
Cuộc xâm lăng lần thứ ba của quân Nguyên-Mông ở Đại Việt.
La troisième invasion mongole au pays Đại Viêt.
Version française (en cours de traduction)
Khi Thoát Hoan cùng quân Nguyên-Mông bại trận chạy về thì Hốt Tất Liệt nổi giận lôi đình muốn bắt chém tất cả nhưng nhờ quần thần can gián nên mới thoát khỏi tội chết. Lúc bấy giờ Hốt Tất Liệt có ý định đi đánh Nhật Bản nhưng ông buộc lòng tạm thời gác lại. Ông sai đóng thêm 300 chiếc thuyền và truyền hịch cho ba tỉnh Giang Hoài, Hồ Quảng và Giang Tây tụ tập binh sĩ để tháng tám noi theo đường châu Khâm, châu Liêm (Quảng Tây) mà đánh nước ta để rửa nhục báo thù. Nhưng quan tỉnh Hồ Nam Duyến Kha dâng sớ can Hốt Tất Liệt nên để quân sĩ nghỉ ngơi vài tháng khiến Hốt Tất Liệt nghe theo.(Trần Trọng Kim, ibid 128). Lúc bấy giờ vua Nhân Tông nghe được nên mới hỏi Hưng Đạo Vương rằng: Khanh có gì để chống trả lại lần nầy nhất là quân thế của Nguyên Mông càng to hơn trước?. Hưng Đao Vương điềm nhiên trả lời: Lúc trước quân và dân ta không có tập dượt đến chiến trận nên rất vất vã và gặp nhiều khó khăn. Nhưng giờ đây quân dân ta đã quen việc chinh chiến, ta nhất định đánh phá quân địch dễ dàng hơn, xin bệ hạ đừng lo.
Quân Nguyên-Mông vốn quen sống ở vùng thảo nguyên bao la nên khi sang Đại Việt, họ gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng về vấn đề lương thực. Điều nầy được thấy rõ qua hai lần xâm lược khiến họ không thể áp dụng lối sống và cách đánh truyền thống xưa nay. Họ đi đến đâu là họ cướp giựt đến đó nên không cần đem lương thực theo nhiều cồng kềnh. Bởi vậy chiến lược của họ không thể áp dụng ở Đại Việt vì ta dùng chiến lược «vườn trống nhà không». Còn họ thì đánh cấp tốc và dùng chiến lược «lấy chiến tranh nuôi chiến tranh». Vã lại nước ta lại có địa hình nhiều sông ngòi, đầm lầy và ruộng lúa nước nên không có cỏ để nuôi hàng vạn con ngựa chiến và gia súc. Ngựa của quân Nguyên suy kiệt và chết dần vì bị thiếu thức ăn, khiến họ mất đi nguồn thực phẩm dự phòng và cả vũ khí chiến đấu lợi hại nhất của họ là kỵ binh. Chính đây sự khác biệt giữa chinh sách «vườn trống nhà không» và chính sách « lấy chiến tranh nuôi chiến tranh » .
Tài năng quân sự của dân tộc ta được thể hiện rõ qua chỉ dụ của Đại Hãn Mông Cổ Hốt Tất Liệt gửi cho Thoát Hoan trước khi sang đánh Đại Việt. Trong Nguyên sử (元史) có chép lại một đọan trích dẫn nằm ở quyển 14 (phần *Bản kỷ*), trang 10: « Chớ bao giờ coi thường Đại Việt, dù nước này nhỏ bé. »(1)
Lần này, mùa xuân năm Đinh Hợi (1287), bên cạnh bộ binh và kỵ binh, nhà Nguyên còn tập hợp một hạm đội hùng hậu cùng đoàn tiếp tế khổng lồ. Một tài liệu có tựa đề « Truyền thống quân sự của chúng ta » (2) của sử gia Nguyễn Khắc Viện đã giải thích cơ sở của chiến thuật này và trình bày chi tiết việc triển khai lực lượng của quân Nguyên.
Lực lượng nửa triệu quân được chia ra thành ba cánh:
-lực lượng chủ lực của quân xâm lược, do Thoát Hoan chỉ huy, đi theo đường Lạng Sơn và giả danh đưa Trần Ích Tắc về nước lên ngôi và được Hốt Tất Liệt công nhận là vua nước An Nam.
-một cánh quân khác do tướng Áo Lỗ Xích (Auruyvci) chỉ huy, xuất phát từ Vân Nam, đi theo đường sông.
Hạm đội do Ô Mã Nhi (Omar Al-Din) và Phàn Tiếp (Fan Ji) chỉ huy, gồm hơn 600 chiến thuyền, đã xuất phát từ Quảng Châu với lệnh đi ngược dòng sông Đằng để tập kết tại Vạn Kiếp (Chí Linh, Hải Hưng).
Ngoài ra một đoàn thuyền vận tải do Trương Văn Hổ (Zhang Wenhu) chỉ huy theo đường bể tải hơn 17 vạn thạch lương sang cấp cho quân sĩ.
Theo sư nhận xét của sử gia Lê Đình Thông (3), thì lần nầy ba trong số bốn cuộc tiến quân của quân Nguyên-Mông được thực hiện bằng đường biển hoặc đường sông. Nói cách khác, hải quân đóng vai trò quyết định trong cuộc chiến này. Chúng ta nên nhớ thời Tống được coi là kỷ nguyên hoàng kim của công nghệ và sức mạnh hàng hải Trung Hoa. Giai đoạn này không chỉ ghi dấu ấn bởi những tiến bộ trong công nghệ hàng hải mà còn bởi sự phát triển trong lĩnh vực chế tạo hỏa khí: « Dưới thời nhà Tống, Trung Quốc là cường quốc hàng đầu thế giới về hỏa khí ». (4). Như vậy nhà Nguyên đã tiếp quản lực lượng hải quân của nhà Tống. Trên nguyên tắc, cán cân quyền lực rõ ràng nghiên về phía quân Nguyên Mông. Để đảm bảo chiến thắng của phe mạnh trước phe yếu, quân Nguyên-Mông còn áp dụng chiến thuật « biển người ».
Được tin nầy nhờ quan trấn thủ ở biên giới phi báo, Hưng Đạo Vương nói rằng: Binh cốt giỏi chứ không cốt nhiều. Nếu nhiều mà không giỏi thì cũng không ích lợi gì cả cũng như Bồ Kiên (hay Phù Kiên) thôi. Ông coi trọng chất lượng, sự tinh nhuệ và tinh thần đoàn kết của dân tộc chớ như Bồ Kiên vua của nước Tiền Tần dù có 100 vạn quân nhiều sắc tộc cũng vẫn thua quân Đông Tấn chỉ có khoảng 8 vạn quân ở Trận Phì Thủy (năm 383) lúc thời Ngũ Hồ thập lục quốc (Shiliuguo)(từ 304 đến 439 sau Công Nguyên).
Ông lúc nào cũng thể hiện được cái tư duy mà ông có: Cái yếu hoàn toàn có thể thắng cái mạnh nếu biết dùng mưu lược và sự đoàn kết. Theo sử gia Pháp Paul Valery thì cái tư duy nầy rất có lý vì ông đã từng nói rằng trong bài luận của mình: các đế chế hay những kẻ chinh phạt hùng mạnh (chẳng hạn như người Mông Cổ) thường lầm tưởng rằng họ làm chủ một vùng đất chỉ vì họ đã vẽ được bản đồ về nơi đó.Nhưng thực trạng của một quốc gia nó nằm ở địa hình, văn hóa bản địa và những nét đặc thù riêng biệt. Chính vì vậy luôn được trường tồn hoặc làm tan rã lực lượng xâm lược
Lúc đầu quân Nguyên-Mông quá đông và dùng chiến thuật biển người nên quân ta phải thối chạy về Vạn Kiếp dù chống cự rất mãnh liệt của hai tướng Trần Nhật Duật và Nguyễn Khoái trên mặt trận Lạng Sơn nhất là Thoát Hoan quen đường nhờ chiến trận 1284. Thoát Hoan còn sai Ô Mã Nhi (Omar Al-Din) dẫn quân từ Đông Lục Đầu cùng A Bát Xích (Abaci) đánh xuống sông Hồng. Hưng Đạo đang giữ Quảng Yên phải bỏ và rút về giữ Thăng Long. Còn Nhân Tông và Thái Thượng Hoàng phải dùng nghe đi ra biển về Thanh Hóa tạm trú. Tức giận vì không đuổi kịp nên vể Long Hưng (Thái Bình) mà Ô Mã Nhi phá tan mồ mả của nhà Trần. (Thái văn Kiểm, ibid 104) rồi tiến qua Vân Đồn vào cuối tháng 12 năm 1287 với hàng trăm chiến thuyền.
Lực lượng quá chênh lệch, Trần Khánh Dư buộc lòng phải rút lui để địch đi qua. Thượng hoàng Trần Thánh Tông nghe tin Trần Khánh Dư thua và không cản được địch. Nổi giận, ông liền sai sứ ra xiềng xích Trần Khánh Dư để giải về kinh chịu tội. Trần Khánh Dư là một nhà quân sự xuất chúng chỉ đứng sau Trần Hưng Đạo về nghệ thuật quân sự và mưu lược. Ông đã từng chấp bút để lời tựa như sau cho Vạn Kiếp binh thư của Trần Hưng Đạo: Người giỏi cầm quân thì không sợ bày trận, người giỏi bày trận thì không phải đánh, người đánh giỏi thì không thua. Người khéo thua thì không chết. Ông bèn nghĩ kế phục binh nơi Lục Thủy Dương để chận đánh đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hổ, môt tên cướp biển qui phục Nguyên Triều dưới thời Nam Tống. Chắc chắn đây là nhược điểm của quân Nguyên-Mông mà Trần Khánh Dư thấu biết và cũng có dịp để ông không chỉ lập công chuộc tội mà còn được thưởng gấp bội lần. Bao lần ông bị tội nhưng nhờ tài năng xuất chúng nên được Nhân Tông phục chức và trọng dụng.
Một đêm dày đặc sương mù, quân ta lợi dụng thời cơ, đánh úp cả hai mặt sông, phá tan đoàn thuyền chở lương thực của Trương Văn Hổ với vô số xác chết của Nguyên-Mông trôi lềnh bềnh ở trên sông. Còn Trương Văn Hổ (Zhang Wenhu) thì quá khinh địch để bị phục kích phải dùng thuyền con chạy trốn về Quỳnh Châu bên Tàu.
Còn Ô Mã Nhi thì ngày đêm trông chờ đoàn thuyền lương thực nên đâm ra lo lắng. Khi hay tin sự thực thì Ô Mã Nhi không chỉ tức giận mà càng lo sợ vì tinh thần của binh sĩ càng ngày càng xuống cấp. Ai nấy cũng có ý đồ thoát thân cả qua đường bộ nhưng Hưng Đạo Vương biết ý nên sai các tướng sĩ lên giữ chặt chẽ hai núi Kỳ Cấp và Núi Nhị (tức là Vọng Phu) ở phía Lạng Sơn khiến họ quyết định rút về nước kỳ nầy bằng đường thủy qua vịnh Hạ Long. Theo sử gia Lê Đình Thông, tác chiến trên sông vẫn là phương thức giao chiến ưa thích của người Việt, đồng thời cũng là điểm yếu của quân Nguyên. Như vậy trận Bạch Đằng giang là trận quyết định sư thắng bại của cuộc xâm lăng lần thứ ba của quân Nguyên-Mông. Chính Hưng Đạo vương cũng biết chuyện nầy. Khi lúc xuất quân, ông còn trỏ sông Hà Giang (thuộc sông Thái Bình) mà thề rằng: Trận nầy không dẹp xong giặc Nguyên thì thề không về tới sông nầy nữa. Ông cùng quân sĩ kéo một mạch tới sông Bạch Đằng. Ông tận dụng câu thành ngữ: Thiên Thời Địa Lợi Nhân Hoà để thắng quân xâm lược.
Ta đã có hai thế lợi là địa thế (đất nước nhiều sông ngòi) và nhân hoà (mười người như một đồng lòng chống giặc) chỉ cần thiên thời (tức là chờ thời cơ nữa) là có thể giành được sự thắng lợi. Thời cơ là phải hiểu rõ ở đ ây là chế độ nhật triều điển hình của sông Bạch Đằng. Mỗi ngày triều lên và triều xuống chỉ có một lần. Đối với Trần Hưng Đạo thì ông phải thông thuộc địa hình. Ông phải biết rõ trong khoảng thời gian nào nước dâng lên và nước rút kéo dài để ông dự đoán dụ quân Nguyên-Mông vào cuộc chiến để dành thắng lợi quyết đinh. Mực nước chênh lệch giữa lúc nước lên cao nhất và lúc xuống thấp nhất có thể lên đến ba bốn thước. Lòng sông rộng nhưng nông. Khi triều lên, mặt sông bao la che lấp toàn bộ các chướng ngại vật ở dưới. Khi triều rút nhanh thì trơ ra những bãi bồi, những cọc nhọn bịt sắt mà dân ta ẩn giấu từ lâu nay. Chiến thuật « đóng cọc gỗ dưới lòng sông » kết hợp với việc mai phục để tiêu diệt các chiến thuyền của giặc là môt nghệ thuật quân sự lợi hại mà dân tộc ta áp dụng 3 lần trong lịch sử để giành chiến thắng. Lần nầy, Hưng Đạo vương truyền lệnh cho quân sĩ bố trí trận địa cọc quy mô lớn tại các cửa sông phụ lưu như sông Chanh, sông Kênh, sông Rút (*) trong lúc chờ thủy triều xuống dốc.
Vào rạng sáng ngày 9 tháng 4 năm 1288, hạm đội của Ô Mã Nhi xuôi dòng sông Đá Bạc tiến vào sông Bạch Đằng với đội tiên phong trinh sát do chính tướng Phan Tiếp chỉ huy. Bổng thấy tướng nhà Trần Nguyễn Khoái dẫn thuyền đến kiêu chiến. Ô Mã Nhi tức giận thúc quân rượt theo. Nguyễn Khoái giã vờ thua chạy. Lúc bây giờ là lúc thủy triều lên nên mặt nước bao la. Ô Mã Nhi truyền lệnh cho thuyền rượt theo.
Đến lúc qua khỏi các nơi đóng cọc thì Nguyễn Khoái quay thuyền nghinh chiến. Lúc nầy lại có thêm đại binh của Hưng Đạo vương tiếp đến khiến Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp đâm ra lo sợ bèn quay thuyền trở lại. Khi đến tới khúc sông có đóng nọc thì thủy triều đã rút xuống lúc trưa khiến thuyền bè của Nguyên-Mông bị mắc bởi các cọc nên đổ nghiêng ngửa và đắm vỡ mất đi rất nhiều. Ngay lúc đó, những chiếc bè và thuyền nhỏ chở đầy các khúc gỗ đang cháy rừng rực do dân ta thả xuống và bị dòng nước cuốn đi, lại nhanh về phía những chiếc thuyền buồm của địch đang bị kẹt lại trước các hàng cọc nhọn bịt sắt. Một số chiếc thuyền bốc cháy, thiêu rụi những người trên đó, rồi chìm nghỉm dưới làn sóng nước.
Quân ta thừa thắng xông lên giết hại quân Mông nhiều lắm nhất là các hàng cọc nhọn bịt sắt trong trận Bạch Đằng được bố trí có khoảng cách và quy luật để vừa cản bước và chọc thủng các đoàn thuyền lớn của địch khi thủy triều rút, vừa cho phép thuyền nhỏ và quen thuộc địa hình của quân ta xen qua dễ dàng qua các khoảng trống hoặc cửa khẩu được định sẵn trong trận địa. Đấy là loại thuyền đuôi én hay lá tre nó có đặc tính kỹ thuật như sau : Khả năng cơ động cực cao và có trọng lượng nhẹ và mớn nước nông nên dễ dàng di chuyển qua các khu vực rừng ngập mặn hay những khúc sông quanh co và vùng nước nông của Đồng bằng sông Hồng. Hơn nữa nó còn một tốc độ đáng gờm. Chỉ cần đội ngũ từ 30 đến 100 tay chèo thì nó trở thành một lợi thế then chốt trong cuộc tấn công chớp nhoáng trên sông hay rút lui chiến lược.
Ngoài hai tướng Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp, hoàng tử Mông Cổ Tích Lệ Cơ Ngọc (Shiregi) con trai của Mông Kha Hãn cùng tùy tùng cũng bị bắt làm tù binh. 400 chiến thuyền bị phá hủy và lực lượng rút lui theo đường sông bị tiêu diệt hoàn toàn.
Thoát Hoan nghe tin quân thủy vỡ rồi thì dẫn các tướng còn lại Trịnh Bằng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Trương Quân và Trương Ngọc đi đường bộ chạy về Nội Bàng bị Phạm Ngũ Lão chặng đánh. Các tướng vừa đánh vừa chạy để hộ tống Thoát Hoan. Trương Quân cuối cùng bị Phạm Ngũ Lão chém chết vì ông dẫn quân đi đọan hậu. Tóm lại Thoát Hoang chạy thoát ra cửa ải với quân sĩ mười phần tổn hại cũng mất 5, 6 phần. Trong lúc đó, Hưng Đạo vương rước xa giá Thượng Hoàng cùng Nhân Tông về kinh sư. Thượng Hoàng Thánh Tông thấy giang sơn lại được như cũ nên ông có làm hai câu thơ tuyệt vời mà dịch ra tiếng nôm như sau :
Xã tắc hai phen bon ngựa đá
Non sông thiên cổ vững âu vàng
Tuy nước ta thắng trận nhưng thế lực nhà Nguyên-Mông vẫn mạnh lắm. Cứ chiến tranh triền miên, dân ta lại khổ sở và nước ta lại là nước nhỏ và cô lập một mình nên đến tháng mười năm mậu tí (1288) Nhân Tông sai quan Đỗ Thiên Thư sang Tàu xin theo lệ cống như xưa. Hốt Tất Liệt buộc lòng chấp nhận giảng hoà và phong Nhân Tông làm An Nam Quốc Vương.
Tháng hai năm kỉ Sửu (1289), Nhân Tông sai quan đưa các tướng nhà Nguyên bị bắt như Tích Lê Cơ Ngọc về Tàu. Còn Phàn Tiếp bị bệnh mà chết được Nhân Tông sai đem hỏa táng và hài cốt được mang về Tàu. Chì có Ô Mã Nhi có tội phá mồ mả tổ tiên nhà Trần nên vua muốn giết nhưng sợ làm phật lòng Hốt Tất Liệt nên phải dùng kế của Trần Hưng Đạo. Ô Mã Nhi được người hộ tống đi đường biển nhưng thuyền bị đắm giữa đêm nên bị chết đuối vì ông không biết lội. Có lẽ Yết Kiêu được lệnh của Hưng Đạo vương đục thuyền trước khi thuyền ra khơi.
(1) Cuộc kháng chiến chống xâm lược Nguyên-Mông (La résistance contre l’invasion des Yuan-Mongols au XIIIème siècle), Hanoi, Ed. des Sciences sociales, 1972, p. 260.
(2) Nguyễn Khắc Viện: Nos traditions militaires, Etudes vietnamiennes, n° 55 (1978), Hanoï, p. 37.
(3) Lê Đinh Thông: La marine vietnamienne avant l’arrivée des Français. Paris, ISC
(4) Jung Pang lo, « The Emergence of China as a sea power during the late Song and early Yuan Periods », The Far Eastern Quarterly, n° 4, vol. XIV, 8/1955, p. 503.
(5) Đây là ba hệ thống phân lưu và cửa sông quan trọng nằm tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, gắn liền với các trận địa cọc lịch sử trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông trên sông Bạch Đằng năm 1288
Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược. Histoire du Viet Nam. Imprimerie Vĩnh & Thanh 1928.
Lê Thành Khôi: Le Viet-Nam. Histoire et Civilisation. Les Éditions de Minuit. 1955
Thái Văn Kiểm: Việt Nam Quang Hoa. Editeur Xuân Thu
René Grousset: Histoire de la Chine. Editeur France Loisirs 1997
Bai Shouyi: Précis d’histoire de Chine. Edition en langues étrangères. 1988
Yamamoto T.: La conquête de l’Annam par les Yuan et les Ming. Tokyo. 1950
