy mô lớn tại các cửa sông phụ lưu như sông Chanh, sông Kênh, sông Rút (*)  trong lúc chờ thủy triều xuống dốc.

Vào rạng sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288, hạm đội của Ô Mã Nhi xuôi dòng sông Đá Bạc tiến vào sông Bạch Đằng với đội tiên phong trinh sát do chính tướng Phan Tiếp chỉ huy. Bổng thấy tướng nhà Trần Nguyễn Khoái dẫn thuyền đến kiêu chiến. Ô Mã Nhi tức giận thúc quân rượt theo. Nguyễn Khoái giã vờ thua chạy. Lúc bây giờ là lúc thủy triều lên nên mặt nước bao la. Ô Mã  Nhi truyền lệnh cho thuyền rượt theo.

Đến lúc qua khỏi các nơi đóng cọc thì Nguyễn Khoái quay thuyền nghinh chiến. Lúc nầy lại có thêm đại binh của Hưng Đạo vương tiếp đến khiến Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đâm ra lo sợ bèn quay thuyền trở lại. Khi đến tới khúc sông có đóng nọc thì thủy triều đã rút xuống lúc trưa  khiến thuyền bè của Nguyên-Mông bị mắc bởi các  cọc nên đổ nghiêng ngửa và đắm vỡ mất đi rất nhiều. Ngay lúc đó, những chiếc bè và thuyền nhỏ chở đầy các khúc gỗ đang cháy rừng rực do dân ta thả xuống và bị dòng nước cuốn đi, lại  nhanh về phía những chiếc thuyền buồm của địch đang bị kẹt lại trước các hàng cọc nhọn bịt sắt. Một số chiếc thuyền bốc cháy, thiêu rụi những người trên đó, rồi chìm nghỉm dưới làn sóng nước.

Quân ta thừa thắng xông lên giết hại quân Mông nhiều lắm nhất là các hàng cọc nhọn bịt sắt trong trận Bạch Đằng được bố trí có khoảng cách và quy luật để vừa cản bước và chọc thủng  các đoàn thuyền lớn của địch khi thủy triều rút, vừa cho phép thuyền nhỏ và quen thuộc địa hình của quân ta xen qua dễ dàng qua các khoảng trống hoặc cửa khẩu được định sẵn trong trận địa. Đấy là loại thuyền đuôi én hay thuyền lá tre nó có đặc tính kỹ thuật như sau : Khả năng cơ động cực cao và có trọng lượng nhẹ và mớn nước nông nên dễ dàng di chuyển qua các khu vực rừng ngập mặn hay những khúc sông quanh co và vùng nước nông của Đồng bằng sông Hồng. Hơn nữa nó còn một tốc độ đáng gờm. Chỉ cần đội ngũ từ 30 đến 100 tay chèo thì nó trở thành một lợi thế then chốt trong cuộc tấn công chớp nhoáng trên sông hay rút lui chiến lược.

Ngoài hai tướng Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp, hoàng tử Mông Cổ Tích Lệ Cơ Ngọc (Shiregi) con trai của Mông Kha Hãn cùng tùy tùng cũng bị bắt làm tù binh. 400 chiến thuyền bị phá hủy và lực lượng rút lui theo đường sông bị tiêu diệt hoàn toàn.

Thoát Hoan nghe tin quân thủy vỡ rồi thì dẫn các tướng còn lại Trịnh Bằng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Trương Quân và Trương Ngọc đi đường bộ chạy về Nội Bàng bị Phạm Ngũ Lão chặng đánh. Các tướng vừa đánh vừa chạy để hộ tống Thoát Hoan. Trương Quân cuối cùng bị Phạm Ngũ Lão chém chết vì ông dẫn quân đi đọan hậu. Tóm lại Thoát Hoang chạy thoát ra cửa ải với quân sĩ mười phần tổn hại cũng mất 5, 6 phần.  Trong lúc đó, Hưng Đạo vương rước xa giá Thượng Hoàng cùng Nhân Tông về kinh sư.

Vua Trần Nhân Tông  đem các tướng Nguyên bị bắt làm lễ dâng thắng trận ở Chiêu Lăng. Tại đây vua trông thấy chân mấy con ngựa đá đều lấm bùn vì trước đó quân Nguyên đã phá Chiêu Lăng và định đập bỏ ngựa đi mà chưa kịp. Thấy giang sơn lại được như cũ nên Nhân Tông có làm hai câu thơ tuyệt vời mà sử gia Trần Trọng Kim  dịch ra tiếng nôm như sau:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông thiên cổ vững âu vàng

Tuy nước ta thắng trận nhưng thế lực nhà Nguyên-Mông vẫn mạnh lắm. Cứ chiến tranh triền miên, dân ta lại khổ sở và nước ta lại là nước nhỏ và cô lập một mình  nên đến tháng mười năm Mậu Tí (1288) Nhân Tông sai quan Đỗ Thiên Thư sang Tàu xin theo lệ cống như xưa. Hốt Tất Liệt buộc lòng chấp nhận giảng hoà và phong  Nhân Tông  làm An Nam Quốc Vương.

Tháng hai năm Kỉ Sửu (1289), Nhân Tông sai quan đưa các tướng nhà Nguyên bị bắt  như Tích Lê Cơ Ngọc về Tàu. Còn Phàn Tiếp bị bệnh mà chết được Nhân Tông sai đem hỏa táng và hài  cốt  được mang về Tàu. Chì có Ô Mã Nhi có tội phá mồ mả tổ  tiên nhà Trần nên vua muốn giết nhưng sợ làm phật lòng Hốt Tất Liệt nên phải dùng kế của Trần Hưng Đạo. Ô Mã Nhi được người hộ tống đi đường biển nhưng thuyền bị đắm giữa đêm nên bị chết đuối vì ông không biết lội. Có lẽ Yết Kiêu được lệnh của Hưng Đạo vương  đục thuyền trước khi thuyền ra khơi.

 

Version française

Lorsque Toghan et les forces yuan-mongoles prirent la fuite lors de  leur défaite, Kubilai Khan, furieux, voulut les faire tous exécuter, mais il leur laissa la vie sauve après l’intervention de ses hauts fonctionnaires. À cette époque, Kubilai Khan eut l’intention d’envahir le Japon, mais il fut contraint de reporter temporairement ce projet. Il ordonna la construction de 300 navires supplémentaires et promulgua un décret ordonnant aux provinces de Jianghuai, Huguang et Jiangxi de rassembler au cours du huitième mois des troupes pour envahir notre pays  en passant par Qinzhou et Lianzhou (au Guangxi), ce qui lui permit  de  laver ainsi l’affront de la défaite et de  prendre sa revanche. Toutefois, Yuan Ke, un haut fonctionnaire de la province du Hunan, soumit un rapport conseillant à Kubilai Khan de laisser les troupes se reposer pour quelques mois. Kubilai Khan accepta cette suggestion (Trần Trọng Kim, ibid. 128).

En apprenant la nouvelle, le roi Nhân Tông demanda au prince Hưng Đạo : « Comment comptez-vous résister cette fois, alors que les forces yuan-mongoles sont encore plus redoutables qu’auparavant ? » Le prince Hưng Đạo répondit avec calme : « Auparavant, notre armée et notre peuple ne sont pas habitués à la guerre, ce qui nous crée de grandes épreuves et de grosses  difficultés. Aujourd’hui, en revanche, nos troupes et nos citoyens sont aguerris au combat. Nous vaincrons sûrement  l’ennemi avec plus de facilité. Votre Majesté n’a pas  besoin de  s’inquiéter.

Habituées à vivre dans les immenses steppes, les forces mongoles de la dynastie Yuan se heurtèrent à de graves problèmes logistiques d’approvisionnement lors de l’invasion du Dai Viet. Cette difficulté était manifeste au cours de leurs deux campagnes miltaires car elles ne pouvaient ni maintenir leur mode de vie traditionnel ni appliquer leurs tactiques de combat habituelles. D’ordinaire, elles comptaient sur le pillage au fil de leur progression. Cela leur épargna ainsi le transport de lourds convois de ravitaillement. Or cette stratégie s’avéra inefficace au Dai Viet en raison de la mise en œuvre locale de la politique dite des « champs vides et maisons désertes », une tactique de la  terre brûlée  alors même que les envahisseurs comptèrent sur des offensives rapides et sur la stratégie consistant à « nourrir la guerre par la guerre ».

De plus, le relief de notre pays caractérisé par de nombreuses rivières, des marécages et des rizières inondées n’offrait pas assez de pâturages pour subvenir aux besoins de leurs dizaines de milliers de chevaux de guerre et de bétail. Privés de fourrage suffisant, les chevaux des Yuan dépérirent et moururent, ce qui fit perdre aux envahisseurs à la fois la source vitale de nourriture de secours et l’atout militaire le plus redoutable qu’était leur cavalerie. Cela mit en évidence le contraste fondamental entre la stratégie employée des « champs vides et maisons désertes » et la méthode  militaire utilisée par les  Mongols  dans le but « nourrir la guerre par la guerre ». 

La puissance militaire de notre nation a été clairement attestée par l’édit impérial adressé par le Grand Khan mongol Kubilaï à Toghan avant l’invasion du Dai Viet. L’*Histoire des Yuan* (*Yuan Shi*)(元史) a rapporté, au volume 14 (section des *Annales*), page 10, le passage suivant : « Ne sous-estimez jamais le Đại Việt même si c’est un petit pays.»(1)

Au printemps de l’année Đinh Hợi (1287), outre son infanterie et sa cavalerie, la dynastie Yuan rassembla une formidable flotte navale ainsi qu’un immense convoi de ravitaillement. Un document intitulé « Notre tradition militaire » (2), rédigé par l’historien Nguyen Khac Vien, explique la logique de cette stratégie et donne en détail le déploiement des forces Yuan.

Cette armée, forte d’un demi-million d’hommes, était divisée en trois colonnes :

– La force d’invasion principale, commandée par Toghan (Thoát Hoan),  progressa par la route de Lang Son sous le prétexte d’escorter Tran Ich Tac dans le but de l’introniser, après avoir été reconnu par Kubilai Khan comme roi d’Annam.

– Une seconde colonne, commandée par le général Auruyvci (Áo Lỗ Xích), partit de la province de Yunnan et s’avança  en prenant la voie fluviale.

– Une flotte forte de plus de 600 navires de guerre sous le commandement de  Omar Al-Din (Ô Mã Nhi) et Fan Ji (Phàn Tiếp), appareilla de Guangzhou  et reçut l’ordre de remonter la rivière Bạch Đằng et de rejoindre Vạn Kiếp (Chi Linh, Hai Hung).

Par ailleurs, une flotte de transport commandée par Zhang Wenhu (Trương Văn Hổ) fit route par la  mer et achemina plus de 170 000 quintaux de vivres pour ravitailler les troupes.

Selon l’historien Lê Đình Thông (3), trois des quatre colonnes militaires lancées par les forces yuan-mongoles durant cette expédition furent menées par voie maritime ou fluviale.  Autrement dit, la puissance navale joua un rôle décisif dans le conflit. Il convient de noter que la dynastie Song était considérée comme l’âge d’or de la technologie et de la puissance  maritime chinoise. Cette époque se distingua non seulement par des avancées technologiques dans le domaine maritime, mais aussi par des progrès dans la fabrication d’armes à feu : « Sous la dynastie Song, la Chine était la première puissance mondiale en matière d’armes à feu » (4). Par conséquent, la dynastie Yuan hérita des forces navales des Song. En principe, le rapport de force penchait nettement en faveur des troupes yuan-mongoles. Pour assurer la victoire du camp du plus fort, l’armée yuan-mongole eut également recours à des tactiques de « vagues humaines ».

À la réception de ce rapport urgent du commandant de la frontière, Prince Hưng Đạo fit cette remarque: « La force militaire réside dans la qualité, et non dans le simple nombre. Même si une armée est nombreuse mais elle se montre incompétente, cela ne sert à rien à l’instar des troupes de Fu Jian. » Il privilégia la qualité, la combativité des troupes d’élite et l’unité nationale. Il sut que Fu Jian, souverain des Qin antérieurs  avait été vaincu lors de la bataille de la rivière Fei (383 apr. J.-C.), durant la période des Seize Royaumes (Shiliuguo) (304–439 apr. J.-C.) alors qu’il commandait une armée multi-ethnique d’un million d’hommes face aux forces des Jin orientaux ne comptant qu’environ 80 000 soldats.

Il a toujours fait preuve du type de réflexion qui le caractérisait: les faibles peuvent triompher les forts grâce au stratagème et à l’union. Selon l’historien français Paul Valéry ce point de vue est très pertinent car il a déjà  dit dans son essai : les grands empires ou les conquérants (comme les Mongols) croient dominer un territoire parce qu’ils le tracent sur une carte, mais la réalité d’un pays réside dans sa topographie, sa culture locale et ses singularités qui finissent toujours par survivre ou fragmenter l’envahisseur.

Initialement, les forces mongoles de la dynastie Yuan étaient écrasantes par leur nombre et employaient des tactiques de « vagues humaines ». Par conséquent, malgré la résistance acharnée de  la part des généraux Trần Nhật Duật et  Nguyễn Khoái sur le front de Lạng Sơn, les forces vietnamiennes furent contraintes de battre en retraite vers l’embarcadère Vạn Kiếp. Le commandant mongol en chef  Toghan (Thoát Hoan) tira parti de sa connaissance du terrain acquise lors de la campagne de 1284. Il ordonna à Omar Al-Din (Ô Mã Nhi) de mener des troupes depuis Đông Lục Đầu, aux côtés d’Abaci (A Bát Xích), dans une offensive par la descente sur le fleuve Rouge. Prince Hưng Đạo, qui tenait la position de Quảng Yên, fut contraint de l’abandonner et de se replier pour  défendre la citadelle Thăng Long, tandis que l’empereur Nhân Tông et l’empereur retiré durent fuir par la mer pour trouver refuge temporairement à Thanh Hóa. Frustré de ne pas avoir réussi à les capturer, Omar al-Din se dirigea vers Long Hưng (Thái Bình) où il donna l’ordre de profaner les tombes royales de la dynastie  Trần (Thái văn Kiểm,ibid 104), avant de progresser vers l’embarcadère  Vân Đồn à la fin du mois de décembre 1287 avec une flotte de plusieurs centaines de navires de guerre.

Face à des forces ennemies écrasantes, Trần Khánh Dư fut contraint de battre en retraite et de laisser passer l’adversaire. En apprenant l’échec de Trần Khánh Dư dans la mission de  stopper l’ennemi, l’empereur retiré Trần Thánh Tông entra dans une colère noire. Il dépêcha aussitôt un émissaire pour faire enchaîner le général et le conduire à la capitale pour expliquer la raison de son échec. Trần Khánh Dư était un commandant militaire hors pair, devancé uniquement par Trần Hưng Đạo en matière d’art et de stratégie militaires. Il avait eu l’occasion de rédiger la préface suivante pour le *Traité militaire de Vạn Kiếp* de Trần Hưng Đạo: «Ceux qui sont doués pour diriger les troupes n’ont pas peur de planifier les batailles. Ceux qui sont doués pour planifier des batailles n’ont pas besoin d’engager le combat. Ceux qui sont doués pour engager le combat ne perdent pas la bataille. Ceux qui savent gérer la défaite ne meurent pas ». Il sut qu’il ne mourra pas. Il élabora ainsi un plan pour tendre une embuscade à Lục Thủy Dương et intercepter la flotte de transport de vivres de Zhang Wenhu, un pirate de mer soumis à la dynastie Yuan durant la période des Song du Sud. C’était indéniablement le point faible des forces mongoles que Trần Khánh Dư avait parfaitement saisi. C’était  aussi une opportunité lui permettant non seulement de se racheter de ses erreurs commises, mais aussi de recevoir de multiples récompenses. Bien qu’il fût tombé en disgrâce à maintes reprises, son talent exceptionnel amena l’empereur Nhân Tông à le rétablir dans ses fonctions et à garder une grande confiance dans ses capacités.

Par une nuit de brouillard épais, nos forces saisirent l’occasion de lancer une attaque surprise depuis les deux rives du fleuve. Elles anéantirent la flotte de transport de vivres de Zhang Wenhu avec un nombre infini des cadavres flottants des troupes yuan-mongoles jonchés sur le cours d’eau. Ayant gravement sous-estimé l’ennemi et étant tombé dans une embuscade, Zhang Wenhu fut contraint de fuir vers Qiongzhou, en Chine, à bord d’une petite embarcation Pendant ce temps, Omar s’inquiéta de plus en plus en attendant, jour et nuit, la flotte de transport de vivres. Lorsqu’il apprit la vérité, il fut non seulement furieux mais aussi profondément alarmé, car le moral de ses troupes ne cessait de se dégrader. Chacun envisagea une fuite par voie terrestre, mais Prince Hung Dao, prévoyant cette manœuvre, ordonna à ses généraux de verrouiller solidement les monts Kỳ Cấp et  Nhị (également connu sous le nom de Vọng Phu) du côté de Lạng Sơn. L’ennemi décida de battre en retraite ainsi vers son pays  en empruntant les voies navigables de la baie d’Along.

Selon l’historien Lê Đình Thông, le combat fluvial constituait le mode de lutte privilégié des Vietnamiens, alors qu’il représentait le point faible des Yuan. Par conséquent, la bataille de la rivière Bạch Đằng s’est révélée décisive pour l’issue de la troisième invasion yuan-mongole. Le prince Hưng Đạo en était parfaitement conscient. Au moment de lancer la campagne, il désigna la rivière Hà Giang (un affluent du fleuve Thái Bình) et fit ce serment : « Si je ne vaincs pas l’ennemi yuan au cours de cette campagne, je jure de ne jamais revenir sur cette rivière». Il marcha ensuite directement vers la rivière Bạch Đằng avec ses troupes en tirant parti de la triade stratégique « moment opportun, terrain avantageux et unité du peuple » pour vaincre les envahisseurs.

Nous disposions déjà de deux atouts stratégiques: un terrain favorable (une contrée sillonnée de rivières) et une unité d’esprit (un peuple uni comme un seul homme face à l’ennemi). Il ne restait plus qu’à choisir le moment propice,  l’instant décisif  pour remporter la victoire. Pour ce faire, il était crucial de bien comprendre le régime de marée diurne singulier de la rivière Bạch Đằng, caractérisé par une unique alternance de flux et de reflux chaque jour. Prince Hưng Đạo devait connaître le terrain sur le bout des doigts. Il lui fallait savoir précisément quand l’eau monterait et combien de temps durerait la marée descendante, afin de pouvoir attirer les forces yuan-mongoles dans une bataille permettant d’assurer une victoire décisive.

La différence de niveau d’eau entre la marée haute et la marée basse peut atteindre trois ou quatre mètres. Le lit de la rivière est large mais peu profond. À la marée haute, la vaste étendue d’eau dissimule tous les obstacles immergés. Lorsque la marée se retire rapidement, elle met à nu les vasières ainsi que les pieux en bois à pointe de fer que notre peuple avait longtemps tenus cachés. La tactique consistant à planter des pieux en bois dans le lit de la rivière, combinée à des embuscades visant à détruire les navires de guerre des ennemis, constituait une stratégie militaire redoutable que notre nation a employée avec succès à trois reprises au cours de son histoire. En cette occasion, Prince Hưng Đạo ordonna à ses troupes d’installer un vaste champ de pieux aux embouchures des affluents  tels que les rivières Chanh, Kênh et Rút (*)  dans l’attente du reflux de la marée.

Aux premières heures du 9 avril 1288, la flotte d’Omar Al Din descendit la rivière Đá Bạc et pénétra dans la rivière Bạch Đằng avec une unité d’avant-garde chargée de la reconnaissance sous le commandement direct du général Phan Tiếp (Fan Ji). Soudain, le général de la dynastie Trần, Nguyễn Khoái surgit avec ses embarcations pour provoquer et défier l’ennemi. Furieux, Omar ordonna à ses troupes de se lancer à sa poursuite. Nguyễn Khoái simula la défaite et prit la fuite. À cet instant, la marée montait en  formant une vaste étendue d’eau mais Omar ordonna néanmoins à ses navires de poursuivre l’ennemi.

Une fois la zone des pieux franchie, Nguyễn Khoái fit faire demi-tour à ses navires pour engager le combat contre l’ennemi. C’était alors que le gros des troupes, sous le commandement du Prince Hưng Đạo arriva en renfort. Saisis d’effroi, Omar et Fan Ji tentèrent de battre en retraite. Toutefois, lorsqu’ils atteignirent le tronçon de la rivière où étaient plantés les pieux, la marée de la mi-journée s’était déjà retirée. Cela  amena les navires yuan-mongols à tomber  dans le piège où les pieux ont fait un grand nombre d’entre eux chavirer ou se briser. Au même moment, des radeaux et de petites embarcations, chargés de bûches enflammées, lancés par la population locale et portés par le courant  foncèrent sur les navires ennemis immobilisés devant les rangées de pieux à pointe de fer. Plusieurs navires prirent feu et  consumèrent ainsi leurs occupants avant de sombrer sous les flots.

Profitant de leur élan, nos forces infligèrent de lourdes pertes aux troupes mongoles. Ce succès était en grande partie dû aux pieux en bois à pointe de fer déployés lors de la bataille de Bạch Đằng. Etant disposés selon un agencement et un espacement précis, les pieux étaient conçus pour stopper et empaler l’imposante flotte ennemie au moment du reflux, tout en permettant à nos propres navires  plus petits et parfaitement adaptés au terrain  de naviguer aisément à travers des passages prévus au sein du dispositif défensif. Ces embarcations, surnommées bateaux à queue d’hirondelle ou bateaux tressés en bambou présentaient des atouts techniques majeurs : une maniabilité exceptionnelle, une grande légèreté et un faible tirant d’eau leur permettant de traverser sans peine les mangroves, les méandres des cours d’eau et les zones peu profondes du delta du fleuve Rouge. Capables d’atteindre des vitesses impressionnantes et manœuvrées par des équipages de 30 à 100 rameurs, elles offraient un avantage décisif pour mener des attaques fluviales fulgurantes ou effectuer des replis stratégiques.

Outre les généraux Omar Al-Din et Fan Ji, le prince mongol Shiregi, fils de Möngke Khan  et sa suite furent également faits prisonniers. Quatre cents navires de guerre furent détruits, et les forces qui battaient en retraite le long du fleuve furent totalement anéanties.

Informé de la déroute de ses forces navales, Toghan mena ses derniers généraux Zheng Pengfei, Abachi, Aoluchi, Zhang Jun et Zhang Yu dans une retraite par voie terrestre vers Nội Bàng, mais ils furent interceptés par Phạm Ngũ Lão. Les généraux ordonnèrent  la retraite au combat pour protéger Toghan. Zhang Jun, qui commandait l’arrière-garde, finit par être abattu par Phạm Ngũ Lão. Finalement, Toghan parvint à s’échapper par le col, bien que son armée eût subi des pertes dévastatrices avec cinq ou six dixièmes de ses troupes anéanties. Pendant ce temps, Prince Hung Dao raccompagna l’Empereur retiré et l’Empereur Nhân Tông à la capitale. Le roi Trần Nhân Tông fit conduire les généraux Yuan capturés à Chiêu Lăng pour la célébration d’une cérémonie de victoire. Là, le roi remarqua que les membres des chevaux de pierre étaient couvertes de boue. Les troupes Yuan avaient en effet vandalisé le mausolée et avaient eu l’intention de briser les statues, mais  elles n’avaient pas pu mener leur entreprise à terme.

En retrouvant le royaume rétabli dans son état antérieur, le roi Nhân Tông composa un magnifique distique, que l’historien Trần Trọng Kim a traduit en langue nôm comme suit:

Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông thiên cổ vững âu vàng

La patrie, par deux fois, a surmonté les plus rudes épreuves
La nation, pour l’éternité, préservera l’intégrité de son sol d’or

Bien que notre pays eût remporté la bataille, les forces mongoles de la dynastie Yuan demeuraient redoutables. Une guerre prolongée causait des souffrances à la population. Comme notre  nation était  minuscule et isolée, nous étions confrontés à une situation délicate. C’est pourquoi, au dixième mois de l’année du Rat de terre (1288), le roi Nhân Tông envoya l’ambassadeur Đỗ Thiên Thư en Chine pour solliciter le rétablissement de l’ancien statut de vassalité. Kubilai Khan se vit contraint d’accepter la paix et investit Nhân Tông du titre de roi d’An Nam.

Au deuxième mois de l’année du Buffle de terre (1289), Nhân Tông ordonna à des officiels d’escorter jusqu’en Chine les généraux Yuan capturés, tels que Tích Lê Cơ Ngọc (Shiregi). Quant à Fan Ji, décédé de maladie, Nhân Tông fit incinérer sa dépouille et ordonna son rapatriement en Chine. Seul le cas d’Omar Al Din coupable d’avoir profané les tombes ancestrales de la dynastie Trần  posait un vrai dilemme. Le roi souhaitait le faire exécuter mais il craignait de déplaire à Kubilai Khan. Il adopta alors un stratagème imaginé par Prince Hưng Đạo. Omar Al Din fut escorté par voie maritime, mais son navire sombra en pleine nuit et il se noya car ile ne savait pas nager. Il est fort probable que son subordonné Yết Kiêu, agissant sur ordre du Prince Hưng Đạo, ait saboté l’embarcation avant son départ.

Version anglaise

Bibliographie

Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược. Histoire du Viet Nam. Imprimerie Vĩnh & Thanh 1928.
Lê Thành Khôi: Le Viet-Nam. Histoire et Civilisation. Les Éditions de Minuit. 1955
Thái Văn Kiểm: Việt Nam Quang Hoa. Editeur Xuân Thu
René Grousset: Histoire de la Chine. Editeur France Loisirs 1997
Bai Shouyi: Précis d’histoire de Chine. Edition en langues étrangères. 1988
Yamamoto T.: La conquête de l’Annam par les Yuan et les Ming. Tokyo. 1950
(1) Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông (La résistance contre l’invasion des Yuan-Mongols au XIIIème siècle), Hanoi, Ed. des Sciences sociales, 1972, p. 260.
(2) Nguyễn Khắc Viện: Nos traditions militaires, Etudes vietnamiennes, n° 55 (1978), Hanoï, p. 37.
(3) Lê  Đinh Thông: La marine vietnamienne avant l’arrivée des Français. Paris, ISC
(4) Jung Pang lo, « The Emergence of China as a sea power during the late Song and early Yuan Periods », The Far Eastern Quarterly, n° 4, vol. XIV, 8/1955, p. 503.
(5) Đây là ba hệ thống phân lưu và cửa sông quan trọng nằm tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, gắn liền với các trận địa cọc lịch sử trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông trên sông Bạch Đằng năm 1288