Sa Déc ( Đồng Tháp)

 

Version française

Dưới thời Pháp thuộc  Sa Đéc được xem là  thị trấn nhỏ, yên tĩnh  ở đồng bằng sông Cửu Long.Tên nó có nguồn gốc từ tiếng Khơ Me  Psar Dèk. Nay Sa Déc thuộc về tỉnh Đồng Tháp.  Chính đây là vùng Tây Nam Bộ, nơi có được một bức tranh văn hóa đa sắc với  bốn tộc chính là người Việt, Khơ Me, Hoa và Chăm.  Chính cũng nơi nầy có một chuyện tình lãng mạn, không hồi kết cuộc của một chàng trai người Việt  gốc Hoa  Huỳnh Thủy Lê cùng cô con gái người Pháp lúc còn thiếu niên, trở  thành nhà văn hào Pháp nổi tiếng về  sau với tên Marguerite Duras  qua  quyển sách « Người Tình » của bà,  được giải thưởng  Goncourt 1984 và  đã được chuyển thể thành phim và dịch ra 42 thứ tiếng. Nay chỉ còn dấu ấn của Huỳnh Thủy Lê qua ngôi nhà cổ của ông  được xếp hạng là di sản lịch sử của đất nước.

Durant la période coloniale française, Sa Đéc était considérée comme une petite ville tranquille du delta du Mékong. Son nom est dérivé du mot khmer Psar Dek. Sa Déc appartient désormais à la province de Đồng Tháp. Il s’agit de la région du Sud-Ouest de la Cochinchine, où l’on retrouve un tableau culturel multicolore avec quatre groupes ethniques principaux : les Vietnamiens, les Khmers, les Chinois et les Cham. C’est également ici que se déroule une histoire d’amour romantique sans fin entre un Vietnamien d’origine chinoise Huỳnh Thủy Lê et une adolescente française, qui deviendra plus tard une célèbre écrivaine nommée Marguerite Duras grâce à son best-seller intitulé « L’Amante » ayant remporté le prix Goncourt en 1984 et ayant été adapté en film et traduit en 42 langues. Aujourd’hui il ne reste que la trace de Huỳnh Thủy Lê grâce à sa vieille maison classée désormais comme le patrimoine historique du Vietnam.
 

 

Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Sáng nay từ bỏ Trà Vinh sang Đồng Tháp để đi tham quang Phước Kiến Tự ở thành phố Cao Lãnh nổi tiếng ngoài các tượng phật và các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo, còn có một ao rất rộng chứa hàng trăm lá sen to và có hình dáng tựa  như chiếc nón quai thao của những cô gái làng quan họ ở Bắc Ninh. Chắc chắn nguồn gốc nó phải  đến từ  xứ  Ba Tây  thường đựợc gọi là  Victoria amazonica hay là hoa súng to ở vùng Amazone. Theo sách thực vật học  thì phải mất gần 50 năm mới trồng được nó ở Âu Châu sau khi mang nó về  vào năm 1800. Như  vậy chùa nầy có  lá  súng  to (chớ không phải sen) cũng mới đây thôi. Cũng như chùa Mía ở ngoại ô thành phố Hà Nội, muốn đi vào chùa phải đi ngang nơi tụ tập nhiều người  ngồi  buôn bán  dọc theo lề đường để đi vào chùa. Cũng  nhờ đó  chùa nầy trở  thành một điểm tham không thể bỏ qua  ở  vùng Đồng Tháp và cũng đem nguồn lợi  không ít cho cư dân địa phương. 

Đến đây phải ăn chè hột sen rất ngon. Còn muốn chụp hình thì phải  trả tiền  thêm nhưng phải theo cách  chỉ  dẫn đi đến lá súng với một  lối  đi chỉ  định  không phải lá súng nào cũng được.  Thêm vào đó nước ao hồ mang tính acide và giàu azote. Vã lại một lá súng trưởng thành có thể chở được một ngưởi nặng từ 60 đến 70 kí lô mà thôi. Tại sao có thể vì mặt sau của  súng  có  nhiều  đường gân to tỏa ra từ trung tâm ra  đến  mép. Ngoài ra còn có một số nhánh từ  đường gân chính khiến  tạo ra thành một mạng lưới phức tạp và vững mạnh như một bộ xương để hỗ trợ và chịu đựng nỗi trọng lượng quan trọng đấy.

Ce matin, après avoir visité Trà Vinh, nos sommes allés à la province Đồng Tháp pour visiter une pagode nommée Phước Kiến Tự qui est très connue à Cao Lãnh pour ses statues de Bouddha et ses œuvres d’art bouddhique. Cette pagode possède un étang très vaste contenant des centaines de grandes feuilles de lotus semblables aux chapeaux plats à mentonnière garnis de cordons en soie et réservés pour les filles du village de Bắc Ninh. Son origine doit venir sûrement du Brésil. Il est fréquemment appelé sous le nom de Victoria amazonica ou nénuphar géant d’Amazonie. Selon le dictionnaire des plantes, il faut perdre presque 50 ans pour réussir à le faire pousser en Europe après l’avoir ramené en 1800. Donc cette pagode réussit à avoir les feuilles de nénuphar géant à une date récente. Analogue à la pagode Mía de la banlieue de la capitale Hanoï, son entrée est bondée des marchands ambulants. C’est grâce à l’existence de ce nénuphar géant que la pagode devient un lieu touristique incontournable permettant de procurer  aux gens locaux des avantages financiers non négligeables. De passage dans ce lieu, il faut goûter la délicieuse soupe aux graines de lotus.

Pour ceux qui s’intéressent aux photos de souvenir, outre le prix à payer, il faut suivre strictement les indications afin de pouvoir se mettre seulement sur la feuille de nénuphar qu’on a désignée par avance. L’eau de la mare contient de l’acide azoté. De plus, la grande feuille de nénuphar peut porter une personne de 60 à 70 kilos car son dos est garni de nervures robustes partant du centre vers le bord. Il existe également à partir de la nervure principale plusieurs branches formant un réseau solide et complexe ressemblant à une ossature puissante pour le soutien.

This morning, after visiting Trà Vinh, we went to Đồng Tháp province to visit a pagoda called Phước Kiến Tự, which is very famous in Cao Lãnh for its Buddha statues and Buddhist artworks. This pagoda has a very large pond containing hundreds of large lotus leaves resembling flat hats with chin straps adorned with silk cords, reserved for the girls of the Bắc Ninh village. Its origin likely comes from Brazil. It is often called by the name Victoria amazonica or giant Amazon water lily. According to the plant dictionary, it takes almost 50 years to successfully grow it in Europe after bringing it back in 1800. So this pagoda has recently succeeded in having giant water lily leaves. Similar to the Mía pagoda in the suburbs of the capital Hanoi, its entrance is crowded with street vendors. Thanks to the existence of this giant water lily, the pagoda has become a must-visit tourist spot, providing locals with significant financial benefits. When passing through this place, one must taste the delicious lotus seed soup.

For those interested in souvenir photos, besides the fee to pay, one must strictly follow the instructions in order to stand only on the designated water lily leaf assigned in advance. The pond water contains nitric acid. Moreover, the large water lily leaf can support a person weighing 60 to 70 kilograms because its back is equipped with robust ribs extending from the center to the edge. There are also several branches originating from the main rib, forming a solid and complex network resembling a strong framework for support.

Galerie des photos

[Return RELIGION]

 

 

 

Phước Minh Cung (Temple de Guan Yu, Trà Vinh)

Phước Minh Cung

Quan Công là người hội đủ các đức tính trung dũng, tình nghĩa, độ lượng và công minh chính trực và cũng  là nhân vật nổi tiếng ở thời Tam Quốc hậu Hán. Chính vì vậy khi ông qua đời, người ta đã tôn thờ ông như một vị thánh. Bởi vậy nơi nào có người Hoa cư trú thường thấy họ hay thờ Quan Công. Ở Trà Vinh nơi thờ ông hay được gọi là Phước Minh Cung.

Étant un personnage réussissant à avoir toutes les vertus de courage, de loyauté, de générosité et de justice, Guan Yu est aussi  l’un des généraux célèbres chinois de l’époque des Trois Royaumes et de la fin des Han. C’est pour cela que  les Chinois le vénèrent comme un Saint lors de sa mort. Partout où la présence des Chinois est importante, on y trouve toujours un temple dédié à ce général. À Trà Vinh, le temple est connu sous le nom de Phước Minh Cung.

Pagode AngKorborajaborey (Chùa Âng)

Pagode AngKorborajaborey

 

Version française

Toạ lạc ở  bên cạnh quốc lộ 53 của tình Trà Vinh, chùa  Angkorajaborey hay là chùa Âng mà người Việt thường gọi, là một ngôi chùa cổ có lâu đời có cà ngàn năm tuổi từ năm 990. Nó nằm cách xa thành phố Trà Vinh khoảng chừng 5 cây số nằm trong một khuôn viên thắng cảnh Ao Bà Ôm với một diện tích khoảng chừng 4 ha và đối diện với Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khơ Me của tỉnh. Đây cũng là một ngôi chùa tiêu biểu trong hệ thống 141 chùa Khơ Me ở Trà Vinh.  Chùa được công nhận là di tích kiến trúc tôn giáo của nguời Khơ Me ở Nam Bộ vào năm 1994.

Version française

Située à côté de l’autoroute 53 de la province de Trà Vinh, la pagode Angkorajaborey ou pagode Âng comme l’appellent souvent les Vietnamiens, est une ancienne pagode vieille de plus de mille ans depuis 990. Elle est située à environ 5 kilomètres de la ville de Trà Vinh, dans la zone pittoresque de l’étang Ba Om possédant une superficie d’environ 4 hectares et elle est en face du musée de la culture ethnique khmère de la province. C’est aussi une pagode  typique du d’un système des 141 pagodes khmères de Trà Vinh. Elle a été reconnue comme  un vestige  architectural religieux du peuple khmer vivant au Sud Vietnam en l’an 1994.

Les pagodes khmères du delta du Mékong

Version française

Dựa trên truyền thuyết về vương triều Chân Lạp: một thầy tu ẩn sĩ Bà-la-môn có nguồn gốc từ mặt trời tên là Kambu Svayambhuva đã được thần Shiva ban phép kết hôn với một tiên nữ có nguồn gốc từ mặt trăng, một nàng Mera xinh đẹp, nhà nghiên cứu văn khắc bản nỗi tiếng Georges Cœdes đưa ra giả thuyết rằng chữ Khmer đến từ  K(ambu) và Merâ vi vậy  sinh ra một dòng dõi những nhà  vua hoặc là các con cháu của Kambujadesha có nghĩa là « đất nước của con cháu Kambu » để giải thích tên của người Khơ Me. Cũng nhờ sự khám phá  chữ Kambujadesha trong một văn bản ở thánh đường Po Nagar (Nha Trang) vào năm 817 mà dưới thời Pháp thuộc chữ Kambuja được phát âm từ đó ra  thành Cambodia (Cao Miên). Bởi vây khi mình đến tham quan các chùa ở Trà Vinh, mình gặp các em trẻ, mình hỏi các em có phải người Miên không ? Chúng trả lời một cách không lưỡng lự : chúng em là người Khơ Me Krom là những ngươì Khơ Me sống ở dưới (Khmers En Bas) khác với người Khơ Me Campuchia tức là những Khơ Me sống ở đồng bằng sông Cửu Long tức là vùng Tây Nam Bộ  đôi khi họ chiếm lên tỷ lệ dân số hơn 30% như các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh. Chữ Miên không được dùng vì  có hàm ý miệt thị cũng như  chữ Mít (Annamite) đối người dân Việt.

Các chùa ở Trà Vinh đều là những chùa Phật giáo Nam Tông (thường gọi là phái Tiểu Thừa). Chủ yếu các chùa nầy truyền bá kinh văn Pali  tức là những văn bản ghi lại nguyên vẹn những lời giảng của Đức Phật trong suốt cuộc đời truyền bá giáo pháp của mình.  Có nhiều bộ phái khác nhau từ lúc đầu nhưng chỉ còn duy nhất hệ phái Thượng tọa bộ (Theravāda) là đại biểu cho hệ Phật giáo Nam truyền. Người Khơ Me họ có tập tục lúc còn trẻ (12 hoặc 13  tuổi) là đi vào chùa tu đề học giáo lý, học chữ Pali và trả hiếu cho cha mẹ nhưng cũng để thành người.  Thời gian tu tập kéo dài ít nhất là  3 tháng nhưng có thể kéo dài hơn  tùy theo nhân duyên và ý nguyện của  mỗi  người. Phải cạo đầu, phải thay quần bằng chiếc xa rông và thay áo bằng chiếc áo trắng (Pênexo)  khoác lên vai từ trái sang phải để từ bỏ trần tục. Để tránh sự tốn kém chi phí nhiều, tất cả những việc nầy đều đựợc tập hợp chung với nhiều người cùng một ngày được gọi là lễ thế phát với sự tham gia của tất cả gia đình.  Dù có xuất tu đi nữa,  những đứa trẻ nầy  được cộng đồng thừa nhận là người trưởng thành, có kiến thức để xây dựng một cuộc sống  hướng thiện và hửu ích cho xã hội. Đến tham quan các chùa ở Trà Vinh mới nhận thấy kiến trúc của các chùa ở nơi nầy nhất là chùa Âng, một chùa cổ xưa có cả nghìn năm lịch sử nó không khác chi kiến trúc mình có dịp thấy trước đây ở Bangkok (Thái Lan) với các tượng thần gác cửa  vân vân…

Theo sự nhận xét của nhà khảo cổ Pháp Bernard Groslier thì người dân Thái phải đợi ít nhất hai thế  kỷ vể sau để mới  tiếp  thu được bài vở của chủ nhân họ là người  Khơ Me  trước khi mới có thể  thay  thế và vượt qua mặt chủ của họ. Người Thái lập quốc từ thế kỷ 14 sau khi đế chế Angkor bị suy tàn. Như vậy kiến trúc chùa chiền thành vua của người Thái mà mình thấy hoành tráng xinh đẹp đấy là bản sao của  kiến trúc cũa người Khơ Me và người  Dvaravati nhưng họ có đầu óc thẩm mỹ nên nhờ đó mà hoàn hảo hơn. Tổng thể một ngôi chùa Khơ Me gồm: cổng chùa, tường rào, ngôi chính điện, tháp đựng cốt, tăng xá, nhà hội và  an xá. Trong ngôi chính điện  Đức Phật Thích Ca được bài trí với kích thước lớn tọa lạc trên tòa sen.  Các bức tranh Phật  được trang trí trong chùa Khơ Me chủ yếu kể lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca từ lúc mới sinh cho đến khi tu thành đạo hạnh. Trên trần của chính điện cũng hay thường vẽ những bức họa  nhắc  lại các cảnh giao đấu giữa các Tiên nữ và Chằn (nhân vật biểu trưng cho cái ác), cảnh tiên làm lễ, cảnh dâng hoa vân vân…

 Còn ở ngoài chính điện thường thấy các vị thần mang chân dung người, mình mặc giáp trụ, tay cầm pháp khí để canh giữ nơi cửa chùa hay xung quanh chánh điện. Đấy là  các tượng Yeak hay chằn,  giúp ta có  được tâm sáng hướng về Đức Phật. Có thể nói cũng như ở chùa Việt trước cỗng thường thấy ông Ác ông Thiện vậy. Các tượng chằn hay có mặt dữ dằn hung ác nhưng không phải kẻ làm ác mà chế ngự được cái ác, nó lúc nào cũng có thể nỗi dậy ở trong  lòng con người nên cần có sự hiện diện của con chim K’rut  bắt nguồn từ con vật linh thiêng  Garuda trong thần thoại  Ấn Độ với  đạo Bà La Môn. Nó ở trên cao để theo dõi và thống chế Yeak đấy. Còn  con lân tượng trưng cho sức mạnh trí tuệ hay thường thấy kề bên các tượng chằn. Nhờ có trí tuệ mà nó mới  đem lại  sự sáng suốt  trong việc nhận định để   tìm ra  chân lý nên mới diệt trừ được  ác nghiệp  và giúp con người  mới được giải thoát.  Nói tóm lại các chùa Phật Giáo Nam Tông Khơ Me ở Nam Bộ  có một kiến trúc  độc  đáo chịu nhiều ảnh hưởng Bà La Môn giáo.

Version française

En se basant sur une légende dynastique de Chen La: un  prêtre brahmane d’origine solaire nommé Kambu Svayambhuva  recevant  du dieu Shiva, lui-même une nymphe d’origine lunaire en mariage, la belle Mera, le célèbre épigraphe Georges Cœdes a émis l’hypothèse que le mot khmer viendrait  probablement de K(ambu) et Merâ donnant ainsi naissance à une lignée de rois ou celle des descendants de Kambujadesha et ayant pour signification « pays de la descendance de Kambu » dans le but d’expliquer  le nom des Khmers.  C’est pour cela qu’au moment de ma rencontre avec les enfants dans la pagode, je leur demande: Êtes-vous Cambodgiens ?  Ils me répondent  sans hésitation: Nous sommes des Khmers Krom (des Khmers  vivant en bas) différents de ceux vivant en haut (des Cambodgiens),  des Khmers vivant dans le delta du Mékong. Ces derniers occupent parfois jusqu’à 30% de la population locale. C’est le cas des provinces Sóc Trăng, Trà Vinh.

Pont Thanh Toàn avec une toiture en tuiles Yin et Yang

Cầu ngói Thanh Toàn

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Được tọa lạc ở trong địa phận của xã  Thủy Thanh, thuộc huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, cầu nầy cách xa trung tâm  thành phố Huế 8 cây số nếu đi theo hướng Đông Nam. Cũng như chùa cầu ở Hội An, cầu nầy được dựng từ năm 1776 nhờ tấm lòng nhân ái của bà Trần Thị Đạo, vợ của một quan thần dưới triều vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786). Bà là con cháu thuộc thế hệ thứ sáu của những tộc trưởng ở vùng Thanh Hóa theo chúa Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa.Bà cúng tiền cho làng Thanh Toàn xây dựng cái cầu nầy để cư dân ở nơi nầy qua lại thuận tiện trên con mương nhỏ sau những lúc nhọc nhằn ở ruộng đồng và có nơi ngồi để thư giãn hay câu cá. Dựa về năm tuổi thì cầu nầy dựng sau khi có chùa cầu (Hội An)  và chịu ít nhiều ảnh hưởng của chùa cầu.

Chùa ngói Thanh Toàn có một lối kiến trúc cổ khá độc đáo mà thường gọi là « Thượng Gia Hạ Kiều » tức là trên là nhà dưới là cầu. Cầu nầy có mái vòm với ngói lưu ly, dài 18,75m, rộng có 5,82m, chia ra được  7 gian, hai bên thân cầu có hai dãy bục gỗ và lan can dùng để ngồi dựa lưng. Ở giữa cầu có một bàn thờ bà Trần Thị Đào.  Cầu nầy được ghi nhận ngày nay có giá trị lịch sử  và văn hoá được Bộ văn hóa trùng tu  lại từ  năm 1991.  Du khách đến đây không những chiêm ngưỡng được cái cầu nầy mà còn có dịp tìm lại nét đẹp cổ kính của một ngôi  làng xưa ở Việt Nam được thể hiện với sự  hiện diện cây đa ở đầu làng và cổng đình. Để tránh phạm huý vua Thiệu Trị, làng Thanh Toàn  đổi tên thành làng Thanh Thủy nhưng dân gian vẫn giử thói quen gọi là Thanh Toàn.

Version française

Étant situé dans la commune de Thủy Thanh appartenant au  district de Hương Thủy de la province de Thừa Thiên Huế, ce pont se trouve à 8 kilomètres du centre-ville de Huế si on suit la direction Sud-Est. Analogue au pont-pagode de Hội An, il fut construit  en l’an 1776 grâce à la bonté de la dame de nom Trần Thị Đào, l’épouse d’un mandarin sous le règne du roi Lê Hiển Tông (1740 – 1786). Elle appartient à la sixième génération des  chefs de clan issus de  la région de Thanh Hóa et accompagnant le seigneur Nguyễn Hoàng  dans la province Thuận Hóa. Pour implorer le Ciel de lui accorder la faculté d’avoir un enfant, elle  a donné de l’argent au village de Thanh Toàn pour construire ce pont afin que les villageois puissent  traverser facilement le cours d’eau après des moments pénibles dans les rizières et qu’ils puissent se détendre en entamant des discussions ou en faisant la pêche. En se basant sur l’âge de ce pont, on sait qu’il a été construit à un moment où  le   pont-pagode de Hội An  avait déjà existé et qu’il a reçu plus ou moins l’influence architecturale de ce dernier.

Le pont Thanh Toàn possède un style architectural assez unique qui est appelé souvent sous le nom « Thượng Gia Hạ Kiều », ce qui signifie qu’en haut il y a la maison et qu’en bas c’est le pont. Son dôme  est couvert des tuiles Yin et Yang.  Il mesure 18,75 m de long et 5,82 m de large. Il est divisé en 7 compartiments tandis que  des deux côtés du pont se trouvent deux rangées de plates-formes et de balustrades en bois utilisées pour permettre aux gens de s’asseoir et  s’adosser. Au milieu de ce pont il y a  un autel dédié à Mme Trần Thị Đào. Ce pont est aujourd’hui reconnu comme celui ayant une valeur historique et culturelle.  Il fut restauré par le ministère de la Culture en 1991. En venant ici, le touriste a l’occasion d’admirer non seulement ce pont mais aussi la beauté d’un village antique vietnamien,  ce qui se traduit toujours par la présence  d’une maison communale et d’un banian à la sortie du village.  Afin de  ne pas offenser l’empereur Thiệu Trị dans l’emploi de son nom, le village Thanh Toàn  change de nom en prenant celui de Thanh Thủy mais les gens ont l’habitude d’appeler toujours Thanh Toàn.   

English version

Located in the commune of Thủy Thanh belonging to the district of Hương Thủy in the province of Thừa Thiên Huế, this bridge is situated 8 kilometers from the city center of Huế if you follow the southeast direction. Similar to the Hội An pagoda bridge, it was built in the year 1776 thanks to the kindness of a lady named Trần Thị Đào, the wife of a mandarin under the reign of King Lê Hiển Tông (1740 – 1786). She belongs to the sixth generation of clan leaders originating from the Thanh Hóa region and accompanying Lord Nguyễn Hoàng in the province of Thuận Hóa. To pray to Heaven to grant her the ability to have a child, she gave money to the village of Thanh Toàn to build this bridge so that villagers could easily cross the watercourse after hard times in the rice fields and could relax by starting conversations or fishing. Based on the age of this bridge, it is known that it was built at a time when the Hội An pagoda bridge already existed and that it was more or less influenced architecturally by the latter.

The Thanh Toàn Bridge has a quite unique architectural style often referred to as « Thượng Gia Hạ Kiều, » which means that there is a house above and a bridge below. Its dome is covered with Yin and Yang tiles. It measures 18.75 meters long and 5.82 meters wide. It is divided into 7 compartments, while on both sides of the bridge there are two rows of wooden platforms and balustrades used to allow people to sit and lean back. In the middle of this bridge, there is an altar dedicated to Mrs. Trần Thị Đào. This bridge is now recognized as having historical and cultural value. It was restored by the Ministry of Culture in 1991. When coming here, tourists have the opportunity to admire not only this bridge but also the beauty of an ancient Vietnamese village, which is always marked by the presence of a communal house and a banyan tree at the village exit. To avoid offending Emperor Thiệu Trị by using his name, the Thanh Toàn village changed its name to Thanh Thủy, but people still habitually call it Thanh Toàn

 

Galerie des photos

[Return Huế]

 

 

Les costumes traditionnels des minorités ethniques (Trang phục dân tộc thiểu số)

Trang phục dân tộc thiểu số

Version française

English version

Nhuộm, dệt và thêu là những công việc chính mà được thấy ở người phụ nữ của các dân tộc thiểu số  trong việc may các  bộ trang phục truyền thống.  Các bộ nầy không chỉ có vô số phong cách khác nhau mà còn có thêm hàng loạt màu rực rỡ.

Để nhuộm vải lanh hoặc vải gai dầu, các dân tộc thiểu số như người Hmong và người  Dao Tien thường dùng đến batik. Đây là kỹ thuật « nhuộm bao vải » có nghĩa là một phần vải được bao che trước khi nhuộm để tạo hoa văn. Người Ai Cập đã sử dụng batik để quấn xác ướp của họ  có hơn 2.400 năm trước. Kỹ thuật thủ công này đang phổ biến khắp nơi ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Nam Dương. Chính ở quốc gia nầy kỹ thuật  rất được phát triển ở đảo Java  và do đó được biết đến với cái tên « batik » có nguồn gốc từ  đảo nầy. Kỹ thuật nầy dựa hoàn toàn trên việc áp dụng sáp trước trên nền.

Người ta vẽ lên vải các họa tiết bằng sáp ong đã được đun nóng  chảy. Dụng cụ vẽ nầy là một loại bút đặc biết có ngòi cong bằng đồng hoặc một số khung đập hình tam giác, những ống tre nhỏ.

Tùy thuộc vào độ phức tạp của hình họa, sáp ong có thể được áp dụng nhiều lần trên các màu sắc khác nhau trong các bể nhuộm màu. Sau đó, được nhúng vào nước sôi cho sáp được  tan hết. Các họa tiết sáng tạo màu được bao bằng sáp để bảo vệ trước khi nhuộm sẽ xuất hiện trên nền vải chàm sẫm.

Những bộ trang phục sặc sỡ và các trang điểm lộng lẫy của họ đã trở thành cùng theo ngày tháng một sức hút không thể chối từ được đối với các du khách nước ngoài khi có dịp họ đến tham quan Việt Nam và đến các vùng có các dân tộc thiểu số như Hà Giang, Cao bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa vân vân…. Nó cũng là biểu tượng cho bản sắc của  các dân tộc thiểu số trên một đất nước có 54 dân tộc.

Teinture, tissage et broderie sont les tâches principales des femmes des minorités ethniques dans la confection de leurs costumes traditionnels. Ceux-ci déploient non seulement une multitude de styles différents mais aussi une gamme de couleurs chatoyantes.  Pour teindre les tissus en lin ou en chanvre, les minorités ethniques telles que les Hmong et les Yao Tien ont recours au batik. Celui-ci  est une technique de teinture à la cire,  employée pour qu’une partie du tissu soit protégée de la teinture durant l’exécution de motifs. Les Egyptiens se servaient du batik pour envelopper leurs momies il y a plus de 2400 ans. Cette technique artisanale  se répand partout  en Chine, en Inde, au Japon et en Indonésie. C’est dans ce dernier pays qu’elle est très développée à l’île de Java  et elle prend ainsi le nom « batik » d’origine javanaise. Elle est  basée sur l’application préalable de la cire  sur le support. 

On dessine d’abord  sur le tissu, des motifs à la cire fondue. Les outils utilisés sont des stylets à réservoir en cuivre courbé, des tampons triangulaires ou de petits tubes en bambou. En fonction de la complexité du dessin, la cire peut être appliquée plusieurs fois sur  des couleurs différentes dans des bains de teinture. Puis le dernier bain fixatif est nécessaire dans l’eau bouillante  pour faire fondre entièrement  la cire. Les motifs protégés de la teinture sont apparus en clair sur fond indigo. On obtient ainsi le tissu décoré.

Leurs costumes bigarrés et leurs parures magnifiques deviennent au fil des années la force d’attraction indéniable qu’ils exercent sur les touristes étrangers lorsqu’ils ont l’occasion de visiter les régions du Vietnam où il y a une forte concentration des minorités ethniques comme Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa  etc. C’est aussi le symbole de leur identité dans un pays à 54 ethnies.

English version

Dyeing, weaving, and embroidery are the main tasks of women from ethnic minorities in making their traditional costumes. These not only display a multitude of different styles but also a range of shimmering colors. To dye linen or hemp fabrics, ethnic minorities such as the Hmong and Yao Tien use batik. This is a wax-resist dyeing technique, used to protect parts of the fabric from dye during the creation of patterns. The Egyptians used batik to wrap their mummies over 2400 years ago. This artisanal technique spread throughout China, India, Japan, and Indonesia. It is in the latter country that it is highly developed on the island of Java and thus takes the name « batik, » of Javanese origin. It is based on the prior application of wax on the material.

First, patterns are drawn on the fabric with melted wax. The tools used are copper reservoir styluses with a curved tip, triangular stamps, or small bamboo tubes. Depending on the complexity of the design, the wax can be applied several times on different colors in dye baths. Then the final fixing bath is necessary in boiling water to completely melt the wax. The patterns protected from the dye appear light against an indigo background. This is how the decorated fabric is obtained.

Their colorful costumes and magnificent finery have become over the years the undeniable force of attraction they exert on foreign tourists when they have the opportunity to visit regions of Vietnam where there is a high concentration of ethnic minorities such as Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa etc. It is also the symbol of their identity in a country with 54 ethnic groups.

[Retour Vietnam et ses 54 minorités ethniques]

Thanh Thủy Tự (Kiyomizu-dera)

Kiyomizu-dera (Kyoto)

Version française
Version anglaise
Pictures gallery

Chùa nầy nằm ở phía Đông của cố đô Kyoto thuộc về tông phái Phật giáo và Thần đạo là một ngôi chùa rất nổi tiếng ở Nhật Bản. Được xây cất vào cuối  thời kỳ Nara (778), tái thiết lại sau trận hỏa họan bởi tướng quân  Tokugawa Iemitsu và được công nhận bởi UNESCO là di sản văn hóa thế giới vào năm 1994. Chùa nầy thật sự  là một quận thể kiến trúc gồm có nhiều đền  còn được mang tên là Thanh Thủy bởi vì nó có nguồn nước thiên chảy từ  núi Otowayama. Theo tiếng Nhật Kiyomizu có nghĩa là dòng suối trong còn dera là chùa.  Đặc điểm của suối nầy là có ba dòng nước nhỏ rất linh nghiệm về   « trường thọ », « tình duyên », « học hành thành đạt ». Nếu du khách nào có tâm nguyện cầu khẩn uống  một ngụm nước ở một trong ba dòng  nước nầy thì sẽ được  toại nguyện. Còn uống  2 ngụm thì sự linh ứng sẽ giảm đi một nữa. Còn uống  ba ngụm nước liên tục thì chỉ còn có một phần ba trong việc linh ứng.  Còn uống cả ba dòng nước thì  việc linh ứng sẽ không  còn nữa. Vô số  người đứng nối đuôi để được uống nước suối nầy. Vì thời giờ quá eo hẹp cho mình (2 tiếng tham quan) nên mình không có nối đuôi chỉ  đi chụp hình mà thôi  và  lại  gần suối mua ở một cửa hàng một cái bùa nho nhỏ linh nghiệm về việc học hành mang về Pháp để  tặng cho đứa bé cháu nội của mình.

Theo cách tương tự như được trông thấy ở nhà thờ  Lourdes, từ  bãi đậu xe du khách  phải đi bộ trèo lên hằng ngày  cái dốc  để  đến cổng chùa Niomon (Cổng Nhị Vương). Ở  dọc hai bên đường các tiệm buôn bán lúc nào  cũng đông đúc du khách và tín đồ  đi hành hương để  làm lễ trước pho tượng Phật Quan Âm (Kannon)  có 11 đầu. Đặc điểm thứ hai của chùa là phần hiên của chính điện là hoàn toàn xây cất không dùng đến một cây đinh. Với kỹ thuật nầy, một chùa Nhật Bản như  Kiyomizu-dera có  ít nhất một ngàn thanh trúc nối với nhau qua các lỗ mộng. Đây cũng là đỉnh cao của kiến trúc gỗ của Nhật Bản.  Đến đây du khách có thể nhìn phía dưới quang cảnh tuyệt vời của cố đô Kyoto. Có một câu thành ngữ  tiếng Nhật  hay thường nghe nói ở  đây đó  là Nhảy từ vũ đài  chùa Kiyomizu. Khi ai có quyết tâm muốn làm điều gì đó thì không chỉ bất chấp hiểm nguy mà còn phải có động lực và nghị lực  mới dám nhảy từ độ cao dưới sự bảo trợ của Phật bà Quan Âm thì lời cầu nguyện  của mình mới thành hiện thực. Dưới thời Edo, có đến 234 lần nhảy được ghi nhận thực hiện và trong số đó có đến 85.4% người còn sống sót. Nay hành động nầy bị nghiêm cấm. Chùa Kiyomizu là một điểm du lịch không thể thiếu sót trong cuộc hành trình ở cố đô Kyoto.
Etant située à l’est de l’ancienne capitale Kyoto, cette pagode  qui appartient aux sectes bouddhiste et shintoïste est  très connue  au Japon. Construite  à la fin de la période Nara (778), reconstruite ensuite en 1633 après l’incendie  par le shogun  Tokugawa Iemitsu  et reconnue par l’UNESCO comme patrimoine culturel mondial en 1994. En fait,  elle  est un complexe architectural composé de plusieurs temples et appelé aussi    en vietnamien  sous le nom Thanh Thủy car elle se distingue par son eau cristalline sacrée  coulant du mont Otowayama. En japonais, Kiyomizu signifie  « eau pure » et Dera « pagode ». La caractéristique de cette  source d’eau  réside dans l’existence de  trois filets d’eau très efficaces en termes de « longévité », « amour » et « réussite dans les  études ». Si le  visiteur a le désir sincère de  prendre une gorgée d’eau dans l’un de ces trois filets d’eau, son vœu  sera exaucé. S’il boit  2 gorgées,  l’efficacité sera réduite de moitié. Par contre  si trois gorgées d’eau sont prises d’une manière continue, il ne lui restera plus qu’un tiers de l’efficacité dans la réalisation de son vœu. S’il prend  en même temps tous les 3 filets d’eau, son vœu ne sera plus exaucé. Une foule immense de visiteurs continue à faire la queue pour tenter cette expérience. À cause du manque de temps limité à deux heures pour cette visite, je ne  suis pas tenté de le faire.

Par contre je continue à faire les photos et je vais chercher dans une boutique proche de cette source d’eau un petit talisman connu pour son efficacité  dans les études. J’aime l’offrir à mon petit-fils lors de mon retour en France. De manière analogue à celle trouvée à  l’église de Lourdes, depuis le parking, les visiteurs doivent gravir  tous les jours la pente de la route  pour arriver à la porte de la pagode Niomon (portail Nhị Vương). Des deux côtés de cette  longue  route, les boutiques sont toujours bondées de touristes et de fidèles venant rendre  hommage  à la statue du Bouddha Guan Yin (Kannon) à 11 têtes. La deuxième caractéristique de ce complexe architectural  est que l’auvent de la partie principale  du temple a été entièrement construit sans recourir à l’utilisation des clous.  Avec cette technique, une pagode japonaise comme  Kiyomizu-dera possède au moins un millier de joints assemblés par mortaises ou tenons. C’est le summum de l’architecture japonaise en bois. C’est ici qu’en contrebas le visiteur a la vue panoramique superbe de l’ancienne capitale Kyoto.  Il y a une expression japonaise qu’on est habitué à entendre souvent ici « Saut à partir de la  plateforme de la pagode ». Quand quelqu’un est déterminé à faire quelque chose, il doit non seulement défier le danger, mais aussi avoir la motivation et la volonté d’oser sauter du haut de la plateforme  sous les auspices du Bouddha Guan Yin (Kannon). C’est ainsi que  son vœu deviendra réalité. À l’époque Edo, on a enregistré 234 sauts effectués mais il y a eu 85,4% de survivants. Cette expérience est désormais  interdite. La pagode Kiyomizu-dera est un site touristique à ne pas manquer lorsqu’on a l’occasion de visiter le Japon.

Version anglaise

Located east of the former capital Kyoto, this pagoda, which belongs to the Buddhist and Shinto sects, is very well known in Japan. Built at the end of the Nara period (778), then rebuilt in 1633 after a fire by the shogun Tokugawa Iemitsu, it was recognized by UNESCO as a World Cultural Heritage site in 1994. In fact, it is an architectural complex composed of several temples and is also called in Vietnamese by the name Thanh Thủy because it is distinguished by its sacred crystalline water flowing from Mount Otowayama. In Japanese, Kiyomizu means « pure water » and Dera means « pagoda. » The characteristic of this water source lies in the existence of three streams of water that are very effective in terms of « longevity, » « love, » and « success in studies. » If the visitor sincerely desires to take a sip of water from one of these three streams, their wish will be granted. If they drink 2 sips, the effectiveness will be reduced by half. However, if three sips of water are taken continuously, only one-third of the effectiveness in fulfilling the wish will remain. If all three streams of water are taken at the same time, the wish will no longer be granted. A huge crowd of visitors continues to queue to try this experience. Due to the limited time of two hours for this visit, I am not tempted to do it.

On the other hand, I continue to take photos and I am going to look in a shop near this water source for a small talisman known for its effectiveness in studies. I like to give it to my grandson when I return to France. Similarly to the one found at the church in Lourdes, from the parking lot, visitors must climb the slope of the road every day to reach the gate of the Niomon pagoda (Nhị Vương gate). On both sides of this long road, the shops are always crowded with tourists and devotees coming to pay homage to the statue of the 11-headed Buddha Guan Yin (Kannon). The second characteristic of this architectural complex is that the canopy of the main part of the temple was entirely built without using nails. With this technique, a Japanese pagoda like Kiyomizu-dera has at least a thousand joints assembled by mortises or tenons. It is the pinnacle of Japanese wooden architecture. It is here, below, that the visitor has a superb panoramic view of the ancient capital Kyoto. There is a Japanese expression that is often heard here: « Jump from the pagoda platform. » When someone is determined to do something, they must not only face danger but also have the motivation and will to dare to jump from the top of the platform under the auspices of Buddha Guan Yin (Kannon). This is how their wish will come true.

During the Edo period, 234 jumps were recorded, but there was an 85.4% survival rate. This practice is now prohibited. The Kiyomizu-dera pagoda is a must-see tourist site when visiting Japan.

Galerie des photos

[RETURN JAPAN]

Anciennes techniques de pêche (Cách thức cổ điển bắt cá)

 

Cách thức cổ điển bắt cá.

Nhũi là một dụng cụ dùng để bắt cá. Nó có hai cái cán bằng tre tréo vơi nhau dươí dạng hình chữ X mà ở giữa lại có một tấm « sáo » bện bằng những cọng tre vót nhỏ mà ở cuối đầu dưới thì có một miếng gỗ lưỡi mỏng. Khi cầm hai cán  nhũi đẩy thì một số lượng nước đi vào nhũi và thoát ra ở phiá sau qua các cọng tre chỉ còn ở lại cá,cua hay tôm. Người đi nhũi hay thường mang theo rọ tre để đựng cá.

Nhũi est un outil de pêche très efficace pour attraper les poissons. Il est constitué de deux longues manches en bambou attachées  en forme de croix au milieu desquelles se trouve une armature  creuse faite avec des  petites tiges de bambou et terminée à sa partie inférieure par un  mince morceau de bois. Au moment de son utilisation, il y a une quantité d’eau qui s’y introduit et s’échappe par derrière à travers ses tiges de bambou, ce qui permet de retenir les poissons, crabes et crevettes. Le pêcheur est habitué à emmener avec lui le panier à goulots pour contenir ces crustacés. 

Nhũi is a very effective fishing tool for catching fish. It consists of two long bamboo handles attached in the shape of a cross, in the middle of which is a hollow frame made with small bamboo sticks and finished at its lower part by a thin piece of wood. When in use, a quantity of water enters it and escapes from behind through its bamboo sticks, which allows the retention of fish, crabs, and shrimp. The fisherman is accustomed to bringing with him a basket with necks to hold these crustaceans.

[Return Art Vietnamien]

 

Photos superbes exposées au musée des femmes du Vietnam (Hanoï)

Les photos des minorités ethniques

prises par le muséologue Christine Hemmet ou Hoàng Minh Quốc
au  musée des femmes du Vietnam (Hanoï)

Stunning photos on display at the Vietnam Women’s Museum (Hanoi)

[Retour Vietnam des 54 ethnies]