Nguyễn An, un Vietnamien hors de pair (Cité interdite de Pékin)

Nguyễn An, một người Việt kiệt xuất.

 

Version française

Version anglaise

Nguyễn An sinh ra và lớn lên ở Hà Đông (nay thuộc về thành phố Hà Nội)  trong một bối cảnh lịch sử với nhà Trần suy yếu. Thừa dịp đó Hồ Qúi Ly cướp ngôi, đổi tên đất nước thành Đại Ngu và  dự  định dời đô về Thanh Hoá  sau khi xây dựng Tây Đô nhưng lòng dân không theo. Nhà Minh lấy cớ đó xâm chiếm nước ta  với  tướng Trương Phụ.  Không chỉ bắt cha con Hồ Qúy Ly mà luôn cả những thợ thủ công tài hoa nhất trong đó  có  Nguyễn An và  cả hàng ngàn người Việt ưu tú đem về phương Bắc.

Nguyễn An từ nhỏ đã bộc lộ những phẩm chất xuất chúng. Lúc 16 tuổi ông đã tham gia vào nhóm thợ giỏi nhất để xây dựng, sửa sang cung điện của vua Trần Thuận Tông ở Thăng Long. Ông bị bắt làm tù binh  đưa về Trung Quốc để  xây dựng kinh đô mới của triều Minh ở  Bắc Kinh dưới thời Minh Thành Tổ (Chu Đệ). Lúc đó  ông mới ngoài 20 tuổi. Không thân nhân và t ù nhân, ông phải chịu bị hoạn để làm thái giám trong cung dưới thời nhà Minh. Nhờ đó ông phục vụ qua 5 đời vua (từ Minh Thành Tổ đến Minh Tông/Cảnh Tông) và có tên là A Lưu trong Minh Sử.

Nhờ nổi tiếng có tài tính toán chính xác, liêm khiết và thông minh nên đã được nhà vua tin tưởng giao trọng trách tham gia giám sát việc xây dựng Tử Cấm Thành  Bắc Kinh. Ông giỏi tính toán kích thước  nên rất  chuẩn xác không cần đo đạc phức tạp.

Nhờ tài năng xuất chúng, ông mới nghĩ  thiết kế theo quan niệm vũ trụ trời tròn đất vuông. Như sao Bắc Đẩu ở  trên thiên giới, Tử  Cấm Thành là nơi vua ngự  trị  ở hạ giới. Để thiết kế 4 tháp tại bốn góc thành, Nguyễn An vô tình quan sát lồng con dế yêu của mình để lấy cảm hứng từ đó  tạo nên bố cục kiến trúc độc đáo và thiết kế một cách ngẫu nhiên, được Vĩnh Lạc khen ngợi. Đấy là giai thoại truyền miệng được nhắc đến trong bộ phim Đức « Chinas Verbotene Stadt »   được phát hành vào cuối năm 2007 trên  các kênh Arte và ZDF.

Nhờ tính liêm khiết của ông nên ông được vua Minh Thành Tổ tin cậy nên ông được tham giao vào nhóm kiến trúc sư và thiết kế Thái Tín (Cai Xin), Trần Khuê (Chen Gui), Ngô Trung (Wu Zhong) và Khoái Tường (Kuai Xiang) với chức vụ Tổng Đốc Công. Chức nầy được xem là là chức vụ đứng đầu việc quy hoạch, thiết kế và chỉ đạo thi công các đại công trình ở thời phong kiến.

Có thể nói ông chỉ là thợ thủ công lúc đầu, được Minh Thành Tổ  tin cậy mới giao chức vụ  trọng trách như vậy  chớ làm gì có thể  hơn được các quan như Trần Khuê, Ngô Trung trong thời kỳ Trung Hoa còn chế độ phong kiến nhất là ông họan quan thuộc về thành phần hạ cấp bị khinh bĩ trong xã hội. Trần Khuê giữ tước vị Túc Ninh hầu là người tổng chỉ huy, điều hành toàn bộ nhân lực, vận chuyển vật liệu và ngân sách.

Còn Ngô Trung, ông là thượng thư Bộ Công (chức vụ này mới thực sự tương đương Bộ trưởng Bộ Xây dựng / Bộ Giao thông ngày nay).  Còn Thái Tín thời đó ông là kiến trúc sư trưởng với Khoái Tường, kiến trúc sư về mỹ thuật. 

Minh Thành Tổ Chu Đệ không tin tưởng vào các quan vì mang tiếng tham ô quá nhiều nên chỉ tin vào các thái giám vì họ chỉ lệ thuộc trực tiếp với ông. Có thể nói Nguyễn An là « tai mắt » của Chu Đệ, là cận thần thân tín của Chu Đệ với nhiệm vụ Tổng Đốc Công. Chức nầy được xem là chức vụ đứng đầu việc quy hoạch, thiết kế và chĩ đạo thi công các đại công trình ở thời phong kiến.

Dưới triều đại nhà Minh  việc bổ nhiệm một quan chức hoặc viên chức vào vị trí then chốt đòi hỏi phải có văn bản chính thức do chính đích thân hoàng đế ban hành. Chỉ về sau  mới có văn bản chính thức dưới thời vua Minh Anh Tông  phong ông làm Tổng công trình sư tối cao từ năm 1436.

Vua Minh Anh Tông muốn xây dựng hệ thống tháp sừng sững tại 9 cửa thành bao quanh Bắc Kinh.Thị lang Bộ Công là Thái Tín tâu rằng: Công trình này quá lớn, phải cần tới 18 vạn dân phu và phải mất ít nhất 5 năm mới làm xong. Nhà vua không tin tưởng Bộ Công nên đã gạt Thái Tín sang một bên, giao toàn quyền Tổng đốc công cho Nguyễn An. Ông nhận lệnh và chứng minh thiên tài quản lý của mình: Thay vì dùng 18 vạn dân phu gây kiệt quệ sức dân, ông chỉ dùng hơn 1 vạn binh sĩ.

Ông tự tay vạch kiểu, tính toán chi tiết nhân lực và vật liệu. Bộ Công luôn cả Khoái Tường và các thợ thuyền đành chịu khoanh tay, bái phục, nghe ông chỉ bảo, sai khiến, thật là người đại tài và xuất chúng.  Công việc của ông làm chính là kết hợp nhiệm vụ của một kiến trúc sư công trình, một nhà quy hoạch, một kỹ sư xây dựng lẫn một nhà quản lý dự án, như ở thời đại ngày nay. Năm Chính Thống thứ hai (1437), ông xây dựng thành nội tức Hoàng thành, thành ngoại với 9 cửa. Tất cả được thực hiện trong vòng 3 năm mà chỉ dùng hết 1 vạn nhân công.

Sau đó,  vào tháng 3 năm 1440, ông lại được nhà vua giao cho 7 vạn thợ xây dựng và trùng tu ba điện Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân cùng hai cung Càn Thanh, Khôn Ninh (các tòa cung điện này đã bị sét đánh từ năm 1421 đời Minh Thành Tổ. Chỉ có năm rưỡi thì xong khiến vua  Minh Anh Tông hài lòng, thưởng cho A Lưu 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấn thóc và 1 vạn quan tiền.

Nhờ tài năng quản lý xuất chúng cùng đức liêm chính, ông được các hoàng đế nhà Minh tin tưởng giao phó thực hiện vô số công trình quy mô lớn khác tại Bắc Kinh cũng như trên khắp lãnh thổ đế quốc. Hoàng đế biết rằng nếu giao toàn bộ ngân sách cho ông ấy, số tiền đó sẽ được dùng cho vật liệu thay vì nó  chạy vào túi các quan lại. Ông được đánh giá trong Minh sử  là một trong số ít quan chức triều đình hoàn toàn liêm khiết. Điều đáng nói hơn là  khi ông qua đời, các sử gia kể lại  ngân quỹ của ông gần như trống rỗng. Điều này chứng tỏ ông chưa bao giờ biển thủ dù chỉ một xu từ những khoản ngân sách khổng lồ mà ông từng quản lý trong suốt cuộc đời.

Ngoài việc xây cất Tử Cấm Thành, ông còn  đảm nhiệm  chẵng hạn công việc tái thiết các bức tường thành Bắc Kinh. Ông đã giám sát quá trình hiện đại hóa bức tường thành bao quanh thành phố, thay thế các công trình bằng đất nén bằng gạch và đá dày. Trong lĩnh vực kỹ thuật thủy lợi (quản lý nguồn nước) thì ông đã trở thành một vị anh hùng dân tộc tại Trung Quốc nào với việc kiểm soát lũ lụt sông Hoàng Hà   qua các hệ thống đê điều, kênh dẫn  dòng và cửa cống vô cùng tinh vi (ba dự án thủy lợi lớn được hoàn thành với tỷ lệ thành công tuyệt đối) nào với việc nạo vét kênh Đại Vận Hà  nhằm tạo thuận lợi cho việc vận chuyển lương thực và hàng hóa đến Bắc Kinh. Một tuyến đường được xem là huyết mạch đối với nền kinh tế thời nhà Minh.

Nguyễn An (Ruan An) không chỉ được nhắc đến trong bộ *Minh sử* mà còn được  người dân Trung Quốc đương thời biết đến nhưng nó lại mang tính phân hóa rõ rệt.

Đối với công chúng nói chung, ông chỉ là một nhân vật ít được biết đến so với thái giám Trịnh Hoà cùng thời  được nhắc nhở nhiều  trong sách giáo tiếng Trung. Ngược lại  ông trở thành một tên tuổi quan trọng đối với những người đam mê lịch sử và kiến ​​trúc.

Cité interdite de Pékin

Version française

Nguyễn An est  né et a grandi à Hà Đông à une époque où la dynastie Trần était sur le déclin. Saisissant cette opportunité, Hồ Quý Ly usurpa le trône, rebaptisa le pays Đại Ngu et projeta de transférer la capitale à Thanh Hóa après avoir fait construire Tây Đô. Toutefois, il ne parvint pas à s’attirer le soutien de la population. Prenant prétexte de cette situation, la dynastie Ming envahit le pays sous le commandement du général Zhang Fu. Les envahisseurs capturèrent non seulement Hồ Quý Ly et son fils, mais aussi tous les artisans les plus talentueux dont Nguyễn An ainsi que des milliers d’autres Vietnamiens remarquables et  les emmenèrent tous vers le Nord de la Chine.

Nguyễn An fit preuve de qualités exceptionnelles dès son plus jeune âge. À seize ans, il avait déjà rejoint un groupe d’artisans d’élite chargé de la construction et de la rénovation des palais du roi Trần Thuận Tông à Thăng Long. Par la suite, il fut fait prisonnier et emmené en Chine pour participer à l’édification de la nouvelle capitale de la dynastie Ming, Pékin, sous le règne de l’empereur Yongle (Vĩnh Lạc). Il était alors âgé d’une vingtaine d’années. Seul et captif, il fut castré et servit en tant qu’eunuque de palais sous la dynastie Ming. Il servit cinq empereurs successifs — de Yongle à Jingtai et dans l’*Histoire des Ming* (Ming Shilu) il fut connu  sous le nom d’A Luu.

Réputé pour sa précision dans les calculs, son intégrité et son intelligence, il se vit confier par l’Empereur la mission importante de superviser la construction de la Cité interdite à Pékin. Il maîtrisait si bien le calcul des dimensions que ses mesures étaient d’une grande exactitude, rendant  ainsi superflues les opérations complexes de prise de mesures sur le chantier.

Grâce à son talent exceptionnel, il a conçu un plan fondé sur le concept cosmologique ancestral d’un ciel rond et d’une terre carrée. Étant considérée comme l’étoile polaire régnant sur la voûte céleste, la Cité interdite sert de siège à l’empereur sur terre. L’inspiration pour les quatre tours d’angle lui était venue de manière inattendue de la cage de son grillon apprivoisé. Cette conception architecturale unique et improvisée lui a valu les éloges de l’empereur Yongle. Cette anecdote a été relatée dans le documentaire allemand *Chinas Verbotene Stadt* (La Cité interdite de Chine), diffusé sur les chaînes Arte et ZDF fin 2007.

Grâce à son intégrité, l’empereur Yongle (Ming Chengzu) lui a accordé sa confiance et  l’a intégré ainsi à une équipe d’architectes et de concepteurs aux côtés de Thái Tin (Cai Xin) , Trần Khuê (Chen Gui), Ngô Trung (Wu Zhong) et Khoái Tường (Kuai Xiang).

Il n’aurait certainement pas pu se voir attribuer un rang supérieur à celui de fonctionnaires tels que Trần Khuê (Chen Gui) et Ngô Trung (Wu Zhong)  dans le cadre du système féodal chinois où il appartenait à une catégorie méprisée et de bas rang de la sociéte. Ayant eu le titre de marquis de Taining (Túc Ninh), Chen Gui (Trần Khuê) occupait la fonction de commandant en chef et supervisait l’ensemble de la main-d’œuvre, ainsi que le transport des matériaux et la gestion du budget.

Quant à  Wu Zhong (Ngô Trung), il a occupé le poste de ministre des Travaux publics, une fonction véritablement équivalente à celle d’un ministre de la Construction ou des Transports d’aujourd’hui. De son côté, Cai Xin (Thái Tín) était l’architecte en chef de l’époque avec Kuai  Xiang (Khoái Tường), architecte en art.

L’empereur Yongle (Zhu Di) se méfiait des fonctionnaires en raison de leur réputation généralisée de corruption. Il préférait s’en remettre aux eunuques, qui lui étaient directement redevables. On peut dire que Nguyễn An a servi de « yeux et d’oreilles » à Zhu Di et a agi  en tant que homme de confiance. L’empereur lui accorda au début le rôle de surintendant général des travaux.  Ce poste était considéré comme la plus haute fonction chargée de la planification, de la conception et de la supervision de la construction de grands projets à l’époque féodale.

Sous la dynastie Ming, la nomination d’un fonctionnaire à un poste clé nécessitait un document officiel émanant personnellement de l’empereur. Ce n’était qu’en 1436, sous le règne de l’empereur Ming Zhengtong, qu’un décret officiel fut promulgué pour le nommer architecte en chef suprême.

L’empereur Ming Zhengtong souhaitait faire ériger des tours de guet imposantes aux neuf portes entourant Pékin. Cai Xin, vice-ministre des Travaux publics, soumit un rapport indiquant que le projet était d’une envergure excessive, nécessitant une main-d’œuvre de 180 000 ouvriers et au moins cinq années de travaux. Méfiant à l’égard du ministère des Travaux publics, l’empereur écarta Cai Xin et confia la pleine responsabilité du projet à Nguyễn An. Une fois investi de cette mission, Nguyễn An fit preuve d’un génie organisationnel remarquable: au lieu de mobiliser 180 000 ouvriers,  une mesure aurait épuisé la population. Il mena à bien le projet en s’appuyant sur un effectif d’à peine plus de 10 000 soldats.

Il a personnellement élaboré les plans et calculé avec précision les besoins en main-d’œuvre et en matériaux. Saisis d’admiration, les responsables du ministère des Travaux publics  y compris Kuai Xing ainsi que les artisans s’en remettaient à ses directives. C’était véritablement un homme d’un talent et d’une intelligence exceptionnels. Son travail conjuguait les rôles d’architecte en structure, d’urbaniste, d’ingénieur en génie civil et de chef de projet, à l’instar des professionnels polyvalents de notre époque. La deuxième année de l’ère Zhengtong (1437), il fit construire la ville intérieure (la Cité impériale) ainsi que la ville extérieure, dotée de neuf portes. L’ensemble du projet fut achevé en trois ans seulement avec une main-d’œuvre de dix mille ouvriers.

Par la suite, en mars 1440, l’empereur le chargea de diriger une main-d’œuvre de 70 000 ouvriers pour la construction et la restauration de trois salles: Palais de l’Harmonie Suprême (Phụng Thiên) (奉天), Palais de l’Harmonie Centrale (Hoa Cái) (華蓋) et Palais de l’Harmonie Préservée (Cẩn Thân)  (謹身) ainsi que de deux palais, Càn Thanh (乾清宮) (Palais de la Pureté Céleste ) et Khôn Ninh (坤寧宮) (Palais de la Tranquillité Terrestre) (des édifices frappés par la foudre sous le règne de l’empereur Yongle de la dynastie Ming). Le projet fut achevé en seulement un an et demi à la grande satisfaction de l’empereur Ming Zhengtong, qui récompensa A Luu en lui offrant 50 taels d’or, 100 taels d’argent, 8 tonnes de céréales et 10 000 chapelets de sapèques.

Grâce à ses compétences exceptionnelles en gestion et à son intégrité, les empereurs de la dynastie Ming lui confièrent de nombreux projets d’envergure, tant à Pékin que dans le reste de l’empire. Ils savaient que si l’on lui confiait la totalité du budget, les fonds seraient consacrés aux matériaux plutôt qu’à garnir les poches de fonctionnaires corrompus. L’*Histoire des Ming (Ming Shilu)* le salue comme l’un des rares dignitaires de la cour à avoir fait preuve d’une incorruptibilité totale. Les historiens notent d’ailleurs qu’à sa mort, ses coffres personnels étaient pratiquement vides, prouvant qu’il n’avait jamais détourné le moindre sou des budgets considérables qu’il avait gérés tout au long de sa vie.

Outre la construction de la Cité interdite, il entreprit des travaux tels que la reconstruction des remparts de Pékin. Il supervisa la modernisation des fortifications de la ville en remplaçant les structures en terre damée par une maçonnerie épaisse de briques et de pierres. Dans le domaine du génie hydraulique, il devint un héros national en Chine pour avoir maîtrisé les crues du fleuve Jaune grâce à des systèmes sophistiqués de digues, de canaux de dérivation et d’écluses avec trois projets majeurs de gestion des eaux  et pour avoir fait curer le Grand Canal afin de faciliter le transport de céréales et de marchandises vers Pékin, une voie considérée comme le poumon économique de la dynastie Ming.

Nguyễn An (Ruan An) est  mentionné non seulement dans l’*Histoire des Ming (Ming Shilu) *, mais il est  également connu auprès  des Chinois d’aujourd’hui, bien que les perceptions à ce sujet varient considérablement.

Pour le grand public, il demeure une figure relativement méconnue comparée à son contemporain, l’amiral eunuque Zheng He (Trịnh Hoà),  cité fréquemment dans les manuels scolaires chinois. En revanche, il est une figure marquante pour les passionnés d’histoire et d’architecture.