Tribut des États vassaux (Cống hiến chư hầu)

 

Version française
Version anglaise (en cours)
Bibliographie

Sau chiến thắng vang dội tại trận Mục Dã vào năm 1046 trước Công Nguyên và lật đổ vị vua cuối cùng là Trụ Vương (Di Xin), Châu Vũ vương  chính thức thành lập nên triều đại nhà Châu và áp dụng chế độ phong kiến phân phong chư hầu. Từ đây mới có  hình thức thể hiện nghĩa vụ chính trị, quân sự và kinh tế của các nước nhỏ (chư hầu) đối với nước lớn (Thiên triều/Đế quốc trung ương) tức là nhà Châu với Thiên tử, đem đất đai, phong tước vị cho các Công, Hầu, Bá, Tử, Nam, cho những người trong dòng tộc hoặc công thần để họ lập ra các nước chư hầu.

Cũng như Khương Tử Nha (Thượng Phụ), khai quốc công thần được làm vua nước Tề. Nước ta lúc đó nằm trong địa phận của nước Sở. Nước nầy  có một vị vua được phong vương với quốc tính họ Mị (tức là họ Hùng trong truyền thuyết) trên vùng đất Bách Việt (văn hóa Thạch Gia Hà) ở trung lưu sông Dương Tử. Bởi vậy Lĩnh Nam Chích Quái có kể rằng vào đời  Châu Thành Vương (Zhou Chengwang), Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Châu  một con chim trĩ trắng để liên kết  sự giao hảo và thân thiện với nhà Châu trong thời bình. Như vậy cho chúng ta thấy dưới thời nhà Châu nước ta tuy  ở xa cũng thể hiện  hình thức Cống hiến chư hầu. Nó có nghĩa vụ về kinh tế và quân sự  dưới thời nhà Châu.

Trong nghĩa vụ kinh tế (Triều cống), định kỳ các chư hầu phải trực tiếp đem sản vật quý hiếm đặc trưng của vùng đất mình (như lương thực tế tự, đồng đúc vũ khí, tơ lụa, gỗ quý) về kinh đô dâng lên vua Châu. Nếu ba kỳ liên tiếp không triều cống, Thiên tử có quyền phạt hoặc đem quân phế truất.

Còn trong nghĩa vụ quân sự (Hiến binh). Các chư hầu được phép có quân đội riêng nhưng số lượng bị giới hạn theo tước vị (vương, hầu vân vân) Khi vương triều trung ương gặp nguy biến hoặc có lệnh động viên, các chư hầu bắt buộc phải đem quân đội, vũ khí và chiến xa về hỗ trợ Thiên tử chinh phạt ngoại bang.

Nhưng về sau Tần Thủy Hoàng thống nhất được thiên hạ rồi đến nhà Hán thì nước ta bị thôn tính  sau vụ nổi loạn của Hai Bà Trưng và bị chia ra thành hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Phải đợi đến chiến thắng của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng chống nhà Nam Hán của Lưu Cung vào năm 938, nước ta mới dành lại được nền độc lập sau một ngàn năm đô hộ nhất là thời điểm đó nước ta  còn là một nước nhỏ bé với dân số chỉ lên đến khoảng một triệu người  trong khi đó nước Trung Quốc khổng lồ ước tính có hơn 56 triệu người.  

Ngô Quyền thành lập triều đại phong kiến ​​đầu tiên ở Việt Nam. Năm 939, ông tự xưng làm vua An Nam và đóng đô ở Cổ Loa (Phúc Yên). Việc quan hệ chư hầu không còn nữa mà nó biến chuyển qua mối quan hệ bang giao giữa Đế quốc Trung Hoa và các quốc gia lân bang trong đó có An Nam nước ta từ lúc  thời nhà Đinh.

Theo công trình nghiên cứu của nhà sử học Pháp Philippe Papin về niên đại lịch sử của đất nước này, An Nam bắt đầu thực hiện chế độ cống nạp định kỳ cho Trung Quốc từ năm 968 (hoặc năm 972, tùy thuộc vào thời điểm hoàng đế Trung Hoa chính thức công nhận). Đinh Bộ Lĩnh cử con trai là Đinh Liễn sang Biện Kinh (kinh đô nhà Tống). Đến năm 973, hoàng đế nhà Tống chính thức sắc phong cho Đinh Bộ Lĩnh làm Giao Chỉ quận vương và Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân tiết độ sứ. Đây chính là điểm khởi đầu cho một mô hình ứng xử ngoại giao mẫu mực kéo dài suốt nhiều thế kỷ sau đó của các triều đại Việt Nam.

Nhà Tống coi Đại Cồ Việt (An Nam) là một « vương quốc triều cống định kỳ ». Đổi lại, vương triều Việt Nam có được sự thừa nhận tính chính thống từ thiên triều và An Nam chấp nhận là chư hầu về mặt danh nghĩa để đổi lấy sự thừa nhận hòa bình từ phương Bắc.  Để duy trì nền hòa bình biên giới, các triều đại Việt Nam (từ nhà Đinh, Lê, Lý, Trần, Hậu Lê đến nhà Nguyễn) đều chấp nhận tham gia vào trật tự thế giới do Trung Quốc đứng đầu thiết lập thông qua hai nghi thức chính sau đây: 

Sách phong (Ngoại vương):

Sau khi lên ngôi, các vị vua An Nam sẽ cử sứ bộ sang kinh đô phương Bắc để xin phong vương. Hoàng đế Trung Quốc sẽ ban sắc phong và ấn tín, công nhận vị vua đó là người cai trị hợp pháp của « An Nam quốc » hoặc « Việt Nam quốc » dưới thời nhà Nguyễn. Về mặt danh nghĩa ngoại giao, vua An Nam chỉ xưng là Vương (nhỏ hơn Hoàng đế). Nhưng trong nước, vua ta vẫn xưng Hoàng Đế, cũng con của Trời, vẫn có chư hầu như Chiêm Thành, Chân Lạp, các bộ tộc Ai Lao  và triều cống của các nước nầy và vẫn có niên hiệu riêng. Đây là bản sắc của nước ta «Trong xưng Đế,ngoại xưng Vương»   

Triều cống (Hậu vãng bạc lai):

Định kỳ (thường là 3 năm một lần), Việt Nam sẽ cử phái đoàn mang theo sản vật địa phương (như ngà voi, sừng tê giác, trầm hương, vàng bạc) sang kinh đô Trung Quốc dâng tặng. Chỉ có dưới triều đại nhà Minh thì còn thể hiện đòi thêm các nghệ nhân, các thầy thuốc giỏi luôn cả hai  tượng có kích thước làm bằng kim loại tốt nhằm để bù đắp cái chết của hai tướng Liễu Thăng và Lương Minh ở trận chiến lúc dành lại nền độc lập, nhằm làm yếu đi sự phát triển nước ta như với danh y Tuệ Tĩnh (y học), kiến trúc sư Nguyễn An (A Lưu)(Tử Cấm Thành Bắc Kinh) hay Hồ Nguyên Trừng, con của Hồ Qúi Ly (người đúc được súng thần cơ). Ngược lại, Hoàng đế Trung Quốc luôn ban thưởng lại những triều cống phẩm có giá trị kinh tế rất lớn (gốm sứ cao cấp, tơ lụa, sách vở) theo nguyên tắc « nhận ít ban nhiều » để phô trương uy thế Thiên triều.

Từ khi có hiệp ước Patenôtre mà triều đình nhà Nguyễn ký  vào ngày 6 tháng 6 năm 1884 tại Huế với  thực dân Pháp nhìn nhận hoàn toàn chế độ bảo hộ của Pháp thì việc triều cống không còn nữa. Nhưng trong thời gian còn lệ thuộc  chính sách « cống hiến chư hầu » với Trung Hoa  thì  nước ta thể  hiện một  chính sách ngoại giao nhu cương phối  hợp qua nhiều triều đại. Đây cũng là một đường lối chính trị  độc đáo  dựa trên thế nước ta cùng trò đấu trí  tuệ qua cách lý luận  để biện chứng nước ta có một nền văn hiến lâu đời (văn hóa Lương Chữ và Thạch Gia Hà ở sông Dương Tử)  cũng không kém chi nước Trung Hoa.

Các triều đại Việt Nam  thừa hiểu rõ rằng ngoại giao chỉ có trọng lượng khi đất nước có thực lực quân sự. Bởi vậy mỗi lần thành công trong việc bảo vệ độc lập và  chủ quyền trước các các cuộc bành trướng, xâm lược của các triều đại Trung Quốc (Tống, Nguyên-Mông, Minh, Thanh) thì các vua ta buộc lòng phải  chủ động, sang giảng hòa, dâng sớ tạ lỗi và tiếp tục triều cống để cho đối phương  giữ thể diện của nước lớn mà cũng vừa khẳng định lại nước ta  biệt lập như lời tuyên ngôn « Nam quốc sơn hà»  của Lý Thường Kiệt hay  « Bình Ngô đại cáo » của Nguyễn Trãi. Đây là cái giá phải chịu  để đổi lấy nền độc lập xương máu trên thực tế mà nó còn thể hiện trí tuệ ngoại giao khôn ngoan của ông cha ta.

Sứ thần nước ta hay thường gọi là Chánh sứ hay Phó sứ được có một nhiệm vụ vinh quang vô cùng nhưng nguy hiểm không chỉ đối với Trung Quốc mà luôn cả với nước ta. Lời răn đe dưới đây  của vua Lê Thánh Tông đưa ra khi cử một phái đoàn sứ bộ mà người dẫn đầu là danh thần Lê Cảnh Huy được ghi lại trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, thể hiện tư tưởng kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia như sau: »Một thước núi, một tấc sông của ta, không có thể vứt bỏ đi được… Nếu ngươi dám đem một thước một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc, thì tội phải tru di ». Còn chưa nói đến cơn thịnh nộ có thể xuất phát từ phiá Trung Quốc và có thể mất mạng trong tích tắc. Còn gian nan thì kể sao cho hết  vì đi bộ. Cuộc hành trình đi từ Thăng Long đến (Yến Kinh/ Bắc Kinh) có đến khoảng 2800 cây số  với các sản phẩm quý giá để triều cống nhất là phải đề phòng các băng đảng cướp  ở dọc đường và các nơi trạm nghỉ ngơi. Một  chuyến đi sứ (triều cống, cầu phong, báo tang…) đi và trở về, thường kéo dài trung bình từ 1 đến 3 năm.

Dưới thời nhà Nguyễn, định lệ quy định cứ 2 năm một lần gửi đồ tuế cống và cứ 4 năm phải cử một sứ bộ sang chầu. Chuyến đi sứ lâu nhất lịch sử nước ta thuộc về sứ thần Lê Quang Bí  đời vua Mạc Tuyên Tông (năm 1548). Chuyến đi này kéo dài tới 18 năm trời do ông bị nhà Minh giữ lại ở Nam Ninh  (Quảng Tây) và Bắc Kinh. Khi đi còn tóc xanh mới độ chừng 40 tuổi nhưng khi trở về mái tóc bạc. Lúc đó ông đã được 61 tuổi. Ông được ví như Tô Vũ  nước nam (*) vì sự trung và bất khuất giữ trọn khí tiết  nước ta khi đối diện với triều đại nhà Minh.

Để tránh áp lực và giữ vững vị thế trước các hoàng triều Trung Quốc, các  sứ thần nước ta phải  hội tụ đủ các yếu tố như sau: học vấn uyên thâm, tài ứng biến xuất sắc, lòng can đảm vô song và sự khôn khéo về mặt phong thủy và lễ nghĩa. Nhiệm vụ tối cao của họ là « không làm nhục mệnh vua« , bảo vệ chủ quyền lãnh thổ nhưng vẫn giữ được hòa khí với thiên triều.

Đôi khi phải chết như sứ thần Giang văn Minh vì ông dám đối đáp thẳng thắn, giữ vững khí tiết trước triều đình nhà Minh dưới thời vua Sùng Trinh vào năm 1637–1638.  Vua nầy rất  ngạo mạn ra câu vế xuất  như  sau nhằm áp bức sứ thần Đại Việt: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” (Cột đồng đến nay rêu đã xanh), ngầm nhắc lại lời nguyền của tướng Mã Viện rằng « Trụ đồng chiết, Giao Chỉ diệt » để răn đe dân Việt dưới thời nhà Đông Hán.

“Đằng Giang tự cổ huyết do hồng” (Sông Bạch Đằng từ xưa máu vẫn còn loang đỏ), đó là câu vế đối đáp lời sắc bén của Giang Văn Minh nhắc lại ba chiến thắng oanh liệt nhấn chìm quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng (Nam Hán năm 938, Tống năm 981 và Nguyên năm 1288)  và thể hiện cái chí khí của dân tộc Việt.

Quá giận dữ trước sự kiêu hãnh và bất khuất của vị sứ thần, Sùng Trinh ra lệnh sát hại ông vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng sau đó nguôi cơn giận và  nể phục trước dũng khí của một bậc trung thần, ông  cho lệnh ướp xác  Giang Văn Minh bằng trà và thủy ngân, đặt vào quan tài rồi cho đoàn sứ bộ rước thi hài về nước.  Giang Văn Minh được mệnh danh là vị sứ thần « bất khuất trước uy vũ, chết để vinh danh tổ quốc ». Ông bảo vệ trọn vẹn danh dự quốc gia và thực hiện thắng lợi sứ mệnh ngoại giao (xóa bỏ lệ cống người làm bằng kim từ đây với nhà Minh).

Khi thi hài ông về đến Thăng Long, vua Lê Thần Tông và Chúa Trịnh Tráng đã đích thân đến bái linh cữu. Vua Lê khóc và ban lời dụ: « Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng«  (Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là bậc anh hùng muôn thuở).

Nhưng đôi khi sứ thần  được ưu đãi tối đa như Mạc Đĩnh Chi được phong làm « Lưỡng quốc Trạng nguyên » tức là trạng nguyên của nước ta và nước Trung Quốc dưới thời ngự trị của vua Nguyên Vũ Tông (Külüg Khan). Người Hoa phục tài ứng biến nhanh nhẹn của ông. Lúc ông sang Tàu thì có một bà công chúa vừa mới qua đời. Vua Nguyên sai ông đọc văn tế nhưng  khi lúc qùi xuống cầm văn bản đọc thì chỉ thấy có một tờ giấy trắng  có  bốn chữ Nhất  mà thôi. Đĩnh Chi không nghĩ ngợi gì nhiều đọc ngay liền khiến  ai cũng nễ  phục.

Trời xanh một đám mây
Lò hồng môt giọt tuyết
Vườn thượng uyển môt cành hoa
Cung quảng hàn một vầng nguyệt
Than ôi! Mây tan! Tuyết tiêu!
Hoa tàn! Trăng khuyết !

Dưới thời phong kiến  được cử đi làm sứ thần và đi triều cống là một danh dự rất lớn cũng như tướng được cầm binh ra trận. Dù  không có mang súng,

sứ thần chính là chiến sĩ trên mặt trận phải dùng trí tuệ và lòng dũng cảm để giữ vững bình yên cho bờ cõi. Vì thế không được làm nhục mệnh vua và cho Thiên triều thấy được  tầm vóc của một quốc gia nhỏ bé như nước ta mà vẫn thể hiện được  chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ dù biết nhiệm vụ vô cùng khó khăn. 

(*) Tô Vũ là sứ thần của Hán Vũ Đế bị Hung Nô giữ lại 19 năm để chăn dê ở Bắc Hải vùng Siberia.


Họa phẩm Cừu Anh chức cống đồ (仇英职贡图) do họa gia Cừu Anh của Trung Quốc vẽ khoảng đầu thế kỷ XVI, mô tả sứ đoàn Đại Việt (triều Lý) đem theo một con voi đen và hai con voi trắng sang triều cống hoàng đế Tống.

 

Version française

À la suite de sa victoire éclatante lors de la bataille de Muye en l’an 1046 avant J.-C. et du renversement du dernier souverain Di Xin (Trụ  Vương)  des Shang, le roi Wu fonda la dynastie Zhou et mit en place un système féodal reposant sur l’inféodation de vassaux. Ce système formalisait les obligations politiques, militaires et économiques que les États de moindre envergure (les États vassaux) devaient à l’autorité centrale: la dynastie Zhou et son souverain, le « Fils du Ciel ». Des terres, assorties de titres héréditaires  classés selon une hiérarchie allant de duc, marquis, comte et vicomte jusqu’à baron  furent octroyées à des membres du clan royal ainsi qu’à des dignitaires ayant fait preuve de mérite. Ces derniers furent alors chargés d’établir leurs propres États vassaux.

Comme le patriarche suprême Khương Tử Nha (Jiang Ziya), le principal stratège militaire de la dynastie Zhou fut fait roi du royaume de Qi. Notre pays à cette époque se trouvait dans le territoire du royaume de Chu. Celui-ci était dirigé par un monarque portant le nom de famille royal *Mi* (correspondant au nom *Hùng* dans notre légende) et il était localisé dans le territoire  des  Bai Yue (associé à la culture de Shijiahé), le long du cours moyen du fleuve Yangtsé. À cet égard, le *Lĩnh Nam Chích Quái* (« Récits étranges du pays au sud des monts ») rapporte que, sous le règne du roi Cheng des Zhou, le roi Hùng dépêcha un émissaire  se présentant comme originaire de « Việt Thường » pour offrir un faisan blanc à la cour des Zhou, favorisant ainsi des relations amicales en une période de paix. Cela indique que, sous la dynastie Zhou, notre contrée,  malgré son éloignement  prenait part au système de tribut vassalique, ce qui impliquait des obligations économiques et militaires précises envers le royaume  des Zhou.

En ce qui concerne les obligations économiques (le tribut), les États vassaux étaient tenus d’apporter périodiquement à la capitale des Zhou des produits rares et caractéristiques de leurs territoires respectifs — tels que des céréales de haute qualité, des armes en bronze fondu, de la soie ou des bois précieux  afin de les présenter au roi. Si un vassal omettait de verser le tribut pendant trois périodes consécutives, le « Fils du Ciel » avait le pouvoir de lui infliger des sanctions ou d’envoyer une armée pour le déposer.

Quant aux obligations militaires (la fourniture de troupes), les vassaux étaient autorisés à entretenir leurs propres armées privées ; toutefois, l’effectif de ces forces était strictement limité en fonction du rang du vassal (tel que *wang* [roi], *hou* [marquis], etc.). En cas de crise au sein de la dynastie centrale, ou sur ordre de mobilisation, les vassaux avaient le devoir d’amener leurs troupes, leurs armes et leurs chars de combat pour prêter main-forte au « Fils du Ciel » lors de campagnes contre des adversaires extérieurs.

Plus tard, après que l’empereur  Qin Shi Huang Di eut unifié le pays, puis durant la dynastie Han, notre pays fut annexé  à la suite de l’insurrection infructueuse des sœurs Trưng et divisé en deux commanderies: Jiaozhi (Giao Chỉ)  et Jiuzhen (Cửu Chân). Il fallut attendre la victoire de Ngô Quyền sur la dynastie des Han méridionaux (dirigée par Liu Gong) sur le fleuve Bạch Đằng, en 938 apr. J.-C., pour que notre nation retrouvât son indépendance après un millénaire de domination étrangère. Cet exploit est d’autant plus remarquable qu’à l’époque, notre pays n’était qu’un petit État comptant environ un million d’habitants, tandis que le vaste empire chinois en comptait, selon les estimations, plus de 56 millions.

Ngô Quyền fonda la première dynastie féodale du Vietnam. En 939, il se proclama roi. Il  adopta le titre de souverain de l’An Nam et il établit la capitale à Cổ Loa (Phúc Yên). L’ancien système de vassalité prit fin en  cédant la place à des relations diplomatiques formelles entre  l’Empire chinois et ses pays voisins parmi lesquels il y avait  le royaume An Nam  depuis l’époque  de la dynastie Đinh.

Selon les travaux de l’historien français Philippe Papin sur la chronologie de ce pays, l’An Nam a instauré un système de tribut régulier envers la Chine en 968 (ou 972, selon la date précise de la reconnaissance officielle par l’empereur chinois). Đinh Bộ Lĩnh envoya son fils Đinh Liễn à Bianjing (capitale de la dynastie Song). En 973, l’empereur Song conféra officiellement à Đinh Bộ Lĩnh le titre de « prince de la commanderie de Giao Chỉ» (Giao Chỉ quận vương) et nomma  Đinh Liễn comme « gouverneur militaire de la circonscription de Tĩnh Hải» (Tĩnh Hải tiết độ sứ). Cet événement marqua l’instauration d’un modèle diplomatique qui allait servir de référence aux dynasties vietnamiennes durant  les siècles suivants.

La dynastie Song considérait le Grand Việt (Đại Việt) comme un « royaume tributaire régulier ». En contrepartie, la dynastie vietnamienne obtenait la reconnaissance de sa légitimité par l’« Empire céleste ».  Le royaume An Nam accepta le statut de « vassal » purement formel en échange de la garantie d’une paix avec le Nord.

Afin de préserver la paix le long des frontières, les dynasties vietnamiennes successives (de la dynastie Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê postérieurs jusqu’à celle de Nguyễn) ont accepté de participer à  l’ordre mondial établi par la Chine selon deux protocoles principaux suivants:

L’investiture (royauté vis-à-vis de l’extérieur):

Lors de leur accession au trône, les monarques d’An Nam envoyaient des missions diplomatiques à la capitale chinoise pour solliciter une reconnaissance officielle. L’empereur de Chine émettait alors un édit d’investiture et remettait un sceau officiel. Cela  consacra ainsi le souverain comme le dirigeant légitime de l’« État d’An Nam »  ou « État du Vietnam », sous la dynastie des Nguyễn. Dans le cadre de la diplomatie officielle, le souverain vietnamien portait le titre de *Wang* (roi), un rang subordonné à celui de l’empereur de Chine. Sur le plan intérieur, en revanche, le monarque vietnamien se désignait comme *Huangdi* (empereur). Il se considérait, lui aussi, comme un « Fils du Ciel »  et il  maintenait son propre système d’États vassaux, tels que le Champa, le Chenla et diverses tribus laotiennes, qui lui versaient aussi  un tribut. Par ailleurs, le souverain vietnamien définissait ses propres noms d’ère. Cette pratique a façonné l’identité singulière de la nation: « Empereur à l’intérieur, roi à l’extérieur ».

Système du tribut (*Houwang Bolai*« Donner peu, recevoir beaucoup »):

Périodiquement  tous les trois ans, le Vietnam envoyait une délégation à la capitale chinoise en apportant des produits locaux tels que de l’ivoire, des cornes de rhinocéros, du bois d’aigle, de l’or et de l’argent  en guise de tribut. Sous la dynastie Ming, cette pratique fut davantage exploitée: la cour chinoise exigea l’envoi d’artisans qualifiés et de médecins éminents, ainsi que la réalisation de deux statues en métal grandeur nature de deux généraux Liu Sheng et Liang Ming, morts durant le conflit au cours duquel le Vietnam recouvra son indépendance. Cette démarche répondait à un double objectif : affaiblir le développement du Vietnam en prenant ses talents  parmi lesquels figuraient le célèbre médecin Tuệ Tĩnh, l’architecte Nguyễn An (connu sous le nom d’A Liu, la Cité interdite de Pékin) et Hồ Nguyên Trung (fils de Hồ Qúy Ly, expert dans la fonte des canons *thần cơ*) et  affirmer la suprématie de l’« Empire céleste ». En retour, l’empereur de Chine offrait des présents d’une grande valeur économique tels que de la porcelaine de haute qualité, de la soie et des livres  selon le principe du « donner peu pour recevoir beaucoup ». C’était  un geste conçu pour illustrer le prestige et l’autorité écrasante de l’Empire céleste.

À la suite du traité Patenôtre signé à Huế le 6 juin 1884 entre la cour de la dynastie Nguyễn et les autorités coloniales françaises par la reconnaissance du  Vietnam comme le protectorat français, la pratique de l’envoi de tribut prit fin. Toutefois, durant la période où le pays demeura soumis encore à la politique du « tribut de vassalité » envers la Chine, le Vietnam  adopta une approche diplomatique qui  sut conjuguer souplesse et fermeté avec habileté  au fil des dynasties successives. Cette stratégie politique singulière, ancrée dans la réalité géopolitique de la nation, reposait sur une démarche intellectuelle élaborée: par une argumentation raisonnée, la partie vietnamienne affirmait que sa propre civilisation, riche d’une longue histoire et provenant des cultures de Liangzhu et de Shijiahé, situées le long du fleuve Yangtsé,  n’était en rien inférieure à celle de la Chine.

Les dynasties vietnamiennes comprenaient parfaitement que la diplomatie ne peseait que lorsqu’elle a été  étayée par une force militaire. Par conséquent, chaque fois qu’elles parvenaient à défendre l’indépendance et la souveraineté de la nation face aux ambitions expansionnistes et aux velléités d’invasion des dynasties chinoises (telles que les Song, les Yuan-Mongols, les Ming et les Qing), les monarques vietnamiens prenaient l’initiative de rechercher ensuite la réconciliation, en présentant des excuses formelles et en maintenant la pratique de l’envoi d’un tribut. Cette approche permettait à la partie adverse de préserver le prestige d’une « grande puissance », tout en réaffirmant, dans le même temps, le statut distinct et indépendant du Vietnam.  C’est une idée que l’on retrouve dans des œuvres telles que le poème « Nam Quốc Sơn Hà  » (Les montagnes et les fleuves du pays du Sud) de Lý Thường Kiệt, ou encore le « Bình Ngô Đại Cáo » (Proclamation de la victoire sur les Wu) de Nguyễn Trãi. C’était là le prix à payer pour garantir une indépendance réelle  conquise de haute lutte mais c’était aussi  un témoignage de la sagesse diplomatique avisée de nos ancêtres.

Sous la dynastie Nguyễn, les règlements stipulaient que des tributs devaient être envoyés tous les deux ans, et qu’une mission diplomatique devait être dépêchée auprès de la cour impériale tous les quatre ans. La mission diplomatique la plus longue de l’histoire de notre pays était celle de l’ambassadeur Lê Quang Bí, qui eut lieu sous le règne du roi Mạc Tuyên Tông (en 1548). Cette mission dura 18 ans car l’envoyé a été retenu par la dynastie Ming à Nanning (Guangxi) puis à Pékin. Au moment de son départ, c’était un homme d’une quarantaine d’années aux cheveux noirs mais  lors de son retour, ses cheveux étaient devenus blancs. Il avait alors 61 ans. On le compare souvent à Su Wu (Tô Vũ) (*), une figure légendaire de l’histoire chinoise  pour sa loyauté inébranlable et son esprit indomptable car il a su préserver l’intégrité de notre nation face à la dynastie Ming.

Pour résister à la pression et maintenir une position ferme face aux dynasties impériales chinoises, les émissaires de notre nation devaient posséder une combinaison unique de qualités: une érudition profonde, une capacité d’improvisation exceptionnelle, un courage inégalé ainsi qu’une maîtrise raffinée du protocole et des rituels. Leur mission primordiale consistait à « défendre l’honneur du mandat souverain » en préservant la souveraineté territoriale et en maintenant des relations pacifiques avec l’« Empire céleste ». Parfois, cette mission exigeait le sacrifice ultime, comme c’était le cas pour l’émissaire Giang Văn Minh. En 1637-1638, sous le règne de l’empereur Chongzhen (Sùng Trinh) de la dynastie Ming, Giang Van Minh fit preuve d’une intégrité et d’une franchise inébranlables.

Arrogant et cherchant à intimider l’envoyé du Đại Việt, l’empereur Chongzhen lui lança ce défi  avec le vers suivant: « Le pilier de bronze  encore aujourd’hui, il est couvert de mousse verte ». C’était  une allusion à la malédiction du général des Han, Ma Yuan, qui avait déclaré jadis : « Si le pilier de bronze vient à se briser, le Giao Chi [le Vietnam] périra. » Giang Van Minh répliqua avec une répartie cinglante et incisive: «  Depuis des temps immémoriaux, les eaux  du fleuve Bạch Đằng demeurent tachées de sang rouge. » Cette réponse évoquait les trois glorieuses victoires remportées sur le fleuve  Bạch Đằng  contre les Han du Sud (938), les Song (981) et les Yuan (1288) au cours desquelles les envahisseurs venus du Nord furent vaincus et incarnait ainsi l’esprit indomptable du peuple vietnamien.

Exaspéré par la fierté et l’intransigeance de l’envoyé, l’empereur Chongzhen ordonna son exécution le deuxième jour du sixième mois lunaire de l’année du Chat de Terre (1639). Toutefois, sa colère finit par s’apaiser. Impressionné par le courage d’un fonctionnaire aussi loyal, il ordonna que la dépouille de Giang Van Minh fut embaumée avec du thé et du mercure,  puis placée dans un cercueil  ramené dans sa patrie par la délégation diplomatique. Giang Van Minh est resté dans nos mémoires comme un émissaire demeurant  inébranlable face à la menace  et préférant  mourir pour faire honneur à sa patrie. Il sut préserver l’honneur de la nation et mener à bien sa mission diplomatique. Il obtint aussi  l’abolition de l’exigence humiliante contraignant depuis longtemps le Vietnam à offrir à la dynastie Ming des statues grandeur nature en métal.

Lorsque sa dépouille arriva à Thăng Long, le roi Lê Thần Tông et le seigneur Trịnh Tráng vinrent en personne rendre hommage devant le cercueil. Le roi, en larmes, promulgua un décret impérial déclarant : « Un envoyé qui ne déshonore pas le mandat de son souverain est, à n’en pas douter, un héros pour la postérité».

Il arrive parfois qu’un émissaire reçoit les plus hautes distinctions. C’est le cas de Mạc Đĩnh Chi, à qui a été conféré le titre de « Lettré suprême des deux nations » (Lưỡng quốc Trạng nguyên), une reconnaissance de son statut de lettré de premier rang, tant dans son propre pays qu’en Chine, sous le règne de l’empereur Wuzong (Külüg Khan) de la dynastie Yuan. Les Chinois ont été  profondément impressionnés par sa vivacité d’esprit remarquable. Lors de l’une de ses missions en Chine, une princesse mongole vint à mourir, et l’empereur Yuan le chargea de prononcer un éloge funèbre. En s’agenouillant pour lire le texte qui lui avait été remis, Mạc Đĩnh Chi ne découvrit qu’une feuille blanche sur laquelle figurait le caractère chinois signifiant « un » (nhất) devant être répété quatre fois. Sans la moindre hésitation, il se mit à réciter un éloge funèbre, ce qui suscita l’admiration de toute la cour impériale.

Trời xanh một đám mây
Lò hồng môt giọt tuyết
Vườn thượng uyển môt cành hoa
Cung Quảng Hàn một vầng nguyệt
Than ôi! Mây tan! Tuyết tiêu!
Hoa tàn! Trăng khuyết !

Le ciel d’azur a un amas de nuages
Une goutte de neige sur un brasier rougeoyant
Le jardin impérial a une branche de fleur
Le palais Quảng Hàn a un disque lunaire
Dommage ! Les nuages disparaissent ! La neige fond !
La fleur se fane ! La lune est incomplète!

 

À l’époque féodale, « être nommé émissaire  tout comme un général à qui l’on confie le commandement des troupes au combat » était considéré comme un insigne honneur. Bien qu’ils ne portassent point d’armes à feu,

ces émissaires étaient, en réalité, des guerriers en première ligne, chargés de mettre leur intelligence et leur courage au service de la préservation de la paix dans leur pays. Il leur incombait, par-dessus tout, de ne jamais déshonorer la mission dont le Roi les avait investis. Ils devaient veiller à ce que l’« Empire céleste » reconnut la stature d’une petite nation telle que la nôtre  pour  affirmer ainsi la souveraineté et l’intégrité territoriale, tout en étant pleinement conscients de l’immense difficulté de leur tâche.

(*) Su Wu était un envoyé de l’empereur Wu de la dynastie Han.Il fut retenu captif par les Xiongnu pendant 19 ans, période durant laquelle il fut contraint de garder du bétail dans la région du lac Baïkal (Sibérie).

Version anglaise

 

Bibliographie

Phan Kế Bính: Nam Hải Dị Nhân Liệt Truyện. Nhà Xuất Bản Hồng Bàng  2011
Philippe Papin: Les relations historiques du Vietnam avec la Chine jusqu’au début du XIXème siècle: aperçu et hypothèses. Société des amis du musée Cernuschi.
Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược. Histoire du Viet Nam. Imprimerie Vĩnh & Thanh 1928.
Lê Thành Khôi: Le Viet-Nam. Histoire et Civilisation. Les Éditions de Minuit. 1955
Thái Văn Kiểm: Việt Nam Quang Hoa. Editeur Xuân Thu
Lê văn Hưu, Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư . Nhà Xuất Bản Thời Đại 2013
René Grousset: Histoire de la Chine. Editeur France Loisirs 1997