English version
Version française
Galerie des photos
Trước khi trở thành ngày nay bảo tàng điêu khắc Chămpa, nơi nầy được biết đến từ thời xa xưa với tên gọi vườn điêu khắc. Chính tại đây, bắt đầu có sự thu thập và bảo quản một phần lớn, dưới sự bảo trợ của kiến trúc sư khảo cổ học Henri Parmentier và các thành viên của Trường Viễn Đông Pháp (EFEO) vào cuối thế kỷ 19, tất cả các bảo vật qua những các cuộc khai quật khảo cổ học ở miền Trung (từ dãy núi Hoành Sơn, Quãng Bình ở phía bắc đến Bình Thuân (Phan Thiết) ở phía nam), nơi có một vương quốc cổ Đông Dương được biết đến vào đầu thế kỷ thứ 2 với tên gọi Lâm Ấp rồi đến tên Hoàn Vương và cuối cùng là tên Chiêm Thành cho đến khi bị Việt Nam sáp nhập vào năm 1471. Mở cửa cho công chúng vào năm 1919, bảo tàng viện này ban đầu lấy tên của người sáng lập là « Musée Henri Parmentier » và có đến 190 bảo phẩm trong đó có cả bệ nổi tiếng của địa danh Phật giáo Đồng Dương.
Sau đó, bảo tàng đã không ngừng phát triển kể từ năm 1975 để đạt đến diện tích ngày nay là 2.000 m² trên tổng số hơn 6.600 m² và đã có được vào năm 1978 một kiệt tác nghệ thuật bằng đồng vĩ đại, bức tượng Laksmindra-Lokesvara (Quan Âm chuẩn đề) thường được gọi là Phật mẫu Tara. Qua nhiều thập kỷ, nơi nầy đã trở thành bảo tàng duy nhất ở trên thế giới về lĩnh vực nghệ thuật Chămpa và cho phép khách du lịch cũng biết được niên đại của lịch sử của vương quốc Chămpa vì tất cả các phong cách điêu khắc đều có hiện diện qua các bảo vật đến từ các đia danh Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu và Pô Nagar (Nha Trang). Đối với nhà nghiên cứu người Pháp Jean Boisselier, điêu khắc Chămpa luôn gắn liền với lịch sử. Dù có sự tiến triển ở trong phong cách điêu khắc qua dòng lịch sữ, Chămpa vẫn tiếp tục giữ các tạo vật thần linh và các sinh vật trong một chủ đề không thay đổi. Đây là một bảo tàng không thể bỏ qua nếu du khách có dịp ghé thăm Đà Nẵng.
- Style de Mỹ Sơn E1 (Phong cách E1)
- Style de Mỹ Sơn E1 (Phong cách E1)
- Style de Chính Lộ (Phong cách Chính Lộ )
- Style de Đồng Dương ( Phong cách Đồng Dương)
- Style de Tháp Mắm (Phong cách Tháp Mắm)
Before becoming today the Champa Sculpture Museum, it was known in a distant time as the Sculpture Garden. It was here that, largely under the guidance of the archaeologist and architect Henri Parmentier and members of the French School of the Far East (EFEO) at the end of the 19th century, all the artifacts found during archaeological excavations in the central regions (from the Annamite Cordillera Hoành Sơn, Quảng Bình in the north to Bình Thuận (Phan Thiết) in the south) were gathered and preserved. This area was once home to an ancient Indochinese kingdom known at the beginning of the 2nd century as Linyi, then Huanwang, and finally Champa until its annexation by Vietnam in 1471. Opened to the public in 1919, this museum initially took the name of its founder, « Musée Henri Parmentier, » and housed 190 artifacts, among which was the famous pedestal from the Đồng Dương Buddhist site. Since 1975, the museum has continuously expanded to reach today an area of 2,000 m² out of a total of more than 6,600 m² and acquired in 1978 the great masterpiece of bronze art, the statue of Laksmindra-Lokesvara (Quan Âm chuẩn đề), often known as Tara.

Style de Tháp Mắm
Over the decades, it has become the only museum in the world dedicated to Champa art. It also allows tourists to understand the chronology of Champa history, as all styles are present through artifacts from the famous sites of Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu, and Pô Nagar (Nha Trang). According to the French researcher Jean Boisselier, Cham sculpture is always closely linked to history. Despite the evolution of styles throughout its history, Cham sculpture continues to maintain the same divine and animal creatures within a consistent theme. It is a museum not to be missed if you have the opportunity to visit Đà Nẵng.
- My Son E1 Style (E1 Style):liveliness in ornamentation, finesse in details.
- Khương Mỹ Style: softness in faces, harmony and symmetry.
- Chính Lộ Style (Chính Lộ Style):the beauty of adornments, the half-smile, the enhancement of feminine beauty (developed breasts, swaying hips, etc.)
- Đồng Dương Style (Đồng Dương Style):the typical facial appearance (prominent eyebrows, thick lips with the corners.
- Tháp Mắm Style (Tháp Mắm Style): an art pushed to its limits with unreality and extravagance.
Avant de devenir aujourd’hui le musée de la sculpture du Champa, il était connu à une époque lointaine sous le nom du jardin de la sculpture. C’était ici qu’on commença à rassembler et à conserver en grande partie, sous l’égide de l’archéologue architecte Henri Parmentier et des membres de l’Ecole Française de l’Extrême Orient (EFEO) à la fin du 19ème siècle toutes les artefacts trouvés d’un lors des fouilles archéologiques dans les régions du centre (de la cordillère anamitique Hoành Sơn, Quãng Bình au nord jusqu’à Bình Thuận (Phan Thiết) au sud) où exista un ancien royaume d’Indochine connu au début du IIème siècle sous le nom de Linyi puis Huanwang et enfin Champa jusqu’à son annexion par le Vietnam en 1471. Ouvert au public en 1919, ce musée prit dans un premier temps le nom de son fondateur « Musée Henri Parmentier » et abrita 190 artefacts parmi lesquels figurait le piédestal célèbre du site bouddhique Đồng Dương. Puis le musée ne cessa pas de s’agrandir depuis 1975 pour atteindre aujourd’hui une surface de 2.000 m² sur un total de plus de 6.600 m² et d’acquérir en l’an 1978 le grand chef d’œuvre de l’art du bronze, la statue de Laksmindra-Lokesvara (Quan Âm chuẩn đề) connue souvent sous le nom de Tara.
Il devient au fil des décennies le musée unique au monde dans le domaine de l’art du Champa. Il permet au touriste de connaître également la chronologie de l’histoire du Champa car tous les styles sont présents à travers des artefacts venant des sites célèbres Mỹ Sơn, Đồng Dương, Trà Kiệu et Pô Nagar (Nha Trang). Pour le chercheur français Jean Boisselier, la sculpture chame est toujours en liaison étroite avec l’histoire. Malgré l’évolution des styles au fil de son histoire, la sculpture chame continue à garder les mêmes créatures divines et animales dans une thématique constante. C’est un musée à ne pas manquer si on a l’occasion de visiter Đà Nẵng.
- Style de Mỹ Sơn E1: vivacité dans l’ornementation, finesse dans les détails…

- Style de Khương Mỹ: la douceur dans les visages, l’harmonie et la symétrie…
- Style de Trà kiệu: la beauté des parures, le demi-sourire, la mise en valeur de la beauté féminine ( seins développés, déhanchement etc.)
- Style de Đồng Dương: l’apparence faciale typique ( sourcils proéminents, lèvres épaisses avec les commissures.
- Style de Tháp Mắm: un art poussé à ses limites avec irréalisme et extravagance.


