
Những chuyện bên lề ở giữa lòng chung cư
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Mỗi ngày, sáng hay chiều tối nào, tụi nầy cũng có thói quen từ khi đến Viêt Nam sau khi ăn cơm hay thường la cà ngồi quán cà phê. Ngày xưa, người Việt trò chuyện hay thường bắt đầu bằng cách têm trầu nay sự việc nầy không còn mà được thay thế bằng ly cà phê. Có thể nói, gặp nhau muốn nói chuyện gì cũng được, phải có ly cà phê. Giờ phút nầy cà phê nó không thể thiếu ở người Việt, không biết lúc nào nó lại nằm trong văn hóa của người Việt. Không thể thiếu nó nhất là các quán nó đua nhau mọc lên như nấm trong khu chung cư nầy. Không biết các quán bán được bao nhiêu ly cà phê mỗi ngày mà đi qua xem vựa, nơi mà họ lưu trử các khối nước đá trông thấy ở chung cư, thấy mà khiếp sợ. Mới đây mùng hai Tết trên đường về bằng xe grab, cháu tài xế hỏi mình như sau: Chú có phiền không, cho cháu ghé uống một ly cà phê có được không ? Mình mới nói: uống đi cháu, chú đơị cháu. Nhưng nghĩ sao, cháu tài xế không uống, đưa thẳng mình về khách sạn. Lúc trả tiền, mình mới nói với cháu tài xế: Chú biếu cháu 50.000 đồng tiền lì xì (2 euros) để cháu uống cà phê đi nha. Cháu tài xế cười toe toét. Mình muốn nói đây cái sung sướng mà mình nhận được trên khuôn mặt của cháu tài xế khi nhắc đến ly cà phê.
Không nhất thiết uống nhiều ly cà phê trong ngày mới có thể ngồi ở quán, chỉ cần một ly cà phê là đủ rồi, bạn có thể ngồi nguyên ngày. Ở quán cà phê trong chung cư, dù không có thức ăn đi nữa mình có thể kêu ở các quán bán thức ăn gần đó mang đến cho mình ăn. Đây là một dịch vụ miễn phí chỉ có ở Việt Nam. Ngồi quán cà phê, tụi nầy có thể thư thản đọc sách, xem điện thọai, người hay xe cộ đi qua lại mà cũng có thể quan sát cuộc sống hằng ngày của người dân sống ở trong chung cư.
Vừa ngồi xuống nghế chưa đầy 5 phút thì có các cháu bé hay các bà mẹ bế con bán giấy số đến lần lượt xin tụi nầy mua giấy số. Nhưng làm sao mua nổi, người nào cũng có cả trăm tờ, mỗi tờ 10.000 đồng họ chỉ được 1000 đồng nếu họ bán được một tờ. Nếu bán không hết trong ngày, chiều lại không được trả lại. Như vậy họ làm sao có lời, chắc chắn họ phải mất tiền. Phải có mẹo nào đó. Cách buôn bán giấy số nầy làm mình rất phân vân, có cái gì không ổn. Dĩ nhiên làm mình chạnh lòng nhưng mình chỉ cho tiền các em nhỏ bán giấy số mà thôi chớ không mua còn anh bạn mình thi chỉ mua giấy số của các người khuyến tật, mua rồi đem tặng các bạn già ở Việt Nam. Hai đứa nầy lúc nào cũng có ở trong đầu nhiều câu hỏi nhưng chả bao giờ có câu trả lời chính đáng. Ở chung cư vì cuộc sống rất chật vật, không gian thì eo hẹp, gia đình đông con hay thường thấy họ ngủ la liệt dưới đất nên việc nấu ăn trong nhà thường ít thấy. Thông thường thấy họ la cà các quán, ăn tại chỗ hay mua về ăn. Luôn cả cô em bà con của mình ở chung cư một mình hay thường mua đồ ăn ở chợ đem về nhà mà ăn. Đôi khi cũng ngon đáo để như món mắm chưng hột vịt mà cô em thết đãi tụi nầy một hôm, làm tụi nầy nhớ hoài. Mình hay thường nghe câu nói nầy từ ông bạn mình: Thế hệ ngày nay không phải là thế hệ của má tụi mình. Phụ nữ Việt Nam không còn biết nấu ăn, chỉ biết phê bút hay sống ảo mà thôi. Cái nhận xét nầy cũng không hoàn toàn sai. Phải cần có adrenaline để quên đi sự phiền muộn trong cuộc sống mong manh.
Ở giữa lòng chung cư, có nhiều nghề sống được lắm như biết may vá, nấu ăn giỏi như cô Mai, cô Lý. Cô Mai thì nổi tiếng các món xào nhất là bà biết làm sao khi mình ăn còn mùi khói chớ không có mùi cháy của chảo như cơm chiên gà, mì xào giòn còn cô Lý thì món tầm bì nước dừa, bánh bèo bì, chè chuối vân vân phải nói quá ngon làm mình vẫn còn thèm đấy. Muốn ăn các món nầy thì phải chịu khó đợi lúc nào cũng đông khách cả. Quá giờ thì không còn nữa đấy. Họ trù liệu bao nhiêu phần để bán chớ hết thì thôi ngày hôm sau trở lại chớ không như ở Paris nhiều tiệm đỗ nước thêm để bán phở tiếp. Có một lần anh bạn mình muốn ăn thịt heo quay thôi chớ không muốn ăn bánh hỏi vì thích ăn với bánh mì nhưng họ không bán vì họ trù liệu trước bao nhiêu bánh hỏi để bán với thịt quay rồi.
Chính ở chung cư nầy mình có duyên được gặp một hôm ở quán cà phê môt họa sỹ nhỏ tuổi đang ngồi chăm chỉ vẽ cảnh vật ở chung cư với bút mực. Cháu nầy có bản năng vẽ không sữa không làm lem bức tranh với mực. Mình thích qu á chừng nên muốn mua bức tranh nhưng cháu rất dễ thương mới thốt lên như sau: Chú muốn, cháu tặng chú. Mình cũng không ngờ. Đây là duyên cháu có với chú đấy thôi. Sau đó anh bạn của mình ngỏ ý mua một tấm tranh khác để mang về Paris tặng bạn. Vui cũng có với cháu họa sỹ nầy mà buồn cũng có với em bé tạc chừng 12 tuổi ngậm xăng phun lửa thường thấy ở chung cư. Bé nầy thường biểu diễn trước đám đông ngậm xăng phun lửa. Tình cờ mình thấy vậy mới kêu em bé lại hỏi chuyện. Tại sao con làm vậy, con có biết xăng nó độc nay mai con sẽ bi ung thư cuống họng không? Con nhớ chú dặn con không nên làm nghề nầy nữa. Mình chỉ khuyên nó, thấy thương nó nên cho nó một trăm ngàn đồng, chả là bao nhiêu cả. Mình cảm thấy bất lực vì mình biết mình không thể làm gì hơn.
Ở chung cư nầy biết bao nhiêu người nghèo, mình có làm được gì không?. Cháu nhờ nghề nầy mỗi ngày cháu kiếm được vài trăm ngàn để nuôi em và sống, ba má cháu ly dị? Câu nói nầy nó vẫn còn ở trong tâm trí của mình khi mình viết về chung cư. Một con chim én đâu có đem lại mùa xuân. Nhưng không vì thế mà mình quên đi những trẻ em nghèo nầy. Chúng nó là tương lai của đất nước nầy.
Depuis notre arrivée au Vietnam, nous avons pris l’habitude de nous attarder dans un café après les repas, matin et soir. Autrefois, les Vietnamiens entamaient les conversations en commençant par la chique du bétel. Mais ce n’est plus le cas d’aujourd’hui. Elle est remplacée par une tasse de café. On peut dire sans se tromper que, quel que soit le sujet de conversation, une tasse de café s’avère indispensable. De nos jours, le café est devenu incontournable pour les Vietnamiens. Il est difficile de dire quand il est entré dans la culture vietnamienne. Il l’est d’autant plus depuis lors avec la poussée des cafés comme celle des champignons dans ce complexe d’appartements. Je me demande combien de tasses de café ces établissements vendent chaque jour, car le stockage des tonnes de glace dans le complexe est assez effarant. Récemment, le deuxième jour du Têt (Nouvel An lunaire), alors que je rentrais chez moi en taxi grab, le chauffeur m’a demandé : « Monsieur, cela vous dérangerait-il si je m’arrêtais pour prendre un café ? » J’ai répondu sans hésitation: « Allez-y, je vous attends. » Mais pour une raison inconnue, le jeune chauffeur n’en a pas bu et m’a ramené directement à l’hôtel. Au moment du paiement, j’ai dit au jeune chauffeur : « Voici 50 000 dongs ( à peu près 2 euros) en cadeau de notre Nouvel An pour vous offrir un café. » Il m’a montré un large sourire. Je voulais souligner la joie que j’avais vue sur son visage à l’évocation du café.
Il n’est pas nécessaire de boire plusieurs tasses de café par jour pour s’attabler dans un café; une seule suffit, et on peut y rester toute la journée. Au café de ce complexe d’appartements, même s’il n’y a pas de nourriture, on peut la commander auprès des vendeurs ambulants du quartier et on est servi sur place. C’est un service gratuit, typiquement vietnamien. Installés au café, nous pouvons nous détendre, lire, consulter nos téléphones, regarder le va et vient des passants et des voitures, et observer le quotidien des habitants. À peine cinq minutes après notre installation, des enfants ou des mères avec des bébés se mettaient à la queue leu leu pour nous vendre des billets de loterie. Mais comment pouvons-nous tout acheter? Chacun en avait une centaine, à 10 000 dongs le billet, et ils ne gagnaient que 1 000 dongs par billet vendu. S’ils n’arrivaient pas à tout vendre dans la journée, ils ne pouvaient pas rendre les billets à l’endroit où ils les avaient pris. Comment pouvaient-ils faire des bénéfices ? Ils allaient forcément perdre de l’argent. Il devait y avoir une astuce.
Cette façon de vendre des billets de loterie me perturbe beaucoup ; j’ai un mauvais pressentiment. Bien sûr, cela me rend un peu triste. Je donne uniquement de l’argent aux enfants qui vendent les billets mais je n’en achète pas. En revanche, mon ami n’achète des billets qu’à des personnes handicapées et les offre ensuite à ses amis âgés au Vietnam. Nous nous posons toujours des questions, mais nous n’obtenons jamais des réponses satisfaisantes. « Vivre dans le complexe d’appartements » est très difficile: l’espace est limité et les familles nombreuses sont obligées de dormir souvent par terre, si bien que « cuisiner à la maison » est une rareté. On les voit généralement traîner au bistrot, y manger ou acheter des plats à emporter. Même ma cousine vivant seule dans son appartement, préfère d’acheter souvent de quoi manger au marché.
Parfois, la bouffe achetée est incroyablement délicieuse, comme cette pâte de poisson à la vapeur avec des œufs de canard que ma cousine a achetée et agrémentée avec des légumes, ce qui nous donne un plat insatiable. J’entends souvent mon ami dire : « La génération d’aujourd’hui n’est pas celle de nos mères. Les Vietnamiennes ne savent plus cuisiner ; elles ne connaissent que Facebook ou vivre dans le monde virtuel. » Ce constat n’est pas totalement faux. Il faut bien une dose d’adrénaline pour oublier les tracas de cette vie fragile.
Au cœur de ce complexe d’appartements, on trouve de nombreux emplois lucratifs comme la couture et la cuisine, à l’instar de ceux de Mmes Mai et Lý. Mme Mai est réputée pour ses plats sautés, notamment pour son talent à leur conserver un léger goût fumé, sans les brûler, comme le riz frit au poulet et les nouilles frites croustillantes. Les plats de Mme Ly, tels que le plat de nouilles de riz agrémentées de la couenne de porc au lait de coco, le gâteau de riz à la couenne, la soupe sucrée à la banane etc. sont si délicieux que j’en ai encore l’eau à la bouche
Pour déguster ces plats, il faut s’armer de patience ; les stands de ces dames sont toujours bondés. Si on rate l’heure de fermeture, il n’y en aura plus. Ils ne proposent qu’un nombre limité de portions et, si elles sont épuisées, il faut revenir le lendemain, contrairement à Paris où de nombreux restaurants continuent à remplir leur soupe de nouilles avec de l’eau pour maintenir leur activité. Un jour, mon ami a voulu manger uniquement le porc laqué, sans les nouilles de riz, car il préférait les déguster avec du pain. Mais on a refusé de lui en vendre, car le restaurant avait déjà prévu la quantité de nouilles à vendre avec celle du porc laqué.
C’est dans ce complexe que j’ai la chance de rencontrer un jour, un jeune artiste dans un café. Il était en train de dessiner à l’encre la scène du complexe avec soin. Ce jeune artiste avait un don inné pour le dessin ; l’encre ne bavait pas. J’aimais tellement son tableau que j’aurais voulu l’acheter, mais l’artiste, si gentil, m’a dit sans hésitation: « Si tu le veux, je te le donne. » J’étais surpris. C’était le destin qui avait fait que nous nous rencontrions. Ensuite mon ami a manifesté aussi son intérêt pour l’achat d’un autre tableau pour le ramener à Paris comme cadeau offert à son ami. Je suis heureux de connaître ce jeune artiste, mais je suis aussi triste de voir souvent le petit garçon d’une douzaine d’années, qui est habitué à faire du spectacle devant la foule en crachant du feu avec de l’essence. Par hasard je l’ai interpellé un jour : « Pourquoi fais-tu ça ? Sais-tu que l’essence est toxique et que tu risques d’avoir un cancer de la gorge ? Je te conseille d’arrêter ce métier. Pris de pitié, je lui ai donné 100 000 đồng, une somme vraiment dérisoire. Je me sens impuissant car je sais que je ne peux plus rien faire pour lui.
Il y a tant de gens pauvres dans ce complexe, que puis-je faire ? Grâce à ce travail, je gagne quelques centaines de milliers de dongs par jour pour subvenir aux besoins de mon petit frère ou de ma petite sœur et vivre dignement car mes parents sont divorcés. Sa parole me hante encore lorsque j’écris encore tout ce qui est en rapport avec ce complexe d’appartements. Une seule hirondelle n’apporte pas le printemps. Mais malgré cela, je ne peux pas oublier ces enfants défavorisés. Ils sont l’avenir de notre pays.





Tình nào


