Sites touristiques
Sites touristiques et historiques du Vietnam ou du monde.
Còn chút gì để nhớ Pleiku, Gia Lai
Còn chút gì để nhớ Pleiku, Gia Lai
Lúc về Việt Nam vào tháng 11 vừa qua, minh được anh Phát, người sáng lập Trường Không Biên giới mời đến Pleiku để dự lễ tưởng niệm vợ anh quá cố được Mái Ấm Thiên Ân tổ chức ở Pleiku. Đây là nơi được sơ Nguyễn Thị Kim Chi, thuộc dòng các nữ tu thuộc tu viện St. Paul de Chartres ở Pháp thành lập từ năm 2010 và che chở hàng trăm em nhỏ người đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, ít học hoặc bị cha mẹ bỏ rơi. Mái Ấm Thiên Ân được tọa lạc ở thôn 4, xã Chư Á, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, mái ấm Thiên Ân cách trung tâm thành phố Pleiku khoảng chừng 9 cây số.
Nhắc đến Pleiku làm mình không thể quên bài « Còn chút gì để nhớ của nhà thơ Vũ Hữu Định mà được nhạc sỹ Phạm Duy phổ biến thành nhạc. Có dịp đến Pleiku rồi hôm nay trở về Paris tự hỏi mình còn chút gì để nhớ Pleiku hay không? Còn chứ, còn nhớ nhiều lắm, nhớ Mái Ấm Thiên Ân, nơi bao bọc các em nghèo thuộc dân tộc thiểu số (Jarai, Ede), nhớ đến các sơ không ngại khó khăn nhọc nhằn kiếm tiền từng xu qua cách trồng trọt cà phê, hạt điều, va ni vân vân và tháo vát bán buôn và đa năng để đem lại ấm no cho 189 em nghèo thiểu số, nhớ đến một thành phố hiền hoà ít xe cộ bụi bặm náo nhiệt như Saïgon thưở nào, nhớ đến phố núi đầy sương mù như Đà Lạt, nhớ đến vườn hoa tuyệt vời, một thiên đàng xinh xắn nho nhỏ được săn sóc tĩ mĩ với đầu óc thẩm mỹ của các sơ, nhớ đển buổi lễ tưởng niệm chị Marie Consolata ở nhà thờ, nhớ biển hồ T’nưng, nhớ đến buổi cơm tối ngày đầu khi ba chú cháu dùng ở một quán cơm dân dã đậm chất quê hương nhất là để lại một ấn tượng với món cá chiên dầm xoài nước mắm. Một kỷ niệm khó quên, một thành phố đáng nhớ trong cuộc hành trình nầy.
Mái Ấm Thiên Ân
Quelque chose à retenir de Pleiku, Gia Lai
À mon retour au Vietnam en novembre dernier, j’ai été invité par Mr Phát, fondateur de l’’École sans Frontières, à venir à Pleiku pour assister à la messe commémorative de sa défunte épouse organisée par le « Refuge Thiên Ân ». Il s’agit d’un havre fondé en 2010 par sœur Nguyễn Thị Kim Chi appartenant à l’ordre des Religieuses de Saint Paul de Chartres en France et abritant des centaines d’enfants de minorités ethniques en situation difficile, sans éducation ou abandonnés par leurs parents. Le refuge Thiên Ân est situé dans le village 4, commune Chu Á ville de Pleiku, province de Gia Lai, Il est à environ 9 kilomètres du centre-ville de Pleiku. En évoquant Pleiku, je ne peux pas oublier la chanson « Ce qu’il reste à retenir » du musicien talentueux Pham Duy ayant trouvé son inspiration dans le célèbre poème du poète Vũ Hữu Định.
Ayant eu l’occasion d’aller à Pleiku puis de retour à Paris aujourd’hui, je me demande si j’ai encore quelque chose à retenir de Pleiku ou non? Oui, il y a plein de choses à retenir. D’abord je me souviens du refuge Thien An, l’endroit qui abrite les enfants pauvres des minorités ethniques (Jarai, Ede), puis des religieuses polyvalentes qui n’ont pas peur des épreuves et des difficultés pour gagner de l’argent en cultivant du café, des noix de cajou, de la vanille, etc. et qui se débrouillent pas mal dans la vente au détail et en gros pour apporter la nourriture à 189 enfants pauvres des minorités ethniques, de la ville Pleiku paisible et moins polluée avec peu de voitures semblable à la ville Saïgon d’une époque lointaine, de la ville de montagne plongée dans la brume comme Dalat, du magnifique jardin fleuri, un joli petit paradis soigneusement entretenu par l’esprit esthétique et créatif des religieuses, de la messe commémorative en l’honneur de Marie Consolata à l’église, du lac T’nưng et enfin du dîner du premier jour où nous avons mangé tous les trois dans un restaurant populaire et typique de notre pays, en nous laissant à la fin du repas une impression particulière avec le poisson frit mariné dans une sauce à la mangue. Un souvenir inoubliable, une ville mémorable pour ce voyage.
Coucher du soleil à la baie Lan Hạ
Le village antique Cái Bèo ( Làng chài cổ Cái Bèo)
Đến tham quan vịnh Lan Hạ, du khách không thể không biết đến làng chài Cái Bèo. Đây là ngôi làng cổ trên biển đã có từ thời tiền sử vì ở đây các nhà khảo cổ đã tìm ra từ 2006 các hiên vật được làm từ đá granite, 1.424 mảnh gốm tiền sử và 568 tiêu bản di cốt động vật, xương cá, vỏ sò, vỏ hàu vân vân. Nay Cái Bèo được công nhận chính thức 2009 là di tích quốc gia. Cũng là nơi sinh sống của 300 hộ dân, sống chủ yếu bằng nghề đánh cá biển và bắt sò, hàu.
Cái Bèo
De passage à la baie de Lan Hạ, le touriste ne peut pas s’empêcher de connaître le village des pêcheurs de Cái Bèo. Il s’agit bien d’un ancien village qui a existé depuis la préhistoire car ici les archéologues ont découvert depuis 2006 des artefacts fabriqués en granit, 1424 pièces de poterie datant de l’époque préhistorique et 568 pièces de reliques d’animaux, d’os de poisson, d’écailles et de huîtres etc. Aujourd’hui, Cái Bèo est officiellement reconnu comme monument national en 2009. Il abrite également 300 familles vivant essentiellement de la pêche en mer et d’élevage de coquilles et d’huîtres.
Passing through Lan Hạ Bay, tourists can’t help but get to know the fishing village of Cái Bèo. This is an ancient village that has existed since prehistoric times because since 2006 archaeologists have discovered granite artifacts, 1424 pieces of pottery dating back to prehistoric times and 568 pieces of animal relics, fish bones, scales and oysters etc. Today, Cái Bèo was officially recognized as a national monument in 2009. It is also home to 300 families who live mainly from sea fishing and shell and oyster farming.
Làng cổ Việt Hải (Le village ancien des pêcheurs Việt Hải)
Làng cổ Việt Hải (Cát Bà)
Version française
English version
La galerie des photos
Nằm trong rừng sâu của vườn quốc gia Cát Bà, làng chài cổ Việt Hải có một diện tích khoảng chừng 141 ha được xem không những là nơi có quang cảnh hữu tình mà còn là nơi sinh sống của 70 hộ dân. Nơi nầy được du khách ngoại quốc rất ưa thích vì nó còn hoang sơ vả lại có thể đi trekking xuyên qua rừng Cát Bà khoảng 12 cây số sau khi mua vé với 160.000 đồng một người.
Situé dans la forêt profonde du parc national de Cát Bà, l’ancien village de pêcheurs de Việt Hải a une superficie d’environ 141 hectares. Il est considéré non seulement comme un endroit au paysage idyllique mais aussi le foyer de 70 familles. Cet endroit est très apprécié par les touristes étrangers car il est encore sauvage et de plus il est possible de faire la randonnée pédestre à travers la forêt de Cát Bà sur environ 12 kilomètres après avoir acheté un billet à 160 000 VND par personne.
Located in the deep forest of Cát Bà National Park, the former fishing village of Việt Hải covers an area of around 141 hectares. It is considered not only a place of idyllic scenery but also the home of 70 families. This place is prefered by foreign tourists because it is still wild and moreover it is possible to hike through the Cat Bà forest for about 12 kilometers after buying a ticket for 160,000 VND per person.
Palais Kiến Trung (Điện Kiến Trung)
Điện Kiến Trung
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Nằm ở điểm cực bắc của trục thần đạo xuyên qua trung tâm Tử Cấm thành, Điện Kiến trung là một công trình kiến trúc được vua Khải Định cho xây vào năm 1921-1923. Đây cũng là điện đầu tiên có sự phối hợp phong cách Âu châu gồm có kiến trúc Pháp, kiến trúc Phục hưng của Ý Đại Lợi cùng với kiến trúc cổ truyền Việt Nam. Mặt tiền của điện thì được trang trí một cách cầu kỳ với các hoa văn, các họa tiết với các mảnh gốm sứ nhiều màu, mang đậm bản sắc của cung đình triều Nguyễn. Tòa điện này được hoàn thành chỉ trong vòng 2 năm, từ 1921 đến 1923 với sự cố vấn của một số kiến trúc sư, kỹ sư người Pháp và Bộ Công, trên nền cũ mà trước đó là có hai công trình kiến trúc khác, đó là Minh Viễn Lâu (1827) và Du Cửu Lâu (1913) và nhầm để đáp ứng theo thị hiếu thẩm mỹ thời bấy giờ. Theo Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế, điện nầy được lấy tên là Kiến Trung với chữ Kiến mang ý nghĩa là dựng lên và Trung thì có hàm ý là không sai lệch, ngay thẳng. Điện nầy được xem là nơi ăn ở của hai nhà vua cuối cùng của triều đại Nhà Nguyễn: Khải Định và Bảo Đại. Chính ở nơi nầy vua Khải Định băng hà vào ngày 6 tháng 11 ,1925. Dưới thời vua Bảo Đại thì điện được tu sửa toà điện, tân trang các tiện nghi theo thể cách Tây Phương trong đó có cả buồng tắm. Cũng tại điện nầy hoàng hậu Nam Phương hạ sinh Thái Tử Bảo Long (4-1-1936). Với những năm chiến tranh Việt Nam, điện cùng các công trình khác ở Tử Cấm Thành bị tàn phá nên chỉ còn nền mà thôi. Từ năm 2013, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã khởi động dự án phục hồi điện Kiến Trung. Dự án này đã được thực hiện từ tháng 2 năm 2019 với tổng kinh phí hơn 123 tỉ đồng và hoàn tất vào tháng 8 năm 2023. Nay điện Kiến Trung trở thành một nơi ưa thích nhất của du khách khi đến tham quan Tử Cấm Thành.
Situé à l’extrémité nord de l’axe sacré traversant le centre de la Cité Interdite pourpre, le palais Kiến Trung est une œuvre architecturale édifiée par le roi Khải Định en 1921-1923. C’est aussi le premier bâtiment où il y a la combinaison entre le style européen comportant à la fois l’architecture française et l’architecture de la Renaissance italienne et celui de l’architecture traditionnelle vietnamienne. La façade de ce palais est richement décorée de motifs et de fragments de céramique colorés, portant ainsi l’empreinte de l’identité de la cour royale de la dynastie des Nguyễn. Sur les conseils de plusieurs architectes et ingénieurs français et du ministère des Travaux publics, ce palais répondant au goût esthétique de l’époque fut achevé seulement en deux ans, de 1921 à 1923 sur l’ancien emplacement où ont eu lieu précédemment deux autres œuvres architecturales connues successivement sous les noms de Minh Viễn Lâu (1827) et Du Cửu Lâu (1913). D’après le Centre de conservation des monuments de Huế, il a été connu sous le nom de Kiến Trung (Kiến » érigé » et Trung « droit, pas de déformation »). Ce palais était considéré comme le lieu de résidence des deux derniers rois de la dynastie des Nguyễn: Khải Định et Bảo Đại. C’était ici que le roi Khai Dinh fut décédé le 6 novembre 1925.Sous le règne du roi Bảo Đại, le palais et son intérieur ont été rénovés selon le style occidental, y comprise la salle de bain. C’était également dans ce palais que la reine Nam Phương donna naissance au prince héritier Bảo Long (4 janvier 1936). Durant la guerre au Vietnam, ce palais était entièrement détruit ainsi que d’autres résidences de la cité interdite. Depuis 2013, le Centre de conservation des monuments de Huế a commencé à lancer le projet de restauration du palais Kiến Trung. Ce projet fut mis en œuvre depuis février 2019 et achevé en août 2023 avec un coût total de plus de 123 milliards de đồng.
Aujourd’hui, le palais Kiến Trung est devenu l’endroit préféré de tous les touristes lors de la visite de la Cité pourpre interdite

Le palais Kiền Trung est visible à travers le long
couloir Trường Lang (Điện Kiến Trung được nhìn thấy qua Trường Lang)
Musée des Beaux-Arts de Saïgon (Bảo tàng mỹ thuật Saïgon)
Version anglaise
Version française
Galerie des photos
Được tọa lạc tại số 97 Phó Đức Chính, Quận 1, bảo tàng mỹ thuật trước đó là dinh thự của một thương gia gốc Hoa giàu có bậc nhất ở Saigon tên là Hứa Bổn Hòa. Ông nầy có nhờ kiến trúc sư người Pháp Diego Rivera thiết kế dinh thự nầy vào năm 1929 và hoàn thành vào năm 1934. Toà nhà nầy được xây cất trên một diện tích có hơn 3000m2 với phong cách kiến trúc độc đáo (kiến trúc Art déco) và thể hiện được sự hài hoà giữa nét đẹp mỹ thuật của châu Âu và châu Á khiến nhờ đó nó thu hút hiện nay không ít những người yêu chuộng nghệ thuật và thích sống ảo. Bảo tàng mỹ thuật lưu giữ hiện nay rất nhiều tác phẩm có giá trị không những về phương diện lịch sử mà còn luôn cả về điêu khắc và hội họa. Bảo tàng nầy lấy màu vàng làm chủ đạo nên bên ngoài các tường đều sơn màu vàng còn mái nhà thì ngói âm dương màu đỏ với diễm mái tráng men màu xanh lục trông rất cầu kỳ lạ mắt.
Dinh thư nầy có 99 cánh cửa lớn nhỏ. Con số nầy biểu tượng cho sự viên mãn. Mỗi cửa mang phong cách kiến trúc khác nhau. Các ô cửa sổ thì làm bằng kính màu có trang trí hoa văn. Còn các ban công thì có cấu trúc hình vòm đưa ra ngoài cùng với hệ thống lan can sắt trang trí với nhiều hoa văn độc đáo. Còn bên trong dinh thự có nhiều gian được trang trí như trên trần sảnh với các hoa văn đắp nổi và các đèn chùm theo kiểu Pháp. Cầu thang được lát đá cẩm thạch, sàn nhà được lát gạch bông với hoa văn phong phú. Nhờ có những cửa lớn của dinh thự nên lúc nào cũng tràn ngập ánh nắng khiến dễ chụp hình. Chính ở căn nhà 99 cửa nầy có thang máy đẩu tiên ở thành phố Saïgon.
Situé au numéro 97 Phó Đức Chính du premier arrondissement, le musée des beaux-arts était auparavant le manoir de l’homme d’affaires chinois le plus riche de Saigon, nommé Hứa Bổn Hòa. Celui-ci demanda à l’architecte français Diego Rivera de concevoir ce manoir en 1929 et l’acheva en 1934. Ce manoir a été édifié sur une superficie ayant plus de 3000m2 avec le style architectural unique (Art Déco) et a réussi à montrer l’harmonie entre la beauté artistique de l’Europe et de l’Asie, ce qui permet d’attirer pas mal de gens passionnés de l’art et aimant vivre dans l’illusion. Le Musée des Beaux-Arts conserve actuellement de nombreuses œuvres de grande valeur, non seulement en termes d’histoire mais aussi de sculpture et de peinture. Ce musée utilise le jaune comme couleur principale. Ses murs extérieurs sont peints en jaune et sa toiture est composée de tuiles rouges yin et yang avec des bords en céramique colorés en vert donnant l’aspect étrange et fantaisiste.
Ce manoir possède 99 grandes et petites portes. Ce nombre symbolise la perfection. Chaque porte a un style architectural différent. Les fenêtres sont en vitraux avec des motifs décoratifs. Quant aux balcons, ils sont en forme d’arc saillant avec un système de balustrades en fer ornées de motifs singuliers. À l’intérieur du manoir, de nombreuses pièces sont décorées avec des motifs en relief et des lustres de style français sur leur plafond. Les escaliers sont carrelés de marbre tandis que le sol est pavé de riches motifs. Grâce à ses grandes portes, le manoir est toujours inondé de lumière, ce qui facilite la prise des photos. C’est aussi ici qu’on trouve le premier ascenseur installé à Saïgon.

Located at 97 Phó Đức Chính Street, District 1, the Fine Arts Museum was previously the mansion of one of the wealthiest Chinese merchants in Saigon named Hứa Bổn Hòa. He commissioned the French architect Diego Rivera to design this mansion in 1929, and it was completed in 1934. The building was constructed on an area of over 3000 square meters with a unique architectural style (Art Deco architecture) that reflects a harmony between the artistic beauty of Europe and Asia, which attracts many art lovers and photography enthusiasts today. The Fine Arts Museum currently preserves many valuable works not only from a historical perspective but also in sculpture and painting. The museum features yellow as its dominant color, so the exterior walls are painted yellow, while the roof has red yin-yang tiles with green glazed ridge tiles, creating a very intricate and striking appearance.
This mansion has 99 large and small doors. This number symbolizes completeness. Each door features a different architectural style. The window panes are made of stained glass decorated with patterns. The balconies have an arched structure extending outward, with iron railings adorned with many unique patterns. Inside the mansion, there are many rooms decorated similarly, with embossed patterns on the ceiling of the hall and chandeliers in the French style. The stairs are paved with marble, and the floors are tiled with richly patterned ceramic tiles. Thanks to the large doors of the mansion, it is always filled with sunlight, making it easy to take photos. It is in this 99-door house that the first elevator in Saigon city was installed.
Galerie des photos
Sa Déc ( Đồng Tháp)
Dưới thời Pháp thuộc Sa Đéc được xem là thị trấn nhỏ, yên tĩnh ở đồng bằng sông Cửu Long.Tên nó có nguồn gốc từ tiếng Khơ Me Psar Dèk. Nay Sa Déc thuộc về tỉnh Đồng Tháp. Chính đây là vùng Tây Nam Bộ, nơi có được một bức tranh văn hóa đa sắc với bốn tộc chính là người Việt, Khơ Me, Hoa và Chăm. Chính cũng nơi nầy có một chuyện tình lãng mạn, không hồi kết cuộc của một chàng trai người Việt gốc Hoa Huỳnh Thủy Lê cùng cô con gái người Pháp lúc còn thiếu niên, trở thành nhà văn hào Pháp nổi tiếng về sau với tên Marguerite Duras qua quyển sách « Người Tình » của bà, được giải thưởng Goncourt 1984 và đã được chuyển thể thành phim và dịch ra 42 thứ tiếng. Nay chỉ còn dấu ấn của Huỳnh Thủy Lê qua ngôi nhà cổ của ông được xếp hạng là di sản lịch sử của đất nước.
Technique de dorure sur bois laqué (Sơn son thếp vàng)
Technique de dorure sur bois laqué.
The technique of gilding on lacquered wood.
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Sơn son thếp vàng là một kỹ thuật cực kỳ công phu hay thường được sử dụng trong việc chế tác các vật phẩm có tính chất tâm linh như các tựơng Phật và các đồ thờ như hương án, khám thờ, ngai thờ, bài vị, hoành phi câu đối vân vân… ở chùa chiền hay biểu tượng sự gìàu có và khẳng định sự tôn nghiêm, quyền lực của vương quyền trong chế độ phong kiến qua các cung đình. Nó không chỉ làm nổi bật lên vẻ đẹp, uy nghi và sang trọng mà còn gia tăng độ bền bỉ của các vật phẩm theo thời gian. Những năm gần đây, nhờ sự sùng tu Lầu Ngũ Phụng,Trường Lang, điện Thái Hoà vân vân trong Tử Cấm Thành, chúng ta mới nhận thấy kỹ thuật nầy không chỉ đòi hỏi nghệ nhân phải có tay nghề cao, kinh nghiệm, tĩ mĩ mà còn có tâm huyết và phải hiểu rõ luôn cả kiến thức xây dựng và mỹ thuật để hoàn thiện được phong cách của thời đại triều Nguyễn và làm nổi bật cái riêng biệt của mỗi cung điện.
Trước hểt kỹ thuật « Sơn son thếp vàng” được tạo thành từ hai cụm từ « sơn son » và « thếp vàng ».Như vậy có hai khâu chính trong kỹ thuật nầy đó là khâu Sơn Son và Thép Vàng nhưng khâu sơn son lại đặc biệt quan trọng và phức tạp hơn nhiều so với khâu thếp vàng. Danh từ « sơn » nầy dùng để ám chỉ loại sơn được chế ra từ nhựa cây sơn ở trong rừng nước ta. Nó có thể mọc tự nhiên hay được trồng để thu hoạch. Sau đó phài để sơn nó lắng đọng đến từ ba hay bốn tháng liên tục mới có thể gạn ra sau đó nhiều lớp nhưng lớp trên cùng là lớp lỏng có màu nâu là lớp tốt nhất. Dù vật phẩm có tầm vóc cở nào, có thể là tượng Phật hay cột ở trong cung đình Huế đi nữa thì nghệ nhân cũng phải tiến hành qua một số giai đoạn như sau: gắn kết, hom, lót.
Sau khi tạo cốt cho vật phẩm, nghệ nhân tiến hành đến việc sơn. Có nhiều giai đoạn trong việc sơn son thếp vàng.Trước hết phäi xử lý phần thô vật phẩm qua việc trộn nước sơn với bột đá hay mùn cưa để lấp đi các vết rạn nứt của vật phẩm, giúp ngăn chặn sự nứt gãy, chống thấm nước, không bị mối mọt ăn. Đây là giai đọan gắn kết. Nếu sau khi nước sơn khô, bề mặt của sản phẩm vẫn còn khuyến tật thì nghệ nhân buộc lòng dùng đất thó trộn với nước sơn theo tỷ lệ nhất định. Có thể nước sơn nầy được dùng đến nhiều lần khi nó chưa đạt được yêu cầu. Tiếp theo sau đó đến việc mài nhiều lần với nước làm cho nhẵn bề mặt và sơn phủ lót nhiều lần toàn thể vật phẩm với nước sơn cuối (sơn sửa chửa). Nói tóm lại giai đọan Hom nầy mất rất nhiều thời gian và phải cần kiểm soát nghiêm khắc nhất là phải để các lớp sơn nó được khô. Thời gian khô của các lớp sơn nầy sẽ khác nhau mà còn tùy thuộc vào điều kiện thời tiết.
Còn thếp vàng là khâu dùng để trang trí và dán trên mặt vật phẩm, lớp vàng lá hay vàng quỳ. Vàng nầy được dát thật mỏng đặt lên các mặt vật phẩm làm bằng gỗ mà được sơn lót trong khâu « Sơn Son » và lúc nước sơn lót chưa khô hoàn toàn. Chính nhờ vàng quỳ mà vật phẩm trưng bày có được màu vàng tự nhiên, tạo ra ánh kim dễ thu hút sư chú ý và làm nổi bật giá trị qua sự thay đổi màu sắc tùy theo độ « chín » của nước sơn.
La technique de dorure sur bois laqué est une technique extrêmement élaborée et souvent utilisée dans la fabrication d’objets ayant le caractère spirituel tels que les statues de Bouddha et les objets de culte comme les brûleurs d’encens, les édicules, les autels, les tablettes avec des sentences parallèles etc. trouvés surtout dans les pagodes ou le caractère solennel pour témoigner de la richesse et du pouvoir du régime féodal à travers ses palais. Elle met en valeur non seulement la beauté, la majesté et l’élégance, mais aussi la durabilité de ces objets dans le temps. Ces dernières années, grâce à la restauration du belvédère de 5 phénix, le long couloir Trường Lang, le palais de la Suprême Harmonie etc. dans la cité pourpre interdite de Huế, nous avons l’occasion de trouver que cette technique nécessite non seulement les artisans hautement qualifiés, pleins d’années d’expérience, méticuleux mais aussi leur dévotion au métier. Ils doivent avoir toutes les connaissances en construction et en arts pour parfaire le style de la période de la dynastie des Nguyễn en réussissant à mettre en valeur le caractère spécifique de chaque palais.
D’abord le nom de cette technique provient de l’association de deux groupes de mots « Sơn son (Peinture d’un rouge vermillon) et «Thếp vàng (dorure sur bois laqué) ». Ceux-ci correspondent exactement à deux étapes importantes trouvées dans la réalisation de cette technique. Mais la première reste la phase la plus sophistiquée par rapport à la deuxième. Le mot «Sơn» fait référence au type de peinture fabriquée à partir de la sève de l’arbre sơn des forêts de notre pays. Cet arbre peut pousser naturellement ou être cultivé pour le rendement industriel. Ensuite, on doit laisser la peinture reposer durant trois ou quatre mois consécutifs avant de pouvoir la décanter en plusieurs couches mais la couche liquide supérieure brune reste la meilleure couche.
Quelle que soit la taille de l’objet (statue de Bouddha ou colonne du palais royal), l’artisan est obligé d’entamer le même processus composé de plusieurs étapes suivantes: boucher et sceller les fissures, rendre lisse la surface réparée en plusieurs fois avec les ingrédients différents (poudre de pierre, terre d’argile, sciures de bois etc.) et appliquer à la fin de ce processus la dernière couche de peinture avec le temps de séchage variable.
Après avoir créé l’ossature de l’objet, l’artiste commence à entamer la peinture. Il existe de nombreuses étapes dans la technique de dorure. Premièrement, la partie brute de l’objet doit être traitée en mélangeant de la peinture avec de la poudre de pierre ou de la sciure de bois pour couvrir et empêcher les fissures de l’objet en question et résister à l’eau et aux termites. C’est la phase d’agrégation et de réparation. Si après le séchage de la peinture, la surface de l’article continue à avoir toujours des défauts, l’artiste sera obligé d’utiliser de la terre d’argile mélangée à la peinture dans une certaine proportion bien déterminée. Cette peinture mélangée peut être utilisée à plusieurs reprises si elle ne répond pas aux exigences voulues. Ensuite vient le ponçage répété avec de l’eau afin de rendre lisse la surface et un apprêt répété de l’ensemble de l’article avec une couche de peinture finale (ou de retouche). Bref, cette phase Hom prend beaucoup de temps et nécessite un contrôle strict, en laissant sécher notamment les couches de peinture. Le temps de séchage de ces couches varie mais il dépend également des conditions météorologiques.
La dorure est une étape de décoration permettant de coller sur la surface d’un objet, une couche de feuille d’or. Cet or est laminé très finement et déposé sur les surfaces des objets en bois en question qui sont apprêtés lors de l’étape « Sơn Son » et qui ne sont pas complètement secs. Grâce à cette décoration, l’objet exposé a une couleur jaune naturelle et crée ainsi un éclat métallique qui retient facilement l’attention et fait ressortir sa valeur grâce au changement de couleur en fonction de la « maturité » de la peinture.
The technique of gilding on lacquered wood is an extremely elaborate technique often used in the manufacture of spiritual objects such as Buddha statues and religious items such as incense burners, shrines, altars, tablets with parallel sentences, etc. found mainly in pagodas or the solemn character to testify to the wealth and power of the feudal regime through its palaces. It highlights not only the beauty, majesty, and elegance, but also the durability of these objects over time. In recent years, thanks to the restoration of the Five Phoenix Pavilion, the Trường Lang Long Corridor, the Palace of Supreme Harmony, etc. in the Forbidden Purple City of Huế, we have had the opportunity to discover that this technique requires not only highly skilled craftsmen with years of experience and meticulous attention to detail, but also their devotion to their craft. They must have all the knowledge of construction and the arts to perfect the style of the Nguyễn dynasty period by successfully highlighting the specific character of each palace.
Firstly, the name of this technique comes from the combination of two groups of words: “Sơn son” (vermilion red paint) and “Thếp vàng” (gilding on lacquered wood). These correspond exactly to two important stages in the execution of this technique. However, the first stage remains the most sophisticated compared to the second. The word “Sơn” refers to the type of paint made from the sap of the sơn tree found in our country’s forests. This tree can grow naturally or be cultivated for industrial production. The paint must then be left to settle for three or four consecutive months before it can be decanted into several layers, but the brown liquid layer at the top remains the best layer.
Regardless of the size of the object (Buddha statue or royal palace column), the craftsman must follow the same process, which consists of several steps: filling and sealing cracks, smoothing the repaired surface in several stages using different ingredients (stone powder, clay, sawdust, etc.), and finally applying the last coat of paint, which requires varying drying times.
After creating the framework of the object, the artist begins to start painting. There are many steps involved in the gilding technique. First, the raw part of the object must be treated by mixing paint with stone powder or sawdust to cover and prevent cracks in the object in question and to resist water and termites. This is the aggregation and repair phase. If, after the paint has dried, the surface of the item still has defects, the artist will be forced to use clay mixed with paint in a specific proportion. This mixed paint can be used several times if it does not meet the desired requirements. Next comes repeated sanding with water to smooth the surface and repeated priming of the entire item with a final (or touch-up) coat of paint. In short, this Hom phase takes a long time and requires strict control, particularly allowing the coats of paint to dry. The drying time for these coats varies, but it also depends on weather conditions.
Gilding is a decorative process that involves applying a layer of gold leaf to the surface of an object. The gold is rolled very thinly and applied to the surfaces of wooden objects that have been prepared during the “Sơn Son” stage and are not yet completely dry. This decoration gives the object a natural yellow color and creates a metallic sheen that easily catches the eye and highlights its value thanks to the change in color depending on the “maturity” of the paint.









