Nụ Tầm Xuân

Nụ tầm xuân (Saule Marsault pleureur)

Version française
Version anglaise

Nụ tầm xuân là tên gọi của một loài cây thuộc chi Liễu, có tên là Liễu tơ (Pussy willow) hay Liễu dê (Salix caprea). Sở dĩ có tên gọi này là vì hoa của nó mọc ra các sợi lông tơ mềm mại như lông mèo. Nụ tầm xuân thường được xem là biểu tượng của sự sinh sôi nảy nở, đâm chồi nảy lộc, thịnh vượng và may mắn. Những nhánh cây nụ tầm xuân với hoa nhỏ mọc quanh thân đại diện cho sự khởi đầu vẹn tròn, thuận lợi và tràn đầy hy vọng.

Trên thực tế, nụ tầm xuân chỉ mang sắc trắng thuần khiết, vô cùng tinh khôi. Nhưng khi chiêm ngưỡng những nhánh nụ tầm xuân được trưng bày trong các hội chợ hoa xuân ngày Tết, bạn sẽ bắt gặp những bó tầm xuân với nhiều màu sắc rực rỡ như: đỏ, vàng, cam, xanh, hồng, tím,…

Nụ tầm xuân est le nom d’une plante appartenant au genre Saule, appelée Saule marsault (Pussy willow) ou Saule des chèvres (Salix caprea). Ce nom vient du fait que ses fleurs produisent des poils doux et soyeux semblables à ceux d’un chat. Ses bourgeons sont souvent perçus comme  le symbole de croissance, d’épanouissement, de prospérité et de chance. Les branches de cette plante, avec leurs petites fleurs qui s’épanouissent autour de la tige, représentent un nouveau départ prometteur, propice  et plein d’espoir.

En réalité, ces bourgeons  sont d’un blanc immaculé, d’une pureté exceptionnelle. Mais en admirant les branches de cette plante en fleurs exposées lors de la visite marchés aux fleurs printaniers durant le nouvel an lunaire, on découvre des bouquets de fleurs aux couleurs éclatantes : rouge, jaune, orange, vert, rose, violet, et bien d’autres encore.

Nụ tầm xuân is the name of a plant belonging to the willow genus, called Pussy willow or Goat willow (Salix caprea). This name comes from the fact that its flowers produce soft and silky hairs similar to those of a cat. Its buds are often seen as the symbol of growth, blossoming, prosperity, and luck. The branches of this plant, with their small flowers blooming around the stem, represent a promising and hopeful new beginning.

In reality, these buds are immaculate white, of exceptional purity. But when admiring the flowering branches of this plant displayed at spring flower markets during  the Lunar New Year, one discovers bouquets of flowers in bright colors: red, yellow, orange, green, pink, purple, and many more.

Hồ Thị Kỷ

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Cái tên Hồ Thị Kỷ ít ai để ý nói đến nhiều như Chợ Lớn của người Hoa nhưng với việt kiều ở Cao Miên thì tên nầy rất quen thuộc vì từ sau năm 1975 thì nơi nầy cùng chợ trở nên địa điểm tựu hợp rất nhiều dân Việt ở Cao Miên hay thường đựợc gọi là khu Pétrus Ký. Nay thì nó được khách du lịch nước ngoài ưa thích vì nó không những là thiên đàng ẩm thực mà còn là vườn hoa Đà Lạt thu nhỏ  giữa lòng  thành phố Saigon. Đến đây bạn có thể lựa chọn nhiều món ăn lắm nhưng bạn có dám ăn hay không ? Từ c ác món ăn vặt đến các món ăn chính, từ các món ăn Cao Miên, Thái Lan  đến các món ăn của người Việt hay người Hoa. Có những món ăn trở thành đặc sản hiếm có  ở Saigon như các loại khô cá Biển Hồ, bún num bo chóc, bánh lọt xào, chè xôi xiêm hay chè bí. Nhiều khách đến đây lúc đầu để ăn trãi nghiệm nhưng sau đó lại thích trở lại ăn trong đó có mình nữa như món xôi xiêm nước dừa hay chè bí của em Có. Những ngày trước Tết chợ bán hoa đông người không  đếm xuể, không có lối đi vào chợ. Giá cả cũng phải chăng so với những nơi khác. Đây là một nơi bạn không thể bỏ qua khi bạn đến thành phố Saïgon.

Le nom Hồ Thị Kỷ est moins souvent mentionné que Cholon des Chinois, mais pour les Vietnamiens vivant au Cambodge, il est très familier car depuis 1975, cet endroit et le marché sont devenus un lieu de rassemblement de nombreux Vietnamiens rentrés du Cambodge, souvent appelé le quartier Pétrus Ký. Aujourd’hui, il est très apprécié par les touristes étrangers car ce n’est pas seulement un paradis culinaire, mais aussi un jardin floral de Đà Lạt en miniature au cœur de la ville de Saïgon. Ici, vous pouvez choisir de nombreux plats, mais osez-vous les manger ou non? Des snacks proposent des plats simples jusqu’aux  plats principaux, des plats cambodgiens,  thaïlandais jusqu’aux plats vietnamiens ou chinois. Certains plats sont devenus des spécialités « rares » à Saïgon, comme les différents types de poisson séché du Grand Lac Tonlé Sap, le bún num bo chóc, le bánh lọt sauté, le chè xôi xiêm ou le chè bí. Beaucoup de visiteurs viennent d’abord ici pour goûter, mais ils aiment  y revenir ensuite. C’est  aussi mon cas pour des plats comme le xôi xiêm au lait de coco ou le chè bí de Madame Có. Les jours précédant le Tết, le marché aux fleurs est bondé de gens. Il est  impossible de trouver un passage pour y entrer. Les prix sont aussi raisonnables comparés à d’autres endroits. C’est un lieu que vous ne pouvez pas manquer lors de votre passage à Saïgon.

The name Hồ Thị Kỷ is mentioned less often than Cholon by the Chinese, but for Vietnamese people living in Cambodia, this name is very familiar because since 1975, this place and the market have become a gathering spot for many Vietnamese returning from Cambodia, often called the Pétrus Ký neighborhood. Today, it is highly appreciated by foreign tourists because it is not only a culinary paradise but also a miniature Đà Lạt flower garden in the heart of Saigon city. Here, you can choose many dishes, but do you dare to eat them? Snacks offer simple dishes up to main courses, Cambodian, Thai dishes up to Vietnamese or Chinese dishes. Some dishes have become rare specialties in Saigon, such as the various types of dried fish from the Great Tonlé Sap lake, bún num bo chóc, sautéed bánh lọt, chè xôi xiêm, or chè bí. Many visitors come here first to taste, but then they like to return, including me, for dishes like xôi xiêm with coconut milk or chè bí of Mrs Có. In the days leading up to Tết, the flower market is crowded with people. It is impossible to find a passage to enter. The prices are also reasonable compared to other places. It is a place you cannot miss when you visit Saigon.

Pictures gallery

 

Des histoires en marge au cœur du complexe Nguyễn Thị Thuật.

Những chuyện bên lề ở giữa lòng chung cư 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Mỗi ngày, sáng hay chiều tối nào, tụi nầy cũng có thói quen từ khi đến Viêt Nam sau khi ăn cơm hay thường  la cà ngồi quán cà phê. Ngày xưa, người Việt  trò chuyện hay thường bắt đầu bằng cách têm trầu nay sự việc nầy không còn mà được thay thế bằng ly cà phê. Có thể nói, gặp nhau muốn nói chuyện gì cũng được, phải có ly cà phê. Giờ phút nầy cà phê nó không thể thiếu ở người Việt, không biết lúc nào nó lại nằm trong văn hóa  của người  Việt. Không thể thiếu nó nhất là các quán nó đua nhau mọc lên như nấm trong khu chung cư nầy. Không biết  các quán bán được bao nhiêu ly cà phê mỗi ngày mà  đi qua xem vựa, nơi mà   họ lưu trử các khối nước đá trông thấy ở chung cư, thấy mà khiếp sợ. Mới đây mùng hai Tết trên đường về bằng xe grab, cháu tài xế hỏi mình như sau: Chú có phiền không, cho cháu ghé uống một ly cà phê có được không ? Mình mới nói: uống đi cháu, chú đơị cháu. Nhưng nghĩ sao, cháu tài xế không uống, đưa thẳng mình về khách sạn. Lúc  trả tiền, mình mới nói với cháu tài xế: Chú biếu cháu 50.000 đồng tiền  lì xì (2 euros) để cháu uống cà phê đi nha. Cháu tài xế  cười toe toét. Mình muốn nói đây cái sung sướng mà mình nhận  được  trên khuôn  mặt của cháu tài xế khi nhắc đến ly cà phê.

Không nhất thiết uống nhiều ly cà phê trong ngày mới có thể ngồi ở quán, chỉ cần một ly cà phê là đủ rồi, bạn có thể ngồi nguyên ngày. Ở quán cà phê trong chung cư, dù không có thức ăn đi nữa  mình có thể kêu ở các quán bán thức ăn  gần đó mang đến cho mình ăn. Đây là một dịch vụ miễn phí chỉ có ở Việt Nam. Ngồi quán cà phê, tụi nầy có thể thư thản đọc sách,  xem điện thọai, người hay xe cộ đi qua lại  mà cũng có thể  quan sát cuộc sống hằng ngày của người dân sống ở trong chung cư.

Vừa ngồi xuống nghế chưa đầy 5 phút thì có các cháu bé  hay các bà mẹ bế con bán giấy số đến lần lượt xin tụi nầy mua giấy số. Nhưng làm sao mua nổi, người nào cũng có cả trăm tờ, mỗi tờ 10.000 đồng họ chỉ được 1000 đồng nếu họ bán được một tờ. Nếu bán không hết trong ngày, chiều lại không được trả lại. Như vậy họ làm sao có lời, chắc chắn họ phải mất tiền. Phải có  mẹo nào đó. Cách buôn bán giấy số nầy làm mình rất phân vân, có cái gì không ổn. Dĩ nhiên làm mình chạnh lòng nhưng mình chỉ cho tiền các em nhỏ bán giấy số  mà thôi chớ không mua còn anh bạn mình thi chỉ mua giấy số của các người khuyến tật, mua rồi đem tặng các bạn già ở Việt Nam. Hai đứa nầy  lúc nào cũng có ở trong đầu  nhiều câu hỏi nhưng chả bao giờ có câu trả lời chính đáng. Ở chung cư vì cuộc sống rất chật vật, không gian thì eo hẹp, gia đình đông con hay  thường thấy họ ngủ la liệt dưới đất  nên việc nấu ăn trong nhà thường ít thấy. Thông thường thấy họ la cà các  quán, ăn tại chỗ hay mua về ăn. Luôn cả cô em bà con của mình ở  chung cư  một mình hay thường mua đồ ăn ở chợ đem về nhà mà ăn.  Đôi khi cũng ngon đáo  để  như món mắm chưng hột vịt mà cô em thết đãi  tụi nầy một hôm, làm tụi nầy nhớ hoài.  Mình hay thường nghe câu nói nầy từ ông bạn mình: Thế hệ ngày nay không phải là thế hệ của má tụi mình. Phụ nữ Việt Nam không còn biết nấu ăn, chỉ biết  phê bút hay sống ảo mà thôi. Cái nhận xét nầy cũng không hoàn toàn sai. Phải cần có adrenaline  để quên đi sự phiền muộn trong cuộc sống  mong manh.

Ở giữa lòng chung cư, có nhiều nghề sống được lắm  như biết may vá, nấu ăn giỏi như cô Mai, cô Lý. Cô Mai thì nổi tiếng các món xào nhất là bà biết làm sao khi mình ăn còn mùi khói  chớ không có mùi cháy của chảo  như cơm chiên gà, mì xào giòn còn cô Lý thì món tầm bì nước dừa, bánh bèo bì, chè chuối  vân vân phải nói quá ngon làm mình vẫn còn thèm đấy. Muốn ăn các món nầy thì phải chịu khó đợi lúc nào cũng đông khách cả. Quá giờ thì không còn nữa đấy. Họ trù liệu bao nhiêu phần để bán chớ hết thì thôi ngày hôm sau trở lại chớ không như ở Paris  nhiều tiệm đỗ nước thêm để bán phở tiếp. Có một lần anh bạn mình muốn ăn thịt heo quay thôi chớ không muốn ăn bánh hỏi vì thích ăn với bánh mì  nhưng họ không bán vì họ trù liệu trước bao nhiêu bánh hỏi để bán với thịt quay rồi.

Chính ở chung cư nầy mình có duyên được gặp một hôm ở quán cà phê  môt họa sỹ nhỏ tuổi đang ngồi chăm chỉ vẽ cảnh vật ở chung cư với bút mực. Cháu nầy có bản năng vẽ không sữa không làm lem bức tranh với mực. Mình thích qu á chừng nên muốn mua bức tranh nhưng cháu rất dễ thương mới thốt lên như sau: Chú muốn, cháu tặng chú. Mình cũng không ngờ. Đây là duyên cháu có  với chú  đấy thôi. Sau đó anh bạn của mình ngỏ ý mua một tấm tranh khác để mang về Paris tặng bạn. Vui cũng có với cháu họa sỹ nầy mà buồn cũng có với em bé tạc chừng 12 tuổi  ngậm xăng phun lửa thường thấy ở chung cư. Bé nầy thường biểu diễn trước đám đông ngậm xăng phun lửa. Tình cờ mình thấy vậy mới kêu em bé lại hỏi chuyện.  Tại sao con làm vậy, con có biết xăng nó độc nay mai con sẽ bi ung thư cuống họng không? Con nhớ chú dặn con không nên làm nghề nầy nữa. Mình chỉ khuyên nó, thấy thương nó nên cho nó một trăm ngàn đồng, chả là bao nhiêu cả.  Mình cảm thấy bất lực vì mình biết mình không thể làm gì hơn.

Ở chung cư nầy biết bao nhiêu người nghèo, mình có làm được gì không?. Cháu nhờ nghề nầy mỗi ngày cháu kiếm được vài trăm ngàn để nuôi em và sống, ba má cháu ly dị?  Câu nói nầy nó vẫn còn ở trong tâm trí của mình khi mình viết về chung cư. Một con chim én đâu có đem lại mùa xuân. Nhưng không vì thế  mà mình quên đi những trẻ em nghèo nầy. Chúng nó là tương lai của đất nước nầy.

Version française

Depuis notre arrivée au Vietnam, nous avons pris l’habitude de nous attarder dans un café après les repas, matin et soir. Autrefois, les Vietnamiens entamaient les conversations en commençant par la chique du bétel. Mais ce n’est plus le cas d’aujourd’hui. Elle est remplacée par une tasse de café. On peut dire sans se tromper que, quel que soit le sujet de conversation, une tasse de café s’avère indispensable. De nos jours, le café est devenu incontournable pour les Vietnamiens. Il est difficile de dire quand il est entré dans la culture vietnamienne. Il l’est d’autant plus depuis lors  avec la poussée des cafés comme celle des champignons dans ce complexe d’appartements. Je me demande combien de tasses de café ces établissements vendent chaque jour, car le stockage des tonnes de glace dans le complexe est assez effarant. Récemment, le deuxième jour du Têt (Nouvel An lunaire), alors que je rentrais chez moi en taxi grab, le chauffeur m’a demandé : « Monsieur, cela vous dérangerait-il si je m’arrêtais pour prendre un café ? » J’ai répondu  sans hésitation: « Allez-y, je vous attends. » Mais pour une raison inconnue, le jeune chauffeur n’en a pas bu et m’a ramené directement à l’hôtel. Au moment du paiement, j’ai dit au jeune chauffeur : « Voici 50 000 dongs ( à peu près 2 euros) en cadeau de  notre Nouvel An pour vous offrir un café. » Il m’a montré un large sourire. Je voulais souligner la joie que j’avais vue sur son visage à l’évocation du café.

Il n’est pas nécessaire de boire plusieurs tasses de café par jour pour s’attabler dans un café; une seule suffit, et on peut y rester toute la journée. Au café de ce complexe d’appartements, même s’il n’y a pas de nourriture, on peut la commander auprès des vendeurs ambulants du quartier et on est servi sur place. C’est un service gratuit, typiquement vietnamien. Installés au café, nous pouvons nous détendre, lire, consulter nos téléphones, regarder le va et vient des passants et des voitures, et observer le quotidien des habitants. À peine cinq minutes après notre installation, des enfants ou des mères avec des bébés se mettaient à la queue leu leu pour nous vendre des billets de loterie. Mais comment pouvons-nous tout acheter? Chacun en avait une centaine, à 10 000 dongs le billet, et ils ne gagnaient que 1 000 dongs par billet vendu. S’ils n’arrivaient pas à tout vendre dans la journée, ils ne pouvaient pas  rendre les billets à l’endroit où ils les avaient pris. Comment pouvaient-ils faire des bénéfices ? Ils allaient forcément perdre de l’argent. Il devait y avoir une astuce.

Cette façon de vendre des billets de loterie me perturbe beaucoup ; j’ai un mauvais pressentiment. Bien sûr, cela me rend un peu triste. Je donne uniquement  de l’argent aux enfants qui vendent les billets mais  je n’en achète pas.  En revanche, mon ami n’achète des billets qu’à des personnes handicapées et les offre ensuite à ses amis âgés au Vietnam. Nous nous  posons toujours des questions, mais nous n’obtenons  jamais des réponses satisfaisantes. « Vivre dans le complexe d’appartements » est très difficile: l’espace est limité et les familles nombreuses sont obligées de  dormir souvent par terre, si bien que « cuisiner à la maison » est une rareté. On les voit généralement traîner au bistrot, y manger ou acheter des plats à emporter. Même ma cousine vivant seule dans son appartement, préfère d’acheter  souvent de quoi manger au marché.

Parfois, la bouffe achetée est incroyablement délicieuse, comme cette pâte de poisson à la vapeur avec des œufs de canard que ma cousine a achetée et  agrémentée avec des légumes, ce qui nous donne un plat insatiable. J’entends souvent mon ami dire : « La génération d’aujourd’hui n’est pas celle de nos mères. Les Vietnamiennes ne savent plus cuisiner ; elles ne connaissent que Facebook ou vivre dans le monde virtuel. » Ce constat n’est pas totalement faux. Il faut bien une dose d’adrénaline pour oublier les tracas de cette vie fragile.

Au cœur de ce complexe d’appartements, on trouve de nombreux emplois lucratifs comme la couture et la cuisine, à l’instar de ceux de Mmes Mai et Lý. Mme Mai est réputée pour ses plats sautés, notamment pour son talent à leur conserver un léger goût fumé, sans les brûler, comme le riz frit au poulet et les nouilles frites croustillantes. Les plats de Mme Ly, tels que le plat de nouilles de riz agrémentées de la couenne de porc  au lait de coco, le  gâteau de riz à la couenne, la soupe sucrée à la banane  etc. sont si délicieux que j’en ai encore l’eau à la bouche

Pour déguster ces plats, il faut s’armer de patience ; les stands de ces dames sont toujours bondés. Si on rate l’heure de fermeture, il n’y en aura plus. Ils ne proposent qu’un nombre limité de portions et, si elles sont épuisées, il faut  revenir le lendemain, contrairement à Paris où de nombreux restaurants continuent à remplir leur soupe de nouilles avec de l’eau pour maintenir leur activité. Un jour, mon ami a voulu manger uniquement le porc laqué, sans les nouilles de riz, car il préférait les déguster avec du pain. Mais on a refusé de lui en vendre, car le restaurant avait déjà prévu la quantité de nouilles à vendre avec celle du porc laqué.

 C’est dans ce complexe que j’ai la chance de rencontrer un jour, un jeune artiste dans un café. Il était en train de dessiner à l’encre  la scène du complexe avec soin. Ce jeune artiste avait un don inné pour le dessin ; l’encre ne bavait pas. J’aimais tellement son tableau que j’aurais voulu l’acheter, mais l’artiste, si gentil, m’a dit sans hésitation: « Si tu le veux, je te le donne. » J’étais surpris. C’était le destin qui avait fait que nous nous rencontrions. Ensuite mon ami a manifesté aussi  son intérêt pour l’achat d’un autre tableau pour le ramener à Paris comme cadeau offert à son ami. Je suis heureux de connaître ce jeune artiste, mais je suis aussi triste de voir souvent le petit garçon d’une douzaine d’années, qui est habitué à faire du spectacle devant la foule en crachant du feu avec de l’essence. Par hasard je l’ai interpellé un jour : « Pourquoi fais-tu ça ? Sais-tu que l’essence est toxique et que tu risques d’avoir un cancer de la gorge ? Je te conseille  d’arrêter ce métier. Pris de pitié,  je lui ai donné 100 000 đồng, une somme vraiment  dérisoire. Je me sens impuissant car je sais  que je ne peux plus rien faire pour lui.

Il y a tant de gens pauvres dans ce complexe, que puis-je faire ? Grâce à ce travail, je gagne quelques centaines de milliers de dongs par jour pour subvenir aux besoins de mon petit frère ou de ma petite sœur et vivre dignement car  mes parents sont divorcés.  Sa parole me hante encore lorsque j’écris encore tout ce qui est en rapport avec ce complexe d’appartements. Une seule hirondelle n’apporte pas le printemps. Mais  malgré cela, je ne peux pas oublier ces enfants défavorisés. Ils sont l’avenir de notre pays.

Galerie des photos

Chung cư Nguyễn Thiện Thuật (Bàn Cờ, Quân 3)


Chung Cư Nguyễn Thiện Thuật (Bàn Cờ, Quận 3)

Chuyện bên lề ở giữa lòng chung cư 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Từ lâu không có dịp ăn Tết ở Việt Nam nên lần nầy mình cùng anh bạn của thời thơ ấu,  hai đứa rũ  nhau về trước Tết để tìm lại trong ký ức những kỷ niệm của một thời thơ ấu. Chính vì vậy tụi nầy muốn  tìm lại những gì mà tụi nầy không được thấy từ lâu, không được ăn từ bao nhiêu năm nay nên tụi nầy quyết định tìm một khách sạn không những vừa thích hợp với túi tiền mà còn phải ở gần chợ và dân cư nghèo để hiểu được nếp sống của họ trước những ngày Tết. Bởi vậy tụi nầy mới tìm ra được một khách sạn rất xinh xắn, mang đậm phong cách của người Hoa ở gần chợ  Bàn Cờ và chung cư Nguyễn Thiên Thuật. Công trình kiến trúc nầy  được xây dựng vào năm 1968 sau Tết Mậu Thân.  Lúc đầu là nơi ở các binh lính quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Nghe kể lại có một lần  nơi nầy bị pháo kích nhưng  về  sau nó trở thành một chung cư dành cho các người nghèo lao động. Có thể xem nó như là  một thành phố Saigon thu nhỏ lại, một chung cư được thiết kế theo dạng nhà ống. Mỗi căn hộ nó có chiều dài  đáng kể và chiều  ngang chừng 3 thước rưởi. Các căn hộ nầy được liên kế  sát bên nhau nhờ có một  hành lang nhỏ tuy khá hẹp nhưng được  tận dụng làm  nơi để phơi quần áo  và  nó  còn dùng để bọc xung quanh cả chung cư  khiến nó tạo ra một lối sống thân cận của cộng đồng.

Vì ở trên đường Nguyễn Thiện Thuật  nên chung cư nầy cũng mang tên đường này luôn. Các tầng trệt được tận dụng làm các gian hàng ẩm thực và các quán cà phê. Những  con đường (hay hẻm)  ở trong chung cư lúc nào cũng náo nhiệt, lúc nào cũng có người đi qua lại, tiếng kèn xe gắn máy vang lên không ngừng. Gần đây, chung cư Nguyễn Thiên Thuật đã xuống cấp nhiều nhưng vì nó vẫn  gợi lại  hình ảnh Sàigon của những năm 70 nên  nhờ đó nó trờ thành  địa điểm làm người khách nước ngọài ưa thích và đến đây để tham quan và chụp hình.

Có thể nói nó được xem như loại favela ở  các nước Nam Mỹ. Còn tụi nầy thì thích cái nét hoài cổ cũ kỷ, cái retro và nhất là với  cái nhịp sống mạnh mẽ  của người dân lao động nghèo. Nó còn được xem là thiên đàng ẩm thực vi nó rất  đa dạng về các món ăn và đồ uống. Nó còn phô trương thường ngày cuộc sống bình dị của người dân nơi nầy. Đi loanh quanh trong chung cư  du khách có cảm giác lọt vào mê cung, đi đầu nầy ra đầu kia. Tuy nó đơn sơ nghèo nàn nhưng nó có cái gì khiến làm tụi nầy  lúc  nào cũng  muốn trở lại một lần nữa. Nó còn để lại cho tuị nầy biết bao nhiêu câu hỏi  mà không có  câu trả  lời cho đến ngày trở về Paris. Sức hấp dẫn mà nó mang đến cho tụi nầy  khiến làm tụi nầy  không bao giờ thỏa mãn cả.

Version française

N’ayant pas eu l’occasion de célébrer le Têt au Vietnam depuis longtemps, cette fois-ci mon ami d’enfance  et moi, nous avons décidé de revenir avant le Têt pour revivre les souvenirs de notre enfance. Pour cette raison, nous voulions retrouver ce que nous n’avions pas vu depuis longtemps et  ce que nous n’avions pas mangé depuis de nombreuses années.  Nous avons décidé de trouver alors  un hôtel qui est non seulement à prix abordable mais aussi proche du marché et des logements des gens déshérités pour comprendre leur mode de vie avant le Têt. C’est pourquoi nous avons trouvé un hôtel très charmant de style chinois, tout proche  du marché  Bàn Cờ  (L’échiquier) et du complexe d’appartements de nom Nguyễn Thiện Thuật.

Ce projet architectural fut réalisé en 1968, après l’offensive du Têt. Il servit d’abord de logement aux soldats américains pendant la guerre du Vietnam. On a entendu dire qu’il fut bombardé une fois, puis il devint un complexe d’appartements pour les travailleurs à faibles revenus. On pourrait le considérer désormais comme un mini Saïgon, un  complexe d’appartements de forme parallélépipédique. Chaque appartement est d’une longueur assez importante et mesure environ trois mètres et demi de large. Ces appartements sont reliés côte à côte par un petit couloir étroit servant à étendre  les vêtements et à ceinturer tout le complexe,  ce qui crée ainsi un mode de vie communautaire soudé en appartement.

Du fait qu’’il se trouve dans la rue Nguyễn Thiên Thuât, ce complexe d’appartements porte aussi le nom de cette rue. Les rez-de-chaussée abritent des stands de nourriture et des cafés. Les rues (ou ruelles) à l’intérieur du complexe d’appartements sont toujours animées, avec un va-et-vient incessant et le klaxon ininterrompu des motos. Récemment, le complexe Nguyễn Thiện Thuật s’est considérablement dégradé,  mais comme il évoque encore le Saigon des années 1970, il est devenu un lieu de prédilection pour les touristes étrangers qui viennent y prendre des photos. On peut qu’il ressemble aux favelas trouvés en Amérique latine. Quant à nous, nous aimons l’ambiance nostalgique et désuète, le style rétro, et surtout le rythme de vie effréné de la classe ouvrière pauvre.

Etant connu comme un paradis culinaire, il offre une grande variété de plats et de boissons et il met en exhibition la simplicité de la vie quotidienne de ses habitants. Les visiteurs ont souvent l’impression de se perdre dans un labyrinthe. On y entre de ce côté et on en sort de l’autre côté. Malgré la simplicité dans sa pauvreté, cet endroit avait quelque chose qui nous donnait envie d’y retourner car il nous a laissé tant de questions sans réponse jusqu’à notre retour à Paris.  L’attrait qu’il exerce fait que nous ne sommes jamais satisfaits.

English version

Having not had the opportunity to celebrate Tet in Vietnam for a long time, this time my childhood friend and I decided to return before Tet to relive the memories of our childhood. For this reason, we wanted to find what we had not seen for a long time and what we had not eaten for many years. We then decided to find a hotel that was not only affordable but also close to the market and the homes of the underprivileged people to understand their way of life before Tet. That is why we found a very charming Chinese-style hotel, very close to the Bàn Cờ market (The Chessboard) and the Nguyễn Thiện Thuật apartment complex.

This architectural project was completed in 1968, after the Tet Offensive. It first served as housing for American soldiers during the Vietnam War. It was said to have been bombed once, then it became an apartment complex for low-income workers. It could now be considered a mini Saigon, a parallelepiped-shaped apartment complex. Each apartment is quite long and measures about three and a half meters wide. These apartments are connected side  by side by a narrow small corridor used for hanging clothes and encircling the entire complex, thus creating a close-knit community lifestyle within the apartments.

Because it is located on Nguyễn Thiên Thuât street, this apartment complex also bears the name of this street. The ground floors house food stalls and cafés. The streets (or alleys) inside the apartment complex are always lively, with constant comings and goings and the uninterrupted honking of motorcycles. Recently, the Nguyễn Thiện Thuật complex has considerably deteriorated, but since it still evokes Saigon of the 1970s, it has become a favorite spot for foreign tourists who come to take photos. One might say it resembles the favelas found in Latin America. As for us, we love the nostalgic and outdated atmosphere, the retro style, and especially the frantic pace of life of the poor working class.

Known as a culinary paradise, it offers a wide variety of dishes and drinks and showcases the simplicity of the daily life of its inhabitants. Visitors often feel like they are lost in a labyrinth. You enter from one side and exit from the other. Despite the simplicity in its poverty, this place had something that made us want to return because it left us with so many unanswered questions until our return to Paris. Its appeal means we are never satisfied.

Galerie des photos