Le génie des montagnes et celui des fleuves (Sơn Tinh Thủy Tinh)

sontinh_thuytinh

English version
Vietnamese version
Galerie des photos

Nous ne connaissons pas de société sans légendes, 
tout comme il n’y a pas de civilisations sans histoires.

Le dix-huitième roi Hùng Vương avait une fille Mị Nương, d’une extraordinaire beauté. Quand elle arriva à l’âge de se marier, sa réputation éclata encore davantage partout. Le roi décida de lui choisir un mari talentueux. Un jour, deux jeunes hommes, brillants d’intelligence et de beauté arrivèrent fortuitement en même temps et demandèrent la main de Mị Nương. L’un s’appelait Sơn Tinh, génie des Hautes Montagnes et des Forêts Profondes, l’autre, Thủy Tinh , génie des Fleuves et des Mers Immenses. Le roi, embarrassé, ne sut pas choisir lequel car tous les deux avaient des talents incomparables et une puissance infinie. Après un moment de réflexion, le roi les mit devant un défi: cent plateaux de riz gluant, un éléphant à neuf défenses, un coq à neuf ergots, un cheval à neuf crinières rouges. Celui qui apporta le tout en  premier sera  l’époux de Mị Nương.

Le lendemain, dès l’aube, Sơn Tinh arriva le premier avec tous les présents et emmena la belle dans les montagnes. Thủy Tinh se présenta après, muni de toutes les offrandes mais la princesse était déjà partie. Confus et furieux, Thủy Tinh s’élança, éleva ensuite le niveau des eaux, décida de pénétrer  dans les montagnes et tenta d’y enlever Mi Nương. Sơn Tinh éleva les monts encore plus haut. Thủy Tinh déploya son génie, battit le rappel des vents, des tempêtes, des éclairs et de la foudre et  ébranla toute la montagne et la forêt. Sơn Tinh maintint d’une manière inébranlable les monts. Thủy Tinh recourut aux troupes marines et s’élança avec le courant et  donna massivement l’assaut. Sơn Tinh, avec des filets de fer, coupa la route des renforts, roula des rochers pour combler les âmes et écrasa  les monstres marins qui flottèrent à la dérive.

Après trois jours et trois nuits,  Thủy Tinh  battu davantage chaque jour, fut obligé de retirer ses troupes et ramener les flots. Pour assurer sa tranquillité Sơn Tinh opéra le miracle d’élever les deux montagnes des époux au plus haut dans l’endroit  des demeures des Dieux. Plus tard, le peuple les appellera Montagne du Monsieur et Montagne de la Dame, au pied desquelles un temple fut dédié à Sơn Tinh et à Mị Nương. Cette légende a été rapportée dans l’ouvrage intitulé  » Lĩnh Nam Chích Quái (ou les contes étranges à Lĩnh Nam) » de Trần Thế Pháp sous  le nom du titre « Histoire de la montagne Tản Viên« . Tous les ans vers le mois de juillet ou Aôut, les habitants vivant au pied de cette montagne ont l’habitude de subir le vent puissant et violent et la grande inondation provoquant ainsi des dégâts importants au niveau de la récolte. C’est pourquoi on a l’habitude d’attribuer à cet évènement la compétition entre le génie des montagnes et celui des fleuves  pour avoir Mị Nương. L’académicien vietnamien Nguyễn Sĩ Cố de la dynastie des Trần, a laissé un poème suivant lors de son  passage dans ce coin:

Sơn tự thiên cao thần tối linh
Tâm huynh tài khấu dĩ văn thanh
Mỵ Nương diệc hữu hiển linh trứ
Thả vị thư sinh bảo thử hành.

Le génie sacré se trouve dans cette montagne aussi élevée que  le ciel.
On entend le bruit en venant frapper la porte de son cœur
Si Mị Nương existe, son don miraculeux se révèlera
Et protègera le voyage du jeune lettré.

[Return CONTES]

Version vietnamienne

Sơn Tinh Thủy Tinh

Chúng ta không biết một xã hội  nào không có huyền thoại cũng như không có nền văn minh nào mà không có lịch sử.

Vua Hùng Vương thứ 18 có một người con gái là Mị Nương, sắc đẹp lạ thường. Khi đến tuổi lấy chồng, tiếng tăm của nàng lại càng vang lên ở khắp bốn phương. Nhà vua quyết định chọn cho nàng một người chồng tài giỏi. Một ngày nọ, có hai chàng trai, thông minh và tuấn tú, tình cờ đến cùng một lúc và xin cầu  hôn  Mị Nương. Một người được gọi là Sơn Tinh, chúa của các vùng núi non cao và các rừng sâu, còn người kia là Thủy Tinh, chúa các của các sông nòi và biển cả thăm thẳm. Nhà vua rất băn khoăn không biết phải chọn người nào vì cả hai đều có tài năng vô song và quyền lực vô hạn.

 Sau một lúc suy nghĩ, nhà vua đành đặt họ trước một thử thách: một trăm đĩa xôi, một con voi chín ngà, một con gà trống chín cựa, một con ngựa chín hồng mao. Người nào đem đến trước được  làm chồng của Mị Nương. Ngày hôm sau, lúc rạng đông, Sơn Tinh đến trước với đầy đủ lễ vật và đưa người đẹp lên núi. Thủy Tinh đến  trình diện sau đó, với đầy đủ lễ vật nhưng nàng công chúa đã đi rồi. Vừa hoang mang vừa tức giận, Thủy Tinh lao tới, dâng cao lên mực nước, quyết định vào núi bắt cóc Mị Nương. Sơn Tinh nâng núi cao hơn nữa. Thủy Tinh trổ tài năng của mình, đánh đuổi gió bão, sấm chớp làm rung chuyển cả núi rừng. Sơn Tinh giữ núi một cách vững vàng. Thủy Tinh nhờ đến thủy binh mà xông lên theo dòng nước, xông pha toàn lực. Sơn Tinh dùng các lưới sắt, cắt  đường tiếp tế,  lăn đá lấp hồn và đè bẹp  các thủy quái trôi dạt vào bờ.

Sau ba ngày ba đêm, mỗi ngày càng thêm thất  bại, Thủy Tinh đành cam chịu rút quân, mang sóng về. Để đảm bảo sự yên tĩnh của mình, Sơn Tinh làm phép lạ nâng cao hai ngọn núi của vợ chồng  lên cao nhất nơi ở của các thần. Sau này dân gian gọi là núi ông và núi bà, dưới chân núi lại có đền thờ Sơn Tinh và Mị Nương. Chuyện nầy được kể lại trong Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp dưới tên là Truyện núi Tản Viên. Cứ hàng năm cở tháng bảy tháng tám dân ở vùng chân núi nầy hay thường bị gió to nước lớn làm lúa má bị thiệt hại. Vì vậy người đời truyền rằng đó là  Sơn Tinh và Thủy Tinh tranh nhau để lấy Mị Nương. Quan hàn lâm học si triều nhà Trần Nguyễn Sĩ Cố có đi ngang qua và có bái yết nơi nầy với bài thơ như sau:

Sơn tự thiên cao thần tối linh
Tâm huynh tài khấu dĩ văn thanh
Mỵ Nương diệc hữu hiển linh trứ
Thả vị thư sinh bảo thử hành.

Núi cao như trời, thần rất thiêng.
Cửa lòng vừa gõ đã nghe tiếng.
Mỵ Nương nếu có, tài hiển linh,
Hãy phù hộ chuyến đi của kẻ thư sinh này.

Galerie des photos

[Return CONTES]

 

 

Water melons island (Chuyện Dưa hấu)

dua_hau

French version

Vietnamese version

Under the reign of Hùng Vương the 18th, king Văn Lang, 3rd century B.C., An Tiêm, one of the best subjects of the king, being falsely accused, was condemned to exile on a desert island with his wife and son. Facing the hostility of nature, everyone cried except him because he was convinced as a Vietnamese proverb puts it, that water from a brook flows down to the sea but always ends up returning to the source. He began to investigate the environment and found what was needed for a survival: water, fruits, etc…

He even succeeded in making with his own hands a bow to hunt birds. In a beautiful morning, having shot down a bird, he discovered that the latter had been eating a certain fruit of which what was left were grains. This gave him an idea of seeding them. Thanks to the watering and cares provided by his wife and son, the fruits began to grow and took a certain round shape. An Tiêm called them « dưa hấu » in memory of his son’s name « Hấu ».

Several moons have gone by since their departure. He began to feel strangely nostalgic. That was why he decided to send a message to his friends by carving his name and the name of his family on the skin of the watermelons and thowing them in the sea. Those melons were fished out by fishermen who found them having an exquisite taste but also bearing the inscription of the An Tiêm family. They did not hesitate to offer some to the king. The king, tormented by remorse and the fidelity of the An Tiêm family, decided to pardon An Tiêm and his family.

As for the island, it was no longer a place of exile. People were allowed to resettle there. Their hard work made fruits other than « dưa hấu' » grow.

[Return CONTES]

L’île aux pastèques (Chuyện Dưa hấu)

dua_hau

English version

French version

Dưới triều đại Hùng Vương thứ 18, vua Văn Lang vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, An Tiêm, một trong những thần dân trung thành nhất của nhà vua, đã bị đày ải trên một hoang đảo cùng vợ và con trai vì tội vu khống. Trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên, tất cả mọi người đều khóc, ngoại trừ ông, vì ông tin rằng, theo tục ngữ Việt Nam, nước suối chảy ra biển nhưng luôn trở về nguồn.

Ông bắt đầu khám phá môi trường xung quanh và tìm kiếm mọi thứ cần thiết để sinh tồn: nước, trái cây vân vân.. Ông thậm chí còn tự chế tạo một chiếc nỏ để săn chim. Một buổi sáng đẹp trời, khi đang bắn một con chim, ông phát hiện ra nó đã ăn một loại quả nào đó, không để lại hạt, điều này đã thôi thúc ông gieo chúng. Nhờ sự tưới nước và chăm sóc của vợ con, những quả bắt đầu to và tròn hơn. An Tiêm đặt tên cho chúng là « dưa hấu » để tưởng nhớ tên « Hấu » của con trai mình.

Đã mấy tuần trăng trôi qua kể từ khi họ rời đi. Điều này bắt đầu khơi dậy trong lòng chàng một nỗi nhớ kỳ lạ. Vì lý do này, chàng quyết định gửi lời nhắn đến bạn bè bằng cách khắc tên mình và tên gia đình lên vỏ dưa hấu rồi thả xuống biển. Những người đánh cá vớt được chúng lên và thấy chúng không chỉ có hương vị tuyệt hảo mà còn mang dấu ấn của gia tộc An Tiêm. Họ không ngần ngại dâng một ít lên nhà vua. Hối hận, nhà vua, cảm động trước lòng trung thành của gia tộc An Tiêm, đã quyết định tha tội cho An Tiêm và gia đình. Về phần hòn đảo, nó không còn là vùng đất lưu đày nữa. Người dân có thể định cư ở nơi đó. Công sức của họ đã tạo ra những loại trái cây khác ngoài « dưa hấu ».

Sous le règne de Hùng Vương 18, roi de Văn Lang au 3è siècle avant J.C., An Tiêm, un des meilleurs sujets du roi, à cause des calomnies, a été condamné à s’exiler sur une île déserte avec sa femme et son fils. Devant l’hostilité de la nature, tout le monde a pleuré sauf lui car il a été convaincu que selon un proverbe du Viêt-Nam, l’eau du ruisseau rejoint la mer mais finit toujours par retourner à la source.

Il commençait à tâtonner l’environnement et à trouver tout ce qu’il fallait pour survivre: de l’eau, des fruits etc… Il arrivait même avec ses mains à fabriquer lui-même une arbalète pour chasser les oiseaux. Un beau matin, en abattant un oiseau, il découvrit que celui-ci était en train de manger un certain fruit dont il ne restait plus des graines, ce qui lui donnait l’idée de les semer. Grâce à l’arrosage et aux soins apportés par sa femme et son enfant, les fruits commençaient à grossir et à prendre une certaine rondeur. An Tiêm les a nommés « dưa hấu » en souvenir du nom de son fils « Hấu« .

Plusieurs lunes ont passé depuis leur départ. Cela commençait à provoquer en lui une étrange nostalgie. C’est pour cette raison qu’il décida d’envoyer à ses amis un message en gravant son nom ainsi que celui de sa famille sur l’écorce des pastèques et en jetant ces fruits à la mer. Ceux-ci ont été repêchés par les pêcheurs qui les trouvaient non seulement posséder un goût exquis mais porter aussi des inscriptions de la famille An Tiêm. Ils n’hésitèrent à en offrir quelques unes au roi. Celui-ci, rongé par le remords et par la fidélité de la famille d’An Tiêm, décida de gracier An Tiêm et sa famille.

Quant à l’île, elle n’était plus une terre d’exil. Les gens pouvaient s’y installer. Leur labeur faisait pousser les fruits autres que « dưa hấu ». 

[Return CONTES]

The betel quid (Trầu Cau)

chique_de_betel

The betel quid

French version
Vietnamese version

 

Long time ago, under the reign of king Hùng Vương the 4th, there were two twin brothers, Cao Tân and Cao Lang. They looked so much alike that it was difficult to distinguish one from the other. They both attended the school of an old teacher in the village who had a sole daughter named  Liên whose beauty attracted all the homage of all the young men in the area.

The old teacher liked both of them. He would grant his daughter’s hand to one of them, preferably the elder because according to Vietnamese customs, the elder brother would get married first. In order to be able to distinguish them, he relied on a little trick by inviting them for dinner. The one who first picked up the chopsticks would be the elder. So Cao Tân got the hand of his daughter without any doubts that his younger brother has devoted an ardent love to her. They went on to live together in a complete harmony and experienced a faultless happiness.
Cao Tân continued no less to love his younger brother like ever before and would do anything to make him happy.

However, in spite of that, the younger brother could not rid of the pain in his heart. He decided to leave them and went out for an adventure. After so many days of walking, he ended up falling exhausted on the road and was transformed into a block of lime stone with an immaculate white.

The elder brother, taken by growing worries for his younger brother left in search for him. He followed the same road taken by his younger brother. In a beautiful morning, after so many days of walking, he arrived at the lime stone block, sat on it and succumbed without movement. He was metamorphosed in to a betel nut tree growing tall with its green palms and oblong little fruits. The tree began to extend its branches and its shadow over the lime stone mass as if to protect it from the changes of weather.

Staying at home without any news from her husband, the young wife in turn left the house and went for a search of her spouse. She roamed fields, crossed villages and finally one day, she came real close to the tree. Tired by the long walk, she leaned back at the foot of the tree, took her turn to die and change into a plant whose stems curled around the trunk of the tree with large intensely green leaves in the form of a heart.

One day, while passing through the area, King Hùng heard this story. He tried chewing betel and areca with a little of the lime from the limestone block. He found that the resulting saliva was as ruddy as blood, with a fresh, tangy and fragrant taste. From then on, he ordered betel and areca to be included in the wedding ceremony as a ritual offering. This is one of the Vietnamese customs that must be observed at the wedding feast. Areca nuts and bright green betel leaves in the shape of a heart are always part of the wedding gifts, symbolizing the pledge of marital love and fidelity.

Similar to a cigarette, betel quid was a conversation starter in old Vietnamese society. That’s why it’s customary to say in Vietnamese “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. The betel quid is also used to measure time, because in the absence of clocks in those days, a mouthful of betel corresponds to roughly three or four minutes, giving you an idea of how long a conversation lasted.

 The betel quid

This is one of Vietnamese customs to be observed at a marriage ceremony. There is always betel, with betel nut and intensely green leaves in the form of a heart that is part of wedding gifts that symbolize an eternal union.

[Return CONTES]

La chique de bétel (Trầu Cau)

chique_de_betel
Version vietnamienne
English version

Jadis, sous le règne du roi Hùng IV, vivaient deux frères jumeaux, Cao Tân et Cao Lang (*). Ils se ressemblaient tellement qu’il était difficile de les distinguer. Leurs parents étaient décédés depuis longtemps. Ils suivaient les cours d’un vieux maître du village, Lưu Huyền ayant eu une fille unique de nom Liên  dont la beauté recueillait tous les hommages de tous les jeunes de la région.

Le vieux maître se prit d’affection pour les deux. Il désira accorder la main de sa fille à l’un d’eux, de préférence l’aîné car selon la coutume vietnamienne, l’aîné se maria le premier. Pour arriver à les distinguer, il dut recourir  à un petit subterfuge en les invitant à dîner chez lui. Le premier à prendre les baguettes était l’aîné. C’était ainsi que Cao Tân reçut la main de sa fille sans se douter que son cadet vouait aussi à cette dernière un ardent amour. Ils continuaient à vivre ensemble dans une harmonie complète et connaissaient un bonheur sans faille.

Cao Tân n’en continuait pas moins à aimer son cadet comme avant et faisait tout pour rendre ce dernier plus heureux. Mais celui-ci, malgré cela, n’arriva pas à refouler les peines de son cœur. Il décida de les quitter et trouva le soulagement dans l’aventure. Après tant de jours de marche, il finit par tomber d’épuisement sur la route et fut transformé en un bloc de calcaire d’un blanc immaculé.

Pris d’une inquiétude grandissante pour son frère, l’aîné  partit à sa recherche. Il suivit le même chemin pris par son cadet. Un beau matin, après tant de jours de marche, il arriva près du bloc calcaire, s’y assit et succomba d’inanition.  Il fut métamorphosé en un bel arbre (aréquier) haut avec des palmes vertes et des petits fruits oblongs. L’arbre commença à étendre sa ramure et son ombre au dessus du bloc calcaire  pour le protéger contre les intempéries.

Restée sans nouvelles de son mari, la jeune femme Liên, quitta à son tour, la maison et se mit en quête de son époux. Elle parcourut des champs et des prairies, traversa des villages et arriva enfin un jour tout près de l’aréquier. Fatiguée par la marche, elle s’adossa au pied de l’arbre, mourut à son tour et fut changée en une plante dont les lianes s’enroulaient autour du tronc de l’arbre avec de larges feuilles d’un vert intense en forme de cœur.

Un jour, de passage dans ce coin, le roi Hùng apprit cette histoire. Il essaya de mâcher du bétel et  d’arec  avec un peu de la chaux du bloc calcaire. Il constata que la salive obtenue était vermeille comme le sang et avait une saveur à la fois fraîche, acidulée et odorante.  Il ordonna désormais que le bétel et l’arec durent figurer au mariage comme une offrande rituelle. C’est l’une des coutumes vietnamiennes qu’il faut respecter lors de la fête de mariage. Il y a toujours des noix d’arec et des feuilles de bétel  d’un vert intense en forme de cœur faisant partie des cadeaux de mariage et symbolisant le gage d’amour conjugal et la fidélité.

Semblable à une cigarette, la chique de bétel facilite le début de la conversation dans la société vietnamienne d’autrefois. C’est pourquoi on a l’habitude de dire en vietnamien « Miếng trầu là đầu câu chuyện ». La chique de bétel sert à mesurer aussi le temps car en l’absence d’horloge à cette époque, une bouchée de bétel correspond à peu près trois ou quatre minutes,  ce qui permet d’avoir une idée sur la durée de la conversation.

La chique de bétel est une coutume très ancienne trouvée chez les populations vivant dans les régions s’étendant de l’Inde jusqu’au Japon méridional, recouvrant aussi l’Asie du Sud-Est et la Chine du Sud. Il paraît que la chique de bétel porte le même effet que le coca pour couper la faim. Malgré la disparition de cette coutume au fil des années, les feuilles de  bétel et les noix d’arec continuent à rester une offrande cultuelle et être visible au moment des fiançailles et du mariage des Vietnamiens ou à l’occasion des Tết. 

Chuyện trầu cau

Ngày xưa, dưới thời vua Hùng IV, có hai anh em sinh đôi là Cao TânCao Lang. Hai anh em trông giống nhau như đúc khó mà phân biệt được. Cha mẹ đã qua đời từ lâu. Hai anh em đến học chung cùng một thầy giáo tên là Lưu Huyền. Ông nầy  có một  đứa con gái tên Liên duy nhất rất xinh đẹp được tất cả thanh niên trong vùng trầm trồ ngưỡng mộ.

Ông giáo làng nầy rất qúi cả hai anh em. Ông muốn gã đứa con gái của mình cho  một trong hai người nầy, nhất là cho người anh cả, vì theo phong tục Việt Nam, người anh cả  phải lấy vợ trước. Để có thể phân biệt được giữa họ, ông  phải dùng đến một mẹo nhỏ bằng cách mời họ đến dùng cơm  tối tại nhà. Người đầu tiên cầm đũa là người anh cả. Chính  nhờ vậy mà Cao Tân  được  kết hôn với cô con gái  nhưng không biết  em trai của mình cũng yêu  thầm cô con gái nầy. Họ tiếp tục sống chung với nhau rất hòa thuận và tận hưởng niềm hạnh phúc chung. Cao Tân vẫn tiếp tục yêu thương em trai của mình như trước và làm mọi thứ để người em được  hạnh phúc hơn. Nhưng người  em trai không thể kìm nén nỗi đau trong lòng nên quyết định ra đi và tìm nguồn an ủi trong cuộc phiêu lưu. Sau bao nhiêu ngày đi bộ, anh ta cuối cùng  ngã  bệnh mà chết vì kiệt sức trên đường và biến thành một khối đá vôi trắng tinh.

Càng lo lắng cho em trai mình, người anh cả lên đường đi tìm em. Anh  đi theo con đường tương tự mà em trai của mình đã trải đi qua. Một buổi sáng đẹp trời, sau bao ngày đi bộ, anh ta đến nơi có khối đá vôi, ngồi tụt xuống đó rồi mõi mòn qua đời và được biến thành một cây cau xinh đẹp với những lá cọ xanh tươi và những quả nhỏ hình thuôn dài. Cây nầy bắt đầu vươn cành ra và tỏa bóng mát  lên trên khối đá vôi xem như để  bảo trợ nó chống lại những lúc có mưa gió.

Không có tin tức của chồng, Liên người phụ nữ trẻ lượt rời khỏi nhà và đi tìm chồng. Cô vượt qua những cánh đồng, những ngôi làng và cuối cùng có một ngày cô  lại đến  gần cây cau. Đi quá mệt mỏi, cô mới dựa lưng vào chân cây cau, lần lượt chết đi và được biến  thành một loài thực vật có dây leo quấn quanh thân cây cau  với những chiếc lá rộng màu xanh đậm hình trái tim.

Một hôm, khi đi ngang qua nơi nầy, vua Hùng mới biết được câu chuyện này. Ngài  mới lấy trầu và cau đưa lên miệng nhai  với một tí vôi từ khối đá nầy. Ngài nhận thấy nước bọt thu được có màu hồng như máu và có mùi vị thơm ngon. Bây giờ ngài mới ra lệnh rằng từ đây  trầu cau phải được đưa vào hôn lễ như một lễ vật. Đó là một trong những phong tục mà người dân Việt  cần phải  tôn trọng trong tiệc cưới. Quà cưới luôn luôn phải có các quả cau với những chiếc lá trầu xanh nồng nàn hình trái tim. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu thương vợ chồng và lòng chung thủy sắt son.

Tương tự như điếu thuốc lá, miếng trầu giúp ta dễ bắt nói chuyện hơn trong xã hội Việt Nam thưở  xưa. Đây là lý do tại sao chúng ta thường nói trong tiếng Việt « Miếng trầu là đầu câu chuyện« . Ăn trầu được sử dụng để đo thời gian vì thời đó không có đồng hồ, một miếng trầu chỉ cần nhai khoảng ba hoặc bốn phút, điều này gíúp  chúng ta biết khoảng thời gian của cuộc trò chuyện. Tục ăn trầu là một phong tục cổ xưa được tìm thấy trong các nhóm dân cư sống ở các khu vực trải dài từ Ấn Độ đến miền nam Nhật Bản, bao gồm luôn  cả Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Có vẻ như miếng trầu có tác dụng tương tự như nước coca để ngăn cơn đói. Mặc dù phong tục này đã biến mất theo ngày tháng, các lá trầu và các quả cau vẫn tiếp tục là một lễ vật tín ngưỡng và thường trông thấy ở  các lễ quan trọng như đính hôn, cưới hỏi hay   các Tết lớn nhỏ của người Việt Nam.

[Return CONTES]


(*) Hai chữ Tân và Lang ghép lại thì thành Tân Lang có nghĩa là cây cau. L’association des deux  mots Tân et Lang désigne l’aréquier.

 

 

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): dernière partie

peuple_bana5

Version vietnamienne 

English version

Dernière partie

Une fois le mariage célébré, les jeunes époux habitent par roulement dans leurs familles parentales au bout d’un certain temps suivant l’accord établi entre les deux familles. C’est seulement après la naissance de leur premier enfant qu’ils commencent à construire leur propre maison. Les Bahnar adoptent la monogamie. Le viol, l’inceste et l’adultère sont strictement condamnés. Au cas où l’adultère est commise par le conjoint survivant quel que soit son sexe au moment de la période d’entretien de la tombe, on dit qu’il saute par dessus le cercueil ko dang boăng. Le survivant n’est pas aussitôt délié de ses obligations envers le mort. Il est obligé de payer non pas aux ayants droit du défunt mais au défunt lui-même des indemnités qui sont réglées en un nombre de bêtes que l’on immole bơthi sur sa tombe. C’est pourquoi le conjoint survivant a l’intérêt d’écourter la période d’entretien s’il a envie de refaire sa vie. Même dans la mort, le préjudice causé au défunt par la faute de son conjoint a droit à une réparation matérielle par le nombre de bêtes qu’on immole sur sa tombe.

Dans la tradition des Bahnar, chacun est « libre » sous réserve de ne pas nuire à la personne ou aux biens d’autrui. Dans le cas où la personne a été lésée dans son honneur ou matériellement dans ses biens, elle a droit à une réparation sous forme d’indemnité ou à un remboursement des frais engagés. Les Bahnar n’infligent pas la peine de mort. L’envoi de quelqu’un au bagne correspond à un bannissement. Les Bahnar savent pratiquer l’entraide en cas de disette. Dans leur maison, on ne boit jamais d’alcool de riz, on ne mange jamais de viande sans inviter les autres familles. Le premier riz mûr n’appartient pas seulement au propriétaire du champ mais au village tout entier. 

Figurines de bois
devant les maisons funéraires

bana_figurine

La liberté de choisir le conjoint ou la conjointe, la répartition des tâches dans un couple, le droit à une réparation matérielle ou morale, le respect d’autrui illustrent bien l’égalité entre hommes et femmes dans la tradition ancestrale des Bahnar. Il n’y a pas de différence essentielle entre la situation juridique de l’homme et celle de la femme. Chez les Bahnar, le mode de fonctionnement démocratique existe depuis longtemps avant que la démocratie soit découverte et pratiquée en Occident. Selon l’ethnologue français feu Georges Condominas, les « sauvages » n’attendent pas Minkowski ou Einstein pour avoir la notion d’espace-temps. En employant une expression liée à l’espace, ils indiquent une date. Ils donnent approximativement l’âge de quelqu’un par rapport à un événement saillant. Ils ne détruisent pas totalement la forêt car ils savent la laisser se regénérer des années après qu’ils l’avaient mangé dix ou vingt ans auparavant comme les Mnong de Georges Condominas. Ils ne tuent pas le gibier pour le plaisir de tuer mais ils le tuent pour manger seulement et pour savoir le partager avec leurs compatriotes.

Ils ne gardent que pour eux une part infime de leur chasse. L’épandage et l’utilisation des défoliants par les Américains durant la guerre du Vietnam, le massacre des animaux pour la pharmacopée traditionnelle, la destruction de la végétation et la déforestation liées à la démographie galopante, la stérilisation de la terre par l’utilisation excessive des engrais chimiques sont l’apanage des gens dits « civilisés ». La solidarité et l’entraide ne sont pas des mots creux.

Les Bahnar sont avant tout des « rơngơi » (ou libres). Ils sont habitués à dire: « Je suis rongơi ou kodră (maître)  » pour dire qu’ils sont libres du choix de leurs activités ou maîtres de leur destin. Sont -ils des « sauvages » comme on y pense depuis longtemps? C’est à chacun de nous d’approfondir cette question et de se servir de leur genre de vie et de leur culture comme source d’inspiration et de réflexion afin de nous permettre de vivre mieux et d’être ensemble dans le respect d’autrui et de la nature.

Retour à la première page 

[Retour Vietnam et ses 54 minorités ethniques]

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): deuxème partie

peuple_bana1

 

Version vietnamienne

Version anglaise

Deuxième partie 

La dernière étape correspond au dernier jour. C’est non seulement le jour de la libération du veuf ou de la veuve mais aussi celui où on vide et on nettoie la marmite (xlah go). Un repas commun a lieu en l’honneur des invités chez l’hôte ou dans la maison communale. Puis il est suivi ensuite par un rite consistant à asperger d’eau le veuf ou la veuve ainsi que les parents du défunt par chacun des invités. Cette manifestation officialise la coupure définitive du lien des vivants avec le défunt. Dès lors, le veuf (ou la veuve) est permis de se remarier. La maison funéraire est désormais une carcasse matérielle sans âme. Elle va se décomposer naturellement au fil des années. Mais elle est d’un grand intérêt au niveau artistique et culturel car la palissade en pieux qui la clôture présente un caractère original avec les sculptures d’animaux et d’oiseaux. À l’abri du petit toit de chaume, on peut voir les armes, les vêtements, les aliments offerts à l’esprit du mort. Certaines maisons funéraires sont entourées de sculptures ayant trait à la fertilité ou à la renaissance: hommes et femmes en copulation, hommes et femmes montrant leurs organes génitaux démesurés, figures en position fœtale etc.. Ces figurines grossières ne sont pas des êtres humains mais elles sont des singes du fait qu’elles sont laides comme un singe dans le monde des esprits où tout est à l’inverse du monde des vivants. L’arête faîtière de la maison funéraire ne peut pas passer inaperçue car elle est faite avec un tronc d’arbre entier sculpté et décoré.

Pour les Bahnar, l’âme du défunt continue à vivre en tant qu’esprit dans le monde des esprits.  L’organisation de ce dernier  est semblable à celle du monde des vivants et sa souveraine est à la fois immortelle et un génie-femme nommée Brôu. Le monde des esprits (ou mang lung) est invisible pour les vivants car il se trouve soit à l’intérieur d’une grotte soit dans une forêt noire ou dans une mer très lointaine. Les esprits y vivent groupés dans les villages. Ils assument toutes les activités humaines. Ils connaissent comme les vivants le bonheur et la souffrance et ils vont mourir aussi comme ces derniers. Par contre ils travaillent leurs terres la nuit et ils dorment le jour. De même ils utilisent un langage tout à fait opposé à celui des vivants: « laid » signifie « beau », « émoussé » signifie « aiguisé » etc… Mang Lung ressemble à notre monde mais il est tout à fait inversé. Lorsqu’il fait nuit, c’est le jour à Mang lung. Les maisons y ont des pilotis pointés vers le haut et le toit vers le bas. La durée de vie d’un esprit est aussi limitée car elle se termine aussi par la mort. L’esprit se transforme alors au bout de quarante ou cinquante ans en une goutte de rosée (dak ngop) qui se dissout dans la terre. C’est ainsi que se termine un cycle de vie fermé: terre-homme-esprit-terre. Il n’y a que la souveraine-génie (Bia Brôu) qui a le soin de superviser la naissance de nouvelles créatures en façonnant des enfants avec de la terre et en les introduisant dans les matrices des femmes enceintes.

Pour les Bahnar, un cycle de vie est composé de deux existences:

celle du monde des vivants et celle du monde des esprits.

En ce qui concerne la coiffure des Bahnar, on commence à voir souvent des hommes qui, en contact avec les Kinh et les étrangers, se coupent de plus en plus les cheveux. Normalement, l’homme bahnar enroule un turban d’étoffe et le passe dans le chignon. Par contre, une femme ne porte pas le turban et le remplace par un cordon ou un bandeau de perles de verroteries. C’est un acte de déclaration d’amour lorsqu’une fille dénoue en public le turban d’un jeune homme ou lorsqu’un homme offre à la femme ou à la fille du tabac ou une chique sortie de sa pipe. 

La vie des Bahnar est régie par un cycle annuel traditionnel avec dix mois pour la production agricole et deux mois consacrés aux festivals et aux activités variées du village: mariage, réparation ou construction de la maison, confection des vêtements etc… Dans leur société traditionnelle, la notion d’argent n’a aucune signification importante. Leurs produits de valeur tels que les gongs, les jarres, les buffles, les éléphants, les chevaux étaient utilisés comme les objets de troc dans le passé. Leur richesse se mesure au nombre de gongs, de jarres, d’esclaves trouvés dans chaque famille. Les Bahnar font du riz la base de leur nourriture. Il est cuit à l’étouffée ou à la vapeur. On remplit du riz et d’eau dans un gros bambou qu’on suspend au dessus du feu. En carbonisant le récipient, cela permet de cuire le riz. Ils se servent du riz gluant pour fabriquer une boisson fermentée (ou alcool de riz)( rượu cần en vietnamien). Ils absorbent ce liquide au moyen de longues pipettes en bambou. Ils ajoutent de l’eau lorsque le niveau du liquide baisse. Il est évident que la boisson est de moins en moins concentrée avec cet ajout.  

Les Bahnar de deux sexes se percent souvent les lobes pour porter des boucles d’oreilles mais ils ne se les distendent pas pour porter de gros anneaux comme les autres ethnies de la région. Vers quatorze ou quinze ans, ils se font araser les dents. Cette coutume de l’arasement des dents est en décroissance au fil des années. Par contre, le tatouage n’est pas pratiqué. Pour les garçons, à l’âge où ils commencent à aider leur père dans les champs, ils sont obligés d’aller coucher à la maison communale car c’est ici qu’ils reçoivent la formation, le maniement des armes et l’enseignement assumés par les anciens du village pour l’apprentissage de la vie. Ils ne peuvent rentrer qu’à la maison paternelle pour manger ou pour être soigné en cas de maladie.dantoc_bana

Chez les Bahnar, on constate que le couple des mariés n’adhère ni à la patrilocalité ni à la matrilocalité. C’est une question de convenance liée à la décision du couple. Par contre il y a une répartition de travail dans le couple: le mari s’occupe des affaires du village tandis que la femme prend en charge tous les travaux de la maison. Chez les Bahnar, on est libre de choisir son époux ou son épouse. Le mariage peut être célébré quand chacun des futurs répond aux conditions suivantes:

1°) Ils sont d’âge à cultiver un champ ( 15 à 16 ans). C’est une condition préalable pour nourrir leur famille car personne n’est prête d’apporter l’assistance même leurs parents.
2°) Il est obligatoire de contracter le premier mariage pour une jeune fille même si elle dépasse le cap de trente ans. Par contre elle peut être épousée soit comme femme de premier rang soit femme de second rang. Mais pour un veuf, un célibataire ou un divorcé, il n’est pas possible de contracter de mariage de second rang.
3°) Il n’existe pas de liens de parenté entre les futurs. C’est le cas où le consentement des parents est refusé lorsque le lien est prouvé. D’une manière générale, la participation des parents a pour but de s’assurer que les principes de tradition sont respectés. 

Lire la suite (Tiếp theo)

 

 

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): 2ème partie (version vietnamienne)

peuple_bana1

Version française

Version anglaise

Giai đoạn cuối tương ứng với ngày cuối cùng. Đây không chỉ là ngày giải thoát cho người góa chồng hay góa vợ mà còn là ngày rửa nồi và dọn dẹp (xlah go). Một bữa ăn cơm chung được tổ chức để vinh danh các vị khách tại nhà của chủ nhân hoặc ở nhà rông. Sau đó, có được một nghi thức rảy nước lên người góa phụ hay góa vợ và cha mẹ của những người đã khuất bởi mỗi quan khách được mời. Sự kiện này chính thức hóa việc cắt đứt mối liên hệ cuối cùng giữa người sống và người đã khuất. Vì vậy, người vợ góa chồng (hoặc góa vợ) được phép tái hôn. Nhà tang lễ bây giờ là một cái nhà xác không còn linh hồn. Nó sẽ phân hủy tự nhiên theo năm tháng.

Nhưng nó vẫn  còn được sự lưu ý đến ở phương diện nghệ thuật và văn hóa vì hàng rào bao xung quanh có một đặc điểm độc đáo với các tác phẩm điêu khắc động vật và chim. Dưới mái nhà tranh nhỏ, người ta có thể nhìn thấy vũ khí, quần áo, thức ăn được cúng cho vong linh người đã khuất. Một số nhà tang lễ được rào quanh bởi các tác phẩm điêu khắc liên quan đến khả năng sinh sản hoặc tái sinh: đàn ông và phụ nữ giao cấu, đàn ông và phụ nữ thể hiện bộ phận sinh dục không cân xứng của họ, hình người trong tư thế bào thai vân vân… Những bức tượng thô thiển này không phải là các con người mà là một loài khỉ rất xấu xí trong thế giới thần linh nơi mà mọi thứ đều đảo ngược lại  với  thế giới của người sống. Cây cột của nhà tang lễ khó mà không thấy được vì nó được chạm khắc và trang trí toàn bộ thân cây.

Đối với người Bahnar, linh hồn của người đã khuất tiếp tục sống như một người có linh hồn trong thế giới thần linh. Nơi nầy có tổ chức tương tự như thế giới của người sống. Người cai trị ở đây bất tử và là một phụ nữ có tên là Brôu. Thế giới  thần linh (hay mang lung)  không thể nhìn thấy được đối với người sống vì nó được  ở bên trong hang động, trong rừng sâu hoặc ở một vùng biển rất xa xôi. Các linh hồn sống ở nơi nầy  thường sống thành nhóm ở các ngôi làng. Họ đảm nhận mọi hoạt động của con người. Họ biết hạnh phúc và đau khổ như con người sống và họ cũng sẽ chết như họ. Mặt khác, họ làm việc về đêm và ngủ ban ngày. Tương tự như vậy, họ sử dụng một ngôn ngữ đối lập với ngôn ngữ của người sống: « xấu xí » có nghĩa là « đẹp », « cùn » có nghĩa là « bén » vân vân… Mang Lung trông giống như thế giới của chúng ta, nhưng nó hoàn toàn ngược lại. Khi trời tối là ban ngày ở Mang lung. Những ngôi nhà ở đó có nhà sàn hướng lên trên và mái nhà hướng xuống dưới. Tuổi thọ của một linh hồn ở đây cũng bị giới hạn bởi vì nó cũng kết thúc bằng cái chết. Sau đó, linh hồn biến thành sau bốn mươi hoặc năm mươi năm, một giọt sương (dak ngop) tan vào đất. Đây là một vòng đời khép kín được kết thúc: đất- con người- linh hồn – đất. Chỉ có thần linh tối cao (Bia Brôu), người có công trông coi việc sinh nở của những sinh vật mới bằng cách tạo hình những đứa trẻ với đất và đưa chúng vào tử cung của những phụ nữ mang thai.

Đối với người Bahnar, một vòng đời gồm có hai lần tồn tại: một lần sống với thế giới  người sống và một lần với thế giới thần linh.

Nói đến kiểu tóc của người Bahnar, chúng ta thấy nam giới thường tiếp xúc với người Kinh và người nước ngoài nên  việc cắt tóc ngày càng nhiều. Thông thường, người đàn ông Bahnar quấn trên đầu một chiếc khăn xếp bằng vải và kéo qua búi tóc. Ngược lại, người phụ nữ không đội khăn xếp mà thay bằng dây hoặc băng đô hạt thủy tinh. Đó là hành động tuyên bố tình yêu khi một cô gái cởi bỏ khăn xếp của một chàng trai trẻ ở nơi công cộng hoặc khi một người đàn ông đưa cho phụ nữ hoặc cô con gái thuốc lá hoặc điếu thuốc lào của chàng  ta. Cuộc sống của người Bahnar được điều chỉnh theo chu kỳ truyền thống hàng năm với mười tháng để sản xuất nông nghiệp và hai tháng dành cho lễ hội và các hoạt động khác nhau trong làng: cưới xin, sửa nhà, may quần áo … Trong xã hội truyền thống của họ, khái niệm tiền không có ý nghĩa quan trọng. Những sản phẩm có giá trị của họ như chiêng, ché, trâu, voi, ngựa được dùng làm hàng trao đổi trong quá khứ. Sự giàu có của họ được đo bằng số lượng chiêng, ché, nô lệ được tìm thấy trong mỗi gia đình. 

Người Bahnar dùng gạo làm thức ăn cơ bản. Gạo được nấu hầm hoặc hấp. Cho gạo và nước vào một cây tre lớn rồi treo trên bếp lửa. Bằng cách đốt cháy cây tre chứa thì sẽ nấu chín cơm. Họ dùng gạo nếp để làm thức nước uống lên men (hoặc rượu gạo) (tiếng Việt gọi là rượu cần). Họ hút chất lỏng này qua các cây tre thon dài. Họ thêm nước vào khi mức chất lỏng giảm xuống. Như vậy thức uống nầy ngày càng ít có đặc hơn với sự bổ sung. Người Bahnar ở cả hai giới thường xỏ khuyên tai để đeo chứ không kéo dài ra để đeo vòng bản lớn như các dân tộc khác ở trong vùng. Khoảng mười bốn hoặc mười lăm tuổi, chúng được làm phẳng răng. Tục phẳng răng này đã giảm dần trong những năm qua. Tuy nhiên, xăm mình không được sử dụng. Đối với các đứa con trai, đến tuổi bắt đầu giúp cha làm ruộng thì phải ngủ lại ở nhà rông vì ở đây các em được giáo dục, huấn luyện và sử dụng vũ khí do các già làng đảm nhiệm trong việc học làm người. Chúng chỉ có thể về nhà ăn cơm hoặc được điều trị trong trường hợp ốm đau.  Với người Bahnar, chúng ta nhận  thấy rằng vợ chồng không tuân theo chế độ phụ hệ cũng như mẫu hệ. Đó là một vấn đề thuận tiện liên quan đến quyết định của hai vợ chồng. Mặt khác, giữa hai vợ chồng có sự phân công lao động: chồng lo việc làng, vợ lo việc nhà. Với người Bahnar, bạn có thể tự do chọn vợ hoặc chồng. Hôn nhân có thể được cử hành khi mỗi người (vợ cũng chồng) đáp ứng các điều kiện sau đây: 

1 °) Họ phải đủ tuổi làm ruộng (15 đến 16 tuổi). Đây là điều kiện tiên quyết để nuôi sống gia đình họ vì không ai sẵn sàng hỗ trợ kể cả cha mẹ họ.

2 °) Bắt buộc phải ký hợp đồng hôn nhân đầu tiên đối với một cô gái trẻ ngay cả khi cô ấy đã vượt quá ngưỡng ba mươi tuổi. Mặt khác, cô ấy có thể kết hôn với tư cách là một người vợ chính hoặc một người vợ thứ. Nhưng đối với một người góa bụa, một người độc thân hoặc một người đã ly hôn thì không thể ký kết hôn nhân loại hạng hai.

3 °) Không có liên hệ bà con giữa những người trở thành vợ chồng. Đây là trường hợp mà sự đồng ý của cha mẹ sẽ bị từ chối khi có sư liên hệ. Nói chung, mục đích của sự tham gia của cha mẹ nhầm để đảm bảo và  tôn trọng các  nguyên tắc truyền thống.

[Đọc tiếp phần chót ]


dantoc_bana1

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): 1ère partie

peuple_bana

Version vietnamienne

English version

Première partie

Les Bahnar font partie du groupe Môn-Khmer de la famille ethnolinguistique austro-asiatique. Ils vivent regroupés dans la partie septentrionale des hauts plateaux du Centre Vietnam (Kontum, Gia Lai, Bình Định etc.) à l’écart des gens de la plaine qui à une certaine époque, les ont traités encore comme de sauvages ( ou Mọi en vietnamien). Cela est dû à la méconnaissance de leur culture qui conduit à entretenir cette attitude déplorable et cette vision grotesque. Même les explorateurs français ne cessèrent pas de les désigner comme des Mọi dans leurs récits d’exploration à l’époque coloniale. 

Il n’y a que les ethnologues comme feu Georges Condominas ayant réussi à les reconnaître comme des gens respectueux de la nature et de l’environnement, des gens épris d’un sentiment profond en accord avec le milieu où ils habitent et où tous les êtres (plantes et animaux), monts et eaux, ont une âme comme eux. Les Bahnar vivent dans les régions montagneuses à de diverses altitudes. Ils font pousser du riz sur les champs secs ou sur les rays. (brûlis). Ceux-ci nécessitent souvent le déplacement des plantations et celui des villages car les cendres de l’essartage ne permettent pas de fertiliser la terre au delà de deux ou trois ans à cause de la pluie qui les entraîne lors de son passage. Les récoltes sont abondantes pour la première année de l’incendie.

La deuxième année commence à être moins bonne. Dans de mauvaises conditions, il est impossible de garder le champ au delà de deux ans. C’est pourquoi les Bahnar ont tendance à utiliser les champs secs qui sont aménagés souvent au bord des cours d’eau. La houe est l’outil principal utilisé dans leur agriculture mais depuis le début du XXème siècle, le recours à la charrue dans les rizières inondées est fréquent de plus en plus. 

dantoc_bana1

Leurs croyances religieuses et leurs mythes sont similaires à ceux des autres groupes ethniques rencontrés au Vietnam. Animistes, les Bahnar vénèrent les plantes comme les banians et les ficus. Le kapokier est considéré comme le gardien et sert de pôle de sacrifice dans la célébration des rites et des cérémonies. Chaque rivière, chaque source d’eau, chaque montagne ou chaque forêt, chacune d’elles a son propre génie (ou iang). Les Bahnar séparent les génies en deux catégories: les génies de rang supérieur et les génies de rang inférieur. Les premiers sont les dieux qui ont crée le monde et veillent sur les activités humaines. Parmi ces dieux, on peut citer Bok Kơi Dơi (Principe mâle de la nature), Iă Kon Keh (Principe femelle de la Nature ), Bok Glaih (Dieu du tonnerre et de la foudre), Iang Xơri (Génie du riz) , Iang Dak (Génie des eaux) etc… Quant à la deuxième catégorie, la plupart des génies sont des génies d’animaux, d’arbres ou d’objets parmi lesquels figurent Bok Kla (Monsieur Tigre), Roih (Éléphant), Kit drok (Crapaud), Iang Long ( Génie d’arbres) , Iang Xatok (Génie de jarre) etc…

Face à ces croyances religieuses et à ces superstitions, les missionnaires catholiques ont eu du mal au début de leur mission pour convertir les Bahnar au christianisme. Ils étaient obligés de falsifier même leurs mythes pour corroborer la bible. Les Bahnar chrétiens étaient tellement attachés à leurs croyances animistes qu’ils arrivaient à assimiler tant bien que mal le christianisme au fil des années.

Pour les Bahnar, la mort n’est pas la fin d’une vie mais c’est le commencement d’une autre dans l’au delà. L’âme que les Bahnar désignent sous le nom de pơngơl, se mue en fantôme (ou atâu en bahnar) et rejoint les ancêtres dans le monde des esprits (dêh atâu). Les Bahnar croient que l’être humain est constitué d’un corps (akao) et de l’âme pơngơl. La vie n’est possible que grâce à l’âme et non au corps. Mais l’âme est invisible pour les humains. Il n’y a que le devin qui peut la voir sous la forme d’une araignée, d’un grillon ou d’une sauterelle. Les humains ont chacun trois âmes: une âme principale importante (pơngơl xok ueh) qui doit être attachée au sommet de la tête et deux âmes complémentaires (pơngơl kơpal kol et pơngơl hadang), l’une située sur le front et l’autre dans le corps. Au cas où l’âme principale qui constitue le souffle essentiel pour l’homme quitte le corps pour une raison inconnue et ne revient pas, l’homme sera malade et sera décédé. Les âmes complémentaires sont là pour remplacer temporairement l’âme principale. C’est cette dernière qui se métamorphose en fantôme  dans l’autre monde. Cet esprit (ou fantôme)  a besoin de nourriture, de vêtements et même d’une maison pour se protéger contre la pluie et le soleil. C’est la conception animiste d’après laquelle le défunt continue d’avoir les mêmes besoins dans l’autre monde. C’est aussi pour cela que lors de l’enterrement du décédé, sa famille construit une hutte sur sa tombe: c’est la maison du fantôme (h’nam atâu). Pour les Bahnar, le fantôme continue à vivre dans cette hutte et à rôder dans les environs de la cimetière. Il reçoit régulièrement tous les mois une offrande de porc et de poulet de la part de sa famille. Cette période d’entretien de la tombe peut durer plusieurs mois voire des années. Elle est liée à la situation financière de la famille du décédé. Elle se termine par une cérémonie rituelle (ou cérémonie d’abandon de la tombe ) dont le but est de permettre au fantôme de rejoindre définitivement le monde des esprits (dêh atâu) et de rompre le lien du trépassé avec les vivants. Cet esprit devient ainsi un « esprit grand-père ou grand-mère » (atâu bok ja). Contrairement à des Vietnamiens, des Nùng, des Mường etc…, les Bahnar ne font pas le culte des ancêtres.

Cette cérémonie rituelle a lieu une fois par an et débute d’une manière générale à la fin de la saison des pluies. On choisit la période où il y a la pleine lune. Cette cérémonie est en quelque sorte un enterrement secondaire. Elle est préparée avec soin et joie. Elle est choisie à un jour propice par tous les chefs des familles endeuillées en concertation avec les anciens du village et elle dure habituellement trois jours et trois nuits. On trouve dans cette cérémonie trois étapes essentielles: rites de construction, d’abandon et de libération. Chaque étape correspond à un jour entier.

Dans la première étape, on se débarrasse de la hutte recouvrant la tombe et on édifie à sa place, une maison funéraire avec les matériaux de construction (bambous, bois, herbe imperata) ramassés depuis plusieurs semaines. Le premier jour de construction est appelé « dong boxàt » par les Bahnar. Le travail de construction est accompagné toujours par la danse et la musique dans une liesse indescriptible.

Dans la seconde étape, la cérémonie rituelle débute toujours le soir. C’est l’étape de l’abandon de la tombe. Pour les Bahnar, c’est nar tuk (ou jour de l’abandon). On commence à faire une offrande d’alcool et de viande au défunt dans la maison funéraire. Puis c’est au chef de famille d’entamer une prière et d’officier tandis que ses proches peuvent entrer dans la maison funéraire et se lamenter pour la dernière fois sur le départ précipité du défunt. Une fois le rite terminé, la famille du défunt doit faire sept fois le tour de la maison funéraire dans le sens inverse des aiguilles d’une montre. Elle est accompagnée dans cette ronde par des hommes portant sur leurs épaules une maison miniature (ou maison du fantôme) et des figurines en bois articulées de diverses tailles et actionnées par un jeu de ficelles tentant de simuler toutes les activités humaines: pilage du riz, tissage etc.. Même un couple de figurines en copulation n’est pas absent non plus. Les Bahnar prétendent que l’animation de ces figurines devant la maison du fantôme a pour but d’apporter seulement le divertissement mais certains ethnologues pensent qu’il y a certainement une autre signification en comparaison avec les coutumes des autres ethnies de la région (celles des Batak du Nord de Sumatra). La procession est accompagnée par la danse des femmes au rythme des gongs frappés par des hommes revêtus avec de beaux vêtements et portant chacun une plume dans les cheveux. Etant le point culminant de la cérémonie, cette procession est destinée à accompagner le fantôme dans le monde des esprits.

  Lire la suite (Tiếp theo)

 

 

The Gongs of Central Highlands (Cồng Chiền Tây Nguyên) Second part

 

img_9058

Second part.

This general attempted to break down all the stirrings of Vietnamese resistance by melting all bronze drums, symbol of their power in combat. Probably, in this destruction, there was also the Dongsonian gongs because they were in bronze. According to the director of the South Asia prehistory center (Hànội), Nguyễn Việt, the Dongsonian situla cover whose center is slightly swollen and adorned with a star, strangely resembles the gong embossed of the high plateaus. It also owns the handles with which one can use the ropes for wall hanging as a gong. Perhaps it is the predecessor of the highland gongs.

We do not exclude the hypothesis with which the Dongsonian attempted to hide and sell them at any price in the mountainous regions through the cultural and economic exchange with the highland people.

From the linguistic research in particular that of French researcher Michel Ferguson, a specialist of Austroasiatic languages, this suggests that the Viet-Mường were present at the east of the Anamitic cordillera and on banks of Eastern China Sea (Biển Đông) before the beginning of our era. For this researcher, the group Viet-Mường lived together not only with the Tày but also with the highland people (the Khamou, the Bahnar etc … ). because there is the importance of the Tày vocabulary in the Vietnamese language and the similarities of the Giao Chỉ feudal structure with those of current Thai (descendants of proto-Tày).

In addition, there is a borrowing stratum from one or several languages viet-mường in the Khamou vocabulary. According to the suggestion of this researcher, the Tang Ming kingdom could be the former habitat of Việt-Mường group. This confirms the hypothesis the Dongsoniqan could be the provider of gongs to the highland people through the barter because the latter do not manufacture itself these gongs, despite their sanctity.

Probably, this is due to the fact that, being slash-and-burn agriculturalists, they had not a metallurgical industry enabling them to mold these gongs. Up to today, they obtain them from the Kinh (or Vietnamese), Cambodians, Laotians, Thais etc. before giving them to their musician with his keen hearing. This one manages to give to these gongs a remarkable set of harmonics in accordance with the themes devoted to villagers and tribes by hammering them with the hardwood mallets.

The adjustment of the gong sound is more important than the purchase because it must make the gong in harmony with the gongs of the orchestra and it is necessary to give it a soul, a particular tone. According to the Vietnamese musicologist Bùi Trọng Hiền, the process of collecting and tuning the gongs of different origins and making harmonious and consistent to their aesthetics in a set is a grandiose art. The gong must be sacred before its use by a ritual ceremony, which allow its body to possess now a soul.

Some ethnic groups bless the gongs with the blood in the same manner as jars, drums etc. This is the case of the Mnong Gar identified for example by the French ethnologist Georges Condominas. The sanctity of gongs cannot leave indifferent the Vietnamese. To give to these gongs a significant scope, the Vietnamese have the habit of saying:

Lệnh ông không bằng cồng bà (The drum of Mister does not resonate less loud to the human ear than the gong of Madam). This also explains that the authority of Mr. is less important than that of Madam. 

[More reading (Tiếp theo)]