
Photo Pinterest
Cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ nhất của quân Mông Cổ.
La première invasion des Mongols au pays Đại Việt.
Năm 1209, khi kinh thành Thăng Long hỗn loạn do bộ tướng Quách Bốc nổi dậy trả thù cho Phạm Bỉnh Di, vua Lý Cao Tông buộc lòng bỏ kinh đô phải chạy trốn lên Quy Hóa. Còn thái tử Lý Sâm đã chạy về vùng Hải Ấp nương náu với gia tộc nhà Trần, một thế lực hào trưởng giàu mạnh, có uy thế lớn, sở hữu nhiều thuộc hạ và gia binh ở vùng ven biển. Nhờ đó Lý Cao Tông mới lấy được ngai vàng trở lại. Còn Lý Sâm vì đem lòng yêu con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung nên lấy bà làm vợ. Chính từ đó thế lực của gia tộc nhà Trần mạnh lên ở triều đình và thay thế nhà Lý qua một cuộc chuyển giao quyền lực chính trị đỉnh cao, chủ yếu tất cả do bàn tay đạo diễn của Trần Thủ Độ. Không những tận dụng sự bất lực của vua Lý Huệ Tông (Thái tử Lý Sâm năm xưa) mắc bệnh điên loạn mà còn đưa Trần Thị Dung lên làm Hoàng hậu và cùng nhau bày kế kết hôn giữa Lý Chiêu Hoàng (lúc này đang là nữ hoàng của nhà Lý mới có 6 tuổi) và Trần Cảnh (con trai của Trần Thừa được 8 tuổi) vào năm 1225. Sự kiện chính trị nầy là sự sắp đặt mưu mô của Trần Thủ Độ nhằm chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần lúc ông làm chức quản lĩnh các quân đội hộ vệ cấm đình ở triều đình nhà Lý.
Sự tàn nhẫn của ông để lại cho các sử gia và hậu thế sự phê trách không ít nhất là ông bức tử vua Lý Huệ Tông sau khi ép vua đi tu. Ông còn thôn tính ngôi vương bằng cách trao ngôi cho cậu bé Trần Cảnh (8 tuổi) qua hình thức kết hôn với Lý Chiêu Hoàng (6 tuổi) và ông trừ khử tất cả người hoàng tộc nhà Lý nhằm tránh hậu hoạ về sau. Tất cả ai họ Lý đều phải đổi ra họ Nguyễn. Chỉ có đô đốc Lý Long Tường, người con thứ bảy của vua Lý Anh Tông thoát khỏi sự tàn sát nầy. Ông cùng 6000 gia thuộc bỏ trốn Đại Việt qua đường biển để đến Cao Ly dung thân. Ông trở thành một danh tướng nổi tiếng của nước Cao Ly dưới thời vua Cao Tôn trong công cuộc chống Nguyên-Mông và được vua Cao Tôn phong ông làm Hoa Sơn quân (hoặc Hoa Sơn tướng quân).
Dù Trần Thủ Độ là một nhà chính trị kiệt xuất có công độc tôn vương quyền cho nhà Trần và có công rất lớn với dân tộc ta trong công cuộc chống giặc Nguyên Mông lần đầu nhưng những hành động tàn nhẫn và nhơ nhuốc của ông bị người đời chê trách.
Dưới góc nhìn nho giáo phong kíến lúc bấy giờ như các sử gia Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên thì ông là kẻ gian hùng, không biết luân thường đạo lý để củng cố vương quyền cho nhà Trần. Ông còn ép Trần Cảnh (Trần Thái Tông) lấy chị dâu của mình là Lý Ngọc Oanh (con gái trưởng của vua Lý Huệ Tông), vợ của An Sinh vương Trần Liễu, anh trai của Trần Cảnh bởi vì Lý Chiêu Hoàng (hay Lý Phật Kim) không có con. An Sinh vương Trần Liễu (cha của Trần Hưng Đạo) mới phẫn uất, phất cờ làm loạn trên sông Cái nhằm đòi lại vợ khiến bị Trần Thủ Độ xử tội. Nhờ có sự che chở của em ruột Trần Cảnh (Trần Thái Tông) nên Trần Liễu mới khỏi bị hành quyết và mang hận suốt đời cho đến chết.
Còn dưới góc nhìn lịch sử khách quan và tiến bộ ngày nay, ông là người có công cứu vãn quốc gia qua việc ổn định kinh tế, củng cố quân đội qua việc đánh dẹp giặc dã: giặc Mường ở Quốc Oai, giặc Đoạn Thượng ở Đường Hào, Nguyễn Nộn ở Bắc Giang để xây dựng một vương triều mới đủ sức mạnh để bảo vệ giang sơn trước khi giặc Mông Cổ xâm chiếm nước ta lần đầu 30 năm sau. Đây là điều mà các sử gia nước ta ngày nay đều công nhận nhà Lý ở giai đoạn cuối đời chắc chắn không thể nào làm được và nước ta sẽ cùng số phận như nước Đại Lý ở Vân Nam bị diệt vong vào năm 1252.
Để giữ vững quyền lực chính trị và bảo vệ huyết thống tôn quý trong hoàng tộc, các vua nhà Trần thường kết hôn giữa anh em họ (hôn nhân cận huyết). Dù hôn nhân cận huyết tiềm ẩn rủi ro dị tật ở thời hiện đại ngày nay nhưng dưới thời các vua nhà Trần nước ta vẫn có sinh ra nhiều nhân tài kiệt xuất như Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tôn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản vân vân… Chính nhờ vậy mà nước ta mới thắng được giặc Mông Cổ trong lịch sử nhất họ là những kỵ xạ có khả năng di chuyển tựa như bóng ma mà còn có ưu thế quân sự vượt trội so với những người dân sống ở các đồng bằng ven biển theo sự nhận xét của giáo sư Lê Thành Khôi (ibid 180). Còn theo học giả Trần Trọng Kiêm (ibid 106), người Mông Cổ sống ở thượng lưu sông Hắc Long Giang có tính hiếu chiến, người nào cũng cởi ngựa giỏi và bắn tên không ai bằng nên mới chiếm được cả Trung Á cùng đất Ba-Tư sang đến phía đông bắc Âu La Ba (Châu Âu này nay) rồi nước Tây Hạ phía tây bắc nước Tàu, dứt nước Kim và tràn sang nước Cao Ly (ibid 107).
Năm 1257, Mông Kha Đại Hản mới có ý định mở thêm một mặt trận thứ hai từ phía nam nằm trong kế hoạch bao vây Nam Tống, Mông Kha Hãn mới ủy thác cho em trai mình là Hốt Tất Liệt nhiệm vụ xâm lược nước Đại Lý ở tỉnh Vân Nam giáp biên giới Việt Nam.
Vì vậy Đại Việt trở thành lý do chiến lược quan trọng nhằm tấn công phía sau nước Nam Tống mà ông chưa thành công khuất phục trong suốt hơn hai thập kỷ. Một khi nước Đại Lý bị chinh phục, tướng Mông Cổ Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangkhadai) cử sứ giả đến triều đình nhà Trần để yêu cầu được phép hành quân qua lãnh thổ nhằm tấn công nhà Tống (Trung Quốc) từ phía nam. Lo ngại cho chủ quyền của mình và kiên quyết không phản bội mối quan hệ chư hầu với nhà Tống, vua Trần Thái Tông không những khước từ yêu sách của quân Mông Cổ mà còn giữ các sứ giả Mông Cổ và sai cháu trai là Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo) dẫn đầu một đội quân hùng mạnh lên trấn giữ biên giới phía bắc. Đối với đế chế Mông Cổ, việc giam giữ hay sát hại các sứ giả ngoại giao bị xem là sự xúc phạm tột cùng và cần phải có biện pháp trừng phạt quân sự tức thì. Mông Kha Đại Hãn cho phép Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangkhadai) khởi động cuộc xâm lược Mông Cổ đầu tiên vào Việt Nam vào cuối năm 1257. Trần Quốc Tuấn ít quân đánh không lại buộc lòng rút về đóng ở Sơn Tây. Quân Mông Cổ tràn xuống sông Thao. Vua Thái Tôn ngự gíá thân chinh nhưng đánh không lại, buộc lòng bỏ kinh đô và chạy về đóng ở sông Thiên_mạc (khúc sông Hồng ở tỉnh Hưng Yên). Tướng Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangkhadai) vào thành Thăng Long thấy các sứ giả bị trói ở trong ngục và sau khi cổi trói có một sứ giả lại chết khiến Uriyangkhadai nổi giân truyền lệnh cho quân Mông Cổ cướp phá giết tất cả nam phụ lão ở trong thành. (Trần Trọng Kiêm, ibid 208).
Trước tình thế nguy nan, vua Thái Tôn ngự thuyền mới hỏi người em ruột là thái úy Trần Nhật Hiệu. Không nói gì cả, ông nầy mới cầm sào viết trên nước hai chữ «Nhập Tống», có nghĩa là chạy sang đầu hàng hoặc nhập nước ta vào nhà Tống để bảo toàn tính mạng và dòng tộc. Không nghe ý kiến nầy, vua lại đi hỏi thái sư Trần Thủ Độ thì Thủ Độ thư thản trả lời một cách cứng cỏi: Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì xin bệ hạ đừng lo sợ. Nhờ đó vua Thái Tông mới yên tâm. Chính câu nói nầy chúng ta mới nhận thấy Thủ Độ tuy gian ác với nhà Lý nhưng ông là một công thần kiệt xuất của nhà Trần. Chính làm chúng ta cũng khó mà phán xét ông khi đọc lại lịch sử nước nhà ở giai đọan nầy nếu không có ông.
Làm sao nhà Trần thắng được quân Mông Cổ lần đầu khi quân ta bị giặc Mông áp đảo ở mọi nơi? Dưới sự lãnh đạo của tướng Trần Hưng Đạo, triều đại Trần mới thực hiện một chiến lược phòng thủ toàn diện dựa trên ba yếu tố chính như sau:
1°) Vườn không nhà trống.
Khi quân giặc tiến công vào thành, toàn bộ người dân cùng lương thực, gia súc và các nguồn cung cấp quan trọng đều được lệnh rút lui hoặc đem cất giấu khiến quân giặc không có lương thực để sống nếu sự tiếp tế bị chậm trễ.
2°) Khí hậu và dịch bệnh. Đây là những đồng minh thiên nhiên trong cuộc chiến chống lại kẻ xâm lược. Quân giặc Mông Cổ tuy hùng mạnh ở những vùng bình nguyên khô hạn mà không chịu được cái nóng oi bức, độ ẩm cao và địa hình rừng rậm của nước ta khiến binh lính Mông Cổ nhanh chóng rơi vào tình trạng mệt mỏi, suy giảm sức chiến đấu nghiêm trọng chỉ sau hơn một tuần đóng quân. Họ bị suy dinh dưỡng với các căn bệnh nhiệt đới như sốt rét. Tướng Ngột Lương Hợp Thai phải cho quân đóng trại dọc sông Hồng (vùng bến Đông Bộ Đầu) để vừa phòng thủ vừa tìm cách cướp bóc phá thế bao vây.
3°) Chiến tranh du kích và phản công. Đây là một chiến lược « Lấy Yếu Chống Mạnh » hay thường dùng ở đất nước ta. Vùng Vân Nam (Đại Lý) có biên giới sát với phía bắc Đại Việt (khu vực các tỉnh Tây Bắc ngày nay). Người Đại Lý quen thuộc với khí hậu rừng núi hoang vu, độc hại và địa hình hiểm trở của vùng giáp ranh giới. Vì vậy Ngột Lương Hợp Thai ép 2 vạn quân Đại Lý đi cùng 1 vạn kỵ binh Mông Cổ đi trước mở đường, làm nhiệm vụ dò đường và chịu đòn thay thế cho lực lượng kỵ binh tinh nhuệ Mông Cổ. Đây là chiến lược « Làm lá chắn thịt » mà Ngột Lương Hợp Thai dùng để quân Đại Lý che chở và chịu đòn thay thế quân Mông Cổ. Hơn nữa quân Đại Lý là những người rất sùng bái đạo Phật nên họ không hung hãn và tàn sát như lính Mông Cổ. Họ bị ép buộc đi tiên phong, tiến vào bờ cõi nước ta đầu năm 1258 với tướng Triệt Triệt Đô (Cacakdu).
Đội quân tiên phong nầy có nhiệm vụ bí mật vượt qua sông, đi vòng ra phía sau cướp bến thuyền và chặn đường lui. Khi trung quân Mông Cổ đánh vỗ mặt từ phía trước thì quân Trần sẽ rơi vào thế « tiến thoái lưỡng nan« , bị ép chết bên bờ sông và vua tôi nhà Trần sẽ bị bắt sống. Vì nóng lòng đánh nhanh đánh mau nên được thắng tại cánh đồng Bình Lệ Nguyên (nay thuộc về tỉnh Vĩnh Phúc) nhưng ý đồ bị bại lộ nên vua tôi, các tướng sĩ cùng hàng vạn quân chủ lực nhà Trần ung dung xuống thuyền rút đi một cách an toàn. Ngược lại quân Mông Cổ rơi vào tình trạng sau đó thiếu lương thực trầm trọng. Tinh thần giảm sút khiến đến lúc có cuộc tổng phản công của vua tôi nhà Trần, dẫn đến chiến thắng ở trận Đông Bộ Đầu (*). Liên quân Mông Đai Lý tháo chạy hỗn loạn về Vân Nam mà không có đốt làng giết hại nhân dân nên gọi chúng là « giặc Phật ». (Thái Văn Kiểm, ibid 94) Còn Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangkhadai) không còn dám cố thủ, truyền lệnh rút khỏi kinh thành Thăng Long, dẫn quân đi ngược theo dòng sông Hồng chạy về hướng Vân Nam và tiếp tục bị dân binh miền núi của thủ lĩnh Hà Bổng chặn đánh tơi tả ở trại Qui Hoà.
Trận Đông Bộ Đầu chính là trận kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mông Cổ lần thứ nhất của dân tộc ta.
(*) Bến Đông Bộ Đầu bên sông Hồng (nay khu vực từ dốc Hàng Than đến phố Hòe Nhai, quận Ba Đình, Hà Nội).
En 1209, alors que la capitale impériale de Thăng Long était plongée dans le chaos par le général Quách Bốc qui s’était soulevé pour venger son chef Pham Bỉnh Di, le roi Lý Cao Tông fut contraint de fuir vers Quy Hóa. Pendant ce temps, le prince héritier Lý Sâm gagna la région de Hải Ấp pour y trouver refuge auprès du clan Trần, une puissance locale riche et influente disposant d’un grand nombre de vassaux et de troupes privées dans la zone côtière.
C’est à la faveur de ces événements que Lý Cao Tông recouvra le trône. Quant à Lý Sâm, épris de Trần Thị Dung, fille de Trần Lý, l’épousa. Cette alliance ouvrit la voie à l’ascension du clan Trần à la cour royale et, à terme, au renversement de la dynastie Lý. Un transfert majeur de pouvoir politique orchestré principalement par Trần Thủ Độ eu lieu après. Non seulement ce dernier tira parti de l’incapacité du roi Lý Huệ Tông (anciennement le prince héritier Lý Sâm), qui souffrait de troubles mentaux, mais il éleva également Trần Thị Dung au rang d’impératrice. En outre, il organisa en 1225 le mariage de Lý Chiêu Hoàng (reine régnante de la dynastie Lý, alors âgée de six ans) avec Trần Cảnh (fils de Trần Thừa, âgé de huit ans). Cette manœuvre politique constituait une stratégie calculée de Trần Thủ Độ, commandant de la garde impériale visant à transférer le pouvoir de la dynastie Lý à la dynastie Trần.
Sa cruauté lui valut de vives critiques de la part des historiens et de la postérité, notamment pour avoir contraint le roi Lý Huệ Tông à devenir moine avant de le pousser à la mort. Il usurpa le trône en installant le jeune Trần Cảnh (âgé de huit ans) par le biais du mariage de ce dernier avec Lý Chiêu Hoàng (âgée de six ans) et élimina tous les membres de la famille royale Lý pour écarter toute menace future. Quiconque portant le nom de famille Lý fut contraint de le changer pour celui de Nguyễn. Seul l’amiral Lý Long Tường, septième fils du roi Lý Anh Tông, échappa à ce massacre. Lui et 6 000 membres de sa parenté fuirent le Đại Việt par la mer pour trouver refuge au royaume Goryeo (Corée). Là-bas, il devint un général renommé au service du roi Gojong durant la résistance aux invasions mongoles et il reçut du souverain le titre de seigneur de Hwasan (ou général Hwasan).
Bien que Trần Thủ Độ ait été un homme d’État remarquable ayant consolidé l’autorité royale absolue de la dynastie Trần et rendu d’immenses services à la nation lors de la première résistance face aux envahisseurs mongols, ses actes cruels et honteux lui valurent la condamnation de l’opinion publique.
Aux yeux des historiens confucéens de l’époque féodale tels que Lê Văn Hưu et Ngô Sĩ Liên, il apparut comme un homme rusé et impitoyable, faisant fi des principes moraux dans sa volonté de consolider le pouvoir royal au profit de la dynastie Trần. Il alla jusqu’à contraindre Trần Cảnh (l’empereur Trần Thái Tông) à épouser sa propre belle-sœur, Lý Ngọc Oanh, fille aînée du roi Lý Huệ Tông et épouse du prince An Sinh (Trần Liễu) car l’impératrice Lý Chiêu Hoàng (Lý Phật Kim) n’avait pas donné d’héritier. Furieux, le prince An Sinh (père de Trần Hưng Đạo) fomenta une rébellion sur la rivière Cái pour tenter de récupérer son épouse. C’était un acte pour lequel il fut par la suite sanctionné par Trần Thủ Độ. Grâce à la protection énergique de son frère cadet, l’empereur Trần Thái Tông, Trần Liễu échappa à l’exécution, bien qu’il ait nourri toujours un profond ressentiment jusqu’à la fin de ses jours.
Par contre, sous l’angle de l’histoire objective et progressiste aujourd’hui, on lui attribue le mérite d’avoir sauvé la nation en stabilisant l’économie et en renforçant l’armée grâce à la répression de diverses révoltes telles que celles menées par les rebelles Mường à Quốc Oai, la faction de Đoàn Thường à Đường Hào et celle de Nguyễn Non à Bắc Giang. Ces actions ont permis l’instauration d’une nouvelle dynastie suffisamment puissante pour défendre le royaume face à la première invasion mongole, survenue trente ans plus tard. Les historiens contemporains reconnaissent que la fin de la dynastie des Lý aurait été incapable d’y parvenir certainement. Sans ses efforts, le pays aurait probablement subi le même sort que le royaume de Dali, au Yunnan, anéanti en 1252.
Afin de consolider leur pouvoir politique et de préserver la lignée noble de la famille royale, les monarques de la dynastie Tran pratiquaient fréquemment des mariages consanguins, s’unissant au sein de la famille élargie. Bien que de telles unions comportent un risque d’anomalies congénitales selon les critères modernes, l’époque des Trần a néanmoins vu émerger de nombreuses figures illustres telles que Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tôn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản etc.
C’est précisément ce qui a permis à notre pays de vaincre les envahisseurs mongols. C’est un peuple qui, selon le professeur Lê Thành Khôi (ibid., 180), comptait non seulement d’habiles archers à cheval capables de se déplacer avec une rapidité fulgurante, mais jouissait également d’une supériorité militaire écrasante sur les habitants des plaines côtières. Par ailleurs, le chercheur Trần Trọng Kiêm (ibid., 106) souligne que les Mongols originaires du cours supérieur du fleuve Amour étaient un peuple belliqueux. Ses cavaliers et ses archers hors pair conquirent l’Asie centrale, la Perse et certaines parties de l’Europe de l’Est ainsi que le royaume des Xia occidentaux (au nord-ouest de la Chine). Ils anéantirent la dynastie Jin et envahirent le royaume de Goryeo (ibid., 107).
En 1257, dans le cadre d’un plan visant à encercler la dynastie des Song du Sud en ouvrant un second front par le sud, Möngke Khan confia à son jeune frère, Kubilai Khan, la mission d’envahir le royaume de Dali, dans la province du Yunnan, qui était limitrophe du Vietnam.
Par conséquent, le Đại Việt devint une cible stratégique majeure pour lancer une attaque sur les arrières des Song du Sud. C’était un État qui avait résisté avec succès à toute tentative de soumission pendant plus de deux décennies. Après la conquête du royaume de Dali, le général mongol Uriyangkhadai envoya des émissaires à la cour des Trần pour demander l’autorisation de traverser leur territoire afin d’attaquer la dynastie des Song (Chine) par le sud. Soucieux de la souveraineté de son royaume et fermement décidé à ne pas trahir les liens de vassalité qui l’unissaient aux Song, le roi Trần Thái Tông rejeta non seulement la requête mongole mais il fit arrêter également les émissaires mongols et ordonna à son neveu, Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo), de diriger une puissante armée pour défendre la frontière nord.
Pour l’Empire mongol, l’emprisonnement ou le meurtre d’émissaires diplomatiques constituait une insulte suprême exigeant des représailles militaires immédiates. Möngke Khan autorisa Uriyangkhadai à lancer la première invasion mongole du Vietnam à la fin de l’année 1257. En infériorité numérique, Trần Quốc Tuấn fut contraint de battre en retraite et de positionner ses troupes à Sơn Tây, tandis que les forces mongoles descendaient jusqu’à la rivière Thao. Le roi Thái Tông dirigea personnellement la défense mais il ne parvint pas à tenir ses positions. Il fut forcé d’abandonner la capitale et se réfugia vers la rivière Thiên Mạc (un tronçon du fleuve Rouge situé dans la province de Hưng Yên). En pénétrant dans la citadelle de Thăng Long (capitale du Đại Việt), le général Uriyangkhadai découvrit les émissaires enchaînés dans la prison. La mort de l’un d’eux fut survenue au moment de sa libération. Cela le mit dans une rage folle et le poussa à ordonner à ses troupes de piller la ville et de massacrer tous les hommes, femmes et enfants qui s’y trouvaient (Trần Trọng Kim, ibid., p. 208).
Face à cette situation périlleuse, le roi Thái Tông consulta son jeune frère, le Grand Maréchal Trần Nhật Hiệu, alors qu’ils se trouvaient à bord de la barque royale. Sans dire un mot, Hiệu saisit une perche et traça les caractères « Nhập Tống » (Rejoindre les Song) à la surface de l’eau, suggérant ainsi soit la fuite et la reddition, soit l’intégration du royaume à la dynastie des Song afin de préserver leurs vies et leur lignée. Rejetant cette proposition, le roi se tourna vers le Grand Précepteur Trần Thủ Độ. Celui-ci lui répondit avec calme et détermination : « Tant que ma tête continue à rester sur mes épaules, Votre Majesté n’a rien à craindre. » Rassuré par ces paroles, le roi Thái Tông retrouva son calme. Cet échange révèle que, bien que Thủ Độ ait agi sans pitié envers la dynastie Lý, il fut un homme d’État remarquable et éminent de la dynastie des Trần. Il est d’ailleurs difficile pour nous de le juger sévèrement lorsque nous relisons l’histoire de cette période troublante car sans lui, l’issue des événements aurait pu être bien différente.
Comment la dynastie des Trần a-t-elle réussi à vaincre l’armée mongole lors de la première confrontation alors que nos forces étaient submergées par les Mongols sur tous les fronts ? Sous le commandement du général Trần Hưng Đạo, la dynastie Tran a mis en œuvre une stratégie défensive globale reposant sur trois éléments clés suivants:
1°) La stratégie de la « terre brûlée ».
Lorsque les forces ennemies avançaient vers la citadelle, l’ordre était donné à l’ensemble de la population ainsi qu’aux détenteurs de vivres, de bétail et de ressources vitales d’évacuer les lieux ou de dissimuler ses biens. Cette mesure privait les envahisseurs de toute source de ravitaillement en cas de retard de leurs propres lignes d’approvisionnement.
2°) Le climat et les maladies. Ces facteurs agirent comme des alliés naturels dans la lutte contre les envahisseurs. Étant redoutables dans les plaines arides, les forces mongoles ne purent pas résister à la chaleur accablante, à la forte humidité et au terrain forestier dense du pays. En conséquence, les troupes succombèrent rapidement à l’épuisement et virent leur efficacité au combat chuter drastiquement au-delà d’une semaine de campement. Elles souffraient de malnutrition et de maladies tropicales telles que le paludisme. Le général Uriyangkhadai fut contraint de positionner ses troupes le long du fleuve Rouge (dans la zone de Đông Bộ Đầu) pour maintenir une posture défensive, tout en cherchant des occasions de piller et de briser l’encerclement.
C’était là la stratégie du « bouclier humain » adoptée par Uriyangkhadai: utiliser les troupes de Dali pour assurer une couverture et encaisser les coups à la place de l’armée mongole. En outre, en tant que fervents bouddhistes, les soldats de Dali étaient dépourvus de la férocité et de la soif de sang de leurs homologues mongols. Ils furent contraints de servir d’avant-garde et de pénétrer sur notre territoire au début de l’année 1258, aux côtés du général Cacakdu. Cette avant-garde avait pour mission de traverser secrètement la rivière, de contourner nos positions pour nous prendre à revers, de s’emparer des points de débarquement et de couper toute voie de retraite.
3°) Guerre de guérilla et contre-attaques. Il s’agit d’une stratégie consistant à « utiliser le faible pour s’opposer au fort », fréquemment employée dans notre pays.
La région du Yunnan (Dali) partageait une frontière avec la partie septentrionale du Đai Viet (la zone correspondant aux actuelles provinces du Nord-Ouest). Les troupes de Dali étaient habituées au relief accidenté ainsi qu’aux conditions rudes et périlleuses de ces contrées frontalières sauvages et montagneuses. Par conséquent, Uriyangkhadai contraignit 20 000 soldats de Dali à accompagner 10 000 cavaliers mongols. Ils furent chargés d’effectuer la reconnaissance du terrain et d’assumer le plus gros du combat servant ainsi de bouclier à la cavalerie d’élite mongole.
Quand l’armée mongole en position centrale avait lancé un assaut frontal direct, les forces des Trần se seraient retrouvées dans une situation désespérée et acculées à la rive du fleuve avec le risque imminent pour le roi et sa cour d’être capturés. Bien que les Mongols aient remporté une victoire dans la plaine de Bình Lệ Nguyên (située dans l’actuelle province de Vĩnh Phúc) grâce à leur empressement à engager rapidement le combat, leurs intentions stratégiques furent révélées. C’était pour cela que le roi Trần, sa cour et des dizaines de milliers de soldats d’élite purent embarquer sereinement et se replier en toute sécurité. En revanche, l’armée mongole se retrouva par la suite confrontée à une grave pénurie de vivres. Son moral s’effondra, ce qui permit aux forces des Trần d’engager au moment propice une contre-offensive générale et aboutit à la victoire lors de la bataille de Đông Bộ Đầu (*).
Les forces de la coalition mongolo-dali, en pleine déroute, se replièrent vers le Yunnan sans incendier les villages et massacrer la population, ce qui leur valut le surnom des « envahisseurs du Bouddha» (Thái Văn Kiểm, ibid. 94). De son côté, Uriyangkhadai, incapable de tenir plus longtemps ses positions, ordonna l’évacuation de la capitale Thăng Long. Il conduisit ses troupes en remontant le fleuve Rouge vers le Yunnan mais il subit de lourdes pertes face à la milice des hautes terres commandée par Hà Bổng au camp de Qui Hoà.
La bataille de Đông Bộ Đầu marqua l’issue victorieuse de la première guerre de résistance du Đại Việt contre les Mongols.
(*) Quai Đông Bộ Đầu sur le fleuve Rouge (aujourd’hui, la zone s’étendant de la pente Hàng Than jusqu’à la rue Hòe Nhai, dans le district de Ba Đình, Hanoï).
Bibliographie
Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược . Histoire du Viet Nam. Imprimerie Vĩnh & Thanh 1928.
Lê Thành Khôi: Le Viet-Nam. Histoire et Civilisation. Les Éditions de Minuit. 1955
Thái Văn Kiểm: Việt Nam Quang Hoa. Editeur Xuân Thu
René Grousset: Histoire de lA Chine. Editeur France Loisirs 1997
Bai Shouyi : Précis d’histoire de Chine. Edition en langues étrangères. 1988
Yamamoto T. : La conquête de l’Annam par les Yuan et les Ming. Tokyo. 1950
