Bông Súng (Nénuphar)

 

Dans le jardin de Claude Monet (Givenchy)

Version française

Version anglaise

Được xem là biểu tương sự  tinh khiết và yên tĩnh, cây bông súng thường  mọc hoang dã trong bùn. Ở nam bộ Vietnam,  người ta thường ăn mắm kho với bông súng hay  dùng nó để làm món  gỏi  tuyệt vời. Để  bảo vệ một cách hữu hiệu các bộ phận  tựa như nhụy và nhị,  cây bông súng có  được một cơ chế  hóa lý rất tinh vi khi  trời về đêm lạnh rét hay  có độ ẩm cao.  Nhờ có nước  lan tràn vào  các không bào và  có sự biến  đổi của ánh sáng  và nhiệt độ khiến có sự thay đổi ở nơi có  tập trung nhiều ion canxi của các tế bào và dẩn đến việc tạo ra áp suất trên các mặt trong và ngoài của các tràng hoa.  Vì vậy các cánh hoa hay bị méo mó  nhưng không vì thế mà  bị hư hỏng. Chiều  tối lại,  cây bông súng dựng đứng lên các cánh hoa để che chở các bộ phận sinh sản bằng cách làm phòng ra các tế bào của nó. (sự trương nước) Còn sáng lại nó buông lơi  xuống các cánh hoa và làm co lại các tế bào  (sự co lại gọi  là plasmolyse) bằng cách làm bốc hơi nước và giảm đi áp xuất trên các vách tế bào. Tùy thuộc  dáng vóc mà hoa súng có nhiều cánh hoa hay không để nó có thể  dễ dàng đóng khép và bảo trợ  các bộ phận sinh sản.  Đối với các nhà nghiên cứu khoa học, đây không những là chuyện  thăng bằng mà còn là một phát minh tuyệt vời được  tìm thấy  ở các thực vật trước khi con người khám phá ra được các máy bơm nước và cái kích.

Etant le symbole de paix et de pureté, le nénuphar est habitué à pousser sauvagement dans la boue. Au Vietnam, on s’en sert dans le Sud soit pour accompagner la soupe aux poissons (mắm kho) soit pour faire une salade  délicieuse. Le nénuphar possède un mécanisme physique et chimique  très ingénieux permettant de protéger ses organes reproductifs  (étamines, pistils) contre le froid et l’humidité nocturne. Grâce à la pénétration de l’eau dans les vacuoles et aux variations de la lumière et de la température modifiant ainsi la concentration en ions calcium des cellules,  cela provoque la pression sur les faces interne et externe de ses corolles et facilite  la déformation de ses  pétales  sans que ces derniers soient abîmés.  Le soir, le nénuphar  redresse  ses pétales pour protéger ses appareils reproducteurs  par le gonflement de ses cellules (turgescence)   tandis que le matin il les fait retomber  par le dégonflement de ces  mêmes cellules  (plasmolyse) en diminuant la pression sur leurs parois cellulaires  et en perdant de l’eau par évaporation. En fonction de la taille, la fleur du nénuphar doit avoir un certain nombre de pétales  afin de mieux  se refermer et protéger ses organes reproductifs.  Pour les chercheurs, c’est non seulement une affaire d’équilibre mais aussi une invention géniale chez les plantes avant la découverte des pompes hydrauliques  et des vérins par les hommes. 

Galerie des photos

Lis d’eau

Tableau nénuphar de Monet

Version anglaise

Being the symbol of  peace and purity, the water lily is accustomed to grown savagely in the mud. In Vietnam, it is used either by accompagnying the fish soup in the South region or by making a delicious salad. The water lily has a chemical and physical mechanism very ingeniuos allowing to protect its reproductive organs (stamen, pistil)  against the cold and  night humidity. Thanks the water penetration in vacuoles and  variations in light and temperature, thereby altering  calcium ion concentration in cells, it causes  the pressure on the internal and external faces of its corollas  and facilitates  the deformation of its petals without  the latter being damaged. At night, the water lily adjustes its petals for protecting its  reproductive system by the swelling of its cells (turgor) while in the morning, its petals fall down by the  deflation of these same cells thanks to the  pressure reduction applied on their cell walls (plasmolysis)  and the loss of water by evaporation. Depending on size, the flower of water lily must have a certain  number of petals for being closed again and protecting its reproductive organs. For scientists, it is not only the balancing act but also an ingenious invention in plants before the discovery of hydraulic pumps and cylinders by men.

 

 

 

Un castel médiéval au coeur du Périgord noir

 

 

 

Một ngôi làng quyến rũ thời trung cổ. 

Périgord đen  là cái nôi của hàng trăm lầu đài nhất là có ngôi làng phong kiến Beynac,  một trong những làng đẹp nhất và quyến rũ của Pháp Quốc. Đến đây lúc 5 giờ chiều, nên chỉ có được nửa tiếng để tham quan nên chụp không có thỏa mái chi cả nhất là các con đường nhỏ  lên lầu đài lát đá và dốc thoai thoải. Cũng hên là không có mưa nên còn đi dễ dàng nếu không thì chắc không lên đến trên được rồi. Từ trên cao nhìn xuống lòng thấy phơi phới, cảnh quá thơ mộng và thanh bình.

Étant le berceau d’une centaine de castels, Périgord noir (renommé pour ses truffes noires) a un charmant  village médiéval Beynac. Niché au pied d’un imposant château, il est l’un des plus beaux villages de France. Arrivé ici le dimanche dernier vers 17 heures, je n’ai pas assez de temps pour visiter le château et faire les photos à ma guise. Les ruelles pavées  montant au château sont très étroites et ardues. Heureusement, la pluie n’est pas au rendez-vous. Du haut du  château , on a une vue romantique et pacifique sur la rivière.

beynac

  

 

Le tombeau de l’empereur patriote Hàm Nghi (Ngôi Mộ của vua Hàm Nghi)

Version française

Mộ vua Hàm Nghi

Từ lâu cứ mang hoài bão được một lần đến viếng thăm và đốt nhan kính cẩn trước mộ của vua Hàm Nghi nhất là mộ của ông được an táng ở làng Thonac thuộc vùng hành chánh Aquitaine, khu vực Dordogne, tỉnh Sarlat-la-Canéda, huyện Montignac (Pháp Quốc).

Cuối tuần của tháng năm năm 2017, tôi được đến nơi nầy nhưng lòng ngổn ngang, bùi ngùi khi tìm thấy lại mộ của ông. Không ngờ ngôi mộ nầy đã trải qua bao năm tháng rêu phong vẫn phủ đầy, không có đựợc như hình trông thấy mà hai người việt kiều ở Mỹ nói sùng tu lại trên internet. Minh cùng các anh chi em trong đoàn mới biết đây là một trò luờng ngạt với muc đích gì, điều nầy mình không được rỏ nhưng dù sau cũng nên kính trọng một vị vua anh hùng của đất nước bị lưu đày lúc 18 tuổi bỡi thực dân Pháp và chết ờ Alger. Có những câu mình tự hỏi mà không có ai trả lời giải đáp cho mình  được cả. Trở về Paris rất buồn bã và bận bịu chuyện nhà cho đến những tháng gần đây mới tải hình lên trang nhà hình ảnh lầu đài De Losse mà đươc công chúa Như Mây, trưởng nữ của vua Hàm Nghi mua lại vào ngày 6/8/1930, với giá 450.000 quan. Sau nầy, vì không còn khả năng tài chánh, công chúa Như Mây bán lại cho một người Pháp (1972) rồi lại qua tay một người khác nữa rồi đến ngưới Anh sau cùng vào năm 1999. Nay được nhà nước Pháp xếp hạng lầu đài nầy là di tích văn hoá lịch sử từ năm 1932. Chính nhờ vậy mà hài cốt cua vua được cải táng mang về Pháp ở làng Thonac khi Algérie được độc lập vào năm 1965 và được chôn ở nơi nầy cùng vợ con và bà quản gia.

Nhắc đến vua Hàm Nghi, thì  không thể nào không nhắc lại tiểu sử của vua.  Ông là em trai của vua Kiến Phúc tên là Ưng Lịch được đặt lên ngôi bởi hai quan phụ đại thần nhiếp chính Nguyễn văn TườngTôn Thất Thuyết vào năm 1884 lúc ông được 13 tuổi. Các quan đại thần nầy đã từng giết 3 vua trong thời gian ngắn 1 năm Dục Đức, Hiệp Hoà và Kiến Phúc, nghĩ rằng có thể định hướng dễ dàng vua Hàm Nghi  trong công cuộc chống Pháp nhất là với tuổi tác của ngài. Sau cuộc tấn công thất bại ở Mang Cá, nơi mà quân đội Pháp của thống soái De Courcy đóng, vua Hàm Nghi buộc lòng trốn ra ngoài kinh thành và lánh nạn ở Quảng Trị cùng Tôn Thất Thuyết và  Nguyễn văn Tường.  Nhưng vì một lý do nào không được rõ, Nguyễn văn Tường quay đầu  trở về kinh thành. Nhưng qua bốn câu thơ mà ông  để lại truơc tình thế khó khăn nầy thì Tường có ý nói rằng sở dĩ ông không đi theo Thuyết và vua Hàm Nghi vì muốn ở lại để duy trì xã tắc. Vì vua hay vì nước đằng nào đáng khinh hay đáng trọng?

Xe giá ngàn trùng lẫy dặm xanh
Lòng tôi riêng luyến chốn lan đình
Phải chăng phó mặc ngàn  sau luận
Vua, nước đôi đường hỏi trọng khinh?

Sau đó ông nhờ giáo sĩ Caspar để xin yết kiến thống soái De Courcy. Ông còn  khẳng định rằng ông không có tham gia vào cuộc đai chiến ở Mang Cá. Nhưng De Courcy giã vờ tin ông nói thực và còn dùng ông để chiêu dụ vua Hàm Nghi trở về kinh thành. Nhưng sau hai tháng ông không làm tròn nhiệm vụ thì ông bị De Courcy đày ông ra Côn Đảo rồi đi Tahiti khi ông bị bệnh và chết ở Papeete. Còn Tôn Thất Thuyết cùng các con Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp tiếp tục phò tá vua Hàm Nghi trong công cuộc kháng chiến chống Pháp suốt 4 năm trời ròng rã. Ông cuối cùng trốn sang Trung Quốc mong sự giúp đỡ của triều đình nhà Thanh và chết ở nơi nầy vào năm 1913. 

Vua Hàm Nghi đã hai lần xuống chiếu Cần vương, kêu gọi các sĩ phu dân làng nổi đậy từ Bắc đến Nam để đòi độc lập. Các chiếu nầy làm cho lòng dân  phiến động. Ở mọi nơi sự hưởng ứng không hê suy giảm  cũng như ở Hà Tĩnh với Phan Đinh Phùng, Đinh Nho Hạnh, ở Bình Đình thì có Lê Trung Đình, ở Thanh Thủy thì có Đề Đốc Lê Trực, ở  Quảng Bình có Nguyễn Phạm Tuân  vân vân …Tên của Hàm Nghi trở thành vô tình ngọn cờ độc lập dân tộc. Còn ông thì cuộc đấu trânh vẫn còn dù chính quyền thực dân Pháp đã đặt lên ngôi  sau đó vua Đồng Khánh với sự đồng ý của bà thái hậu Từ Dũ, mẹ của vua Tự Đức. Bởi vậy muốn dập tắt các cuộc nổi loạn ở mọi nơi thì phải bắt cho được vua Hàm Nghi vì Hàm Nghi là linh hồn còn các quân phiến loạn Cần vương là thân thể. Nếu linh hồn mất thì thân thể cũng phải tiêu tan tự nhiên. Giữa ông và quân Cần vương, Tôn Thất Đạm là người môi giới.  Ít người có dịp được gần gũi  và biết mặt của vua Hàm Nghi  lắm vì vua Hàm Nghi lúc nào cũng có sự bảo vệ chặt chẽ  của hai đứa con của Tôn Thất Thuyết  (Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp) ở bên cạnh cùng đám quân người Mường của Trương Quang Ngọc, một chủ tể người Mường trên sông Nai tỉnh Quảng Bình.  Ông sống rất kham khổ trong thời gian đấu tranh ở trong rừng.

Cho đến khi bị bắt bởi quân Pháp bởi sư phản bội của Trương Quang Ngọc, ông không bao giờ nhìn nhận ông là vua Hàm Nghi vì đối với ông đây là cái nhục không thể tưởng.  Ông giã vờ không biết các quan chi cả khiến làm chính quyền  thực dân Pháp cũng không biết có đúng người hay không? Chính vì thế họ dùng kế đưa sĩ phu Nguyễn Thuận. Ông nầy dàn dụa nước mắt qùy lạy vua và rung rẩy làm rớt cây gậy.  Lúc đó vua Hàm Nghi đở ông đứng dậy và quỳ trước mặt ông: « Xin đừng, kính thầy ». Ngay lúc đó, ngài nhận ra ngài đã sai lầm khi làm ra điều đó bởi vì Nguyễn Thuận là gia sư của ngài khi ngài còn nhỏ. Ngài không bao giờ hối hận vì cử chỉ này  cả. Đối với ngài, sự tôn trọng gia sư  phải được xem trọng  trước mọi chuyện khác. Nhờ sự công nhận này, chính quyền thực dân đã chắc chắn bắt được vua Hàm Nghi. Sau đó vua bị  lưu đày  năm 18 tuổi sang Algeria. Vua không bao giờ thấy lại Việt Nam. Ngay cả thi thể của vua cũng không được đưa về Việt Nam cho đến ngày hôm nay trước sự từ chối của gia đình mặc dầu có sự đề nghị của chính phủ Vietnam vào năm 2002 nhưng được chôn cất tại làng Thonac ở Sarlat (Dordogne, Pháp) cùng gia đình. Trong thời gian lưu vong ở Alger, ông đã từ bỏ tất cả  mục tiêu chính trị từ năm 1904, ngày mà ông kết hôn với một người phụ nữ Pháp. Đây là những gì cháu gái của ông, Amandine Dabat tiết lộ trong tác phẩm của cô mang tên Hàm Nghi, hoàng đế lưu vong và nghệ sĩ ở Alger, Nhà xuất bản Đại học Sorbonne, xuất bản ngày 28 tháng 11 năm 2019. Ông tìm được một nguồn an ủi trong một niềm đam mê khác, một cách sống khác thông qua nghệ thuật. Ông hay thường gần kề giới nghệ thuật và trí thức trong thời đại của ông  như Marius Reynaud, Auguste Rodin, Judith Gautier vân vân…. Nhờ đó, ông trở thành học trò  của họa sĩ Marius Reynaud và nhà điêu khắc tài hoa Auguste Rodin và cho phép ông vượt qua nỗi đau buồn bất diệt của một vị hoàng đế yêu nước bị lưu đày xa quê hương cho đến khi qua đời.

 

 

Château De Losse

Ham Nghi

Dordogne

Empereur patriote Hàm Nghi

Depuis longtemps, je nourris l’espoir de pouvoir visiter un jour le tombeau de l’empereur exilé Hàm Nghi lorsque je sais qu’il était enterré dans la commune Thonac située dans le département de la Dordogne, en région Nouvelle-Aquitaine. À la fin de la semaine du mois Mai de l’année 2017, j’eus l’occasion d’être dans ce coin mais j’étais complètement déboussolé et triste quand je trouvai son caveau. Celui-ci continue à être ravagé par la mousse et ne ressemble pas à la photo qu’on a mise sur internet. Nous sommes tous abasourdis et révoltés face à la tricherie et l’absence de respect envers Hàm Nghi, un jeune empereur exilé à 18 ans par les colonialistes français et mort à Alger. Je me pose des questions sans avoir hélas aucune réponse. De retour à Paris, étant attristé par cette histoire, je n’ai pas assez de temps non plus pour mettre sur mon site les photos de Thonac, en particulier celles du château De Losse dont le propriétaire n’est autre que la fille aînée de l’empereur Hàm Nghi, la princesse Như Mây. Celle-ci a acheté le château en 1930 avec la somme de 450000 francs. À cause du problème financier, elle l’a revendu à un Français puis celui-ci l’a cédé plus tard à la famille anglaise en 1999. Aujourd’hui, ce château est classé monument historique depuis 1932. C’est pour cette raison que les restes de  l’empereur Hàm Nghi furent ramenés en France à Thonac lorsque l’Algérie obtint l’indépendance en 1965 et y furent ré-enterrés avec sa famille (son épouse, sa fille aînée Như Mây, son fils unique Minh Đức et sa ménagère). 

Empereur Hàm Nghi

En évoquant le roi Hàm Nghi, on ne peut pas oublier de rappeler sa biographie. Connu sous le nom de Ưng Lịch, il était le petit frère du roi Kiến Phúc. Il  fut mis sur le trône par deux régents Nguyễn văn Tường et Tôn Thất Thuyết  en 1884 lorsqu’il avait 13 ans.  Ayant tué moins d’un an trois rois successifs Dục Đức, Hiệp Hoà et Kiến Phúc, ceux-ci  pensaient qu’avec le jeune âge de Hàm Nghi  ils pourraient orienter facilement sa gouvernance dans une politique destinée à chasser les Français hors du Vietnam. Après l’échec de l’assaut des Vietnamiens contre la garnison française du général  De Courcy à Mang Cá,  le roi Hàm Nghi fut obligé de quitter la citadelle de Huế et se réfugia à Quảng Tri dans le centre du Vietnam. Il fut accompagné par Tôn Thất Thuyết et Nguyễn Văn Tường. Pour une raison inconnue, ce dernier retourna à la citadelle de Huế. Il tenta de donner plus tard son explication à travers son poème dans lequel il reconnut qu’il ne suivit plus Hàm Nghi dans la résistance car pour lui il était préférable de  servir l’état au lieu d’engager la résistance. Pour le roi ou pour l’état vietnamien, le choix était difficile. Il laissa à la génération future de le juger. Il demanda au prêtre Caspar de contacter De Courcy pour avoir une audience et tenta de convaincre ce dernier qu’il ne participa pas au  lancement de cet  assaut avorté. Faisant semblant d’y croire, De Courcy lui proposa d’écrire des missives  pour exhorter Hàm Nghi et ses partisans à retourner à la citadelle de Huế   et lui fixa un ultimatum de deux mois.  Suite à son échec de convaincre Hàm Nghi et Tôn Thất Thuyết, il fut déporté d’abord à l’île Poulo Condor puis à Tahiti pour être soigné à cause de sa maladie et mourut enfin à Papetee. Quant à Tôn Thất Thuyết, il continua à accompagner Hàm Nghi dans la lutte contre les Français avec ses enfants Tôn Thất Đạm et Tôn Thất Thiệp durant les 4 années de résistance. Il finit par partir finalement en Chine pour demander de l’aide des Qing et y mourut en exil en 1913. Le roi Hàm Nghi  demanda deux fois à toutes les forces vives de la nation, en particulier aux lettrés de se soulever contre les autorités coloniales en son nom par le mouvement baptisé « Cần Vương » (ou Aide au roi) du Nord jusqu’au sud pour réclamer l’indépendance. Ce mouvement commença à trouver un écho favorable auprès du peuple. L’ampleur de ce mouvement ne diminua pas et  fut visible partout comme à Hà Tịnh avec Phan Đinh Phùng, Đinh Nho Hạnh, à Bình Định avec Lê Trung Đình, à Thanh Thủy avec l’amiral Lê Trực, à Quảng Bình avec Nguyễn Phạm Tuân  etc…. Le nom du roi Hàm Nghi devint par hasard le porte-drapeau de l’indépendance nationale. Malgré la mise en place de Đồng Khánh sur le trône par les autorités coloniales françaises avec l’approbation de la reine-mère Từ Dũ (mère de l’empereur Tự Đức), le mouvement d’insurrection continua à perdurer encore  tant que le roi Hàm Nghi était encore en vie. Pour éteindre partout l’insurrection, il fallait capturer Hàm Nghi car il représentait  l’âme du peuple tandis que les rebelles faisaient partie du corps de ce peuple. Une fois l’âme du peuple éliminée, le corps disparût d’une manière évidente. Entre Ham Nghi et les rébelles du mouvement Cần Vương, il y avait toujours un intermédiaire qui n’était autre que Tôn Thất Đạm, le fils de Tôn Thất Thuyết. Peu de gens avaient le droit de rapprocher Hàm Nghi  qui était protégé constamment par Tôn Thất Thiệp et quelques gardes du corps Mường de Trương Quang Ngọc. Ce dernier était réputé comme un seigneur local Mường vivant sur les rives du fleuve Nai à Quảng Bình.  Hàm Nghi mena une vie difficile et misérable dans la forêt durant la période de résistance.  À cause de la trahison de Trương Quang Ngọc, il fut capturé en novembre 1888 et ramené à la citadelle de Huế. Silencieux, il réfuta catégoriquement qu’il était le roi Hàm Nghi car pour lui c’était une honte indescriptible. Il continua à rester non seulement impassible mais muet aussi sur son identité devant les interrogatoires incessants de ses geôliers français. Plusieurs mandarins furent envoyés sur place pour identifier si le jeune captif en question était bien le roi Hàm Nghi ou non mais aucun n’arriva à émouvoir ce dernier sauf le vieux lettré Nguyễn Thuận. En voyant le roi qui continuait à faire ce simulacre, celui-ci, les larmes aux yeux, se prosterna devant lui et tremblota en laissant tomber sa canne. Face à l’apparition subite de ce lettré, le roi oublia le rôle qu’il avait joué jusqu’alors  contre ses geôliers, releva ce dernier et s’agenouilla devant lui: « Je vous prie, mon maître ». A ce moment, il se rendit compte qu’il commit un erreur en reconnaissant celui-ci car Nguyễn Thuận fut son précepteur quand il était encore jeune. Il ne regretta jamais ce geste car pour lui, le respect envers son maître passa avant toute autre considération. Grâce à cette reconnaissance, les autorités coloniales furent sûres de capturer bien le roi Hàm Nghi, ce qui leur permit de pacifier le Vietnam avec la disparition du mouvement « Cần Vương » quelques années plus tard. Il fut déporté ensuite en Algérie à l’âge de 18 ans. Il ne revit plus le Vietnam pour toujours. Même ses restes ne sont pas ramenés encore aujourd’hui au Vietnam à cause du refus de sa famille  mais ils furent ré-enterrés au village Thonac à Sarlat (Dordogne, France) lors de la déclaration d’indépendance d’Algérie en 1965 avec sa famille. Durant son exil à Alger, il abandonna tout objectif politique à partir de 1904, date de son mariage avec une Française. C’est ce qu’a révélé sa nièce Amandine Dabat dans son ouvrage intitulé « Hàm Nghi, empereur en exil et artiste à Alger« , Sorbonne Université Presses, paru 28 Novembre 2019. Il trouva son soulagement dans une autre passion, une autre manière de vivre à travers l’art. On le vit côtoyer les milieux artistiques et intellectuels de son époque (Marius Reynaud, Auguste Rodin, Judith Gautier etc…). Grâce à cette fréquentation, il devint l’élève du peintre orientaliste Marius Raynaud et du sculpteur célèbre Auguste Rodin, ce qui lui permit de surmonter  la douleur sempiternelle et la tristesse d’un jeune empereur patriote exilé loin de son pays natal jusqu’à sa mort. 

Référence bibliographique 

Vua Hàm Nghi. Phan Trần Chúc Nhà xuất bản Thuận Hóa 1995.

Ham Nghi – Empereur en exil, artiste à Alger.  Amandine Dabat, Sorbonne Université Presses, Novembre 2019 

 

La Bastille (Quảng Trường Bastille)

 

Tuy rằng có  nhà hát  mới opéra  mang kiến trúc hiện đại  gần có 20 năm , quảng trường Bastille vẫn tiếp tục giữ được một biểu tượng trọng đại.  Nó cùng đồng nghĩa với  tự do tìm lại được.  Nó còn lưu lại sự hiện diện vô hình của pháo đài trở thành sau đó nhà tù mà dân tộc Pháp đã  thành công hủy bỏ vào ngày 14 tháng 7 năm 1789  trong cuộc khởi nghĩa đập vỡ chế độ độc tài vua chúa. Cao hơn khoảng chừng 50 thước, cột trụ   trên chót vót có thần tự do, dựng ở Bastille không phải để tưởng niệm cuộc cách mạng 1789 mà nó lưu niệm tưởng nhớ những  nạn nhân của Trois Glorieuses (27, 28  và  29 tháng 7 năm 1830).  Tên họ của các nạn nhân được ghi bằng chữ vàng trên cột còn dưới  nền bằng đá hoa thì có mồ của họ. 

Quảng trường Bastille
 

Malgré la construction du nouvel opéra depuis une vingtaine d’années, la place de Bastille continue à garder une dimension symbolique. Elle est synonyme de la liberté retrouvée. Elle est marquée toujours par la présence invisible de la forteresse que le peuple français avait réussi à investir et à démolir le 14 Juillet 1789 dans le but de briser le despotisme royal. Haute d’une cinquantaine de mètres, la colonne au sommet de laquelle surgit le génie de la liberté, n’est pas élevée pour commémorer la révolution de 1789 mais elle est en souvenir des victimes des Trois Glorieuses (27,28 et 29 Juillet 1830). Les noms de ces dernières sont inscrits en lettres d’or sur la colonne tandis que sa base en marbre contient leur caveau.

 

 

Parc de Sceaux (Công viên Sceaux)

 Đây là một trong những công viên nổi tiếng  ở vùng ngọai ô Paris. Vườn nầy được thiết kế vào cuối thế kỷ 17  bỡi ông André Le nôtre, người  được xây dựng và trang trí các vườn hoa của lầu đài Versailles với sự yêu cầu của bộ trưởng tài chính của « vua mặt trời » Louis XIV.

Công viên Sceaux

C’est l’un des parcs connus dans la région de l’île de France. Il fut conçu par le célèbre aménageur des jardins du château de Versailles, André le Nôtre à la fin du XVIIème siècle à la demande de Colbert, ministre des finances du roi soleil Louis XIV .

 

Arboretum Châtenay Malabry (Vườn bách thảo)

Được xây dựng vào thế kỷ 18, vườn bách thảo có khoảng chừng 500 loại  cây to và nhỏ trên một diện tích 12,7 ha.  Vườn nầy được bố trí theo phong cách Anh Quốc  nên có một cầu treo, một hang động,  một suối nước  và có luôn cả một bến đò. Rất thỏai mái cho ai muốn tìm lại sự thăng bằng và yện tịnh sau một tuần mệt nhọc với công việc làm. Nơi nầy còn là một nơi biểu tượng  ký ức  của nhà văn hào Châteaubriand lúc ông 39 tuổi. Nhắc đến các  cây ở Vallée-aux_Loups, ông viết: Tôi biết tất cả   loại cây qua tên  và xem  như  con cháu của tôi: đó là gia đình của tôi ngoài ra tôi không còn ai cả.

 

Vallée-aux-loups

Depuis sa création au XVIII siècle, ce jardin botanique abrite à peu près 500 espèces d’arbres et d’arbustes sur une surface de 12,7 hectares. Étant conçu comme un jardin à l’anglaise, ce jardin possède un pont suspendu, une grotte, une cascade et même une embarcadère.  C’est très reposant pour celui qui aime retrouver l’équilibre  harmonieux et  la tranquillité  après une semaine de travail. C’est aussi le lieu emblématique de la mémoire de l’écrivain Chateaubriand âgé de 39 ans à cette époque.  En parlant de ces arbres du parc de la Vallée-aux-loups, il écrivait: je les connais tous par leurs noms comme mes enfants: c’est ma famille, je n’en ai pas d’autre.

Jardin des Tuileries (Công viên Tuileries)

 

Trước khi là công viên Tuileries, nơi nầy  có cung điện  mang cùng tên được nữ hoàng Cathérine de Médicis xây dựng vào năm 1564 nhưng sau đó bị  hũy phá. Với tài năng của  Alexandre Le Nôtre, vườn Tuileries giữ được cách bố trí  tuyệt vời với phong cách Pháp  mà ông thiết kế vào năm 1664  cho đến hôm nay.  Ai có  đến tham quan viện bão tàng Louvre  thì phải biết vườn hoa nầy vì nó nằm giữa Louvre và Concorde. Không những là một công viên  rộng lớn nhất  ở Paris về phương diện diện tích mà nó còn là nơi có nhiều kiệc tác của các nhà  điêu khắc  lừng danh như Rodin , Giacometti hay Maillol. Ông nầy lúc đầu là một họa sĩ nhưng sau đó ông chuyển sang thành nhà điêu khắc khi ông 40 tuổi. Ông trở thành sau đó một nhà điêu khắc lừng danh nhất cùng thời với Rodin. Chính ông nầy cũng công nhận điều nầy.  Ông Maillol thường dùng chất liệu đồng và thường lấy cảm hứng với đề tài phu nữ khỏa thân. Bà  Dina Vierny là người mẫu gắn bó   nhiều với những kiệt tác của Maillol và  người thành lập vào năm 1995 bảo tàng nghệ thuật Maillol ở Paris.


Avant d’être le jardin des Tuileries, cet endroit était le lieu où la reine Cathérine de Médicis construisit le palais portant le même nom en 1564 . Ce dernier n’existe plus aujourd’hui.  Grâce au talent d’Alexandre le Nôtre, le jardin des Tuileries continue à garder  jusqu’à aujourd’hui le même agencement ordonné qu’il conçut avec le style français en 1664 . Quiconque ayant l’occasion de visiter Louvre doit connaître ce jardin car il sépare ce musée de la Concorde. Il est non seulement le jardin parisien le plus important au niveau de la superficie mais aussi le lieu où se trouve un grand nombre de chefs-d’oeuvre des sculpteurs célèbres comme Rodin, Giacometti ou Maillol. Ce dernier commence à être peintre  au début de sa carrière puis  devient sculpteur à partir de quarante ans.  Il est aussi renommé  à l’époque de Rodin. Celui-ci reconnaît aussi ce fait. Maillol a l’habitude de se servir du bronze comme matériau et de s’inspirer du nu féminin dans  ses oeuvres. Dina Vierny est son modèle préféré et est à l’origine de la fondation du musée  Maillol à Paris en 1995.

 

Jardin Luxembourg (Vườn hoa Lục Xâm Bảo)

 

Vì không bao giờ quên được nguyên quán của mình nhất là cung điện Pitti ở Florence nên khi lúc thái hậu Marie de Médicis hết quyền nhiếp chính nhường quyền lại cho Louis XIII, có nghỉ đến việc ẩn dật. Vì đó bà mua lại mảnh đất 8 hecta và dinh thự của công tước Piney- Luxembourg và nhờ đến kiến trúc sư Salomon de Brosse mở rộng cung điện dựa trên lối kiến trúc của cung điện Pitti và xây dựng khu vườn cùng tên. Còn việc trang trí nội thất và trồng cây tạo phong cảnh, bà nhờ đến các nghệ nhân Ý, flamand và Pháp nhất là có sự hỗ trợ của kiến trúc sư danh tiếng André Le Nôtre. Bởi vậy cung điện Luxembourg làm ta nhớ đến lối thiết kế thời Phục Hưng, một cách bố trí sắp đặt theo kiểu Ý. Nay là có trụ sở Thượng Viện Pháp bên cạnh, vườn Luxembourg là công viên lớn hàng thứ nhì của Paris, chỉ thua có công viên Tuileries về mặt diện tích mà thôi.

 

 

Étant incapable d’oublier son pays d’origine, en particulier le palais Pitti de Florence, la reine mère Marie de Médicis, après avoir terminé la régence et cédé le pouvoir au roi Louis XIII, pense à chercher un refuge. C’est pourquoi elle décide d’acquérir la propriété de 8 ha appartenant au comte de Piney-Luxembourg et de faire appel au talent de l’architecte Salomon de Brosse dans le but d’agrandir et rénover le palais dans le style d’architecture de Florence trouvé dans le palais Pitti et créer un jardin portant le même nom. Quant à la décoration intérieure et au paysage du jardin, elle fait appel aux artistes italiens, flamands et français et à l’aide apportée par l’architecte renommé André Le Nôtre. En visitant ce palais, cela nous fait penser au décor de la Renaissance, une méthode d’agencement ordonné dans le style italien. Aujourd’hui, le jardin Luxembourg, ayant le sénat à l’intérieur de son enceinte, est classé comme le deuxième parc parisien après celui des Tuileries au niveau de la superficie.

Village ancien Đường Lâm (Làng cổ)

Portail du village Đường Lâm

Version vietnamienne

Ayant occupé  à peu près 800 ha, le village  Đường Lâm est localisé approximativement à 4km à l’ouest de la ville provinciale Sơn Tây. Il est consacré pratiquement à l’agriculture. Il est rare de trouver encore  aujourd’hui l’un des villages ayant conservé les traits caractéristiques d’un village traditionnel vietnamien.  Si la baie de Hạ Long est l’œuvre de la nature, Đường Lâm est par contre l’ouvrage crée par l’homme.  Il est plus riche de signification que la baie de Hạ Long. C’est ce qu’a remarqué le chercheur thaïlandais Knid Thainatis. Effectivement Đường Lâm est riche non seulement en histoire mais aussi en tradition.

Dans les temps anciens,  il s’appelait encore  Kẻ Mia (pays de la canne à sucre). Selon  une légende populaire,  le métier de fabriquer de la mélasse de canne à sucre à Đường Lâm rapportait  comment la princesse Mi Ê a trouvé une plante semblable à un roseau. Elle a pris une section de cette plante et a senti sa douceur fraîche et son goût aromatique. Elle a tellement aimé cette plante si bien qu’elle  a conseillé aux gens de la cultiver. Au fil du temps,  la canne à sucre poussait tellement dense qu’elle couvrait une grande surface comme le bois. La population locale a commencé à produire de la mélasse ainsi que des bonbons à partir de celle-ci. D’où le nom « Kẻ Miá ».

Grâce aux fouilles archéologiques aux  alentours des contreforts de la montagne Ba Vi, on découvre que  Đường Lâm était le territoire des Proto-Vietnamiens. Ces derniers y vivaient en grande concentration à l’époque de la civilisation de Sơn Vi. Ils continuaient à s’y établir encore durant les quatre cultures suivantes: Phùng Nguyên (2000-1500 BC), Đồng Dậu (1500-1000 BC), Gò Mun (1000-600 BC) et Đồng Sơn (700 BC-100 AD).

Le village  est aussi  la terre de deux rois célèbres Phùng Hưng et Ngô Quyền. Le premier, connu sous le nom « Bố Cái Đại Vương »  (ou Grand roi père et mère du peuple) est adulé comme le  libérateur de la domination chinoise à l’époque des Tang tandis que le deuxième a réussi à mettre fin à l’occupation chinoise de 1000 ans en défiant la flotte des Han du Sud (Nam Hán) sur le fleuve de Bạch Đằng. C’est aussi ici qu’on retrouve l’autel dédié à l’ambassadeur Giang Văn Minh auprès de la cour de Chine. Ce dernier fut tué par  l’empereur des Ming  Zhu Youjian (Sùng Trinh)  car il a osé l’affronter en lui répondant du tac au tac avec le vers mémorable suivant: 

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng (Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu)
Le fleuve Bạch Ðằng continue à être teinté avec du sang rouge.

pour lui rappeler    les victoires éclatantes et décisives des Vietnamiens contre les Chinois sur le fleuve Bạch Ðằng,  suite au vers arrogant qu’il a reçu de la part de l’empereur chinois: 

Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến giờ vẫn xanh vì rêu).
Le pilier en bronze continue à être envahi par la mousse verte. (évoquant ainsi la période de pacification du territoire vietnamien par le général chinois Ma Yuan à l’époque des Han).

 Làng cổ Đường Lâm 

L’une des caractéristiques de ce village  antique réside dans la préservation  de son  portail (porte principale) par lequel tout le monde doit passer. Le visiteur peut s’égarer facilement s’il n’arrive pas à repérer la maison communale Mông Phụ.  Celle-ci est un bâtiment colossal édifié au centre du village avec son imposante charpente en bois de fer (gỗ lim). La plupart des maisons sont protégées  par des blocs de murs en   latérite et leurs porches  sont parfois des petits chefs-d’œuvre qui ne peuvent pas laisser indifférent le visiteur.  Le village Đường Lâm continue à garder son charme séculaire face à l’urbanisation galopante qu’on ne cesse pas de voir dans d’autres villages.

Version vietnamienne

Có khoảng chừng 800 mẫu, làng cổ Đường Lâm nằm cách chừng 4 cây số về phiá tây của thị xã Sơn Tây.  Làng nầy chuyên sống về canh nông.  Rất hiếm còn tìm lại được ngày nay một trong những làng cổ còn giữ được những nét cá biệt của một làng Việtnam truyền thống. Nếu vịnh Hạ Long là một tác phẩm của tạo hóa thì làng co63 Đường Lâm ngược lại là một sản phẩm do con người tạo ra. Nó còn giàu có ý nghĩa  nhiều hơn vịnh Hạ Long. Đây là sự nhận xét của nhà nghiên cứu Thái Knid Thainatis. Thật vậy Đường Lâm rất phong phú không những về lịch sữ mà còn luôn cả tập quán. 

 Thời xưa, Đường Lâm  vẫn được gọi là Kẻ Mia (vùng đất trồng mía). Theo truyền thuyết, nghề làm mật mía ở Đường Lâm liên quan đến việc công chúa Mi E tìm thấy một loại cây giống cây sậy. Cô lấy một phần của cây này và ngửi thấy vị ngọt và hương vị thơm mát của nó. Cô rất yêu thích loài cây này nên đã khuyên mọi người nên trồng nó. Theo thời gian, cây mía mọc rậm rạp phủ kín cả một vùng rộng lớn như rừng. Người dân địa phương bắt đầu sản xuất mật mía cũng như kẹo từ nó. Do đó nó có tên là « Kẻ Miá« .

Nhờ các cuộc khai quật khảo cổ xung quanh ở chân núi Ba Vi, người ta phát hiện ra Đường Lâm là lãnh thổ của người Việt cổ. Những người sau này sống tập trung ở đây  trong thời kỳ của nền văn hóa Sơn Vi. Họ  vẫn tiếp tục định cư ở nơi nầy tiếp theo cho bốn nền văn hóa sau đây: Phùng Nguyên (2000-1500 TCN), Đồng Dậu (1500-1000 TCN), Gò Mun (1000-600 TCN) và Đồng Sơn (700 TCN-100 SCN).

Nơi nầy  cũng là đất của hai vua cự phách Phùng Hưng và  Ngô Quyền. Vua đầu tiên thường  gọi là « Bố Cái Đại Vương » rất  đuợc ngưỡng mộ vì ông là lãnh tụ khởi  cuộc nổi dậy chống lại sự đô hộ của nhà Đường còn Ngô Quyền thì có công trạng kết thúc sự đô hộ quân Tàu có gần một thiên niên kỹ qua cuộc thách thức hải quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.  Cũng chính nơi nầy mà cũng tìm thấy nhà thờ của thám hoa Giang Văn Minh. Ông đuợc đề cử sang Tàu xưng phong dưới thời Hậu Lê. Ông bị trảm quyết bỡi  vua Tàu Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) vì ông không để vua Tàu làm nhục Việtnam dám đối đáp thẳng thắn  với  một  vế đối lại như sau: Ðằng giang tự cổ huyết do hồng  (Bạch Đằng từ xưa vẫn đỏ vì máu) nhắc lại những chiến công hiển hách trêng sông Bạch Đằng khi nhận một vế  ngạo mạn của vua Tàu:  Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (Cột đồng đến giờ vẫn xanh) vì rêu  ám chỉ đến cột đòng  Mã Viện , thời kỳ quân Tàu đô hộ nước Việt dưới thời Đông Hán. 

Một trong những  đặc trưng  của làng cổ nầy là  sự gìn giữ cái cổng làng mà bất cứ ai đến làng cũng phải đi qua cả.  Người du khách có thể bị lạc đường  nếu không nhận ra hướng đi đến đình Mông Phụ.   Đây là một toà nhà to tác được dựng ở giữa trung tâm của làng với một mái hiên oai vệ bằng gỗ lim.  Tất cả nhà ở làng nầy phân đông được bảo vệ qua các bức tường bằng đá ong và các cổng vào thường là những kiệc tác khiến làm du khách không thể thờ ơ được. Làng cổ  Đường Lâm tiếp diễn giữ  nét duyên dáng muôn thưở dù biết rằng  chính sách đô thị hoá vẫn phát triển không ngừng ở các làng mạc khác.

Bibliographie:

Lê Thanh Hương: An ancient village in Hanoi, Thế Giới publishers, Hànôi 2012