Les bouquinistes le long de la Seine

Les bouquinistes le long des quais de la Seine

 

Version française
Version anglaise
Galerie de photos

Nằm dọc bờ sông Seine, những quầy sách là một nét đặc trưng của cảnh quan Paris. Tương tự như những người bán hoa ở Phố Cổ Hà Nội, họ bán sách cổ, áp phích, bưu thiếp và đồ sưu tầm. Du khách có cơ hội ngắm nghía hàng hóa của họ khi dạo bước giữa Nhà thờ Đức Bà và Bảo tàng Louvre. Thật thú vị khi được lục lọi những chiếc hộp xanh lớn. Tổng cộng có 900 hộp. Nếu trời mưa, những người bán sách sẽ nhanh chóng đóng quầy. Chỉ trong vài phút, mọi thứ lại biến mất vào chiếc hộp xanh lớn. Paris thật kỳ diệu.

Étant installés le long des quais de la Seine,  les bouquinistes font partie de l’une des caractéristiques du paysage  parisien. Analogues aux marchandes ambulantes des fleurs  du vieux quartier de Hanoï, ils vendent  des livres anciens, des affiches, des cartes postales et des objets de collection.  Les touristes ont l’occasion de jeter un coup d’œil sur leurs produits en flânant entre l’église Notre Dame et le musée du Louvre. Il est intéressant pour les touristes de  les fouiller dans les grandes boites vertes. Il y a 900  boites en tout. En cas de pluie, les bouquinistes vont fermer rapidement leurs boutiques. En quelques minutes, tout disparait à nouveau dans sa grande boite verte. C’est magique, Paris.

Located  along the banks of the Seine, the bouquinistes are part of one of the characteristics of the Parisian landscape. Similar to the flower vendors of the old Hanoi district, they sell old books, posters, postcards, and collectibles. Tourists have the opportunity to take a look at their products while strolling between Notre Dame Church and the Louvre Museum. It is interesting for tourists to rummage through them in the large green boxes. There are 900 boxes in total. In case of rain, the bouquinistes quickly close their shops. In a few minutes, everything disappears again into its large green box. It’s magical, Paris.

Galerie des photos

[Return PARIS]

The Vietnamese spoonerism

 

Nói lái

French version
Vietnamese version

The exact date of the appearance of spoonerisms in Vietnam is not known, but during the French colonial period, it was discovered by a researcher from the French School of the Far East, M.A. Chéon. He maintains that it is a language formed mechanically and artificially from the mixing or inversion of elements of two or three consecutive monosyllables in a sentence. It is considered a true linguistic gymnastics and is characteristic in conversation. When someone says something, the listener must know how to interpret it in another way according to a tacit convention that only a small group of people in the profession or among friends can understand. Today, it has become popular among the population and is used to joke playfully among close friends, such as « khoái ăn sang » (to enjoy eating abundantly) (sáng ăn khoai « eat sweet potatoes for breakfast »), (chà đồ nhôm « rub aluminum objects ») (chôm đồ nhà « steal things from the house »), (hạ cờ tây « lower the French flag ») (hạ cầy tơ « eat dog meat »).

Words of extreme elegance can become vulgar words in carelessness or with the intention of teasing someone or mocking others, especially the beautiful names that parents have given their children such as Cảnh hu, Thu đạm, Thái Đức, etc. Sometimes in a statement, no meaning is found, but when the words are reversed, it gives it a meaning like « man cái » becoming « cái màn » (curtain) or vice versa like « đơi chi » becoming « đi chơi » (to stroll).

According to the French researcher M.A. Cheon, Vietnamese people often have the habit of easily separating the elements (consonants and vowels) of words. It is on this separation that the whole rule of wordplay is established. The first word lends its final ending to the following word and in return, it takes back the final ending of the following word.

Thus, « đi chơi » (to stroll) is divided into d + i and becomes « đơi chi » by inversion. This is a very simple rule but it also includes very complex rules that are often found in wordplay with the three principles below.

Example: cờ tây (French flag) becomes cầy tơ (a young dog). This method proves harmonious and is more frequently encountered. Cờ and cầy always keep the two tones (bằng) of the two original sounds like tây and.

Second method:

1°) Completely swap syllables.

2°) Keep the two tones (accents) of the two original sounds.

For example: đấu tranh (to fight) becomes tránh đâu (to avoid). This method does not seem pleasant to the ear and is rarely used.

Third method:

1°) Reverse the sound pattern.

2°) Swap the two tones (accents) of the two syllables.

For example: khó đi (difficult to go) becomes khi đó (at that moment). This method is also not pleasant to the ear and its use is also rare.

According to the writer Phụng Nghi, in a word of 3 or 4 syllables, if one wants to say it « backwards, » one must keep the linking sounds (conjunctions) or the sounds with secondary meaning. The syllables with the correct meaning are exchanged in the three ways mentioned above.

Example: khoái ăn sang (to enjoy eating abundantly) -> sáng ăn khoai (« to eat sweet potatoes for breakfast »)

cái trâm em cài (the brooch I wear) -> (cái trài em câm) -> (cái chai em cầm « the bottle I hold »)

làm sương cho sáo (to make dew for the flute: no meaning) -> (làm sao cho sướng « how to make myself happy »)

cầu gia đạo (family prayer) -> (cạo da đầu « scalp shaving »)

This wordplay is often used with the intention of reflecting a social reality such as

Ban lãnh đạo (« leadership team ») -> Bao lãnh đạn (« cartridge case »)

Thủ tục đầu tiên (« the first procedure to take ») -> (thủ tục tiền đâu « monetary procedure (corruption) »)

Chiều 30 Tết thầy giáo tháo giầy đi chợ, mồng một giáo chức (giức cháodứt  cháo  vui Xuân. Trong câu nầy thì có sự châm chước trong lỗi chính tả như hai chữ  giứcdứt.

On the afternoon of the 30th of Tết, teachers take off their shoes to go to the market. On the first day of Tết, teachers finish their soup and celebrate the spring. In this statement, there is some tolerance for spelling mistakes such as the two words « giức » (no meaning) and « dứt » (to cease).

With the characteristic of « transforming the ‘vulgar’ into ‘distinguished’, » the spoonerism is a technique that appears in scholarly literature and popular couplets. It is also satirical and ironic, as in the poem titled « Monastic Life » by Hồ Xuân Hương:

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo (quá nhỏ)
Thuyền từ muốn về Tây trúc
Trái gió phải nên phải lộn lèo

The monastic life is burdened with heavy stones,
What taste is there in a little bit so tiny (too small)?
The boat wants to return to India,
The contrary wind forces it to turn around.

Or not strictly adhering to the rising and falling tones in the poem « Summer Awaits the Lover » by Nguyễn Khoa Vy:

Nực cổi chỉ ra nỗi cực lòng
Dòng châu lai láng đĩa dầu chong
Khó đi tìm hiểu nhau khi đó
Công khó chờ ai biết có không

The heat’s relief only reveals deep despair,
Tears flow abundantly on the oil lamp’s plate.
It is difficult to understand each other at that moment,
The effort to wait for someone, does anyone know?

We are used to listening to the following riddles

I do not dislike compotes except chè ghim (chìm nghe « sunken boat »)

Bằng ngón tay trên bàn Phật
Tụng kinh rồi búng cánh bay xa (bánh cúng)

– Just the size of a finger on the Buddha’s altar
Once the prayer is finished, the cake offered to him flies very far (búng cánh « bánh cúng »)

Cái bông trên cành, cái trái cận mây (cây mận)

– The flower is on the branch, the fruit is close to the cloud (cận mây) (prunier tree).

The flower being on the branch, the fruit is very close to the cloud (cận mây), that is, on the « cây mận (prunier) »

Cục đo đỏ bỏ vô giường (Cục đường bỏ vô giỏ)

– The reddish piece is on the bed (Cục đo đỏ bỏ vô giường) (Cục đường bỏ vô giỏ « the piece of sugar is in the basket »)

or to find the spoonerism in the following parallel sentences:

Con mèo cái nằm mãi trên mái kèo
Con cá đối nằm trong cối đá
Con chim mỏ kiến đậu trên miếng cỏ

The female cat rests eternally on the roof framework.
The mule rests in the stone mortar.
The woodpecker perches on a piece of grass.

There are certain puns in spoonerisms that the listener thinks they are dealing with, such as Western or Chinese words during their listening, which first causes confusion and leaves them stunned for a moment before realizing it and bursting out laughing. This is the case with the following example:

Quýt xơ măng bông sên (Quăng xơ mýt (mít) bên sông « throwing jackfruit fibers by the riverbank »).

Chúng mình đập chuông nhé? -> Chúng mình đuông chập nhé? -> Chúng mình đuông chậm nhé? -> ? Chúng mình đâm chuột nhé? -> Chúng mình đâm tí (tý) nhé? -> (Chúng mình đi tắm nhé? « Let’s go swimming »)

[Return LITERATURE]

 

 

Tôi ru em ngủ mùa thu

Tôi ru em ngủ mùa thu

Tôi ru em ngủ mùa thu
Em thường nhặt lá phù du vào mùa
Tôi ru em ngủ gió lùa
Qua hàng song cửa chợp đùa hồn tôi
Tôi ru em ngủ trên môi
Nụ cười chớm nở đời tôi thế nào
Tôi ru em ngủ mưa gào
Hồn tôi lạnh buốt em nào có hay
Tôi ru em ngủ tháng ngày
Khi  thu đã chết, tình nầy cũng phai.

Je te bercerai pour t’endormir en automne
Tu est habituée à ramasser les feuilles fugaces en saison
Je te bercerai pour t’endormir avec le vent qui souffle
À travers les barreaux de la fenêtre, taquinant ainsi mon âme
Je te bercerai pour t’endormir sur les lèvres
Un sourire commençant  à naître, ma vie à quoi ressemble-t-elle?
Je te bercerai pour t’endormir avec la pluie « hurlante »
Mon âme est gelée, tu ne le sais pas
Je te bercerai pour t’endormir  au fil des jours
Quand l’automne mourra,  cet amour s’estompera aussi

I lull you to sleep in autumn
You often gather fleeting leaves in season
I lull you to sleep with the wind that sneaks 
Through the bars of the window, teasing my soul
I lull you to sleep on the lips
A smile beginning to emerge, what will my life be like?
I lull you to sleep with the howling rain
My soul is frozen, you don’t know it
I lull you to sleep over the days
When autumn dies, this love fades away too.

 

[RETURN]

Con Đò (La barque)

 

Con đò

Tình nào thổn thức đêm dài
Đò nào bến cũ tháng ngày tiếc thương
Bao năm chồng chất tóc sương
Sông nào đãi  hết tỏ tường với ai

La barque

Pour quel amour se tourmente-t-on avec des longues nuits?
Pour quel sampan et son ancien débarcadère, continue-t-on à être accablé d’affections et de regrets ?
Les cheveux blancs s’accumulent sous le poids des années
Le fleuve n’arrive pas à tout effacer, à qui doit-on révéler les confidences ?

The boat

For what love does one torment oneself with long nights?
For what sampan and its old pier does one continue to be overwhelmed with affections and regrets?
White hairs accumulate under the weight of years
The river cannot erase everything, to whom should the confidences be revealed?

Ước gì (J’aimerais)

Ước gì (J’aimerais)

Ước gì đời được có em
Để đời ấm áp, để đêm bớt dài
Ước gì tình có cánh bay
Để tình cao vút như mây giữa trời
Ứớc gì hồn được thảnh thơi
Để hồn mơ mộng tuổi thơ ngày nào
Ước gì biển cả trời cao
Được người tri kỷ cùng nhau kiếp nầy.

J’aimerais t’avoir dans la vie
pour la rendre plus chaleureuse et raccourcir les nuits
J’aimerais l’amour posséder des ailes 
Pour que l’amour s’élève comme les nuages ​​dans le ciel
J’aimerais que mon âme soit en paix
Pour qu’elle rêve de mon enfance
J’aimerais que la mer et le ciel soient élevés
Pour avoir une âme sœur avec qui  je peux partager cette vie.

I would like to have you in life
to make it warmer and shorten the nights
I would like love to have wings
So that love rises like clouds in the sky
I would like my soul to be at peace
So that it dreams of my childhood
I would like the sea and the sky to be high
To have a soulmate with whom I can share this life.

[RETOUR: Trở về]

 

Tình nào (Quel amour)

  Tình nào

Tình nào thương tiếc nhớ nhung
Tình nào quên lãng muôn trùng xa nhau
Tìn nào ngắn gũi đớn đau
Tình nào ấp ủ khát khao tháng ngày
Tnh nào ray rứt đọa đày
Tìn nào đấm đuối lung lay kiếp người
Tình nào ngao ngán đổ lười
Tình nào giữ mãi nụ cười yêu đương

Quel amour on a plein de regrets et de nostalgie
Quel amour on oublie la distance
Quel amour on est bref et douloureux
Quel amour on chérit le désir de tous les jours
Quel amour on est tourmenté et douloureux
Quel amour on se noie ébranlé dans la vie humaine
Quel amour on est ennuyé et paresseux
Quel amour on garde le sourire de l’amour pour toujours

Which love is regretful and longing
Which love forgets the distance
Which love is short and painful
Which love cherishes the desire of the days
Which love is tormented and sorrowful
Which love drowns and shakes human life
Which love is bored and lazy
Which love keeps the smile of love forever

[RETOUR]

 

 

Ru tình (Bercer mon amour)

Bercer l’amour

Rock love

 
Ru tình nổi nhớ đêm thâu
Tình đâu có biết muôn sầu nào vơi
Ru tình chẳng nói nên lời
Tình đâu còn nữa ngàn đời ru ai
Ru tình thơ thẩn tháng ngày
Tình càng sâu đậm miệi mài vết thương
Ru tình luyến tiếc vấn vương
Tình càng quanh quẩn trăm đường khổ nhau
Ru tinh vất vả đớn dau
Tình nào không tiếc tình nào dễ quên
Ru tình bài hát không tên
Hát cho tình nhớ hát lên tình gần
Hát cho tình chớ bâng khuâng
Cho tình trở lại lân lân với đời
Ru tình yêu nhớ một thời
Ngậm ngùi thương xót một đời xa nhau.
 

Bercer l’amour durant la longue nuit
L’amour ne sait pas apaiser les chagrins
Bercer l’amour sans dire un mot
L’amour ne reste plus pour bercer qui que ce soit durant mille vies
Bercer l’amour pendant les jours errants
Plus l’amour est profond, plus les blessures sont douloureuses
Bercer l’amour avec un regret persistant
L’amour continue de tourner en rond par cent chemins de souffrance
Bercer l’amour d’épreuves et de douleur
Quel amour n’est-il pas regretté, quel amour est-il facile à oublier?
Bercer l’amour est comme une chanson sans nom
Chanter pour que l’amour s’en souvienne, chanter pour que l’amour se rapproche de nous
Chanter pour que l’amour ne s’émeuve pas
Pour que l’amour revienne doucement avec la vie
Bercer l’amour pour se souvenir d’une époque 
Pour plaindre une vie séparée avec tant de regrets.

Rock love during the long night
Love does not know how to ease sorrows
Rock love without saying a word
Love no longer stays to rock anyone through a thousand lives
Rock love during the wandering days
The deeper the love, the sharper the wounds
Rock love with a persistent regret
Love keeps going in circles, a hundred paths of suffering
Rock love with trials and pain
What love is not regretted, what love is easy to forget?
Rocking love is like a song without a name
Sing so that love remembers, sing so that love comes closer to us
Sing so that love does not stir
So that love returns gently with life
Rock love to remember a period
and to pity a life separated with regrets.

[RETURN]

Lang thang giữa rừng thơ (Errer dans la forêt de la poésie)

 

Rượu nồng ấm áp không lời
Còn tình xa mãi muôn đời tình ơi
Như thuyền lạc bến ra khơi
Để người ở lại  muôn đời nhớ nhung.

Le vin me réchauffe et me  laisse  dans un état sans voix.
L’amour est encore loin pour toujours, mon amour
Comme le bateau est chaviré en mer sans retrouver le débarcadère
Cela me  laisse ainsi  dans un souvenir inoubliable.

The wine warms me and leaves me speechless.
Love is far forever, my love
Like a boat capsized at sea without finding the dock
It leaves me thus in an unforgettable memory.

 

 

[RETURN]

La contrepèterie (Nói lái)

Nói lái

Version française

Version anglaise

Không biết nói lái  nó có từ bao giờ ở  Việt Nam nhưng ở thời Pháp thuộc được  nhà nghiên cứu của trường học Pháp ở Viễn Đông  M.A. Chéon nhận định rằng  nói lái là một ngôn ngữ được sáng tạo « một cách máy móc (thuộc lòng) » và giã tạo từ việc hỗn hợp hoặc đảo ngược các yếu tố của hai hoặc ba đơn âm liên tiếp trong một câu. Nó được xem như một lối chơi chữ thực sự và có đặc điểm là trong cuộc  đàm thoại. Khi một người nói ra một đường thì  người  nghe phải hiểu một nẻo, một cách khác theo một qui ước ngầm chỉ có một giới nào trong nghề nghiệp hay bạn bè mới thấu hiểu mà thôi. Nay nó trở thành thông dụng của dân gian, mang tính đùa giỡn và bông lơn trong nhóm bàn bè thân thiết chẳng hạn như khoái ăn sang (sáng ăn khoai), chà đồ nhom (chôm đồ nhà), hạ cờ  tây (hạ cầy tơ) vân vân…

Từ những từ thanh nhã nó có thể trở thành những từ thô tục mang tính cách vô tư hay cố ý để trêu nghẹo hay chọc quê người khác  nhất là về tên tuổi mà cha mẹ đặt ra cho con rất đẹp  như Cảnh hu, Thu đạm, Thái đức  vân vân.Trong câu, đôi khi nó không  có nghĩa chi cả mà một khi đảo ngược lại thì nó có nghĩa  như  mán cài  trở thành  cái màn hay là ngược lại như đơi chi lại thành đi chơi.

Theo nhà nghiên cứu Pháp M.A. Chéon,  người Việt hay có thói quen tách ra một cách dễ dàng các yếu tố (phụ âm và nguyên âm) của các từ. Chính nhờ  dựa trên sự tách rời nầy cả qui tắc của nói lái  được thiết lập. Cái từ đầu tiên nó cho từ  sau mượn phần kết  và đổi lại nó lấy lại phần kết của từ sau.

Như vậy  đi chơi được chia thành đ+i và ch+ơi và trở thành đơi chi bằng cách đảo ngược. Đây là qui luật rất đơn giản nhưng nó  cũng có  qui luật rất phức tạp mà ta hay thường thấy trong cách nói lái với ba nguyên tắc dưới đây:

Cách thức thứ nhất:

1°) Hoán đổi (đảo ngược) khuôn âm, trước ra sau, sau ra trước.
2°) Giữ nguyên hai thanh (dấu) của hai âm gốc.

Thí dụ: cờ tây  thành cầy tơ. Cách thức  nầy nghe êm tai và thông dụng nhất. Cờ và cầy vẫn giữ hai dấu huyền (bằng)  của hai âm gốc  cũng như tây và tơ (không dấu).

Cách thứ nhì:

1°) Hoán đổi trọn âm tiết (syllabes).
2°) Giữ nguyên hai thanh (dấu) của hai âm gốc.

Thí dụ: đấu  tranh thành tránh đâu. Cách thức nầy không nghe êm tai và ít được sử dụng.

Cách thứ ba:

1°) Hoán đổi khuôn âm.
2°) Hoán đổi cả hai thanh (dấu)  của hai âm tiết.

Thí dụ: khó đi thành khi đó. Cách thức nầy gượng ép không xuôi tai và cũng ít được sử dụng.

Theo nhà văn Phụng Nghi, trong một từ có 3 hoặc 4 âm tiết, muốn nói lái ta giữ nguyên những âm nối kết (kết tự) hoăc những âm có nghĩa phụ. Những âm tiết có nghĩa chánh được hoán đổi theo ba cách thức ở trên.

Thí dụ: khoái ăn sang (sáng ăn khoai)
cái trâm em cài->  (cái trài em câm)-> (cái chai em cầm)
làm sương cho sáo->  (làm sao cho sướng)
cầu gia đạo  (cạo da đầu)

Nói lái thường dùng có  hữu ý phản ảnh một thực trạng của xã hội như:

Ban lãnh đạo (Bao lãnh đạn)

Thủ tục đầu tiên tức là  thủ tục tiền đâu (tức là hối lộ).

Chiều 30 Tết thầy giáo tháo giầy đi chợ, mồng một giáo chức (giức cháo) dứt  cháo  vui Xuân. Trong câu nầy thì có sự châm chước trong lỗi chính tả như hai chữ  giức và dứt.

Với đặc điểm « biến tục thành thanh », tiếng lái là một thủ pháp đi vào các loại văn chương bác học và  các câu đối dân gian.  Nó  còn châm biến  mĩa mai  như  bài thơ  kiếp tu hành của Hồ Xuân Hương:

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo (quá nhỏ)
Thuyền từ muốn về Tây trúc
Trái gió phải nên phải lộn lèo

hay châm chước  các phát âm hỏi ngã  trong bài thơ «Hè đợi tình nhân» của Nguyễn Khoa Vy :

Nực cổi chỉ ra nỗi cực lòng
Dòng châu lai láng đĩa dầu chong
Khó đi tìm hiểu nhau khi đó
Công khó chờ ai biết có không

Ta cũng thường nghe  câu đố nói lái như sau :

-Chè gì không ngán chỉ ngán chè ghim (chìm nghe)

-Bằng ngón tay trên bàn Phật
 Tụng kinh rồi búng cánh bay xa (bánh cúng)

-Cái bông trên cành, cái trái cận mây (cây mận)

-Cục đo đỏ bỏ vô giường (Cục đường bỏ vô giỏ)

hay trong các câu đối dân gian:

Con mèo cái nằm mãi trên mái kèo
Con cá đối nằm trong cối đá
Con chim mỏ kiến đậu trên miếng cỏ

Có những  kiểu nói lái, lúc ban đầu người nghe tưởng tiếng tây, tiếng tàu gì đó  gây ra sự  khó hiểu, làm cho người nghe  ngớ ngẫn một hồi  trước khi  vỡ lẽ ra  bật  tức cười thú vị như

Quýt xơ măng bông sên (Quăng xơ mýt (mít) bên sông).

Chúng mình đập chuông nhé?->Chúng mình đuông chập nhé ? ->Chúng mình đuông chậm nhé ?-> ? Chúng mình đâm  chuột  nhé?-> Chúng mình đâm tí nhé ?-> Chúng mình đi tấm nhé?

On ne connait pas exactement la date d’apparition de la contrepèterie au Vietnam, mais durant la période coloniale française, elle a été découverte par un chercheur de l’École française d’Extrême-Orient, M.A. Chéon. Ce dernier  soutient qu’elle  est un langage de formation mécanique et artificielle  à partir du mélange ou de l’inversion d’éléments de deux ou trois monosyllabes consécutifs dans une phrase. Il est considéré comme un véritable gymnastique linguistique  et il est caractéristique dans la conversation.   Quand quelqu’un dit quelque  chose, celui qui lui écoute doit  savoir l’interpréter d’une autre manière  selon une convention tacite que seul un groupe restreint de gens  dans la profession ou  dans  le cercle d’amis peut comprendre. Aujourd’hui, il est devenu populaire parmi la population  et il est  utilisé  dans le but de plaisanter de manière ludique entre les amis proches, comme « khoái ăn sang  (éprouver le plaisir de manger dans l’abondance)» (sáng ăn khoai «manger des patates douces au petit-déjeuner »), (chà đồ nhom « frotter les objets en aluminium »)( chôm đồ  nhà « voler des choses à la maison »), (hạ cờ  tây «descendre le drapeau français ») (hạ cầy tơ « manger la viande du chien »)

Des mots d’une extrême élégance peuvent devenir des mots vulgaires dans l’insouciance ou dans l’intention de  taquiner quelqu’un  ou de se moquer des autres, en particulier des beaux noms que les parents ont donnés  à leurs enfants tels que Cảnh hu, Thu đạm, Thái Đức, etc. Parfois dans un énoncé, aucun sens n’est trouvé  mais lorsqu’on y inverse les mots, cela  lui donne  un sens  comme « man cái » devient cái màn (rideau)  ou vice versa comme đơi chi devient đi chơi (balader).

Selon le chercheur français M.A. Cheon, les Vietnamiens ont souvent l’habitude de séparer facilement les éléments (consonnes et voyelles) des mots. C’est sur cette séparation que s’établit toute la règle du jeu de mots. Le premier mot prête sa terminaison finale au mot suivant et en retour, il reprend la terminaison finale  du mot suivant.

Ainsi, đi chơi (balader)  est divisé en d+ i et devient đơi chi par inversion. C’est une règle très simple mais elle comporte aussi des règles très complexes que l’on retrouve souvent dans les jeux de mots avec les trois principes ci-dessous.

 Première méthode:

1°) Échanger (inverser) le motif sonore, d’avant en arrière et d’arrière en avant.

2°) Conserver les deux tons (accents) des deux sons d’origine.

Exemple : cờ  tây (drapeau français) devient  cầy tơ  (un jeune chien). Cette méthode s’avère harmonieuse et plus fréquemment rencontrée. Cờ et cầy conservent toujours les deux tons (bằng) des deux sons originaux comme tây et tơ.

Deuxième méthode.

1°) Échanger complètement des syllabes.

2°) Conserver les deux tons (accents) des deux sons d’origine.

Par exemple: đấu tranh (lutter) devient tránh đâu (éviter). Cette méthode ne semble pas agréable à l’écoute  et elle est rarement utilisée.

Troisième méthode.

1°) Inverser le motif sonore.

2°) Échanger les deux tons (accents) de deux syllabes.

Par exemple : khó đi (difficile d’aller) devient khi đó (à cet instant). Cette méthode n’est pas non plus agréable à l’écoute et son emploi est aussi rare.

Selon l’écrivain Phụng Nghi, dans un mot de 3 ou 4 syllabes, si on veut le dire « à l’envers », on doit  garder les sons de liaison (conjonctions) ou les sons à sens secondaire. Les syllabes ayant le sens correct sont échangées des trois manières ci-dessus.

Exemple:  khoái ăn sang (éprouver le plaisir de manger dans l’abondance)» (sáng ăn khoai «manger des patates douces au petit-déjeuner »)

 cái trâm em cài (la broche que je porte)->  (cái trài em câm)-> (cái chai em cầm « la bouteille que je tiens)

làm sương cho sáo (faire la rosée pour la flûte : aucun sens) ->(làm sao cho sướng “comment me rendre heureux »)

cầu gia đạo (prière en famille)-> (cạo da đầu « rasage du cuir chevelu »)

Ce jeu de mots est souvent utilisé dans l’intention de refléter une réalité sociale telle que

 Ban lãnh  đạo « équipe dirigeante »->Bao lãnh đạn (étui à cartouches »)

Thủ tục đầu tiên « la première procédure à prendre »->   (thủ tục tiền đâu« procédure monétaire (corruption)» ).

L’après-midi du 30 du Têt, les enseignants enlèvent leurs chaussures pour aller au marché. Le premier jour du Têt, les enseignants terminent leur potage et célèbrent le printemps. Dans cet énoncé, il y a une certaine tolérance dans les fautes d’orthographe telles que les deux mots « giức (aucun sens) » et «dứt (cesser)».

Avec la caractéristique de « transformer le « vulgaire » en « distingué », la contrepèterie  est une technique qui apparaît dans la littérature savante et les distiques populaires.  Elle est également satirique et ironique comme le poème intitulé  « La vie monastique » de Hồ Xuân Hương:

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo (quá nhỏ)
Thuyền từ muốn về Tây trúc
Trái gió phải nên phải lộn lèo.

La vie monastique  est chargée  de fardeaux.
Quel  petit goût  (trop petit)?
Le bateau veut retourner vers l’Inde
Le vent  contraire nous oblige de nous retourner.

ou ne pas tenir en rigueur la prononciation des tons montants et descendants dans le poème « L’été attend l’amant » de Nguyễn Khoa Vy:

Nực cổi chỉ ra nỗi cực lòng
Dòng châu lai láng, đĩa dầu chong
Khó đi tìm hiểu nhau khi đó
Công khó chờ ai biết có không

Le débarras de la chaleur n’est que le désespoir
Les larmes coulent abondamment sur l’assiette de l’huile de la veilleuse.
Il est difficile de se connaître à cet instant
L’effort d’attendre quelqu’un, quiconque le sait ?

On est habitué à écouter les énigmes suivants:

Je ne me dégoûte pas  des compotes sauf chè ghim (chìm nghe « bateau coulé »)

-Juste à la taille d’un doigt sur l’autel de Bouddha

Une fois terminée la prière, le gâteau  qui lui est offert  s’envole très loin (búng cánh « bánh cúng »)

-Cái bông trên cành, cái trái cận mây (cây mận).

La fleur étant sur la branche, le fruit se trouve  tout proche du nuage (cận mây) càd sur le « cây mận (prunier)»)

-Le morceau de couleur rougeâtre est sur le lit (Cục đo đỏ bỏ vô giường)  (Cục đường bỏ vô giỏ « le morceau de sucre est dans le panier »)

ou  à retrouver la contrepèterie dans  les sentences parallèles suivantes:

Con mèo cái nằm mãi trên mái kèo
Con cá đối nằm trong cối đá
Con chim mỏ kiến đậu trên miếng cỏ.

La chatte repose éternellement sur la charpente du toit.
Le mulet repose dans le mortier de pierre.
Le pivert se perche sur une parcelle d’herbe.

Il existe certains jeux de mots de la contrepèterie auxquels  l’auditeur pense avoir affaire comme des mots occidentaux ou chinois lors de son écoute, ce qui  lui provoque d’abord une confusion et le laisse  abasourdi pendant un  moment avant de s’en rendre compte et d’éclater de rire. C’est le cas de l’exemple suivant:

Quýt xơ măng bông sên (Quăng xơ mýt (mít) bên sông « jeter les filaments du jacquier au bord du fleuve »).

Chúng mình đập chuông nhé?->Chúng mình đuông chập nhé ? ->Chúng mình đuông chậm nhé ?-> ? Chúng mình đâm  chuột  nhé?-> Chúng mình đâm tí (tý) nhé ?->( Chúng mình đi tắm nhé? « Nous allons nous baigner »)

Bibliographie:

Phụng nghi:100 năm phát triển tiếng Việt.NXB Văn Nghệ 1999.
Lê Trung Hoa, Hồ Lê : Thú chơi chữ. Nhà xuất bản xã hội.
A. Chéon : Argot annamite. EFEO,  année 1905, vol 5, no 1
Hoàng văn Hành : Tự điển tự lái tiếng Việt.NXB Văn hóa Sàigòn 2006

Folk songs (Ca Dao)

 

 

 

Vietnamese version

French version

Folk songs are an oral tradition that the Vietnamese people have preserved for four thousand years of their history behind the bamboo hedges of the village. They are often used as a popular expression reflecting the daily life and thoughts of the peasants in opposition to the scholars imposing morality and enclosing the individual in morality and in the imperative network of rites and obligations with their scholarly literature written in nôm.

According to writer Thuần Phong, folk song is considered by Vietnamese intellectuals to be the most characteristic and specifically Vietnamese literary genre, because it is oral literature, anonymous and originating in the rural world. Moreover, ca dao is a song without verse divisions and without musical accompaniment.  Six-eight is the metre for folk songs. Different types of ca dao are performed from North to South:

lullaby (ru con) in the North, (hát đưa em) in the South, sampan song (đò đưa), war drum songs (trống quân) and so on. Despite this, folk song is expounded with a view to respecting the established order on the five duties and three relationships (Ngũ Thường and  Tam Cang) of Confucian and feudal society and manifesting common sense, wisdom, love of life, optimism, satire of feudal society.

As Vietnam is an agricultural country, the peasant’s daily life is always dominated by factors he cannot control in advance, such as floods, droughts, typhoons and so on. His existence is a perpetual struggle. What’s more, in the event of a foreign invasion, the peasant must take up arms and defend the land. From then on, it’s the wife who has to take over from him, replacing him in all the daily chores. These day-to-day difficulties are often cited in folk song, where the peasant not only enjoys a certain freedom, however restricted, to express his human feelings, but also has the opportunity to create a verbal world in which villains are castigated and sneered, and to depict his beloved animals with realism and precision. Such is the case with familiar animals like the egret, the buffalo and the pig.

As a hunter-gatherer animal that looks noble and innocent in the rice fields and closer to the peasants, the egret has to search hard for food day and night, but it can fly away freely at any time towards the blue sky, as so many peasants dream of always having faith in the future and optimism as opposed to the scholar.  For the peasant, freedom is priceless, despite the daily toil he is accustomed to sharing with the buffalo. As for the pig, it’s synonymous with wealth and prosperity.

The folk song quoted below evokes the fate of peasants in the face of calamity under feudal rule. Analogous to the egret, the peasant does not escape death, but she wishes to die with dignity rather than in dishonor. This is the essence of the folk song that has won the admiration of generations of Vietnamese.

Con cò mà đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nào,
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

The egret searching for food at night
From a flexible branch has fallen into the pond
Sir, please fish me out of here
If I’ve done wrong, you can cook me with bamboo shoots.
But if it’s done, it’s better to do it in clear water
Cloudy water would hurt the little egret’s heart

The image of the buffalo is closely linked to Vietnam’s rural landscape. Buffalo are often seen harrowing the soil after ploughing in rice fields.  This is why the buffalo’s arduous task is described in the following folk songs:

Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.
Cầy cấy vốn nghiệp nông gia
Ta đây trâu đấy ai mà quản công.

O my buffalo, listen to what I say
You go to the rice field and plough with me; 
Ploughing and transplanting is a ploughman’s trade
Here I am, here you are, who of us pities his pain.

Trên đồng cạn dưới đồng sâu,
Chồng bừa vợ cấy con trâu đi cày.

In the low rice field and in the deep rice field,
The husband harrows, the wife transplanting, the buffalo ploughing.

Analogous to the buffalo, the pig is also an animal often cited in Vietnamese folk songs. It is first used to describe the situation of a polygamous person in Vietnam:

Một vợ nằm giường lèo,
Hai vợ nằm chèo queo,
Ba vợ thì xuống chuồng heo mà nằm.

With one woman, you have the right to sleep in the bed in a decent way,
With two wives, you start sleeping on your own.
But with three wives, you deserve to be in the pigsty.

The criticism is scathing for people who mistreat their colleagues when they are poor and destitute, and who bow their heads and show their docility to powerful and wealthy people:

Mèo tha miếng thịt xôn xao,
Hùm tha con lợn thì nào thấy chi

We become agitated when the cat snatches a piece of meat,
We remain impassive when the tiger devours a pig.

We use physiognomy to give an indication about a person we meet:

Trông mặt mà bắt hình dong,
Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

By looking at someone’s face, you already have an idea of his personality, just as in the case of a fat pig, you know that it always has delicious guts.

It’s also through popular song that we come to know the farmer’s deep attachment to his native land. The water of his pond is the most pleasant despite the vagaries of nature and the ups and downs of the life he has had.

Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn

Let’s go back home and bathe in our pond.
Whether the water is clear or turbid, our pond is always better.