Généralissime Trần Hưng Đạo (Trần Quốc Tuấn)

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228- 1300)
Les grandes entreprises appartiennent à ceux qui possèdent talent et vertu.
Nghiệp lớn thuộc về người tài đức.

Version française
Version anglaise (en cours de traduction)
Version anglaise
Bibliographie

Thật ra ông tên là Trần Quốc Tuấn. Còn Hưng Đạo vương là chức tước cao nhất mà các nhà vua của triều đại nhà Trần phong cho ông với vùng đất ở Vạn Kiếp thuộc về tỉnh Hải Dương ngày nay. Hưng có nghĩa  làm hưng thịnh và Đạo là cách làm tôi trung quân ái quốc. Trong lục lệ nhà Trần ít khi nói tên húy của nhân vật mà hay thường dùng chức tước để nói đến người đó. Bởi vậy ông thường đưọc gọi  là Trần Hưng Đạo trong lịch sử và dân gian.

Trước khi nói về người anh hùng dân tộc  Trần Hưng Đạo  thì phải nhắc đến An Sinh vương Trần Liễu, cha của ông và là anh ruột của Trần Thái Tông (Trần Cảnh) con của Trần Thừa (tức là Trần Thế Tổ), người sáng lập nhà Trần. Câu chuyện bắt đầu là một cuộc ép duyên mưu mô chính trị  tính toán khinh thường đạo lý của tể tướng Trần Thủ Độ, một người chú họ của cha ông để  củng cố vương quyền cho nhà Trần. Ông buộc Trần Thái Tông (Trần Cảnh)  lấy chị dâu của mình là  Lý Ngọc Oanh (con gái trưởng của vua Lý Huệ Tông), vợ của An Sinh vương Trần Liễu, cha của Trần Hưng Đạo bởi vì Lý Chiêu Hoàng (hay Lý Phật Kim) không có con. Lý Ngọc Oanh đang có bầu ba tháng với Trần Liễu.  Chính vì vậy An Sinh vương Trần Liễu mới phẫn uất, phất cờ làm loạn trên sông Cái (sông Hồng) nhằm đòi lại vợ khiến bị Trần Thủ Độ xử tội.

Nhờ có sự che chở của  em ruột Trần Cảnh (Trần Thái Tông)  nên Trần Liễu  mới khỏi bị hành quyết, bị đày từ đó về vùng An Quảng (Vạn Kiếp) và lúc nào cơn giận ấm ức vẫn còn ở nơi ông. Có lần Trần Thủ Độ  còn nhắc khéo ông nên trung thành với nhà vua vì họ Trần ta, người cùng ruột thịt không cần minh thệ làm gì cả như thời nhà Chu. Lời khuyên nhũ càng làm An Sinh vương  khó chịu và càng làm ông nuốt hận cho đến chết. Ông không thể làm gì, trong cậy vào con trưởng của ông là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đề báo thù cho ông. Vậy Hưng Đạo vương có làm những gì  cha dặn không?

Trần Hưng Đạo là con của Trần Liễu với  bà Trần Thị Nguyệt, vợ nguyên phối (người vợ đầu tiên, cưới hỏi trước) nhưng vì Trần Liễu cưới Thuận Thiên công chúa, con gái lớn của vua Lý Huệ Tông nên bà buộc lòng giữ vai thứ phi. Nhưng sau khi Trần Thủ Độ ép gả Thuận Thiên công chúa cho Trần Thái Tông, bà trở thành lại người vợ duy nhất của Trần Liễu, lo chăm sóc gia đình và nuôi dạy Trần Hưng Đạo. Khi ông lên kinh thành thì được người cô ruột tức Thụy Bà Công chúa là chị  của Trần Cảnh và Trần Liễu trực tiếp nuôi dưỡng.

Chính vì vậy mà Trần Hưng Đạo mới quen biết với công chúa Thiên Thành. Từ đó đôi trẻ quen  và thương nhau từ  lúc nhỏ. Vậy công chúa Thiên Thành là ai? Hiện nay có hai giả thuyết (1235–1288) về  cô công chúa nhà Trần được tôn hiệu là Nguyên Từ Quốc mẫu.

Bà có thể là con gái của Trần Thừa (hay Trần Thế Tổ) hay là của vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì bà là con gái trưởng của Trân Cảnh (Trần Thái Tông) vì cuộc hôn nhân nội tộc của nhà Trần hay thường  cùng thế hệ (anh chị em họ kết hôn với nhau). Vả lại độ tuổi kết hôn thời đó của nữ thường là 15 – 16 tuổi. Như vậy bà phải sinh ra trong  khoảng năm 1235– 1236. Rất hiếm  khả năng bà sinh vào năm 1234 lúc mà Thái Thượng Hoàng Trần Thừa qua đờì ở tuổi 50. Hơn nữa qua câu nói mà Ngô Sĩ Liên dùng « Con gái vua  lấy kẻ bề dưới tất phải sai chư hầu cùng họ đứng ra làm chủ hôn theo lễ phải thế » thì rất rõ ràng ám chỉ bà phải là con gái của Trần Thái Tông chớ nếu không thì phải nói con gái  Thượng Hoàng chớ Trần Thừa đâu có một ngày nào làm vua đâu.

Hưng Đạo vương và  Thiên Thành cũng không biết từ lúc nào họ yêu nhau. Nhưng họ không  dám nói cùng ai để thời gian nó trôi qua cho đến lúc Nhân Đao vương thấy con là Trung Thành vương đã lớn, liền  xin vua Thái Tông gả công chúa Thiên thành cho con mình. Vua đồng ý. Bởi vậy ở phủ Nhân Đạo vương mới có treo đèn kết hoa rực rỡ để đón cô  dâu Thiên Thành vào ngày 15 tháng 2 năm Tân Hợi (1251). Lúc nầy Hưng Đạo mới biết và mới nghỉ kế cướp dâu nửa đêm  trước ngày lễ cưới chính thức.  Trước đó, vua đã cho Thiên Thành về ở vương phủ của cha con Trung Thành Vương, chờ làm lễ ăn hỏi.  Ông đã lẻn vào phủ Nhân Đạo Vương. Ông tìm cách trèo tường, vượt qua lính tuần tra, tìm đến chính xác phòng của công chúa. Rồi đem công chúa về nhà và cho mẹ nuôi của mình là Thụy Bà Công chúa biết chuyện nầy.

Nhận được tin, bà hốt hoảng lo sợ và  vội vàng vào cung than khóc với vua. Vua buộc lòng phải ra thánh chỉ gả Thiên Thành công chúa cho Hưng Đạo. Để bù đắp, vua còn phải cắt 2.000 khoảnh ruộng tốt ở huyện Ứng Thiên ban cho Nhân Đạo Vương để xoa dịu sự thất hứa.

Sự táo bạo của ông cho thấy ông là con người có bản lĩnh  dám quyết đoán, dám liều lĩnh mất mạng  sống, dám vượt qua lễ giáo khắc nghiệt và áp lực quyền lực của triều đình lúc bấy giờ để đến với người mình yêu.  Câu chuyện cướp dâu của Hưng Đạo Vương cũng trở thành giai thoại « có một trong hai » trong lịch sử Việt Nam. Chính cuộc  hôn nhân nầy một lần nữa nó làm giảm đi sự hiềm khích của hai chi, giữa dòng chính và dòng thứ  của triều đại nhà Trần. Qua việc nầy, chúng ta mới nhận thấy lúc còn trẻ ông đã có ý chí quật cường khi đối mặt với thử thách chớ không buông xui và không nản chí cũng như bao phen ông thua trận trong các cuộc xâm lăng của giặc Nguyên-Mông. Lúc nào câu binh pháp nầy  « Thắng không kiêu, thua không nản » vẫn nằm ở trong tâm trí của ông  ngày đêm. Ông còn soạn ra một quyển Binh Thư yếu lược để khuyên răng tướng sĩ phải hết lòng luyện tập và quyết chí không  nên nản lòng. Còn Hịch tướng sĩ là áng văn chính luận nổi tiếng của Trần Hưng Đạo viết vào khoảng năm 1284 để khơi dậy lòng yêu nước và cổ động dân tộc ta trước sự sống còn của đất nước.

Nói đến ông thì phải nói đến  lòng trung nghĩa trọn vẹn mà ông có, mặc dù ông vẫn ghi tạc lời cha dặn. Ông không những  đặt lợi ích quốc gia và đại nghĩa dân tộc lên trên hết mà còn giữ phận làm tôi với vua. Có lần Trần Thủ Độ  hỏi  vua với tướng như thế nào?  Ông trả lời vua là oai trùm thiên hạ mà tướng thì là thần hạ của thiên tử.  Đức vua  sáng suốt thì giúp tướng nên công. Còn tướng giỏi thì giúp vua nên nghiệp lớn. Ông còn hòa giải cho hai chi tộc Trần  Liễu và Trần Cảnh  quên đi mối hiềm kích sâu xa mà do Trần Thủ Độ gây ra qua việc tắm rữa  cho Trần Quang Khải, con của Trần Thái Tông (Trần Cảnh) để cùng nhau chung sức chống ngoại xâm. Khi ông làm Quốc công tiết chế, ông có quyền thay thế vua mà phong tước đến tước hầu rồi tâu lên vua sau nhưng ông hết sức giữ gìn làm phận tôi, không lạm dụng và không bao giờ  vượt quyền  cả.

Những lời khuyên mà ông dành cho vua Trần Anh Tôn trước khi ông qua đời vào năm 1300 được xem đây là kim chỉ nam cho đa số  người dân Việt trong  công cuộc đấu tranh giành độc lập:

Khi kẻ thù tiến tới với tiếng vang ầm ĩ như lửa và gió, thì rất dễ dàng đánh bại nó. Nếu nó dùng tính kiên nhẫn như con tằm gặm lá dâu mà không mưu cầu thắng lợi nhanh chóng, không cướp bóc dân chúng thì chúng ta không chỉ cần tướng giỏi mà còn phải biết soạn thảo một chiến thuật tương xứng cũng như ở trong ván cờ.

Dù trong hoàn cảnh nào, quân ta phải đoàn kết, đồng tâm nhất trí như cha con trong một gia đình. Đồng thời, phải đối xử với nhân dân bằng lòng nhân ái, nhờ đó mới tạo dựng được gốc rễ sâu bền và nền tảng vững chắc 

Ông là biểu tượng sáng ngời trong lịch sử  không chỉ ở tài năng, đạo đức mà còn lấy dân làm gốc trong việc cai trị và đoàn kết để thắng giặc ngoại xâm 3 lần. Dân tộc ta muôn đời nhớ đến ông. Ông là vị anh hùng dân tộc kiệt xuất, tài đức hơn người. Ông còn được dân tôn ông lên bậc hiển thánh và thờ phụng ông tại đền Ðức Thánh Trần ở Kiếp Bạc (Bắc Việt) và ở mọi miền nước ta.

Version française

Saïgon

En réalité, il s’appelait Trần Quốc Tuấn. « Hưng Đạo Vương » (Prince Hưng Đạo) était le titre le plus élevé que lui avaient conféré les monarques de la dynastie Trần et qui était  associé au fief de Vạn Kiếp, situé dans l’actuelle province de Hải Dương. Le nom « Hưng » évoque la prospérité, tandis que « Đạo » symbolise la voie choisie par un sujet loyal et patriote. Sous la dynastie Trần, il était d’usage de désigner les individus par leur titre plutôt que par leur prénom. C’est pourquoi il est communément appelé Trần Hưng Đạo, tant dans les documents historiques que dans la tradition populaire.

Avant de parler du héros national Trần Hưng Đạo, il faut mentionner le prince An Sinh (Trần Liễu), son père et frère aîné de l’empereur Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Tous deux étaient les fils de Trần Thừa (honoré à titre posthume comme le fondateur de la dynastie Trần). L’histoire commence par un mariage forcé, politiquement calculé et moralement sans scrupules orchestré par le chancelier Trần Thủ Độ,  un grand oncle paternel pour consolider le pouvoir royal du clan Trần. Trần Thủ Độ a contraint l’empereur Trần Thái Tông (Trần Cảnh) à épouser sa propre belle-sœur, Lý Ngọc Oanh (la fille aînée de l’empereur Lý Huệ Tông et épouse du prince An Sinh), parce que l’impératrice Lý Chiêu Hoàng (Lý Phật Kim) a échoué d’avoir un héritier. À cette époque, Lý Ngọc Oanh était enceinte de trois mois de l’enfant du prince An Sinh. Poussé par un profond ressentiment face à cette situation, le prince An Sinh souleva une rébellion sur la rivière Cái (le fleuve Rouge) pour tenter de récupérer sa femme. C’était un acte pour lequel il fut ensuite puni par Trần Thủ Độ.

Grâce à la protection de son jeune frère, Trần Cảnh (l’empereur Trần Thái Tông), Trần Liễu échappa à l’exécution et fut relégué dans la région d’An Quảng (Vạn Kiếp). Toutefois, un profond ressentiment continua de couver en lui. Un jour, Trần Thủ Độ l’exhorta avec tact à demeurer loyal au souverain en arguant qu’en tant que membres de la même lignée des Trần, ils n’avaient nul besoin des serments d’allégeance formels en usage sous la dynastie Zhou avec les vassaux. Ce conseil ne fit qu’irriter le prince An Sinh, qui nourrit son amertume jusqu’à son dernier souffle. Impuissant à agir lui-même, il plaça ses espoirs en son fils aîné, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, pour prendre sa revanche. Hưng Đạo Vương a-t-il exaucé les vœux de son père?

Trần Hưng Đạo était le fils de Trần Liễu et de sa première épouse, Trần Thị Nguyệt.  Toutefois, comme Trần Liễu épousa par la suite la princesse Thuận Thiên,  fille aînée du roi Lý Huệ Tông, Trần Thị Nguyệt fut reléguée au rang d’épouse secondaire. Cependant, après que  Trần Thủ Độ avait obligé  l’empereur Trần Thánh Tông (Trần Cảnh) d’épouser  sa belle sœur, la princesse Thuận Thiên, Trần Thị Nguyệt redevint ainsi l’unique épouse de Trần Liễu. Elle se consacra désormais à la gestion du foyer et à l’éducation de Trần Hưng Đạo. Lorsque ce dernier se rendit dans la capitale, il fut  élevé par sa tante paternelle, la princesse Thụy Bà, la sœur aînée de Trần Cảnh et de Trần Liễu.

C’est dans ce contexte que Trần Hưng Đạo fit la connaissance de la princesse Thiên Thành. Tous deux grandirent ensemble et tombèrent amoureux dès leur plus jeune âge. Qui était donc la princesse Thiên Thành ? Il existe aujourd’hui deux théories concernant cette princesse de la dynastie Trẩn, honorée du titre de *Nguyên Từ Quốc Mẫu* (Mère de la Nation).

Elle aurait pu être la fille de Trần Thừa (également connu sous le nom de Trần Thế Tổ) ou celle du roi Trần Thái Tông (Trần Cảnh). Selon le *Đại Việt Sử Ký Toàn Thư* (Annales complètes du Đại Việt) rédigé par  l’historien Ngô Sĩ Liên, elle était la fille aînée de Trần Cảnh (Trần Thái Tông). C’est  une conclusion qui concorde avec la pratique des mariages endogames au sein de la dynastie Trần, où des individus d’une même génération (souvent des cousins) s’unissaient entre eux. Par ailleurs, l’âge habituel du mariage pour les femmes à cette époque étant de 15 ou 16 ans, on peut supposer qu’elle est née aux alentours de 1235–1236. Il est fort peu probable qu’elle soit née en 1234, année du décès de l’empereur retiré Trần Thừa, survenu alors qu’il avait 50 ans. De plus, la formulation employée par Ngô Sĩ Liên :« Lorsqu’une fille du roi épouse une personne de rang inférieur, il est d’usage qu’un parent de la même lignée préside la cérémonie de mariage »  suggère fortement qu’elle était la fille de Trần Thái Tông. Si elle avait été la fille de l’empereur retiré (Trần Thừa), le texte aurait sans nul doute précisé « fille de l’empereur retiré ». Après tout, Trần Thừa n’a jamais régné en tant que roi.

On ignore quand exactement Prince Hưng Đạo  et Thiên Thành tombèrent amoureux l’un de l’autre. N’osant en parler à personne, ils laissèrent le temps s’écouler, jusqu’au jour où Nhân Đạo Vương constatant que son fils, Trung Thành Vương, avait atteint l’âge adulte  demanda au roi Thái Tông d’accorder la main de la princesse Thiên Thành pour son fils. Le roi y consentit. En conséquence, la demeure de Nhân Đạo Vương fut parée de lanternes et de fleurs en prévision de l’arrivée de la princesse Thiên Thành, prévue pour le quinzième jour du deuxième mois lunaire de l’année du Cochon (1251). Apprenant la nouvelle, Prince Hưng  Đạo échafauda un plan pour enlever la jeune femme à la veille des noces. À cette époque, le roi avait déjà fait installer Thiên Thành dans la résidence de Nhân Đạo Vương et de Trung Thành Vương, dans l’attente de la cérémonie officielle des fiançailles. Prince Hưng  Đạo parvint à s’introduire dans la demeure en escaladant les murs et déjouant la vigilance des gardes. Il atteignit l’appartement de la princesse. Il l’emmena ainsi avec lui et confia toute l’affaire à sa mère adoptive, la princesse Thùy Bà.

En apprenant la nouvelle, elle fut saisie de panique et d’effroi et se précipita au palais pour se lamenter devant le Roi. Acculé par les circonstances, le Roi promulgua un décret impérial accordant la main de la princesse Thiên Thành au Prince Hưng Đạo. Afin de réparer la rupture de sa promesse initiale, le Roi octroya en outre à Nhân Đạo Vương 2 000 parcelles de terres fertiles dans le district d’Ứng Thiên, en guise de geste d’apaisement du non respect de la promesse.

Son audace a révélé un homme d’une trempe exceptionnelle, capable de braver des périls mortels et de défier l’immense pression exercée par la cour impériale pour rester auprès de la femme qu’il aimait. L’épisode où Prince Hưng Đạo enleva  sa promise est devenu une anecdote singulière, unique en son genre, dans l’histoire du Vietnam. Par ailleurs, ce mariage contribua à apaiser l’animosité entre les deux branches de la famille royale des Trần, notamment entre la lignée principale et la branche secondaire. Cet événement témoigne du fait que, dès sa jeunesse, il était doté d’une volonté indomptable. Il ne se rendait jamais et ne se laissait jamais abattre face aux épreuves ; tout comme il resta inébranlable malgré les multiples défaites subies lors des campagnes contre les envahisseurs Sino-Mongols. La maxime militaire « Ne pas s’enorgueillir dans la victoire, ne pas se décourager dans la défaite » était restée, en permanence, au cœur de ses préoccupations. Il a également rédigé un traité intitulé *Binh Thư Yếu Lược* (Essentiel de la stratégie militaire), dans lequel il exhortait ses officiers et ses soldats à s’entraîner avec assiduité et à ne jamais céder au découragement. En outre, son *Hịch Tướng Sĩ* (Proclamation aux officiers et aux soldats), un manifeste politique et militaire célèbre, rédigé vers 1284 a permis d’éveiller un élan patriotique et de rassembler le peuple à une époque où la survie de notre nation même était en jeu.

Évoquer sa personne, c’est souligner sa loyauté profonde et son intégrité, des vertus qu’il a eues malgré les derniers conseils de son père. Non seulement il plaçait l’intérêt national et la cause du peuple au-dessus de tout, mais il demeurait également inébranlable dans ses devoirs de sujet envers le souverain. Lorsque Trần Thủ Độ l’interrogea un jour sur sa conception des relations entre un roi et un général. Il répondit que le roi détient l’autorité suprême sur le royaume, tandis que le général demeure un sujet du Fils du Ciel. Un monarque sage, expliqua-t-il, s’appuie sur ses sujets pour assurer le succès, tandis qu’un général compétent seconde le roi dans la réalisation de grandes entreprises.

Il parvint par ailleurs à réconcilier les deux branches du clan Trần issues de Trần Liễu et de Trần Cảnh (l’empereur Trần Thái Tông)  en les aidant à surmonter l’animosité profonde semée par Trần Thủ Độ  par le biais de l’épisode dit du « bain de soleil » impliquant Trần Quang Khải, fils de Trần Thái Tông)  et à unir leurs efforts face aux envahisseurs étrangers. Même lorsqu’il occupait la fonction de commandant suprême (*Quốc công tiết chế*), un poste qui lui conférait le pouvoir de décerner des titres, allant jusqu’à celui de marquis sous réserve de la ratification ultérieure par l’empereur, il restait toujours fidèle à son statut de sujet. Il ne profita jamais de cette prérogative et ne franchit jamais les limites de ses attributions.

Les conseils qu’il donna au roi Trần Anh Tôn avant sa mort en 1300 sont aujourd’hui considérés comme une référence (ligne directrice) pour le peuple vietnamien dans sa lutte pour l’indépendance :

Quand l’ennemi s’avance à grand fracas comme le feu et le vent, il est facile de le vaincre. S’il use de la patience comme le ver de soie qui ronge la feuille du mûrier sans chercher une victoire rapide et sans dépouiller la population, il nous faut non seulement de bons généraux mais aussi une élaboration d’une tactique adéquate comme au jeu d’échecs.

De toute façon, il faut que l’armée soit unie  et animée d’une même volonté à l’instar du père et du fils d’une même famille, que le peuple soit traité avec humanité pour pouvoir se garantir de profondes racines et d’une base durable.

Il demeure une figure emblématique de l’histoire, non seulement en raison de son talent exceptionnel et de son intégrité morale, mais aussi pour son attachement au principe selon lequel le peuple constitue le fondement du pouvoir, ainsi que pour sa capacité à unir la nation afin de vaincre à trois reprises des envahisseurs étrangers. Notre peuple se souviendra de lui pour toujours. Il est un héros national hors pair, doté à la fois d’un talent extraordinaire et d’une vertu exemplaire. Le peuple l’a même élevé au rang de saint vénéré. Il lui a rendu hommage au temple de Saint Trần à Kiếp Bắc (dans le nord du Vietnam)  ainsi que dans des sanctuaires à travers tout le pays.

Bibliographie
Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược. Histoire du Viet Nam. Imprimerie Vĩnh & Thanh 1928.
Lê Thành Khôi: Le Viet-Nam. Histoire et Civilisation. Les Éditions de Minuit. 1955
Thái Văn Kiểm: Việt Nam Quang Hoa. Editeur Xuân Thu
René Grousset: Histoire de la Chine. Editeur France Loisirs 1997
Bai Shouyi: Précis d’histoire de Chine. Edition en langues étrangères. 1988
Yamamoto T.: La conquête de l’Annam par les Yuan et les Ming. Tokyo. 1950
Ngô Văn Phú: Trần Quốc Tuấn (Gươm thần Vạn Kiếp)  Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn 2001
Ngô Văn Phú: Trần Thủ Độ và sự nghiệp nhà Trần. Nhà Xuất Bản Văn Học.1995