Zen (Haiku)

Version française

Version anglaise

Thiền là một hoạt động được người hành thiền thực hiện bằng cách tập trung tâm trí vào một đối tượng nào để rèn luyện sự chú ý và nhận thức và để tìm kiếm  mỗi ngày, một tâm trí thanh tịnh và trong sáng được thanh lọc vào một khoảnh khắc nào để thời  điểm của sự kết hợp nhất với cuộc sống trở thành việc giảng dạy quan trọng nhất trong Phật giáo. Nó giúp con người trầm tư chiêm nghiệm một vấn đề nào đó của cuộc sống và vũ trụ và dẫn đến giai đọan giác ngộ (thức tỉnh) khi con người thấu triệt được những nguyên lý vận hành sự biến dịch của vạn vật trong tự nhiên. Chữ Thiền (zen) trong tiếng Hán là , phiên âm /chán/ nhưng chữ nầy trong tiếng phạn, một cổ ngữ trong nền văn hóa Ấn Độ là dhyana (thiền na).

Con đường Thiền hiện diện trong cuộc sống thường ngày. Mặc dù Thiền được nhà sư Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) mang từ Ấn Độ sang đến Trung Quốc vào năm 520, nhưng ngày nay nó lại nổi bật nhất  ở Nhật Bản so với các nước châu Á khác, luôn kể cả Việt Nam. Con đường Thiền ở Nhật Bản phát triển mạnh mẽ trong các nghệ thuật và các bộ môn thông qua nhiều hình thức thiền định và học tập: trà đạo (chado), hoa đạo (kado), kiếm đạo (kendo) vân vân. Nhưng điều quan trọng nhất  ở dưới những hình thức này là sự cảm nhận khoảnh khắc hiện tại: ở đây và bây giờ. Chỉ có nghệ thuật thơ haiku mới có thể nắm  giữ được khoảnh khắc nầy trong thực tế. Chính sự gặp gỡ chớp nhoáng này đã làm cho haiku trở thành thơ ca của Thiền, và việc đọc thơ  haiku làm tăng thêm cảm giác hạnh phúc và bình yên cho cả nhà thơ lẫn người đọc. 

Theo nhà  văn Lê Tấn Dương, ngôn ngữ dùng trong thơ thiền Haiku có mang tính cách trực tiếp không phải suy luận bằng lý trí (trực cảm). Nếu còn suy nghĩ thì còn gì là cảm quan trực giác. Dù  tính thiền vẫn còn đó nhưng nó không còn ảo diệu nữa. Ngược lại  nó rất quan tâm đến những điều nhỏ bé, những chi tiết, lòng từ bi và niềm đam mê mà nó dành cho khoảnh khắc hiện tại.

Haiku là một thể thơ rất đơn giản chớ nó không bị giới hạn ở việc miêu tả đơn thuần. Nó có thể là sự phát triển của một hình thức thơ cổ của Nhật Bản gọi là katauta, theo cùng một mô hình 5-7-5 âm tiết, tổng cộng là 17 âm tiết và tương ứng chính xác với độ dài của một hơi thở. Haiku không nhất thiết phải có vần.

Tuy nhiên thơ thiền Haiku nó cũng  có  hai quy tắc cần tuân thủ :

  • một kigo, tức là một khái niệm về mùa, để làm bối cảnh;
  • và một gạch nối (césure) hay kireji, sẽ cắt bài thơ thành hai phần.

Haiku  hay thường giữ cái ẩn ý hơn là cái rõ ràng, do đó kigo chỉ nên mang tính gợi mở. Như thường lệ, thơ Haiku không thể tách rời các mùa. Việc viết thơ gợi mùa thì quá dễ dàng, thay vào đó thi gia haiku sẽ thích nhắc nhở  hơn về “tiếng dế” hay “hoa mao lương”. Kireji, ngược lại, cho phép chuyển từ một miêu tả đơn giản của một hình ảnh sang cảm nhận mà nó tạo ra ở tác giả. Nó không chỉ đơn thuần đồng nghĩa với « sự tĩnh lặng » hay « sự an lạc ». Những ham muốn, cảm xúc, thậm chí cả suy nghĩ đều phải được gạt bỏ. Quá trình thanh lọc này có thể bao gồm cả việc quên đi « cái tôi » để dẫn đến giác ngộ và để có cái nhìn trầm tư hơn và tự do hơn về thế giới, thoát khỏi mọi sự tìm kiếm ý nghĩa. Điều đó còn tùy  thuộc sự rung cảm từ tâm thức của người viết và người đọc mà còn luôn cả mức độ giác ngộ của mỗi người  về cảnh quan và cuộc sống. Có nguời đi suốt cuộc đời vẫn chưa giác ngộ, còn có người có duyên thì giác ngộ  đến rất sớm. Con đường lớn (hay con đường Thiền) không có cổng; hàng ngàn con đường dẫn đến đó. Ai đi qua cánh cổng không lối này sẽ tự do đi lại giữa Trời và Đất, đó là lời nhắn nhũ cho những ai học thiền.

Thơ haïku là sự diễn giải của một trải nghiệm chớ không phải môt bình luận. Chính vì vậy haïku hay thường được so sánh với một bức tranh trong đó quan sát và kinh nghiệm là một với ý thức. Thi ca haiku là một bức tranh toàn diện không thừa không thiếu với 17 âm tiết, ngôn dủng trong  thi ca là trực giác. Theo nhà văn nhà văn Manuela Dunn Mascetti,  sự tươi mát là bông hoa của nghệ thuật haïku  vì nó  được tạo ra bởi sự tức thời của cảm giác khiến người đọc có  được niềm vui thật sự và vĩnh cửu. Nhưng muốn có được  tinh thông nghệ thuật haiku thì cần có nhiều năm luyện tập. Chìa khóa thảnh công là đạt được hay là mất đi thì cũng giống như một trãi nghiệm sống. Tuy thơ thiền haiku vuợt qua biên giới ngày nay  với một số tín đồ ngoại quốc nhưng   chỉ có những bậc thầy nổi tiếng  như Matsuo Basho  (1644-1694), Yosi Buson (1718-1783), Kobayashi Isa (1763-1827)  hay Natsume Soseki (1867-1916) vẫn tiếp tục  làm rung chuyển trái tim chúng ta ở mỗi giây phút hiện tại với các bài thơ độc đáo mang đậm chất thiền  và còn giúp đỡ ta trong việc thiền định. Ngoài ra, haiku còn là một thú vui nho nhỏ trong cuộc sống, giúp ta tạm quên đi những lo lắng thường ngày. Cùng nhau thử phân tích  bài thơ nổi tiếng « con ếch »  của thiền nhân Basho dưới đây:

Ao cũ                                  Furu ike ya
Con ếch nhày vào                kawazu tobikomu  
vang tiếng nước xao             mizu no oto  

(Matsuo Basho- Nhât Chiêu dịch)

Cái tên Basho nầy gắn liền với ông  từ khi ông về sống ở cái lều nhỏ mà bên cạnh có trồng cây chuối (ba tiêu). Vì vậy ông tự gọi ông là Basho và nơi ông ở là am ba tiêu. Bài thơ haiku nầy có vẻ  đẹp đơn sơ của ao cũ, lấy động tả tĩnh,nhẹ nhàng, trong sáng mà còn gần với đời sống thường ngày qua việc chú ý quan sát sinh vật nhỏ bé “con ếch”. Kigo ở đây là con ếch tức là mùa xuân. Âm thanh tiếng nước mà con ếch khuấy động còn mãi âm vang vọng trong  tâm hồn lúc Basho đang ngồi tham thiền. Qua cái nhìn trực cảm trước sự việc nầy, Basho  giác ngộ ra cái thâm sâu về bản chất huyền nhiệm cũa sự hiện hữu,  thấu triệt  vận hành sự biến dịch của vạn vật trong tự nhiên và con đường sâu thẳm mà ông xem  như là khúc giao hưởng của một tâm hồn đang hoà nhập với thế giới, là  cuộc hành trình về với thiên nhiên vũ trụ tinh khiết.

Version française

La méditation est une activité exercée par les pratiquants en concentrant l’esprit sur un objet afin de développer l’attention et la conscience, et de trouver chaque jour, à chaque instant, un esprit clair et  purifié afin que le moment de l’union avec l’existence devienne le plus grand enseignement dans le bouddhisme. Elle aide les individus à approfondir un certain problème de la vie et de l’univers et à les conduire à la réalisation de l’éveil lorsque les principes régissant le changement de toutes choses dans la nature sont compris parfaitement. Le mot méditation (zen) en chinois est, translittéré /chán/, mais ce mot en sanskrit, une ancienne langue de la culture indienne, est dhyana (thiền na).

La voie du zen réside dans la vie quotidienne. Malgré que le zen fut rapporté d’Inde en Chine par le moine errant Bodhidharma en 520, il devient plus important aujourd’hui  au Japon que dans les autres pays d’Asie y compris le Vietnam.  La voie du zen japonais  s’épanouit  dans les arts et disciplines  sous diverses formes de méditation et d’apprentissage: chado la voie du thé, kado la voie des fleurs, kendo la voie de l’épée etc. mais ce qui importe le plus dans ces formes, la perception du moment: être ici et maintenant.  C’est  l’art de haïku qui réussit à encadrer  la réalité en un seul instant et  qui fait de haïku la poésie du zen japonais. Sa  lecture  augmente le sentiment de bonheur et de tranquillité au poète et au lecteur.

Le langage utilisé dans la poésie zen Haïku porte le caractère « direct », il ne repose pas sur un raisonnement intellectuel (intuition directe). S’il y a encore la réflexion, il n’y a plus la perception intuitive. Bien que la nature zen soit toujours présente, elle n’est plus magique. Au contraire, elle s’intéresse beaucoup aux petites choses, aux détails, à la compassion et à la passion réservée  pour l’instant présent.

Haiku est une forme de poésie très simple, mais elle ne se limite pas à une simple description. Elle est peut-être le développement d’une ancienne forme de poésie japonaise appelé katauta en suivant le même schéma de ce dernier 5-7-5 syllabes, ce qui donne un total 17 syllabes et qui correspond exactement à la longueur d’une respiration. Le haïku ne doit pas forcément faire de rimes.

Le haïku privilégie souvent le sens caché  plutôt que le sens  clair. Ainsi le kigo ne doit être qu’évoqué. Comme toujours, le haïku est indissociable des saisons. « Écrire des poèmes » évoquant les saisons serait trop facile ; les poètes de haïku préfèrent donc nous rappeler « le chant du grillon» ou « la fleur d’anémone».  En revanche, le kireji permet de passer d’une simple description d’une image à la sensation qu’elle suscite chez l’auteur. Le haïku ne signifie pas simplement « silence » ou « paix ». Les désirs, les émotions, voire les pensées doivent être écartées. Ce processus d’épuration peut inclure l’oubli du « moi » pour atteindre l’éveil et adopter un regard plus méditatif et plus libre sur le monde, affranchi de toute quête de sens.

Cela dépend de l’émotion dans l’esprit de l’écrivain et du lecteur, mais aussi du niveau d’éveil de chacun sur le paysage et la vie. Certaines personnes passent toute leur vie sans être « éveillées », tandis que d’autres sont prédestinées à ce que l’illumination vienne très tôt. La grande voie n’a pas de porte. Des milliers de routes y débouchent. Celui qui franchit cette porte sans porte marche librement entre le Ciel et la Terre, ce qui constitue le message destiné à ceux qui pratiquent le zen.

La poésie  haïku est l’interprétation d’une expérience et non un simple  commentaire. C’est pourquoi le haïku est souvent comparé à un tableau où l’observation et l’expérience ne font qu’un avec la conscience. La poésie Haïku est un tableau complet, ni plus ni moins, avec 17 syllabes, le langage utilisé dans la poésie est l’intuition. Selon l’écrivaine Manuela Dunn Mascetti, la fraîcheur est la fleur de l’art de Haïku car elle est créée par l’instantanéité du sentiment qui procure au lecteur une joie véritable et éternelle. Mais pour maîtriser l’art du Haïku, il faut de nombreuses années de pratique. La clé de réussite est soit atteinte soit perdue tout comme une expérience vécue. La poésie zen haiku a franchi les frontières de nos jours avec un certain nombre de pratiquants étrangers, mais ce sont seulement les maîtres célèbres tels que Matsuo Basho (1644-1694), Yosi Buson (1718-1783), Kobayashi Isa (1763-1827) ou Natsume Soseki (1867-1916) qui continuent à émouvoir nos cœurs à chaque instant présent avec leurs poèmes Haiku et qui nous aident encore dans la pratique de la méditation. En plus, haiku est un petit plaisir de la vie qui éloigne votre esprit des tracas ordinaires. Essayons d’analyser ci-dessous le célèbre poème « La Grenouille » du maître zen Basho :

Trong ao cũ                  Furu ike ya                Dans le vieil étang
Con ếch nhày vào         kawazu tobikomu       Une grenouille saute 
Vang tiếng nước xao     mizu no oto                Un ploc dans l’eau
(Basho)

Le nom de Basho lui fut associé lorsqu’il s’installa dans une petite hutte près d’un bananier. Il se nomma donc Basho et sa demeure le pagodon du bananier. Ce haïku illustre bien la beauté simple d’un vieil étang. Il emploie le mouvement pour dépeindre le calme, la douceur, la pureté et la proximité de la vie quotidienne à travers l’observation d’une petite créature, la « grenouille ». Kigo désigne ici la grenouille, qui fait allusion au printemps. Le bruit de l’eau remuée par le saut de cette rainette résonne dans l’âme de Basho pendant sa méditation. Par cette observation intuitive, le moine Basho s’éveille au profond mystère de l’existence, il comprend le fonctionnement et les transformations de toute chose dans la nature et le chemin profond qu’il perçoit comme la symphonie de l’âme en fusion parfaite  avec le monde, un voyage de retour à la nature pure et à l’univers.

Bibliographie.
Manuela Dunn Mascetti: The Little Book of Zen . Evergreen 2007
Lê Tấn Dương: Thiền trong văn hóa Nhật Bản. Đặc san Lâm Viên.