Hoàng thành Thăng Long (Cité impériale Thăng Long)

 

thang_long

 

Version française

Do những sự kiện lịch sử, hoàng thành Thăng Long dường như bị phai mờ theo thời gian trong ký ức tập thể của người dân Việt với những di tích chôn vùi giữa lòng vùng đất Hànội xưa. Các nhà khảo cổ Việtnam có rất nhiều trở ngại để tìm kiếm vị trí của hoàng thành mặt dù có một loạt các cuộc khai quật khảo cổ bắt đầu ở Quần Ngựa và khu vực lăng mộ của Hồ Chí Minh vân vân… kể từ năm 1970. Chỉ đến năm 1988 họ mới tìm ra được ở khu vực địa lý gần Hậu Lâu liên kề với đường Hoàng Diệu và Bắc Môn (cổng phía bắc thời Nguyễn), các cột trụ và cột đá với các họa tiết hoa sen cùng các cổ vật khác được sản xuất từ thời Hậu Lê. Năm 2000, họ được phép khai quật ở bên trong của Đoan Môn (cánh cửa duy nhất của hoàng thành). Nhờ thế mà tìm ra được con đường hoàng gia (ngự đạo) của thời nhà Trần. Với các cuộc khai quật khảo cổ khác được bắt đầu từ tháng 12 năm 2002 đến 2004 ở phía bên đường số 18 Hoàng Diệu, các di tích khác có từ thời kỳ trước Thăng Long được tìm thấy. (trước thế kỷ 11). Nhờ cuốc của các nhà khảo cổ Vietnam mà hoàng thành Thăng Long bắt đầu tiết lộ những bí mật của nó. Vai trò chính trị, hành chánh và văn hóa của nó cũng không còn là một nghi vấn nào nửa ở trong thời kỳ gồm có gần 13 thế kỷ (dưới đời nhà Lý, nhà Trần và nhà Tiền Lê). Các tàn tích kiến trúc như nền móng, nền tảng của các cột trụ, các khúc đường hoàng gia bằng gạch, các hệ thống dẫn thoát nước, các giếng nước vân vân …được trưng bày trong hoàng thành Thăng Long, minh chứng không thể chối cãi được sự phức tạp kiến trúc của các cung điện ở thời đó. Sư tồn tại của các cung điện nầy được chứng thực nhờ sự khám phá và hiện diện của một số loại gốm chất lượng cao với các họa tiết tinh xảo bao gồm luôn cả thời kỳ Lê. (các ký tự viết chữ Hán và các họa tiết với rồng 5 móng và phượng hoàng).

map_thang_long
Các đồ gốm nầy chỉ dành riêng cho vua chúa và hoàng hậu. Nhờ cuộc khai quật khảo cổ nầy, người ta dẫn đến một kết luận như sau: những di tích kiến trúc của Lý-Trần-Lê mà kiếm được đều chất chồng lên trên địa tảng của thời Tống Bình-Đại La (thế kỷ thứ 7 – thứ 9). Sự nhận xét nầy nó cũng không có tạo lại cho đến ngày nay một nghi vấn nào về tầm quan trọng và ảnh hưởng của chiếu dời đô Thăng Long mà Lý Công Uẩn, người sáng lập nhà Lý (mà thường biết đến với cái tên là Lý Thái Tổ), công bố vào mùa xuân Canh Tuất 1010. Sau khi loại trừ được Lê Long Đĩnh, (một vị vua Néron của nhà Tiền Lê?), Lý Thái Tổ sau vài năm trị vị, đã nhận ra Hoa Lư, thủ đô của Vietnam thời đó được xây cất ở trên một vùng đất khó mà mà tiếp cận để đảm bảo sự thịnh vượng, duy trì vận mệnh quốc gia và trường kỳ cho muôn đời sau.

Ông phải dời kinh đô về Đại La, nơi mà tiết độ sứ nhà Đường Cao Biền dùng để làm thủ phủ thời kỳ đô hộ An Nam. Thành phố nầy có thể giúp dân chúng tránh được lũ lụt với một địa hình rất thuận lợi trong sự định hướng núi sông (phong thủy) nhất là nó có một vị trí phù hợp với rồng cuộn hổ ngồi. Để tránh sự bất mãn của quần chúng, ông không ngần ngại lợi dụng lòng nhẹ dạ của dân cũng như cố vấn của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thực hành về sau trong thời kỳ chống giặc Minh. Ông phao tin rằng ông thấy rồng vàng bay lên ở Đại La trong cơn mơ. Vì vậy mà Đại La được gọi là Thăng Long tức là Rồng bay. Như bao vị vua khác, ông có thể dùng chính sách bức chế với dân chúng nhưng ông lợi dụng sự mê tính của người dân mà phao tin đây là ý trời để thực hiện một công trình tuyệt vời cho một nước Việtnam độc lập.

 

 

Triều đại của ông được gọi là “Thuận Thiên” (theo ý trời). Mồ côi, ông sống ở trong chùa và được dạy dỗ bởi sư Vạn Hạnh. Lớn lên duới bóng của thiền sư nầy, ông sớm trở thành một vị vua vĩ đại của Vietnam vì ông được thấm nhuần triết lý đạo Phật trong thời gian ông ngự trị. Người ta tìm thấy ở nơi ông không những sự khôn ngoan, đối thoại, thấu thị, khoan dung mà còn có ý chí đóng góp không thể chối cãi về việc củng cố đất nước Vietnam (một hệ thống hành chính tập trung cao độ, một chế độ thuế má rất mềm mỏng, Phật giáo được xem là quốc giáo, ưu tiên dành cho nền giáo dục vân vân…). Chính với ông mà Vietnam được công nhận lần đầu tiên là một vương quốc An Nam. Các tác giả trong quyển sách tưa đề “Đại Việt Sử ký toàn thư” có những lời khen ngợi không ngớt về triều đại của ông. Chính nhà sử học Ngô Thi Sĩ miêu tả về sau triều đại của ông là một triều đại khoan hồng (Triều Lý nhân Ái). Nhờ Việt Sử lược ở thế kỷ 14, người ta mới biết rằng cung Càn Nguyên mà được gọi sau nầy là Thiên An và đổi tên cuối cùng là Kinh Thiên bởi vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) tọa lạc ở giữa lòng của hoàng thành Thăng Long được xây cất vào năm 1010 bởi Lý Thái Tổ. Trong vùng lân cận của cung điện nầy, ở phía đông có cung Tập Hiền và cửa Phi Long, phía tây có cung Giáng Vũ và cửa Đan Phượng, phía nam có cung Cao Điện và hiên Long Trì với các hành lang ở hai bên và phía bắc có hai điện Long An và Long Thụy chưa nói đến ở phía đông và tây của các điện nầy còn có thêm cung Nhật Quang và Nguyệt Minh. Ngoài ra còn có chùa Hưng Thiên và tháp Sao Ngũ Phượng. Năm 1011, cung Thái Thanh, chùa Vạn Tuế và thư viện Phật giáo Tần Phúc được xây cất (Việt sử lược, được dịch và biên chép lại bởi Trần Quốc Vượng trang 70-71). Dựa trên kế hoạch của hoàng thành dưới thời Lê, các nhà khảo cổ Vietnam đã phân định hoàng thành như sau: phía bắc xung quanh phố Phan Đình Phùng, phía nam thì nằm ở đường Trần Phú, phía tây thì vượt ra phố Ông Ích Khiêm và phiá đông thì xung quanh phố thuốc bắc. Diện tích của địa điểm nầy ước chừng khoảng 140 ha dưới thời nhà Lê nhưng lại ít hơn một tí dưới triều đại nhà Lý và Trần. Mặt khác dưới nhà Nguyễn, thành Hànội không vượt quá 100 ha.Trong các cuộc khai quật khảo cổ, có một số vật liệu kiến trúc được trang trí với các chủ đề vô cùng đa dạng. Các họa tiết trang trí là hoa sen, hoa cúc hoặc các đầu của các loại động vật thần thoại với những nét sần sùi và hung dữ dưới thời kỳ Đại La (thể kỷ 7-9). Sau đó,trong thời kỳ của các triều đại Tiền Lê và Lý thì thấy có những bông sen và những đôi uyên ương. Cuối cùng dưới triều đại Lý thì nghệ thuật trang trí thông qua các con rồng, phượng, lá và hoa dẫn đến sự hoàn hảo và đạt đến đỉnh cao của vẽ đẹp. Mặc dầu vẫn duy trì các yếu tố trang trí cơ bản của triều đại nhà Lý, nghệ thuật nầy có xu hướng tìm lại sự đơn giản và bền vững dưới thời nhà Trần. Đối với thời kỳ nhà Hậu Lê thì có một sự thay đổi quan trọng trong việc trang trí một cách đơn giản các ngói gạch của cung điện với nhiều chủ đề được thêm vào nếu so với thời đại của hai triều đại Lý và Trần. Các di tích và cổ vật được tìm thấy ở hoàng thành Thăng Long là bằng chứng không thể phủ nhận được đến từ một nền văn hóa dân tộc và có mang tính độc đáo điạ phương. Ngoài con rồng của triều đại Lý có mào trên đầu mà không được tìm thấy ở các con rồng Trung Hoa, chúng ta còn khám phá được những mái nhà của thời Lý-Trần với các ngói bò đất nung kềm theo lá trang trí hay phù điêu rồng hay phượng mà không quen tìm thấy được ở cung điện của các nước láng giềng. Người ta có thể nói hoàng thành Thăng Long thuộc về di sản văn hóa vô giá đối với Vietnam nhất là đối với thủ đô Hànội. Được đưa vào danh sách di sản văn hóa của nhân loại, hoàng thành Thăng Long là một đia điểm mà du khách không thể bỏ qua nếu có dịp đến viếng thăm thủ đô Hànội.

Pont Alexandre III (Cầu Alexandre III)

Pont d’Alexandre III

Version vietnamienne

C’est le pont le plus joli enjambant la Seine romantique entre les quartiers 7 et 8 de Paris. Ce pont a été construit en même temps que les ouvrages architecturaux « Petit Palais » et « Grand Palais » à l’occasion de l’exposition universelle de Paris en 1900. C’est aussi le cadeau offert par le tsar Alexandre III à la France pour sceller l’amitié entre les deux peuples russe et français. Le tsar a demandé aux deux architectes Cassien-Bernard et Gaston cousin ainsi que deux ingénieurs Jean Résal et Amédée d’Alby d’assumer la réalisation. Aujourd’hui, ce pont est reconnu par UNESCO comme le patrimoine mondial et visité par la plupart des touristes étrangers.

Cầu Alexandre III 

Đây là một cái cầu đẹp nhất bắc qua sông Seine trữ tình giữa hai quận 7 và 8 của Paris. Cầu nầy được xây cất cùng hai công trình Petit Palais và Grand Palais nhân dịp có cuộc triển lãm thế giới năm 1900 ở Paris. Nó cũng là món quà tặng của sa hoàng Alexandre III để siết chặt tình hữu nghị Nga và Pháp và được giao cho hai kiến trúc sư Cassien-Bernard và Gaston Cousin cùng hai hai kỹ sư Jean Résal và Amédée d’Alby đảm nhiệm. Nay được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Vaux le Vicomte (Maincy)

Nằm gần thành phố Melun, cách xa Paris khoảng chừng 50 cây số về phía nam, lầu đài Vaux le Vicomte ở Maincy là một công trình kiến trúc được xây dựng bỡi tử tước Nicolas Fouquet, người quản lý tài chánh của vua mặt trời Louis XIV (bộ trưởng bộ tài chính) dưới thời Mazarin từ 1658 tới 1661.  Tuy nó nhỏ so với các lầu đài khác của Pháp, Vaux le Vicomte với phong cách baroque rất nỗi tiếng vì nó đem lại nguồn cảm hứng không ít về sau cho các lầu đài ở Âu Châu, nhất là với  lầu đài Versailles. Đến đây du khách sẻ trông thấy sự hài hoà giữa kiến trúc và khu vườn dài 3 cây số  phiá trước lầu đài  khiến tạo ra một không gian hữu tình và hoành tráng. Phải nói đây nhờ  sự đam mê nghệ thuật và tính hào phóng của Fouquet khiến ông tuyển lựa được ba nghệ nhân nổi tiếng vào thời điềm đó ở nước Pháp đó là kiến trúc sư Louis Le Vau, nhà thiết kế vườn cảnh André La Nôtre và nhà họa sĩ trang trí Charles Le Brun mà công trình kiến trúc Vaux le Vicomte được hoàn thành mỹ mãn. Với lòng tự tin ở nơi vua, ông không ngần ngại đón tiếp Louis XIV ở lầu đài khiến tạo ở nơi vua sự ganh tị nhất là có những lời nói gièm pha của Colbert ở bên cạnh. Ba tuần lễ sau, Fouquet bị bắt giữ bỡi trung úy D’Artagnan và đưa ra trước toà án đặc biệt. Fouquet được trả lại  tự do nhưng bị trục xuất vĩnh viễn ra khỏi vương quốc.  Để chứng tỏ quyền lực, vua Louis XIV hủy bỏ án phạt và giảm tội  nhốt Fouquet  ở tù chung thân ở lầu đài Pignerol cho đến chết vào năm 1680. Vaux le Vicomte là một kiệt tác sáng lập vườn hoa Pháp ở thế kỷ 17 mà cũng là một điạ điểm du lịch ở Paris mà du khách không thể bỏ qua dù biết đi tham quan có nhiều trở ngại nếu không có xe.

Non loin de la ville Melun et situé environ à 50 km au sud de Paris, , le château Vaux le Vicomte (Maincy) est un ouvrage architectural réalisé par le vicomte Nicolas Fouquet, le gestionnaire des finances du roi soleil Louis XIV (ou ministre des finances) à l’époque de Mazarin de 1658 à 1661. Malgré sa petite taille comparée à celles des autres châteaux de France, Vaux le Vicomte est très connu avec son style baroque car il apporte une inspiration et un modèle aux autres châteaux d’Europe, en particulier à celui de Versailles de Louis XIV. En venant ici, le touriste verra l’harmonie entre l’architecture et le jardin long de 3 kilomètres devant le château, ce qui crée un espace artistique et monumental. Il faut reconnaître que grâce à sa passion pour les arts et à sa générosité Fouquet réussît à recruter à cette époque 3 artistes célèbres dans la réalisation de son château: l’architecte Louis Le Vau, le jardinier paysagiste André le Nôtre et le peintre décorateur Charles Le Brun. C’est une belle réalisation de son temps. Ayant une confiance absolue au roi, il ne tenait pas compte des critiques de la part de Colbert son futur remplaçant plus tard et n’hésita pas à donner une réception grandiose en l’honneur du roi au château Vaux le Vicomte lors d’une fête. Jaloux, le roi ordonna trois semaines plus tard son arrestation supervisée par le sous lieutenant d’Artagnan. Il fut traduit devant un tribunal d’exception. Malgré cela, Fouquet obtint le bannissement définitif hors du royaume. Pour marquer son autorité, le roi cassa la sentence et commua sa peine en prison à vie.Il fut interné dans le château Pignerol jusqu’à sa mort en 1680. Vaux le Vicomte n’est pas seulement un chef d’œuvre de création du jardin à la française au 17ème siècle mais aussi un site touristique à ne pas manquer malgré les difficultés que le touriste peut avoir s’il n’a pas les moyens de déplacement en voiture. Il faut compter 3 heures (aller-retour) avec le train et le bus du château.

Malaisie (Malacca)


Version française

Ai có đến tham quan liên bang Mã Lai thì cũng không nên bỏ qua Malacca cả vì thành phố cổ nổi tiếng nầy nằm cách xa thủ đô Kuala Lumpur khoảng hai tiếng (150 cây số) nếu lấy xe buýt. Malacca có một thời là một thương cảng sầm uất tại khu vực Đông Nam Á nhất là nó có vị trí quan trọng nằm ở eo biển Malacca. Người Mã Lai gọi nó là Melaka. Vào thế kỷ 16, thành phố nầy  bị người Bồ Đào Nha xâm chiếm kế tiếp sang thế kỷ 17, người Hà Lan giành lại rồi nhường lại cho người Anh ở thế kỷ 18. Bởi thế ngoài sự đa dạng về dân tộc,  thành phố nầy còn  lưu giữ  hiện nay ở phiá tây  nhiều dấu tích  của các nước châu Âu ở thời kỳ thuộc địa  và ở phía đông  một khu phố tàu Jonker. Tuy diên tích khu phố đi bộ nầy nó có giới hạn nhưng lúc nào cũng đông người đi bộ nhất là thứ bảy chủ nhật. Lang thang ở con đường nầy để  lại cho tớ một ấn tượng khó quên nhất là nó có những nét đẹp độc đáo của phố cổ Hội An. Còn ở trung tâm thành phố thì có một biểu tượng  của người Hà Lan, đó là nhà thờ Christ  được sơn màu đỏ hiện nay cùng các công trình khác gần đó. Còn hai bên bờ  sông êm đềm hiền hoà  Malacca, thì có lô nhô các quán cà  phê trữ tình khiến tớ cảm thấy thích thú, không tiếc những khoãng khắc dừng chân nơi nầy để khám phá thành phố Malacca, một di sản văn hóa mà được UNESCO công nhận vào năm 2008.

No Images found.

Version française

Quiconque a l’occasion de visiter la Malaisie ne peut pas laisser tomber Malacca car cette vieille ville célèbre, localisée seulement à 150 km de la capitale Kuala Lumpur nécessite  à peu près deux heures de route avec le bus. À une certaine époque, elle était un port de commerce très animé dans l’Asie du Sud-Est. Elle était située stratégiquement dans le détroit de Malacca. Pour les Malais, cette ville s’appelait Melaka. Au 16ème siècle, elle fut occupée par les Portugais qui furent chassés à leur tour un siècle plus tard  par les Hollandais.  Ces derniers la cédèrent enfin au 18ème siècle aux Anglais.  C’est pourquoi,  à part la diversité de sa population, Malacca continue à garder encore en direction d’Ouest  les vestiges des pays européens durant la période coloniale et en direction d’Est un quartier chinois connu sous le nom de Jonker. Malgré la superficie de sa zone piétonne  très restreinte,  Malacca continue à être bondée de gens  le soir,  en particulier le week-end. « Se balader à pied » me laisse quand même une impression inoubliable lorsque cette ville charmante me rappelle quelques traits caractéristiques de Hội An (Faifo). Quant au centre de Malacca, il y a toujours un symbole visible venant de la Hollande. C’est l’église Christ peinte aujourd’hui  en rouge avec les autres bâtiments alentours. Beaucoup de kiosques à café longent les rives du fleuve paisible Malacca. Cela me donne  une ambiance pittoresque et  une  énorme satisfaction. Aucun regret ne vient non plus de ma part pour  consacrer un laps de temps dans la découverte de  cette ville que l’organisation internationale UNESCO a reconnue comme le patrimoine mondial culturel en 2008.

Singapour (Tân Gia Ba)

Tân Gia Ba

Version française

Nói đến Singapore  thì không thể nào không nhắc đến ông Lý Quang Diệu (Lee Kuan Yew). Chính nhờ ông mà Singapore, một đất nước chỉ vỏn vẹn 640 km2 cùng 5 triệu dân trở thành ngày nay một cường quốc kinh tế ở châu Á. Trước đó ở thời kỳ Singapour chưa có độc lập còn nằm  trong liên bang Mã Lai  thì chỉ là một trạm trung chuyển hàng hóa và mậu dịch do người Anh, Sir Thomas Stamford Rafles lập ra có 200 năm qua công ty Đông Ấn (East India) sau khi ông nầy thuyết phục được vua Johor nhường lại mãnh đất nầy cho Anh quốc (1819). Vì bất đồng quan điểm chính trị với chính phủ liên bang, Singapore bị trục xuất ra khỏi liên bang vào năm 1965. Trong những năm đầu độc lập, Singapore phải đối mặt với nhiều vấn đề như nạn thất nghiệp, hoà giải dân tộc vì Singapore là một quốc gia có sắc tộc đa dạng (nguời Hoa, người Ấn, người Mã Lai, người Âu Á), tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, một nền kinh tế nhược tiểu dựa lúc đầu trên các ngành sản xuất đã có ở trên đảo và đến từ các nguồn nhu cầu của các đồn quân trú người Anh  vân vân …Thế mà nhờ tâm huyết của ông, cái nhìn sâu sắc của một nhà lãnh đạo yêu nước về vị trí quan trọng chiến lược của Singapore,  lòng tin cậy của người dân, Lý Quang Diệu đã thành công giải quyết từng vấn đề bức thiết và lúc nào cũng xem thương mại và dịch vụ là hai yếu tố chính trong sự nghiệp phát triển của Singapore. Hiện nay, Singapore được xem là một cảng lớn nhất trên thế giới vì nó thu hút hàng chục công ty giao dịch hàng hóa toàn cầu và kết nối qua các tuyến đường biển với thị trường Trung Quốc. Singapour trở thành trong những năm gần đây một quốc gia xanh, một đất nước có một môi trường sống sạch sẽ. Chổ nào có một tí đất trống là có vườn, có cây. Đến đây,  du khách  sẻ thoả mái đường xá sạch sẽ không bị ô nhiễm   nhưng phải cẩn thận  cần phải biết nhiều những điều cấm kỵ : xả rác, khạc nhổ trên đường và nơi công cộng, ăn uống trên tàu điện ngầm, nhay kẹo cao su, đi tiểu mà không giật nước bồn cầu   vân vân bị phạt dưới hình thức tài chánh đôi khi còn bị trục xuất nếu còn tiếp diễn, ăn buffet lấy nhiều mà ăn bỏ mứa không hết phải trả tiền nhé. Có dịp đến Singapore, tớ chỉ nhớ đến một đất nước có kỷ luật rất nghiêm khắc, một quốc gia ít tham nhũng như ở các nước Bắc Âu (Pays Nordiques) theo khảo sát của TI (Transparency International) vì có chính sách giám sát chặt chẽ để đãm bảo tính minh bạch trong hệ thống quan chức nhà nước chớ các điểm vui chơi ở  đảo Sentosa thì tớ cũng thấy có ở các quốc gia khác như Mỹ và Âu Châu mà thôi.  Có đến thì cũng có học hỏi ít nhiều về đất nước nhỏ bé nầy.

« 1 de 2 »

Version française

Quand on évoque Singapore, on ne peut pas ignorer Lee Kuan Yew. C’est grâce à lui que le pays dont la superficie n’est que de 640 km2 avec une population de 5 millions d’habitants devient aujourd’hui une puissance économique en Asie. À l’époque où Singapore n’avait pas encore l’indépendance et faisait partie de la fédération de Malaisie, Singapore n’était qu’un hub de transport maritime et commercial que Sir Thomas Stamford Rafles, un Anglais de renom a crée il y a 200 ans par l’intermédiaire de la compagnie britannique des Indes orientales (East India) après avoir réussi de convaincre le sultan de Johor de lui céder ce petit bout de territoire en 1819. À cause du différend politique avec la fédération malaise, Singapore fut exclu de cette dernière en 1965. Durant les premières années de son existence en tant qu’un état indépendant, Singapore dut affronter un tas de problèmes comme le chômage d’une population non qualifiée, la nécessité d’une réconciliation nationale  dûe à la présence d’une population multi-ethnique (Chinois, Indiens, Malais, Européens etc …), le manque de ressources naturelles, la faiblesse d’une économie basée essentiellement sur la production industrielle locale liée en grande partie aux besoins des garnisons britanniques et malaises etc…Pourtant  grâce à la constance de son implication et de son dévouement, la vision d’un dirigeant patriote sur la position stratégique de Singapore et la confiance de son peuple, Lee Kuan Yew réussît à résoudre progressivement tous les problèmes recensés et à considérer toujours le commerce et les services comme  les deux éléments majeurs dans le développement de la prospérité de l’île. Aujourd’hui, Singapore est considéré comme l’un des plus grands ports de commerce mondiaux car il héberge des dizaines de sociétés de commerce mondiales et il établit des liens avec toutes les routes maritimes pour accéder au marché chinois. Singapore se distingue depuis quelques années comme  la  cité verte la plus durable de l’Asie et revendique son attachement à un cadre de vie  dans un environnement à la fois propre et écologique.  La verdure est omniprésente partout à Singapore. En venant ici, le touriste se sent plus satisfait  car les rues sont propres et la pollution est moindre qu’ailleurs. Mais il doit connaître une série d’interdits : jeter quoi que ce soit par terre, cracher par terre, manger dans le tramway, mâcher ou porter sur soi le chewing gum, quitter la toilette sans tirer la chasse d’eau  etc… Il sera verbalisé toute de suite avec une forte amende. En cas de récidive, il pourra  être expulsé et interdit de séjourner à Singapore. Pour un buffet à volonté, il faut manger tout ce qui est pris dans l’assiette  sinon il faut payer ce qu’on n’arrive pas à finir. Ayant eu l’occasion de venir à Singapore, je rappelle que c’est un pays où la sévérité de la loi est implacable. Selon TI (Transparency International),  la corruption y est moindre comme les pays nordiques dans la mesure où il y a une politique de contrôle très sévère, claire et transparente sur les dirigeants du pays. Par contre, les jeux et les divertissements à  l’île Sentosa n’ont rien de spécial, on peut les trouver ailleurs (USA  et Europe). Malgré cela, il me paraît utile quand même car mon séjour m’a permis de mieux connaître la Suisse de l’Asie.

Architecture du Laos (Kiến trúc của Ai Lao)

Architecture du Laos 

 

Malgré une influence notable provenant des Thai et des Cambodgiens, l’architecture du Laos a quand même son caractère original à travers ses pagodes célèbres trouvées à Luang Pra Bang et Vientiane. On trouve partout au Laos des pagodes, ce qui me donne la conviction que les Laotiens ont la ferveur bouddhique et sont orientés toujours vers la spiritualité. Les Laotiens sont de nature très pacifique. Lors de mon séjour au Laos, je n’étais jamais inquiet de rentrer tardivement le soir comme au Vietnam.

Kiến trúc ở Lào có cái đặc trưng của nó nhất là qua các chùa chiền nổi tiếng ở Luang Prabang hay Vientiane dù nó có ảnh hưởng ít nhiều của người Thái và người Cao miên. Ở Lào, ở đâu, cũng thấy chùa chiền cả khiến mình có thể nhận định rằng người Lào rất trọng đạo Phật và sống nhiều về tâm linh lắm. Người dân cũng hiền hoà. Lúc mình đến đây trong thời gian du lịch, không bao giờ mình cảnh giác lo sợ đi chơi về khuya như ở Việt Nam.

 

Sur la route de Tôkaido (Hiroshige)

53 relais sur la route de Tôkaido

Version vietnamienne

Le musée des arts asiatiques Guimet (Paris) est en train d’exposer  en ce moment  l’album des estampes japonaises intitulé « 53 relais sur la route de Tokaido ». C’est la célèbre série d’estampes de Hiroshige  (1797-1858) après sa mission d’accompagner une délégation envoyée par le Shogun, partant d’Edo (Tokyo) jusqu’à la capitale impériale Kyoto et ayant pour but d’offrir les chevaux à l’occasion de la fête et montrer le respect vis-à-vis de l’empereur.  C’est l’une des 5 routes importantes de Gokaido.  Cette route n’est pas seulement l’itinéraire vital pour les voyageurs (marchands, gens ordinaires, malandrins, bonzes, daimyos etc …)  mais elle est aussi longue de 500 kilomètres et pittoresque car elle est jalonnée d’auberges et de relais, de sites historiques, de sanctuaires shintoïstes ou bouddhiques et elle est plongée dans de vertigineux paysages comme la passe Nakayama, le sanctuaire Ise etc… Chaque relais offre des services nécessaires au voyageur: auberges, restaurants, divertissements, commerces etc… ce qui donne une source d’inspiration inépuisable pour Hiroshige.  On peut dire qu’il nous offre les estampes du « monde flottant ». De plus, cette route crée  aussi un espace politique au Japon à l’époque Edo avec un contrôle très sévère de la part des samouraïs au service du shogun  sur les gens locaux et surtout sur les daimyos (seigneurs féodaux). Cet itinéraire est remplacé aujourd’hui par le rail ultra rapide de Tokaido Shinkansen.  Avec le TGV japonais, le touriste n’a plus l’occasion d’admirer ce qui a été décrit par Hiroshige sur ses estampes (ukiyo-e).

Version vietnamienne

Bảo tàng viện nghệ thuật Châu Á Guimet ở Paris đang trưng bày hiện nay một bộ tranh màu in trên mộc bản mà thường gọi là ukiyo-e  và có tựa đề là « 53 trạm nghỉ của Tokaido ». Đây là một  bộ tranh được họa sỹ Hiroshige dày công sáng tác sau chuyến hành trình của ông đi dọc theo con đường Tokaido vào năm 1832.  Ông được chọn đi  từ Edo (Tokyo ngày nay) đến kinh đô Kyoto cùng phái đoàn chính thức của tướng quân, người thực chất  cầm quyền trong tay  ở Mạc phủ (Shogun) với chủ đích cống hiến ngựa cho triều đình nhân dịp lễ để bày tỏ sự kính trọng với Nhật hoàng.  Đây là một trong năm con đường huyết mạch của Gokaido. Nó không những là con đường mà  lữ  khách (thương nhân, người dân bình thường, thiền sư, du côn, lãnh chúa vân vân …)  thường dùng hằng ngày mà  còn là con đường ngoạn mục dài 500 cây số vì nó đầy rẫy các lữ quán, các đền thờ thần đạo hay Phật giáo, các di tích lịch sữ, các quang cảnh đẹp đáng kinh ngạc như đèo Nakayama, đền Ise  vân vân … . Mỗi trạm nghỉ thường có những dịch vụ cần thiết cho lữ khách: nhà trọ, quán ăn, trò tiêu khiển, mậu dịch vân vân …).  Chính vì thế nó là một nguồn cãm hứng không ít cho họa sỹ Hiroshige. Có thể nói ông tặng cho chúng ta những bức tranh của « thế giới hư ảo ».

Tuyến đường nầy còn tạo ra ở thời kỳ Edo một không gian chính trị dưới  sự kiểm soát nghiêm ngặt  của tầng lớp võ sĩ (samouraïs) về  việc đi lại của người địa phương cũng như  của các lãnh chúa (daimyo). Con đường nầy được thay thế ngày nay bỡi con đường sắt với các tàu cao tốc TGV Tokaido Shinkansen  khiến người du khách không còn có dịp chiêm ngưởng những gì Hiroshige mô tả lại qua bộ tranh tuyệt vời in trên mộc bản  của ông.

Old Las Vegas (Trung tâm củ Las Vegas)

Version française

De passage à Las Vegas, les touristes ont l’habitude de visiter «Strip» ou bien le boulevard de Las Vegas, une longue avenue de 5 kilomètres connue dans le monde entier pour ses gratte-ciel comme Wynn, Bellagio, Venitian etc…Peu de gens connaissent le centre historique de Las Vegas qui est loin de quelques kilomètres de Strip et qui n’est pas tellement accessible pour ceux qui n’ont pas les moyens de transport, en particulier la voiture. C’est à cet endroit que le touriste a l’occasion de connaître le début de construction de Las Vegas. Ici la plupart des visiteurs rencontrés sont des Américains de taille impressionnante y comprises les femmes (plus de 100 kilos). Ici, il n’y a pas des méga casinos hôtels comme à Strip. Le jour où j’étais à Las Vegas avec mon ami, j’étais tellement séduit par l’exhibition des anciennes voitures américaines que je n’accordais aucune importance à l’histoire de Las Vegas. C’est pour cela que je n’ai pas pris beaucoup de photos sur ce centre historique. Mais c’est intéressant quand même pour ceux qui veulent connaître entièrement l’enfer resplendissant de Las Vegas. Un lieu à ne pas manquer si on a l’occasion de visiter Las Vegas.
 
Old Las Vegas
 
Đến Las Vegas, các du khách thường chỉ biết tham quan Strip tức là đại lộ Las Vegas, một con đường giao thông dài có gần 5 cây số mà được thế giới biết đến vì dọc theo đường có những khách sạn chọc trời như Wynn, Bellagio, Venitian vân vân. … Ít ai biết đến Old Las Vegas vì nó ở cách xa đó mấy cây số, đường đi cũng khó khăn nếu không có phương tiện đi xe. Chính ở nơi nầy du khách sẻ tìm thấy lại trung tâm củ lịch sử của Las Vegas. Chính nhờ bạn mình mà mình mới biết nơi nầy. Nó không có hoành tráng và lộng lẫy như Strip nhưng nó còn giữ nét thô sơ mộc mạc của buổi ban đầu thành lập Las Vegas. Nơi đây rất ít ngoại quốc mà rất đông người Mỹ, vóc dáng nhìn cũng khủng khiếp ít nhất cũng hơn 100 kí từ đàn ông đến đàn bà. Nơi nầy cũng có các sòng bài nhưng không có sang trọng bằng ở Strip. Hôm tớ đến mãi mê cuộc triển lảm xe cổ Mỹ nên chỉ lo chụp các xe xưa nên ít có chú trọng nhiều về nơi nầy nhưng cũng là một nơi nên biết lắm nếu ai muốn biết trọn vẹn về địa ngục rực rỡ của Las Vegas.
 

Las Vegas (Nevada)

Version vietnamienne

Old Las Vegas ( Trung tâm củ Las Vegas)

De passage à Las Vegas, le touriste réussit à repérer facilement les casinos et les hôtels car la plupart de ceux–ci se retrouvent dans l’avenue principale de Las Vegas (connue souvent sous le nom de Las Vegas Strip). Elle est appelée parfois Arrowhead highway). Cette portion (ou Strip) s’étalant sur une longueur de 6 ou 7 kilomètres est localisée au sud de Las Vegas. Strip possède au moins 25 hôtels de luxe majestueux ayant chacun 2000 chambres parmi lesquels il faut citer the « Wynn », « Bellagio », « Caesar Palace », « Luxor » etc…Au nord se trouvent les hôtels tels que Stratosphere, Wynn et au sud « Luxor », « Mandala Bay ». Certains ont été démolis dans le passé et reconstruits dans les dernières années. C’est le cas de Wynn édifié sur l’ancien emplacement de l’hôtel « Desert Inn Hotel and Golf Course », « The Dunes » devenant maintenant « Bellagio » ou « The Sands » remplacé aujourd’hui par « The Venetian ».
Pour ce dernier, le touriste a l’impression d’être devant la ville portuaire Venise réduite en miniature avec son tour de clocher, son palais des Dodges au style byzantin, ses gondoles dans un réseau de canaux sous le pont célèbre Rialto. Quant à l’hôtel Bellagio, sa célébrité est due en grande partie à son charme distingué et surtout à ses fontaines dans un spectacle musical de jets d’eau qui a lieu le soir à des heures précises. Le matin, ces hôtels ont chacun un charme particulier lié plutôt au goût de chaque touriste. Pour voir tout ce qui passe à Las Vegas, il faut compter une semaine. Pour moi, c’est l’essentiel de pouvoir faire la photographie avec mes deux jours. Dès la tombée de la nuit, Las Vegas est une ville touristique avec ses rues splendides aux couleurs vives de la lumière qu’il est difficile de trouver ailleurs. C’est l’enfer resplendissant de l’Amérique.

Las Vegas au fil de la  nuit

Thành phố Las Vegas (Nevada)

Khi đến thành phố Las Vegas, du khách cũng dễ đi tham quan các casinos và chọn khách sạn vì tất cả đều nằm ở đại lộ chính của Las Vegas (thường gọi là Las Vegas Strip). Đôi khi còn được gọi là Arrowhead highway. Khúc đường mà gọi là Strip của đại lộ Las Vegas Avenue được dài cở chừng 6,7 cây số và tọa lạc ở phía nam. Strip gồm có khoảng chừng 25 khách sạn hoành tráng và sang trọng có đến 2000 phòng trong đó đáng kể có Wynn, Bellagio, Caesar Palace, Luxor vân vân … Ở phiá bắc thì có Stratosphere, Wynn còn ở phiá nam thì có Luxor, Mandalay Bay. Vài khách sạn được xây cất lại trong thời gian qua cũng như Wynn trước đó là Desert Inn Hotel and Golf course, the Dunes nay là Bellagio hay là The Sands thế lại ngày nay bỡi khách sạn “the Venetian”. 
Nơi nầy du khách tưởng chừng đứng trước một thành phố kênh đào Venise được thu hình nhỏ lại có tháp chuông, cung điện của quan tổng trấn Doge trấn giữ theo phong cách Byzantine, có các thuyền gondola nối liền với hệ thống kênh đào lớn dưới cái cầu nổi tiếng Rialto. Còn khách sạn Bellagio thì nổi tiếng nhờ vẻ đẹp thanh lịch và các đài phun nước theo vở kịch âm nhạc tuyệt vời. Trong ngày, các khách sạn có vẻ đẹp cá biệt tùy sỡ thích của du khách. Nếu muốn tham quan tất cả khách sạn nầy thì phải mất ít nhất một tuần nhưng tớ chỉ ở hai ngày nên chỉ xem đại khái để chụp hình nhưng phải công nhân Las Vegas là một thành phố đường phố lộng lẫy về đêm, vô số ánh đèn màu, đầy ngoạn mục có một không ai. Tớ có thể gọi tạm là đia ngục rực rỡ của nước Mỹ.

Las Vegas ban ngày 

 

Montréal ( Province de Québec)

 

Version vietnamienne

Contrairement aux villes Toronto et Ottawa, la ville Montréal est considérée comme la deuxième ville ayant la population francophone au monde après Paris mais c’est aussi la ville importante de la province du Québec. Montréal est encore le principal port reliant les 5 grands lacs d’Amérique du Nord et l’Atlantique. Outre les influences de deux cultures française et anglaise, Montréal a encore des immigrants venant d’Amérique du sud, Italie, Portugal, Europe de l’Est etc …, ce qui fait d’elle une ville cosmopolite. Considérée comme une ville importante de l’Amérique du Nord, Montréal est orientée vers le commerce, la politique, le tourisme et la culture. C’est au centre de la ville qu’on trouve pas mal des gratte-ciels d’affaires mais aussi des magnifiques trésors architecturaux datant du 18 ou 19 ème siècle et des vestiges anciens de la commune Ville-Marie. La particularité de Montréal réside dans la construction d’un réseau sous-terrain permettant l’interconnexion entre les centres d’affaires, les universités, les gratte ciels et les organismes gouvernementaux et facilitant la circulation des piétons sans que ces derniers soient obligés de marcher dans un froid glacial (-25°C au moins en hiver) ou en été sous une chaleur accablante.

Version vietnamienne

Khác với các thành phố Toronto và Ottawa, thành phố Montréal là thành phố thứ nhì sau Paris có số người nói tiếng Pháp mà cũng là thành phố lớn nhất của tỉnh bang Québec. Montréal còn là hải cảng chính nối liền Ngũ Đại Hồ và Đại Tây Dương.  Ngoài ảnh hưởng của hai nền văn hóa Pháp và Anh, Montréal còn có các dân cư đến từ các  nơi khác như Nam Mỹ, Ý, Bồ Đào Nha, Đông Âu vân vân khiến Montréal được xem như là một thành phố đa ngôn ngữ. Được xem như là một thành phố quan trọng của Bắc Mỹ, Montréal hướng về thương mại, chính trị, du lịch và văn hóa. Chính ở giữa lòng thành phố  thấy không ít nhà chọc trời kinh doanh mà cũng có nhiều kiến trúc cổ từ thế kỷ 18 hay 19  và nhiều di tích cũ của thị trấn Ville-Marie. Cái đặc điểm ở Montréal mà du khách đến đây trông thấy là các cơ sở thương mại,  trường đại học, các nhà cao ốc, các cơ quan chính phủ đều được nối với nhau bằng đường hầm và rất sạch.