Tokyo au fil de la nuit (Tokyo về đêm)

Tokyo về đêm.
Tokyo au fil de la nuit

Version française

Sau khi  viếng thăm chùa Senso-ji và học cách thức pha và uống trà theo phong cách người Nhật thì tối đó tụi nầy được anh HDV dẫn đi tham quan khu Shinjuku ở cách xa khác sạn tụi nầy 3 trạm métro. Nhờ vậy mình mới có dịp biết tàu điện ngầm của Tokyo. Đến nơi này mọi người đều phải mua ticket với máy tự động, giá cả cũng không đắc  mà cũng không có màn leo hàng rào qua cổng như ở Paris. Có thể qua cửa dễ dàng nhưng người Nhật họ có kỹ cương giáo huấn từ thưở nhỏ nên ai cũng tôn trọng luật lệ cả. Không có trò chen lấn như ở Paris hay xô đẩy như ở Việt Nam, mọi người đều nối đuôi chờ tàu điện đến trong một không gian yên lặng. Chỉ có buổi sáng lúc giờ cao điểm thì có  các nhân viên làm nhiệm vu đẩy các hành khách cuối cùng  lên tàu, đảm bảo không ai bị kẹt khi tàu đóng cửa lại. Ở ngoài cửa hầm điện cũng có  dân vô gia cư nhưng không có trò ăn xin cướp bóc, cho thì họ lấy chớ không bám theo người để năn nỉ lạy lục. Thật lạ trong tầm mắt chứ, làm mình ngẩn ngơ khâm phục. Ra khỏi hầm đện thì có cảm giác là mình lọt vào tổ kiến khó mà định ra phương hướng và  không dễ tìm đường ra với sự hiện diện của nhiều hành lang ngầm. Tiếc hai hôm ở Tokyo thời tiết rất xấu nên mình không thể chụp hình vừa ý nhưng có còn hơn không.

Khu Shinjuku là một Tokyo mới, không có nhiều địa điểm lịch sử. Các toà nhà văn phòng chọc trời của Tokyo đều tập trung ở phía tây của ga Shinjuku. Mỗi ngày có đến 250.000 nguời đến đây làm việc. Năm 1991, khi  chính quyền thành phố dời về toà cao ốc Văn phòng Thị Chính Tokyo, 48 tầng do kiến trúc sư Tange Kenzo thiết kế thì mọi người gọi  Shinjuku là shin toshin (trung tâm thành phố mới). Ở đây có luôn hai  đài quan sát  ở tầng 45 của hai tháp đôi (Bắc và Nam) của toà thị chính,  vào cửa miễn phí và  nhìn thấy được núi Phú Sĩ khi trời tốt.  Lúc tụi nầy đến tham quan cũng có 10 giời tối mà còn  thấy các toà nhà văn phòng còn đèn sáng. Người Nhật làm việc  đến khuya và sau đó còn la cà ở các quán ăn dọc theo hai bên đường. Lúc trở về khách sạn, tụi nầy cùng anh HDV đi bộ. Mình mới nhận thấy ra người Nhật họ rất siêng năng làm việc. Mình nhớ lại có một lần một người Nhật đến làm thực tập ở nơi mình làm việc. Mình có dịp hỏi anh nầy vậy ở Pháp có gì anh thích. Anh nầy mới trả lời với nụ cười khoái chí: Ở Pháp tôi thích có ngày nghỉ nhiều nhất là trò nghỉ cầu vòng. Thật vậy người  Nhật đã quen sống khổ cực với động đất, núi lửa, sóng thần và cuồn phong nên họ buộc lòng phải siêng năng, tận tụy với công việc họ có. Nhật Bản là đất nước có nhiều nghịch lý vì ở đó  bạn không chỉ tìm thấy những truyền thống mà còn có cả những điều lập dị. Đây là những gì bạn có thể khám phá ở quán cà phê Neko. Những người thuê nhà  không thể nuôi mèo có thể đến quán cà phê Neko dành  ra 1 giờ ngồi âu yếm khoảng 20 con mèo bằng cách trả phí vào cửa 1000 yen mà không cần đồ uống. Do đó, họ có thể xoa dịu đi tâm trạng ức chế  và áp lực mà họ gặp hằng ngày  trong công việc.

.

 

Version française

Après avoir visité le temple bouddhique Senso-ji et assisté à la séance de préparation du thé à la japonaise, notre guide nous a emmenés  visiter ce soir- là,  le quartier de Shinjuku situé  à 3 stations de métro de notre hôtel. Grâce à cela, j’ai eu l’occasion de connaître le métro de Tokyo. Une fois arrivé sur place, chacun de nous doit acheter un billet avec le distributeur automatique. Le prix n’est pas trop cher et il  n’y a pas non plus la tentation de tricher en sautant la barrière de la porte d’entrée comme à Paris. Il est possible de la franchir illégalement  mais les Japonais sont éduqués de façon plus disciplinée  dès leur jeune âge, chacun devant  respecter les règlements. Il n’y a aucune bousculade comme à Paris ou au Vietnam. Tout le monde se met  dans une file  d’attente à l’arrivée du train dans un espace calme. Il n’y a que le matin où l’on voit aux heures de pointe, les agents de transport chargés de pousser les derniers voyageurs à entrer dans le compartiment avec l’assurance de ne blesser  personne avant le départ du train. À l’extérieur du métro, quelques  gens sans domicile fixe (SDF) sont présents  mais on ne trouve point la mendicité et le vol à la tire. Ceux-ci acceptent de recevoir l’argent avec plaisir mais en aucun  cas ils ne supplient personne pour l’aumône. C’est très étrange à portée de ma vue. Cela me  laisse pantois d’étonnement et d’admiration. En sortant du métro, on a l’impression d’être dans une fourmilière où on n’arrive pas à se repérer  par la présence d’un grand nombre de couloirs souterrains. Il est regrettable  pour moi  de perdre deux  jours d’affilée à cause du mauvais temps. Mieux vaut avoir quelques photos à la place de rien du tout.

Le quartier de Shinjuku est un nouveau Tokyo où on trouve peu de sites historiques. Par contre les gratte-ciel de bureaux de Tokyo sont concentrés du côté ouest de la gare de Shinjuku. Chaque jour, il y a au moins 250 000 personnes venant y travailler. En 1991, lors de la décision du gouvernement de la ville d’effectuer le déménagement dans le bâtiment de 48 étages du « Tokyo Metropolitan Office » conçu par l’architecte Tange Kenzo, les gens ont appelé dès lors Shinjuku en Shin Toshin (nouveau centre-ville). Il y a ici deux observatoires situés au 45ème étage des deux tours jumelles de la mairie   où l’entrée est gratuite et on peut  voir le mont Fuji par beau temps. Lors de notre visite, il était déjà 22 heures et nous voyions encore les immeubles de bureaux éclairés. Les Japonais travaillent jusque tard dans la nuit, puis ils  traînent dans les restaurants du quartier. De retour à l’hôtel, nous préférons de marcher  avec le guide. Je viens de réaliser que les Japonais sont très laborieux dans leur travail. Je me rappelle d’une fois qu’un Japonais  de nom Ono était  venu faire un stage à l’endroit où je travaillais. J’ai eu l’occasion de lui demander ce qu’il aimait en France. Mr Ono m’a répondu avec un sourire heureux: J’aime qu’il y a beaucoup de jours de vacances  en France, en particulier les « ponts ». En effet, les Japonais sont habitués à vivre durement avec les tremblements de terre, les volcans, les tsunamis et les ouragans. Ils sont donc obligés d’être diligents et dévoués entièrement  à leur travail. Le Japon est un pays de paradoxes car on y trouve non seulement les traditions mais aussi les excentricités.  C’est ce qu’on peut découvrir avec les Neko cafés. Les locataires japonais n’ayant pas la possibilité de garder  les chats peuvent venir dans les Neko cafés pour passer tranquillement une heure avec  une vingtaine de chats et les câliner en payant un droit d’entrée de 1000 yens sans boisson. Ils peuvent ainsi calmer leur frustration et leur stress journalier qu’ils subissent dans le travail.

 

 

La Tour Eiffel, l’un des symboles de Paris

 

 
Tour Eiffel
 
Tháp Eiffel, một trong những biểu tượng của kinh đô ánh sáng Paris được trông thấy từ xa về đêm dưới nhiều gốc độ khác nhau.
 
La tour Eiffel, l’un des symboles de la ville de lumière Paris est visible de loin au fil de la nuit sous de nombreux angles différents.
 
Galerie des photos

 

No Images found.

 

 

 
 

Jardin des plantes (Paris 2023)

Le retour de l’automne au jardin des plantes à Paris avec l’exposition « mini-mondes en voie d’illumination ».
Mùa thu trở lâi ở vườn bách thảo với triển lãm « Những thế giới thu nhỏ đang phát sáng » ở Paris.

Musée de l’Acropole (Athènes, Grèce)

Version française

Đây là bảo tàng gồm chứa tất cả các hiện vật cổ khám phá  được từ đồi Acropole. Có ít nhất 300 kiệt tác thực sự ở nơi nầy. Ở ngay lối vào ở bảo tàng này, sàn kính trong suốt cho phép du khách có thể nhìn thấy được các cuộc khai quật khảo cổ mà được thực hiện trong nhiều năm qua. Chúng ta còn có thể thấy các bản sao của năm tượng phụ nữ (cariatides) dùng cho sự hỗ trợ điện thờ Erechtheion, được xây dựng trên phần đất linh thiêng nhất của đồi Acropole. Tại đây, bạn có thể chiêm ngưỡng khung cảnh ngoạn mục của đền Parthenon nhưng rất khó để bạn  chụp ảnh do số lượng du khách quá nhiều trong mùa hè này và lệnh cấm được áp dụng ở một số phòng liên quan đến việc triển lãm các bức tượng tuyệt đẹp. Mặc dù vậy,rất hữu ích  cho du khách khi biết cuộc sống hàng ngày của người Athen  ở  thời đó, sau khi đến tham quan Acropolis và Parthénon.

C’est le musée abritant toutes les artefacts  provenant  uniquement  de la colline d’Acropole. On y recense au moins 300 chefs-d’œuvre véritables. À l’entrée de ce musée, le sol en verre transparent permet au visiteur d’avoir une vue sur les fouilles archéologiques entamées au fil des années. On peut voir  les reproductions de cinq cariatides (les statues de femmes) soutenant l’Érechthéion, le sanctuaire édifié sur la partie la plus sacrée de l’Acropole. C’est ici qu’on peut avoir une vue imprenable sur le Parthénon mais il est difficile de faire des photos vu le nombre impressionnant de visiteurs durant cet été et l’interdiction imposée dans certaines salles concernant l’exposition  des superbes statues. Malgré cela, il s’avère utile de connaître la vie quotidienne des Athéniens de cette époque après avoir visité l’Acropole et le Parthénon.

Symbole d’Athènes

Village Oia ( Île Santorin, Grèce)

Mê cung của làng Oia

Version française

Có một thời làng Oia được xem là làng đẹp nhất thế giới nhưng nay đứng hạng năm. Theo Travel + Leisure, thì một làng Pháp  Gordes   thuộc tỉnh  Vaucluse  nằm chèo leo  trên vách đá ở trung tâm vườn quốc gia Luberon được đứng đầu năm nay  2023. Được tọa lạc ở phiá bắc của đảo Santori và được mệnh danh là viên pha lê sáng chói của vùng biển  Egée, làng Oia hay thường để lại cho du khác một ấn tượng khó quên với vẻ đẹp đặc biệt và hài hoà thích hợp của nó với các ngôi nhà màu trắng tinh, các vòm màu xanh của nhà thờ cùng các gam màu của nước biển pha lẫn với  cát  tro của núi lửa. Ở bất cứ nơi nào khi bạn lạc vào mê cung  của làng, bạn cũng có được một góc nhìn đẹp lạ lùng để chụp ảnh nhưng ngược lại cũng khá gian nan cho ai không quen trèo núi  với các ngõ đường đông người  eo hẹp quằn quèo  và lát đát khi mặt trời lên thiên đỉnh lúc 13 giờ trưa (50 độ hôm tụi nầy đến). Mặc dù vậy, cũng nên đến một lần  trong đời người  để biết ngôi làng đẹp nhất của vùng biển Égée.

ll y a un temps où le village Oia était considéré comme le plus beau village du monde mais il  est classé désormais au cinquième rang. Selon Travel + Leisure, un village français nommé Gordes de la province Vaucluse, situé sur une falaise au centre du Parc National de Luberon dans le Vaucluse reçoit cette année 2023 la première place. Étant situé au nord de l’île de Santorin et connu comme la perle de cristal éblouissante de la mer Égée, le village Oia laisse souvent aux visiteurs une impression inoubliable par sa beauté singulière et  son harmonie judicieuse  avec les maisons peintes en blanc pur, les dômes bleus de l’église et les tons de couleur de l’eau de mer mêlée au sable du cendre volcanique. Peu importe où vous allez dans le labyrinthe de ce village, vous avez toujours  un angle de vue étrangement superbe  pour prendre des photos mais il  est assez pénible pour ceux qui ne sont pas habitués à escalader la montagne  avec des ruelles extrêmement  étroites bondées de gens,  sinueuses et pavées quand le soleil atteint son zénith à 13 heures (50 degrés le jour de notre arrivée). Cela vaut quand même la peine de venir ici une fois dans sa vie pour connaître le plus beau village de la mer Égée.

 

 

Théra, capitale de l’île Santorin

Version française

Vào cuối thời kỳ đại đồ đồng, sự phun trào núi lửa tại thành phố Thera trên đảo Santorini đã diễn ra và được xem là một trong những thảm họa chết chóc nhiều nhất ở ngoài khơi đảo Crète. Theo một số nhà khoa học, điều này đã gây ra sự sụp đổ của nền văn minh Minoen. Théra là một điểm du lịch rất phổ biến đối với khách nước ngoài  và đạt được đỉnh cao trong  lúc mùa hè. Chính tại đây, ta đã thấy những mái vòm của các nhà thờ được sơn màu xanh lam với những bức tường của các ngôi nhà màu trắng. Đó là màu lá cờ của nước  Hy Lạp. Ngoài ra, nhờ sử dụng gam màu trắng nên nhiệt  nóng được phản chiếu lại  và giảm bớt nhiệt  độ gay gắt hơn ở trong nhà. Vì vấn đề vệ sinh và bảo vệ chống nấm, vôi được sử dụng để sơn nhà và  các cây cối. Trên đảo không có nguồn nước ngọt nào cả. Đây là lý do tại sao những ngôi nhà  không có mái che mà thay vào đó là những sân thượng  dùng  để hứng nước từ những cơn mưa hiếm hoi cần thiết cho cuộc sống hàng ngày.

THERA

Version française

C’est à la fin de l’âge de bronze que l’éruption du volcan à la ville de Théra de l’île de Santorin a eu lieu et  a été considérée comme l’une des catastrophes les plus meurtrières au large des côtes crétoises. Selon certains scientifiques, cela provoquait la chute de la civilisation minoenne. Théra est une destination très populaire auprès des touristes étrangers et connait un pic de visites durant la période de l’été. C’est ici qu’on vit les dômes des églises  peints en bleu et les murs des maisons en blanc. C’est la couleur du drapeau grec. De plus grâce à la couleur blanche employée, la chaleur est renvoyée et moins intense à l’intérieur de la maison. Pour une question d’hygiène et de protection contre les champignons, on se sert de la chaux pour la peinture des maisons et des arbres.  Il n’y a aucune source d’eau douce dans l’île. C’est pourquoi les maisons n’ont pas des toits mais à leur place des terrasses pour recueillir l’eau des rares pluies nécessaire à la vie quotidienne.

Musée national archéologique d’Athènes (Bảo tàng Khảo cổ Quốc gia Athens)

 

Version vietnamienne

Fondé à la fin du 19ème siècle, le musée archéologique national d’Athènes est l’un des plus grands musées du monde sur la Grèce antique. On y trouve des objets archéologiques datant de la préhistoire mais aussi ceux de l’antiquité. Ceux-ci  sont exposés sur deux étages. À l’entrée de ce musée, on voit apparaître l’exposition des trouvailles  archéologiques de la civilisation mycénienne ou du monde mycénien. Étant  une cité antique préhellénique de l’âge de bronze,  située dans l’est du Péloponnèse et dominant la fertile plaine d’Argos, Mycènes  joue un rôle majeur dans l’échange  commercial  non seulement  avec le reste de la Grèce antique mais aussi avec l’Egypte, les ports phéniciens, Syrie et Chypre. Les Égyptiens se sont intéressés aux Mycéniens et à leur montée en puissance à partir du XIVème  siècle av. J.-C. Le début de l’ère mycénienne est marqué par la découverte  des tombes funéraires des cercles funéraires A et B (1650-1500 av. J.-C.) contenant de luxueuses reliques de nobles mycéniens, découvertes par le découvreur allemand de la ville de Troie (Turquie)  Heinrich Schliemann en 1876. Mais l’art mycénien  reçoit une influence notable de l’art ancien  des Minoens de l’île méditerranéenne de la Crète au cours de la  période approximative de 1700-1500 avant notre ère. On va découvrir des masques funéraires réalisés avec de l’or, des objets en bronze, des bijoux, des momies, des statuettes en marbre, des sculptures et même une belle collection d’art égyptien. À part l’Acropole et le Parthénon, le touriste n’a aucun intérêt de ne pas visiter ce musée car il est témoin de la civilisation de la Grèce antique.

Version vietnamienne

Được thành lập vào cuối thế kỷ 19, Bảo tàng Khảo cổ Quốc gia Athens là một trong những bảo tàng lớn nhất thế giới về Hy Lạp cổ đại. Có những đồ vật khảo cổ có niên đại từ thời tiền sử nhưng cũng có những đồ vật từ thời cổ đại. Các hiện vật  được trưng bày ở hai tầng. Ngay lối vào của bảo tàng này, chúng ta được thấy ngay sự trưng bày các hiện vật  khảo cổ từ nền văn minh Mycenaea hoặc thuộc về  thế giới Mycenaea. Là một thành phố cổ đại thời kỳ đồ đồng tiền Hy Lạp, được tọa lạc ở phía đông Peloponnese trên vùng đồng bằng màu mỡ Argos, Mycenae giữ  một vai trò cực kỳ quan trọng  trong việc  trao đổi thương mại không chỉ với phần còn lại của nước Hy Lạp cổ đại mà còn với Ai Cập, các hải cảng của người Phê-ni-xi, Syria và đảo Síp. Người Ai Cập bắt đầu quan tâm đến người Mycenae và sự trỗi dậy quyền lực của họ từ thế kỷ 14 trước Công nguyên. Sự khởi đầu của kỷ nguyên Mycenaea được đánh dấu bằng việc phát hiện ra những ngôi mộ chôn cất từ ​​các vòng chôn cất A và B (1650-1500 trước Công nguyên) chứa các di vật sang trọng của các quý tộc Mycenae, được phát hiện bởi người  Đức  phát hiện ra thành Troie,  Heinrich Schliemann vào năm 1876.Nhưng nghệ thuật Mycenaea chịu ảnh hưởng đáng kể từ nghệ thuật cổ đại của người Minoa trên đảo Crète ở Địa Trung Hải trong khoảng thời gian ước chừng 1700-1500 TCN. Chúng ta sẽ khám phá những mặt nạ tang lễ được làm bằng vàng, các đồ vật bằng đồng, các đồ trang sức, các xác ướp, các tượng nhỏ bằng đá cẩm thạch, các tác phẩm điêu khắc và thậm chí còn có  một bộ sưu tập nghệ thuật Ai Cập tuyệt vời. Ngoài quần thể Acropolis và Parthenon, du khách không có hứng thú nào mà không ghé tham quan bảo tàng này bởi vì nó là nhân chứng ​​ của nền văn minh Hy Lạp cổ đại.

 

Premier jour d’Athènes , vieux quartier Plaka (Ngày đầu ở thủ đô Athènes, phố cổ Plaka)

Version française

Đến Athènes vào buổi trưa, sau khi ăn cơm, tụi nầy có dịp tham quan khu phố cổ Plaka nằm dưới ngòn đồi Acropolis. Nơi nầy  rất nhộn nhip và có rất nhiều đường phố đi bộ mua sắm và ăn uống. Khu Plaka được giới hạn một cách đại khái với khu vực Makrigianni ở phía nam, đền thờ thần Zeus Olympic (đang sùng tu lại) và vòng cung Hadrian ở phía đông, khu vực Syntagma và Ermou ở phía bắc và Monastiraki ở phía tây. Nơi nầy có nhà  thờ chính thống công giáo của Athènes rất trang nghiêm và xinh đẹp.

Công trình xây dựng nhà thờ được  bắt đầu vào ngày 25 tháng 12 năm 1842 và chính Vua Otho I và Nữ hoàng Amélie của nước Hy Lạp đã đặt viên đá đầu tiên. Trong quá trình xây dựng, đá cẩm thạch của bảy mươi hai nhà thờ bị phá hủy đã được sử dụng để xây dựng những bức tường hoành tráng của nhà thờ. Cần đến ba kiến ​​trúc sư và hai mươi năm để hoàn thành nó. Cuối cùng, vào ngày 21 tháng 5 năm 1862, nhà thờ được Vua Othon và hoàng hậu cung hiến cho Lễ Truyền tin.

Version française

PREMIER  JOUR D’ATHÈNES.

En arrivant à la capitale Athènes dans l’après-midi, nous avons l’occasion de visiter l’ancien quartier Plaka situé au pied de la colline d’Acropolis.  Ce lieu est très animé et a beaucoup de rues piétonnes remplies de boutiques et de restaurants. Le quartier Plaka est délimité d’une manière générale par la zone  Makrigianni au sud, le temple Zeus  (en cours de rénovation)  et l’arc d’Hadrien à l’est, la zone Syntagma et  Ermou au nord et Monastiraki à l’ouest . C’est ici qu’on trouve  l’église orthodoxe cathédrale d’Athènes

La construction de la cathédrale commence le 25 décembre 1842 et ce sont le roi Othon Ier et la reine Amélie de Grèce qui en posent la première pierre. Lors des travaux, on utilise le marbre de soixante-douze églises démolies pour édifier les murs immenses du bâtiment. Trois architectes et vingt années sont nécessaires pour l’achever. Enfin, le 21 mai 1862, la cathédrale est dédiée à l’Annonciation par le roi Othon et son épouse.

Les ponts de Paris (Các cây cầu ở Paris)

Version française

Version vietnamienne

À une époque lointaine, c’est par ce fleuve que vinrent les Barbares et les Normands  pour occuper Paris. Comme la Seine jouait  un rôle économique pour la capitale, on était obligé de construire  à partir du 17ème siècle des ponts entre ses rives pour désengorger le trafic. À présent que décline le rôle économique, la Seine devient la voie  majestueuse empruntée par les touristes étrangers et les promeneurs   pour faire une ballade  au fil de l’eau sur un tronçon de  13km parcouru par la  Seine  à Paris  par l’utilisation des bateaux-mouches  qui s’y multiplient entre des berges. On y dénombre actuellement 37 ponts.  Le pont le plus ancien est connu sous le nom du pont Neuf car il fut  construit  le premier en pierre de l’an 1578 jusqu’à  l’an 1607 sous les règnes des deux rois Henri III et Henri IV. Le plus beau et le plus somptueux reste le pont Alexandre III réalisé au moment de l’Exposition Universelle en 1900. Le pont des Arts devient  le lieu des rendez-vous des amoureux du monde entier.  C’est ici qu’on voit tout le long du pont, un grand nombre de cadenas accrochés sur ses côtés  et verrouillés  dont les clés ont été jetées dans la Seine pour immortaliser leur amour, ce qui fragilise le pont. Cette tradition est désormais interdite. Le dernier pont est la passerelle de Simone de Beauvoir dotée d’une structure lenticulaire et inaugurée en 2006.

 

Version vietnamienne

Từ thưở xưa , chính nhờ  con  sông này mà  các dân tộc  man rợ và  Normand mới chiếm được Paris. Chính vì sông Seine đóng một vai trò kinh tế quan trọng cho thủ đô nên từ thế kỷ 17 trở đi, người ta cần xây dựng  nhiều cây cầu bằng gỗ giữa hai bên bờ sông để làm giảm bớt  đi sự tắc nghẽn giao thông. Giờ đây, khi vai trò kinh tế của sông  không còn nữa thì sông Seine trở thành một phương tiện được khách du lịch nước ngoài và  người đi bộ trọng dụng để đi dạo dọc theo mặt nước của  đoạn đường dài có 13  cây số của sông bằng cách nhờ  những chiếc thuyền máy  « bateau-mouche »  thường thấy  càng nhiều ở các bờ sông. Hiện nay  có tất cả 37  cây cầu  bắc qua   sông Seine ở Paris. Cầu được  xem  cổ kính và lâu đời  nhất là Pont Neuf  được gọi là là « cầu mới » vì nó được xây dựng  đầu tiên bằng đá  từ năm 1578 đến năm 1607 dưới thời ngự trị của hai vua Henri Đệ Tam và Henri Đệ Tứ.  Đẹp và lộng lẫy nhất phải nói đến cầu Alexandre Đệ Tam, được xây vào thời điểm diễn ra có Triển lãm Toàn cầu năm 1900. Cầu  Pont des Arts  thì trở thành cầu của  những  người tình nhân ở trên thế giới. Được thấy không biết bao nhiều ổ khoá được khoá lại, chìa khóa vứt xuống sông Seine  và treo lủng lẳng ở hai bên cầu để nói lên tình chung thủy của họ khiến làm cây cầu suy yếu. Nay thì truyền thống nầy bị cấm.  Cầu cuối cùng là cầu đi bộ Simone de Beauvoir được trang bị với  cấu trúc dạng thấu kính và được khánh thành vào năm 2006.

Liste des ponts de Paris

 

Village médiéval Eze (le plus beau village de France)

 

Version vietnamienne

Perché sur un piton rocheux  de 429 mètres d’altitude entre le Ciel et la Mer avec ses ruelles pavées et sinueuses et ses maisons étagées bien fleuries  le faisant  passer pour un dédale, le village médiéval Eze est situé entre Nice et Menton et à 8km de la principauté de Monaco dans le département Alpes-Maritimes. Il est connu pour son église baroque Notre-Dame de l’Assomption et son jardin exotique aménagé sur les ruines de la forteresse médiévale. C’est ici qu’on voit  s’installer une véritable harmonie où les sculptures longilignes en terre cuite de l’artiste-sculpteur Jean-Philippe Richard côtoient les plantes succulentes des régions désertiques d’Amérique du Nord et du Mexique (cactus,  agaves, aloès, euphorbes etc.) et de la  Méditerranée. C’est aussi ici que le visiteur peut  contempler  un panorama magnifique  sur la Riviera française en contrebas. Le village est riche en histoire. À l’image de tous les villages de la région méditerranéenne, les Romains occupèrent ce lieu, dès le 3ème siècle après J.-C. en le faisant devenir un oppidum romain pour faire face à tous les envahisseurs. Puis c’est aussi  par une petite porte nommée  aujourd’hui « porte des Maures » que  les Sarrasins réussirent à prendre la cité en l’an 900 à l’époque où ils dévastaient la  Provence et la Ligurie  pendant plus de 70 ans jusqu’à sa  libération par le comte de Provence, Guillaume 1er. La cité  fut rattachée  ensuite en l’an 1388 à la couronne de Savoie qui apportait beaucoup de modifications à caractère défensif  dans la protection de la cité par une  double porte connue sous le nom « Poterne » avant d’être rattachée définitivement à la France  lors d’un vote à l’unanimité des Ézasques les 15 et 16 avril 1860.

Jardin exotique
Vue panoramique sur la Riviera 

Version vietnamienne

Nằm trên một đỉnh núi đá cao 429 mét so với mực nước giữa Trời và Biển với những con đường lát đá và quằn quèo  cùng những ngôi nhà nhiều tầng nở  đầy hoa khiến nơi đây trông giống như một mê cung, ngôi làng thời trung cổ Eze được tọa lạc cách xa công quốc Monaco 8 cây số giữa hai thành phố Nice và Menton và ở trong  địa phận Alpes-Maritimes . Làng nầy  được biết đến với nhà thờ Notre-Dame de l’Assomption kiểu phong cách baroque và khu vườn nhiệt đới  được hoàn tất trên phế tích của một pháo đài ở thời trung cổ. Chính tại đây, được thấy  có sự hài hòa của các tác phẩm điêu khắc bằng đất nung thanh mảnh  của nhà điêu khắc Jean-Philippe Richard được dựng bên cạnh các loài thực vật mọng nước  đến từ các vùng sa mạc của Bắc Mỹ và Mexico (như  xương rồng, cây thùa, lô hội, euphorbias, vân vân) và Địa Trung Hải. Cũng tại đây, du khách có thể nhìn xem  một phong cảnh tuyệt vời của vùng duyên hải Pháp ở phía dưới. Ngôi làng nầy rất giàu về lịch sử. Giống như các làng ở khu vực Địa Trung Hải, người La Mã đã chiếm đóng nơi này từ thế kỷ thứ 3 sau Công nguyên bằng cách biến nó thành một thành lũy (oppidum) kiên cố để  chống lại quân xâm lược. Sau đó, nhờ thông qua một cánh cửa nhỏ nay gọi là  « cửa của người Moor », người Hồi giáo đã thành công  chiếm được thành vào năm 900 khi họ tàn phá Provence và Liguria có hơn 70 năm cho đến khi được bá tước của Provence, Guillaume đệ nhất giải phóng. Làng nầy được thuộc sau cùng về vương quốc Savoie vào năm 1388. Vương quốc  nầy thực hiện  nhiều sửa đổi mang tính chất phòng thủ trong việc củng cố  thành lũy  qua cánh cửa đôi được biết đến nay với cái tên « Poterne » trước khi  thành được trở về  vĩnh viễn dưới quyền cai trị của Pháp trong một cuộc bỏ phiếu nhất trí của người  dân ở Eze vào ngày 15 và 16 tháng 4 năm 1860.

 

Le dédale d’Eze (Mê cung Eze)