L’histoire de la voix envoûtante ( Trương Chi Mị Nương )

 

L’histoire de la voix envoûtante

Vietnamese version
English version

Il était une fois un puissant seigneur ayant eu une fille unique s’appelant Mỵ Nương. Celle-ci était très belle. Comme toutes les autres filles de son rang, elle était toujours cloîtrée dans son palais. Elle consacrait tout son temps à la peinture, la broderie et  la poésie. Elle se mettait souvent à la fenêtre pour admirer le paysage et regarder l’eau du fleuve qui coulait jusqu’en contrebas. 

Un beau jour, elle fut séduite par un chant mélodieux et mélancolique qui montait du fleuve. C’est la voix d’un pêcheur qui était en train de chanter et  de tirer son filet. Elle commençait à prendre l’habitude de l’écouter. Cette voix était si envoûtante qu’elle commençait à bercer son cœur jusque-là insensible. C’était un rendez-vous habituel qu’elle ne pouvait pas manquer avec ce pêcheur.

Puis un jour, cette voix se tut. Ce silence la rendit malade. Elle fut complètement alitée et aucun médecin n’arriva à déterminer les causes de sa maladie. Puis, un autre jour, la voix s’éleva de nouveau. Ce chant était si mélodieux que Mỵ Nương reprit ses forces et retrouva sa beauté. Elle redevint heureuse à la grande joie de son père. Celui-ci commença à découvrir la cause de son mal. Elle fut replongée dans la léthargie désespérée chaque fois que cette voix se tut.  Son père finit par rechercher ce pêcheur qu’on amena auprès de sa fille malade. Ce pauvre garçon était tellement laid que cela effraya Mỵ Nương à sa première vue. De ce jour, le charme de la voix dont l’absence la rendait malade disparut. Elle commença à oublier cette habitude et reprit une vie normale.

Par contre, la vie fut bouleversée complètement pour ce pauvre pêcheur, Trương Chi. Celui-ci menait jusque-là une vie paisible et n’avait aucun souci autre que la procuration journalière de la nourriture. Il tomba amoureux de la gracieuse My Nương lors de cette rencontre. Il sut que cet amour était sans espoir. Il commença à négliger son travail, tomba malade un beau matin et finit par mourir. Son corps fut enterré au bord du fleuve. Un jour, lors d’une crue violente, les berges furent ravagées par le fleuve. Sa tombe fut complètement dévastée. On trouva à cet endroit une boule de jade d’une pureté magnifique. Selon les gens de ce coin, il s’agit bien du corps du pêcheur qui s’était transformé en cette boule.

Attiré par la splendeur et la beauté de cette boule lors de son passage dans ce coin, le père de Mỵ Nương réussit à l’acheter à prix d’or. Il fit tailler cette boule en forme de tasse et l’offrit à sa fille lors de son jour d’anniversaire. Quand celle-ci y versa du thé, elle vit apparaître au fond de cette tasse l’image de Trương Chi avec sa voix mélodieuse résonant quelque part.

Émue et prise de pitié, Mỵ Nương commença à pleurer. Ses larmes tombèrent dans la tasse. Par enchantement, celle-ci se désagrégea et disparut. Grâce à la compassion de Mỵ Nương, l’âme du pêcheur fut ainsi libérée de son désespoir. Ainsi se termina l’histoire d’un amour impossible.

Dans un chef-d’œuvre vietnamien bien connu, on fait allusion à cette légende à travers les deux vers suivants:

Nợ tình chưa giã cho ai
Khối tình mang xuống tuyên đài chưa tan

Tant que la dette d’amour demeure,
Au Pays des Sources, la pierre d’amour ne peut pas fondre.

Trương Chi-Mị Nương

Ngày xưa, có một vị lãnh chúa quyền thế có được một cô con gái duy nhất tên là Mỵ Nương. Nàng này rất đẹp. Tựa  như tất cả những cô gái khác cùng cấp bậc, nàng nầy luôn luôn ở trong cung điện của mình. Nàng dành tất cả thời gian cho hội họa, thêu thùa và làm thơ. Nàng hay thường đến bên cửa sổ để ngắm quan cảnh và nhìn dòng nước chảy xuống về phía dưới cuối sông. Một ngày nắng đẹp, nàng bị quyến rũ bởi một tiếng hát du dương và u sầu vang lên từ dòng sông. Đó là tiếng của một ngư dân vừa đang kéo lưới và vừa hát. Nàng bắt đầu có thói quen lắng nghe tiếng hát của anh chàng nầy. Giọng hát nó mê hoặc đến nỗi làm  rung chuyển trái tim vô cảm của nàng. Đây là một cuộc hẹn hò quen thuộc mà nàng có với anh chàng ngư dân này.

 Có một ngày, giọng hát đó lại im bặt  khiến làm nàng đâm ra lâm bệnh. Nàng nằm liệt giường và không thầy thuốc y nào có thể xác định được nguyên nhân khiến nàng bị mắc bệnh. Rồi bổng một ngày, giọng hát nầy cất lên lại. Bài hát nó quá du dương khiến Mỵ Nương hồi phục mau chóng sức khỏe và vẻ đẹp của mình. Nàng trở nên vui vẻ như thưở nào  khiến cha nàng vô cùng vui sướng. Cha nàng mới bắt đầu khám phá ra nguyên nhân của căn bệnh. Nàng  bị chìm vào trạng thái hôn mê tuyệt vọng mỗi khi giọng hát đó lại im bặt. Cha nàng quyết định tìm kiếm lại anh ngư dân này và mời đến cho cô con gái bị bệnh gặp mặt. Tội nghiệp cho anh chàng này quá xấu xí đến mức khiến Mỵ Nương khiếp sợ ngay qua cái nhìn lần đầu tiên. Kể từ ngày đó, sự thu hút của tiếng hát không còn làm nàng khốn đốn  lâm bệnh. Nàng bắt đầu quên dần  đi thói quen này và trở lại  sau đó với nếp sống bình thường. 

Trái lại, cuộc sống hoàn toàn bị  chao đảo đối với anh ngư dân nghèo Trương Chi này. Cho đến giờ, anh có một cuộc sống  bình yên và không phải lo lắng gì cả ngoài việc  sinh nhai hằng ngày. Chàng đem lòng yêu trộm Mỵ Nương trong cuộc gặp gỡ này. Anh cũng thừa biết tình yêu này là tuyệt vọng khiến làm anh  bắt đầu bê tha công việc của mình, đổ bệnh vào một hôm và qua đời sau đó. Thi thể của anh được chôn ở  bên cạnh bờ sông.Có một hôm, trong một trận lũ dữ dội, bờ sông bị phá vỡ. Phần mộ của anh cũng bị tàn phá hoàn toàn. Người ta tìm thấy ở nơi đó có quả ngọc bích tinh khiết tuyệt đẹp. Theo người dân sinh sống ở khu vực này, đó là thi thể  của Trương Chi  đã biến thành ra quả cầu này. Bị thu hút bởi vẻ đẹp lộng lẫy của quả cầu này khi đi qua ở nơi này, cha của Mị Nương mua lại viên ngọc bích nầy rồi nhờ một  nghệ nhân đẽo thành hình một cái chén và  đem tặng cho  Mỵ Nương nhân dịp ngày lễ sinh nhật của nàng. Khi Mị Mương  rót trà vào chén, nàng bổng thấy hình ảnh Trương Chi hiện ra dưới đáy chén cùng với tiếng hát du dương của chàng vang vọng ở đâu đó. Quá xúc động và thương hại chàng, Mỵ Nương bắt đầu rơi lệ.  Các giọt lệ của nàng rơi vào  cái chén khiến nó  bị tan rã  và biến mất. Nhờ sự đồng cảm của Mỵ Nương  mà hồn của Trương Chi được giải thoát từ sự tuyệt vọng. Đây cũng là sự kết thúc của một tình yêu bất khả thi. Trong một kiệt tác nổi tiếng của Việt Nam, truyền thuyết này được ám chỉ qua hai câu thơ như sau:

Nợ tình chưa giã cho ai
Khối tình mang xuống tuyên đài chưa tan.

[Return CONTES]

Parallel sentences (Doanh thiếp)


Vietnamese version

French version

One of the charms of Vietnamese poetry lies in the usage of paralell sentences. Not only is found there the opposite of ideas or words used but also the relevance of the practice of parallelism. That is why parallel sentences constitute one of the major difficulties for novices but nevertheless they become one of the indisputable appeals for known Vietnamese poets such as Hồ Xuân Hương, Tự Ðức, Cao Bá Quát, Ðoàn Thị Ðiểm, Nguyễn Ðỉnh Chiễu etc. who had the opportunity to use them wisely. They have given us sentences showing their unprecedented talent and always serving as reference in the Vietnamese poetry.

Thanks to the contrast of the words or ideas in a verse or from stanza to stanza, the poet succeeded in stressing a reason or a crtitique and reinforcing the vigor of his thought. He composes these sentences based on prosodic rules established essentially on the alternation of equal (or bằng ) and oblique ( or trắc ) tones while leaning on the power of melodious and harmonious combinations of words used that are reinforced by the musicality of the Vietnamese language and the contrast of ideas.


Parallel sentences constitute a kind of intellectual pastime, an art that renowned poets found it hard to do without. They have succeeded in practicing this art with an astonishing ease and a remarkable ingenuity.

Parallel sentences reflect exactly what the poet saw and felt in his daily life. It is not surprising to see the Vietnamese’s infatuation of this subtle prosody for generations. It has become not only the pleasure of the people but also an efficient weapon against oppression, obscurantism and provocation.
Parallel sentences are a part of what every Vietnamese cannot miss on the occasion of Tết. The following two sentences:

Thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ,
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Fatty meats, pickled shallots, red parallel sentences.
Tet poles, firecracker strings, green sweet rice cakes.

witness to the familiarity and profound attachment that the Vietnamese love to reserve to this popular prosody during the new year time. Rich or poor, poet or not, everyone try to have these sentences hung at the entrance to their homes. They compose them themselves or have them composed by learned people who would write them to best express their personal aspirations.

Parallel sentences probably found their root in Chinese literature. They are known in Vietnamese as « Doanh Thiếp » ( manuscript hung on the housepost ). They comprise two parts that are called upper part ( vế trên ) and lower part ( vế dưới ). They are also called given statement ( vế ra ) and cross statement ( vế đối ) when one is composed by a person and the other by another. One finds some characteristics common to those two parts:

· The number of words must be the same;
· The content must be suitable at the level of significance when it comes to antithesis or parallelism of ideas.
· The form must be respected when it comes to contrast of words used (respect of placement order of nouns, adjectives and verbs, observance of opposition rules and registered sounds bằng and trắc).
In the example cited below,

Gia bần tri hiếu tử
Quốc loạn thức trung thần.
Poor homes discern their pious children
Troubled nation recognizes its loyal citizens.

It is noted that there is the same number of words used ( 5 in each part, 6 in English ), the parallelism of ideas and the strict observance of registered sounds bằng and trắc used in both parts. At the position of the bang tone (Bần) in the upper verse one finds the trac tone (Loạn) at the same place in the lower verse. Likewise, the remaining trac tones in the upper verse hiếu and tử are respectively crossed by the two bằng tones trung and thần in the lower verse.

Parallel sentences made up of one to three words for each of the parts are called little parallel sentences ( or tiểu đối in Vietnamese ). When they contain four to seven words and follow prosodic rules of poetry, they are called « poetic parallel sentences » ( câu đối thơ ). It is the case cited above. In the case of parallelism of ideas which is called doi xuoi in Vietnamese, no opposition of ideas is detected; on the contrary, the is an intimate relation between the two parts, which we find in the following sentences:

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
Rain though not restraining, is retaining
Feminine beauty being no big waves, can easily be drowning.

In the opposite case they are called đối ngược in Vietnamese. 

The parallelism of ideas is frequently used by poet Cao Bá Quát. There is an anecdote about him during the passage of emperor Minh Mạng in his village when he was still a young boy. Instead of hiding, he threw himself in a pond to take a bath. His absurd attitude caused him to be tied and brought before Minh Mạng under the exhausting sun. Minh Mang, who was surprised by his boldness and young age offered to free him at the only condition that he succeed in composing the appropiate cross sentence in response to the emperor’s given statement. Seeing a bigger fish chasing a smaller one in the pond, the emperor began to say:

Nước trong leo lẽo, cá đóp cá
In clear water, fish eating fish.
Without hesitation, Cao Bá Quát replied with astonishing ease:

Trời nắng chan chan, người trói người
Under scorching sun, man tying man.

Marveled by his promptness and unprecedented talent, the emperor was obliged to set him free. Cao Bá Quát, known for his independence, presumption and contempt of the mandarinal system, often stood up against challenges launched by his adversaries. One day, while participating in a talk on poetry hosted by a mandarin, he did not stop making fun of the mandarin when this one gave simplistic explanations to questions made by the public. Annoyed by his continuing provocation, the mandarin challenged him with the intention of punishing him immediately by asking him to give a cross sentence appropriate to the statement given by the mandarin himself:

Nhi tiểu sinh hà cứ đác lai, cảm thuyết Trình, Chu sự nghiệp
Mầy là gả học trò ở đâu đến mà dám nói đến sự nghiệp của Trương Công và Chu Công?

You little student coming from nowhere dare to critique the works of Trinh and Chu?
Without hesitation, he replied with impertinence:
Ngã quân tử kiên cơ nhi tác, dục ai Nghiêu Thuấn quân dân
Ta là bậc quân tử, thấy cơ mà dấy, muốn làm vua dân trở nên vua dân đời vua Nghiêu vua Thuấn.

I the gentleman taking opportunity for action want to turn king and subjects to those of Nghiêu and Thuấn.

In the old days parallel sentences constituted a favorite place where Chinese and Vietnamese loved to affront publicly. The cross statement of the learned Giang Văn Minh, anchored in the memory of a whole people and perpetuated for several generations

Ðằng giang tự cồ huyết do hồng.

The Ðằng River is from ancient time still red of blood .
continues to illustrate its infallible determination to the provocation of the Ming emperor with its following given statement:

Ðồng trụ chí kim đài dĩ lục

The Bronze Pole is up until now covered with green of moss

There are also anonymous poets who left us memorable parallel sentences. It is those found on the altar of Nguyễn Biểu at the Bình Hồ commune ( North Vietnam ).

Năng diệm nhơn đầu năng diệm Phụ
Thượng tồn ngô thiệt thượng tôn Trần
Ăn được đầu người thì co’ thể ăn cả Trương Phụ
Còn lưỡi của ta thì còn nhà Trần

Capable of eating a human head is capable of eating Trương Phụ
Having still my tongue is having remain the dynasty of Trần.

Thanks to these two sentences, the anonymous poet wanted to render a vibrant homage to the national hero. He was drowned by the Chinese generalissimo Trương Phụ who had hosted a somptuous banquet in his honor. To intimidate Nguyen Bieu, Truong Phu did not hesitate to present him a plate on which sit the head of a decapitated adversary. Instead of being afraid of this presentation, Nguyen Bieu remained impassible, took the chopsticks, picked out the eyes and ate them savorily.

After the fall of Saigon in 1975, an anonymous composed the following parallel sentences:
Nam Kì Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Ðồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Nam Ki Uprising wiped out Justice
Ðồng Khởi Revolt took away Freedom

because the names of the bouvevards Công Lý and Tự Do were replaced by Nam Ki Khởi Nghĩa and Ðồng Khởi in this teeming city of the South.

By means of parallel sentences, the anonymous poet wanted to stress his caustic criticism with regard to the regime.
Taking advantage of the subtleness found in parallel sentences and of the figurative meaning of the Vietnamese language, Vietnamese politicians, emperor Duy Tân in particular, have often had the opportunity to probe and be ironical of their adversary.
Brooding on the idea of fomenting for a long time an insurrection against the colonial authorities, Duy Tân, taking advantage of a coastal excursion with his prime minister Nguyễn Hữu Bài at the beach of Cửa Tủng ( Quảng Trị ), requested of the latter a cross statement to his given sentence:

Ngồi trên nước không ngăn được nước
Trót buôn câu đã lỡ phải lần.

Sitting on water, but one is incapable of retaining it
Throwing out the fishing line, yet we can only pull it back slowly.

Since Nước also means country in Vietnamese, Duy Tân in his given statement wanted to express the idea that he was on top of the country, yet he could not govern it.

He also wanted to probe Nguyễn Hữu Bài‘s political intention to see if the latter was with his opinion or paid by the French colonialists. Knowing the political conjuncture and being close to the colonial authorities, Nguyễn Hữu Bài preferred immobilism and a politics of dialogue in the following reply:

Ngẫm việc đời mà ngán cho đời
Liệu nhắm mắt đến đâu hay đó

Thinking of life, one becomes fed up with it
Closing our eyes, we will take whatever happens

To be ironical of his adversary, Ðặng Trần Thường, who had judged him wrong for being a partisan of emperor Quang Trung, with the following sentence:

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế
At the time of Chiến Quốc and Xuân Thu, whoever had the opportunity would grab it.

Ngô Thời Nhiệm succeeded in giving a perfect reply to the given statement by his adversary Ðặng Trần Thường, a partisan of emperor Gia Long.
Ai Công hầu, ai Khanh tướng, trên trần ai, ai dễ biết ai
For the titles of Duke and Minister, who is who in society to know them.

He succeeded to show not only his bravery but also his contempt with regards to go-getters such as Ðặng Trần Thường. Annoyed by these vexing words, the latter ordered his subordinates to flog him to death in front of the temple of literature. Ngô Thời Nhiệm was not wrong to recall Ðặng Trần Thường of this remark because he was later condemned to death by emperor Gia Long.
Phú, it is the noun in Vietnamese attributed to parallel sentences having a large number of words or parts. It is the case of sentences used by Ngô Thời Nhiệm and Đặng Trần Thường. When they are made of several parts of sentences, three ( in the example cited above ) or more, in the middle of which is inserted a very short part, one calls them gối hạc ( the kneecap of the crane ) in Vietnamese because it looks like the two parts of the crane’s leg separated by the kneecap.

Parallel sentences become with the flow of time the true popular expression of the whole people in the permanent struggle against obscurantism and oppression. By giving the people the opportunity to show their character, temperament and soul, parallel sentences succeed in justifyingwhat novelist Staël has put:

By learning the prosody of a language, one intimately enters the spirit of the nation that speaks it. It is with parallel sentences that one can understand and feel better about Vietnam. One would

then be closer to its people and culture.

[Return LITERATURE]

[Return Tết Bính Ngọ]

Sentences parallèles (Doanh Thiếp)

Doanh thiếp

Version vietnamienne 

L’un des charmes de la poésie vietnamienne réside dans l’utilisation des sentences parallèles. On y trouve non seulement l’antithèse des significations  ou des mots employés mais aussi la pertinence dans  la pratique de ces sentences. C’est pourquoi les sentences parallèles constituent l’une des difficultés majeures pour les novices mais elles deviennent néanmoins l’un des attraits incontestables pour les poètes vietnamiens connus comme Hồ Xuân Hương, Tự Ðức, Cao Bá Quát, Ðoàn Thị Ðiểm, Nguyễn Ðình Chiễu etc …
Ceux-ci ont eu l’occasion de les utiliser savamment. Ils nous ont légué des sentences dignes de leur talent inouï et servant toujours de référence dans la poésie vietnamienne. Grâce à l’antinomie trouvée dans les  mots ou les significations à l’intérieur d’un vers ou de strophe en strophe, le poète réussit à faire ressortir une raison ou une critique et à renforcer la vigueur de sa pensée.  Les sentences sont composées  à partir des règles prosodiques établies essentiellement sur l’alternance des tons bằng et  trắc (1) tout en s’appuyant sur la puissance des combinaisons des mots utilisée  de manière harmonieuse et  accrue par l’extrême musicalité de la langue vietnamienne et sur l’antithèse des significations (ou d’idées) ou la cohérence et la mise en corrélation des significations.

Les sentences parallèles constituent en quelque sorte un passe-temps intellectuel, un art dont les poètes de grand renom ne peuvent pas se passer. Ces derniers ont réussi à l’exercer avec une facilité étonnante et une ingéniosité remarquable. Les sentences parallèles reflètent exactement ce que le poète a vu  et ressenti dans la vie quotidienne.

Rien n’est étonnant de voir l’engouement des Vietnamiens pour cette prosodie subtile  au fil des générations. Elle devient non seulement le plaisir du peuple mais aussi une arme aussi efficace contre l’obscurantisme,  l’oppression et la provocation.

Thịt mỡ, dưa hành câu đối đỏ,
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh
Viande grasse, légumes salés, sentences parallèles rouges,
Mât du Tết, chapelets de pétards, gâteaux de riz du nouvel an.

Les sentences parallèles font partie de ce que chacun des Vietnamiens ne peut pas manquer à l’occasion de la fête du Tết. Elles témoignent de la familiarité et de l’attachement profond que le Vietnamien aime réserver à cette prosodie populaire lors du nouvel an. Riche ou pauvre, poète ou non, chacun tente d’avoir ces sentences pour les déposer devant  l’autel des ancêtres ou pour les accrocher à l’entrée de sa maison. Il les compose lui-même ou se procure auprès des lettrés celles qui formulent le mieux ses aspirations personnelles.

Les sentences parallèles trouvent probablement leur origine dans la littérature chinoise et sont connues en vietnamien sous le nom « Doanh thiếp (2) » . Elles comprennent deux vers: l’un est appelé le vers  supérieur (vế trên) et  l’autre le vers  inférieur (vế dưới). Le vers supérieur est le vers  composé et proposé par une personne souhaitant le commencement des sentences  tandis que le vers inférieur est  celui  qu’une autre personne  veut terminer pour la réplique.

On trouve quelques caractéristiques communes à ces deux vers: 

– Le nombre de mots doit y être le même.
– Le contenu doit y être convenable au niveau de la signification quand il s’agit de l’antithèse ou de la cohérence des idées.
– La forme doit y être respectée quand il s’agit de l’opposition totale des mots employés (respect de l’ordre de l’emplacement des mots, des adjectifs et des verbes, observation des règles d’opposition des registres sonores bằng et trắc).
Dans l’exemple cité ci-dessous,

Gia bần tri hiếu tử
Quốc loạn thức trung thần.

Nhà nghèo mới biết con hiếu thảo
Nước loạn mới biết rõ tôi trung
La famille pauvre discerne des enfants pieux
Le pays en désordre reconnaît des sujets fidèles.

on constate qu’il y a le même nombre de mots (5 mots dans chaque vers), le parallélisme des idées et l’observation stricte des registres sonores bằng et trắc employés dans les deux vers. A la place du ton bằng (nghèo) du vers supérieur on retrouve un ton trắc (loạn) au même emplacement dans le vers inférieur. De même, les tons trắc restants du vers supérieur hiếu et tử sont remplacés respectivement par les deux tons bằng trung et thần dans le vers inférieur.

Les sentences parallèles constituées de un à sept mots pour chacun des vers s’appellent des petites sentences parallèles (ou tiểu đối en vietnamien). Lorsqu’elles contiennent  plus de  sept mots et suivent les règles prosodiques de la poésie, on les désigne sous le nom de « sentences parallèles poétiques » (ou thi đối). C’est le cas de l’exemple cité ci-dessus. En cas du parallélisme d’idées, on les appelle  câu đối xuôi en vietnamien. Dans ce cas, aucune opposition d’idées n’y est décelée. Par contre, il y a une cohérence et une corrélation entre leurs deux vers, c’est ce qu’on trouve dans ces deux sentences suivantes:

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.
Sans avoir la serrure à la porte, la pluie peut retenir celui qui est pressé de partir
Sans la possibilité de faire les vagues de la mer, la beauté d’une fille peut noyer celui qui s’en est épris.

Dans le cas contraire, on les appelle câu đối ngược en vietnamien. Dans ce type de sentences, l’antinomie de significations ou d’idées est visible dans les deux vers. C’est le cas de l’exemple suivant:

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện bất tương phùng 
Có duyên dù ở xa ngàn dậm cũng có thể gặp nhau
Còn không có duyên  rồi dù ở có  đối mặt cũng không gặp được nhau.

Malgré plusieurs milliers de kilomètres de distance, on peut se rencontrer lorsqu’on a la chance.
En dépit de la proximité géographique, on ne peut pas se voir lorsqu’on n’a pas la chance.

Les sentences parallèles sont  employées fréquemment par le poète Cao Bá Quát. Il y a eu une anecdote sur lui lors du passage de l’empereur Minh Mạng dans son village quand il était encore un jeune garçon entêté. Au lieu de se cacher, il se jeta dans un étang pour prendre une baignade. Devant son attitude absurde, il fut ligoté et emmené devant Minh Mạng sous un soleil accablant.  Surpris par sa hardiesse et son jeune âge, celui-ci lui proposa de le libérer à condition qu’il réussît à composer une sentence appropriée répondant à celle émise par l’empereur. En voyant la poursuite engagée par le plus gros poisson sur le petit dans l’étang, l’empereur commença à dire:

Nước trong leo lẽo, cá đóp cá
L’eau étant tellement limpide, le grand happe le petit.

Sans hésitation, Cao Bá Quát répliqua avec une facilité étonnante:

Trời nắng chan chan, người trói người
Le soleil étant tellement accablant, le grand  ligote le petit.

Émerveillé par sa promptitude et par son talent inouï, l’empereur fut obligé de lui rendre la liberté. Cao Bá Quát, connu pour son indépendance, sa présomption et son mépris à l’égard du système mandarinal, était obligé de relever souvent le défi lancé par ses adversaires. Un beau jour, profitant de sa participation à un exposé organisé par un mandarin sur la poésie, il ne cessa pas de faire le clown lorsque ce dernier continua à donner des explications simplistes sur les questions posées par le public. Énervé par sa provocation continue, le mandarin fut obligé de le défier dans l’intention de le punir immédiatement en lui demandant de donner une sentence appropriée répondant à celle émise par lui-même :

Nhi tiểu sinh hà cứ đác lai, cảm thuyết Trình, Chu sự nghiệp
Mầy là gả học trò ở đâu đến mà dám nói đến sự nghiệp của Trương Công và Chu Công?

Étant un élève venant de quel coin, oses-tu citer les œuvres de Trương Công et Chu Công?

Sans hésitation, il lui répondit avec impertinence:

Ngã quân tử kiên cơ nhi tác, dục ai Nghiêu Thuấn quân dân
Ta là bậc quân tử, thấy cơ mà dấy, muốn làm vua dân trở nên vua dân đời vua Nghiêu vua Thuấn.

Etant un homme de ren (3), profitant des moments opportuns pour m’élever, puis-je devenir roi à l’image des rois Nghiêu et Thuấn?

Les sentences parallèles constituaient autrefois un lieu de prédilection où les Chinois et les Vietnamiens aimaient s’affronter publiquement. La sentence répondante du lettré Giang Văn Minh, ancrée dans la mémoire de tout un peuple et perpétuée depuis plusieurs générations :

Ðằng giang tự cổ huyết do hồng.
Le fleuve Bạch Ðằng continue à être teinté avec du sang rouge.
illustre bien sa détermination infaillible face à la provocation de l’empereur des Ming avec sa sentence émise suivante:

Ðồng trụ chí kim đài dĩ lục.
Le pilier en bronze continue à être envahi par la mousse verte.

Il y a aussi des poètes anonymes qui nous ont laissé des sentences parallèles mémorables. C’est celles qu’on a trouvées sur l’autel du héros national Nguyễn Biểu dans la commune Bình Hồ au Nord Vietnam.

Năng diệm nhơn đầu năng diệm Phụ
Thượng tồn ngô thiệt thượng tôn Trần
Ăn được đầu người thì có thể ăn cả Trương Phụ
Còn lưỡi của ta thì còn nhà Trần

En mangeant la tête humaine, on peut manger aussi Trương Phụ
En ayant encore la langue, je peux survivre autant que la dynastie des Trần.

Grâce à ses deux sentences, le poète anonyme a voulu rendre un vibrant hommage au héros national. Celui-ci fut noyé par le généralissime chinois Trương Phụ après que ce dernier avait organisé un banquet somptueux en son honneur. Pour intimider Nguyễn Biểu, Trương Phụ n’hésita pas à lui présenter un plat où on trouvait la tête décapitée d’un adversaire. Au lieu d’être effrayé par cette présentation, Nguyễn Biểu restant impassible, se servit des baguettes pour déloger les yeux et les mangea savoureusement.

Lors de la chute de Saigon en 1975, un anonyme a composé les deux sentences parallèles suivantes:

Nam Kì Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Ðồng Khởi vùng lên mất Tự Do.

Le soulèvement du Sud anéantit la justice
La révolte en marche fait périr la liberté

car les noms des boulevards Công Lý et Tự Do ont été remplacés respectivement par Nam Kì Khởi Nghĩa et Ðổng Khởi dans la ville bouillonnante du Sud. C’est par le biais de ces sentences que le poète anonyme a voulu mettre en relief sa critique acerbe à l’égard du régime.

Profitant de la subtilité trouvée dans les sentences parallèles et du sens figuré dans la langue vietnamienne, les hommes politiques vietnamiens, en particulier l’empereur Duy Tân, ont eu l’occasion de s’en servir souvent pour sonder ou ironiser sur l’adversaire. Caressé par l’idée de fomenter depuis longtemps une insurrection contre les autorités coloniales, Duy Tân, profitant de l’excursion maritime qu’il a effectuée avec le premier ministre Nguyễn Hữu Bài à la plage Cửa Tùng (Quảng Trị), proposa à ce dernier de lui donner une réplique appropriée à sa sentence émise:

Ngồi trên nước không ngăn được nước
Trót buôn câu đã lỡ phải lần
Etant assis sur l’eau, on est incapable de la retenir
En commettant l’erreur de jeter l’appât, on n’a plus la possibilité de le retirer.

À travers ces deux sentences, Duy Tân voulut connaître l’intention politique de son ministre Nguyễn Hữu Bài car le mot « nước » en vietnamien désigne à la fois l’eau et le pays. Il aimerait savoir si ce dernier était de son avis ou à la solde des colonialistes français. Connaissant la conjoncture politique et  étant un proche des autorités coloniales, Nguyễn Hữu Bài  préféra l’immobilisme et adopta une politique de concertation en donnant la réplique suivante:

Ngẫm việc đời mà ngán cho đời
Liệu nhắm mắt đến đâu hay đó
En réfléchissant mûrement sur la vie, on en est dégoûté.
En tentant de fermer les yeux, on n’a qu’à attendre le moment propice.

Étant chargé de juger le tort de Ngô Thời Nhiệm d’être le partisan de l’empereur Quang Trung,  Ðặng Trần Thường  l’a défié en émettant la sentence suivante:

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế, 
À l’époque des Royaumes Combattants ou des Printemps Automnes, quiconque rencontrant le moment opportun, en profite pour devenir celui qu’il est.

Ngô Thời Nhiệm a réussi à donner sa sentence répliquante avec ironie  à Ðặng Trần Thường, un  partisan de l’empereur Gia Long:

Ai Công hầu, ai Khanh tướng, trên trần ai, ai dễ biết ai
On est duc et marquis ou mandarin et ministre; quiconque vivant dans cette société, distingue facilement le rôle que chacun assume.

Il réussit à montrer non seulement sa bravoure mais aussi son mépris à l’égard des gens arrivistes comme Ðặng Trần Thường. Irrité par ces propos vexants, ce dernier donna l’ordre à ses subordonnés de le fouetter à mort devant le temple de la littérature. Ngô Thời Nhiệm n’a pas eu tort de rappeler à Ðặng Trần Thường cette remarque car il fut condamné à mort plus tard par l’empereur Gia Long.

Phu’, c’est le nom en vietnamien qu’on attribue aux sentences parallèles ayant un grand nombre  de membres de phrases. C’est le cas de l’exemple de sentences employées par Ngô Thời Nhiêm et Ðặng Trần Thường. Lorsque celles-ci comprennent trois ou plus (dans l’exemple cité ci-dessus) de membres, au milieu desquels on insère un membre très court, on les appelle sous le nom phú gối hạc (la rotule de la grue) en vietnamien car on trouve une ressemblance avec le schéma de la patte de la grue avec les deux membres longs séparés par la rotule.

Ces sentences parallèles deviennent au fil des années l’expression populaire véridique de tout un peuple en lutte permanente contre l’obscurantisme et l’oppression. En donnant à ce dernier l’occasion de montrer son caractère, son tempérament et son âme, elles réussissent à justifier ce que la romancière Staël a l’occasion de dire: En apprenant la prosodie d’une langue, on entre intimement dans l’esprit de la nation qui la parle. C’est avec ces sentences parallèles  qu’on peut comprendre et sentir mieux le Vietnam. On serait alors plus proche de son peuple et de sa culture.

[Return LITTERATURE]


(1) bằng deux accents: accent grave  et sans accents ; trắc: 4 accents: accent retombant, tilde, accent aigu et accent intensif.
(2) Doanh thiếp: manuscrit accroché au poteau de la maison.
(3) Être ren: c’est savoir faire régner bonne foi, tolérance, diligence et générosité. 

The golden star fruit tree (Ăn Khế trả vàng)

an_khe_tra_vang

French version

Vietnamnese version

The golden star fruit tree

Once upon a time there were two brothers who divided an inheritance at the death of their parents. The elder, greedy and stingy, took all the wealth and left to his younger brother and his wife only a dilapidated hut and and a star fruit tree with juicy but stunted fruits. But the two younger spouses hardly complained and were contented with this meager share. They took care of their star fruit tree and watered it in such a way that the tree took back it vigor and bore lots of fruits. When the star fruits began to ripe, a extraordinarily large raven came every morning to eat them. No matter what they did, it was impossible for the couple to chase the bird away. Chargined, the wife lamented:  » Poor us. As poor as we are, the only thing we count much on was what that star fruit tree brings us; now look, this bird ravaged it all. We will probably know starvation ». Miracle! The raven upon hearing those lamentations, perched down and replied in a human voice:  » Star fruits I eat, with gold I pay, be ready with a three-foot bag and follow me to get it ».

Afraid the woman ran in the hut to look for her husband. They discussed and decided to sew the bag according to the indicated size, waiting for the return of the bird. A few days later, the bird came back, ate all the star fruits then got down from the tree to invite the husband to take a seat on its back with the bag. Then they disappeared together in the horizon. Frightened, the younger brother closed his eyes. The bird took him very far before landing on a deserted island, full of precious stones. He was free to take whatever he could.

He filled the bag and the raven took him back to his home. From then on, the couple knew opulence, lived in luxury places. They often gave help to the poor. On the occasion of the commemoration of his parents’ death, the couple invited the elder brother to come over. Full of despise of his younger brother, the elder look for a pretext to decline and aksed that the younger carpet the road with mats and adorn the gate with gold if he wanted to receive him. Respectful of his elder brother, the younger complied with the latter’s wish. The elder brother and his wife were surprised to see the younger couple’s opulence and wealth. Curious, the elder skillfully tried to penetrate the mystery. His younger brother, honest and frank, did not hesitate to tell him the story of the giant raven that took him to look for gold.

The elder couple proposed an exchange of their fortune for only the hut and the star fruit tree. The younger agreed. One day, the raven came back to eat the star fruits and gave the same recommendation: a three-foot bag to go looking for gold. The elder greedy and curious, brought with him two big six-foot bags and when on the spot, filled them with gold. On the way back, burdened by the overweight of of the two bags, the raven who could not hold any longer, swayed and sent the elder to the sea where he drowned. The elder was the object of much despise when people knew about his greed and stinginess. God always helps good people and always punishes naughty people.

The golden star fruit tree

L’histoire de la carambole d’or (Ăn Khế trả vàng)

an_khe_tra_vang

English version

Version vietnamienne

L’histoire de la carambole d’or.

Il était une fois deux frères qui se partagèrent un héritage, à la mort de leurs parents. L’aîné, cupide et avare, s’empara de tous les biens et laissa à son cadet et à sa femme seulement une paillote délabrée et un carambolier aux fruits juteux mais rabougris. Mais ces deux époux cadets ne s’en plaignirent guère et se contentèrent de ce maigre avoir. Ils prirent soin de leur carambolier et l’arrosèrent sans cesse de manière que l’arbre reprît vigueur et portât une quantité de fruits. Quand les caramboles commencèrent à mûrir, un oiseau d’une taille extraordinaire vint chaque matin en manger. Il était impossible pour ce couple de l’en chasser quoi qu’il fît. L’épouse navrée se lamenta: « Malheur à nous. Pauvres que nous sommes, nous comptons beaucoup sur ce que nous rapporte le carambolier et voilà que l’oiseau ravage tout. Nous connaîtrons probablement la faim ». Miracle! L’oiseau entendit les lamentations, se pencha et répliqua d’une voix d’homme: » Des caramboles je mange, de l’or je rends, munissez-vous d’un sac moyen et suivez-moi pour en chercher ».

Apeurée, la femme se précipita dans la chaumière pour chercher son mari. Ils se concertèrent et décidèrent de coudre le sac suivant la mesure indiquée, dans l’attente d’un éventuel retour de l’oiseau. Quelques jours plus tard, l’oiseau revint, mangea tout son saoul de caramboles puis descendit de l’arbre pour inviter l’époux à prendre place sur son dos avec le sac. Puis ils disparurent ensemble à l’horizon. Effrayé, le cadet ferma les yeux. L’oiseau le transporta très loin avant d’atterrir sur une île déserte, remplie de pierres précieuses. Il fut libre d’en prendre autant qu’il pût.

Il remplit son sac et l’oiseau le ramena chez lui. Depuis ce jour, le couple connut l’opulence. Il vivait dans des demeures luxueuses. Il venait en aide souvent aux pauvres. A l’occasion de la commémoration de la mort de ses parents, le couple invita l’aîné à venir chez lui. Plein de mépris pour le cadet, l’aîné chercha prétexte pour se dérober et exigea que le cadet tapissât le chemin de nattes et dorât le portail si ce dernier voulait le recevoir. Le cadet respectueux de son aîné, s’exécuta selon le vœu de ce dernier. Celui-ci et son épouse furent surpris devant l’opulence et la richesse du couple cadet. Curieux, l’aîné chercha habilement à connaître le mystère. Son cadet, honnête et franc, n’hésita à lui raconter l’histoire de l’oiseau géant qui l’avait emmené à chercher de l’or. Le couple aîné proposa d’échanger sa fortune contre seulement la paillote et le carambolier juteux. Les cadets obtempérèrent. Un jour, l’oiseau revint manger des caramboles et fit la même recommandation: un sac de trois livres pour aller chercher de l’or. L’aîné, cupide et curieux, emmena deux gros sacs  et une fois sur place les remplit avec de l’or. Sur le chemin de retour, plié sous le poids démesuré de ces deux sacs, l’oiseau qui n’en put plus, tangua et l’aîné fut balancé dans la mer et s’y noya. L’aîné fut l’objet de beaucoup de mépris quand on connut l’histoire de son avidité et de sa cupidité. Dieu vient toujours en aide aux bons et punit toujours les méchants. Dans le livre des proverbes vietnamiens, il y a l’expression suivante : « Tham thi thâm » ou « la cupidité donne une fin triste ».

 

Ăn khế trả vàng

Chúng ta không biết một xã hội  nào không có huyền thoại cũng như không có nền văn minh nào mà không có lịch sử.

Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em được chia tài sản thừa kế khi cha mẹ họ mất. Người con cả, tham lam và keo kiệt, chiếm đoạt hết gia sản để lại cho vợ chồng đứa em trai nhỏ chỉ có một túp lều dột nát và một giàn khế ngọt nhưng còi cọc. Nhưng hai người chồng trẻ này không phàn nàn nhiều về điều đó và hài lòng với khối tài sản ít ỏi này. Họ chăm sóc cây khế và tưới nước liên tục để cây lấy lại sức sống và cho trái nhiều. Khi các quả khế bắt đầu chín, sáng nào cũng có một con chim có kích thước lớn đến ăn  các quả khế.

Vô phương cho đôi vợ chồng này không thể nào đuổi  được con chim đi được. Người vợ đau lòng than thở: “Thật khổ cho chúng ta.Chúng ta đã nghèo, chúng ta trông chờ rất nhiều vào những gì chúng ta có được từ cây khế và bây giờ con chim đang tàn phá mọi thứ. Chúng ta sẽ chết đói chắc chắn”. Phép màu! Con chim  nghe tiếng than vãn, cúi xuống và đáp giọng đàn ông: “Các quả khế ta ăn, vàng ta trả lại, lấy túi ba gang theo ta đi tìm”.

Quá hoảng sợ, người phụ nữ lao vào ngôi nhà tranh để tìm chồng. Họ đồng ý và quyết định may túi vải theo kích thước đã chỉ định, chờ chim quay lại. Mấy hôm sau, chim trở lại, ăn khế no nê say rồi từ trên cây bay xuống mời người chồng ngồi lên lưng với túi vải. Rồi họ cùng nhau biến mất ở phía chân trời.

Sợ hãi, người chồng nhắm mắt lại. Con chim đã chở anh nầy đi thật xa trước khi đáp xuống một hòn đảo hoang đầy đá quý. Anh nầy mà lấy được nhiều thì càng tốt.

Anh ta đổ đầy túi và con chim mang anh ta  trở về nhà. Kể từ ngày đó, hai vợ chồng có được sự xa hoa, sống trong những dinh thự sang trọng. Anh thường giúp đỡ người nghèo. Nhân ngày giỗ cha mẹ, hai vợ chồng anh  mời anh cả về nhà họ. Với lòng khinh bỉ đã có với đứ em, anh cả tìm cớ trốn tránh đi và yêu cầu đứa em mình phải trải chiếu và mạ vàng cổng nếu muốn anh sang. Người em trai, kính trọng người anh cả của mình, đã làm theo ý muốn của người anh. Vợ chồng người anh ngỡ ngàng trước sự giàu có, sang chảnh của đôi vợ chồng người em. Hiếu kỳ, người anh cả khéo léo tìm cách khám phá sự bí ẩn. Trung thực và thẳng thắn, người em trai, không ngần ngại kể cho anh c ả nghe câu chuyện về con chim khổng lồ đã đưa đi tìm vàng. Đôi vợ chồng người anh  đề nghị đổi của cải để lấy túp lều rơm và giàn khế ngon ngọt. Vợ chồng người em tuân theo. Một hôm, con chim quay lại ăn quả khế và đưa ra lời đề nghị tương tự: một túi ba gang để lấy vàng. Người anh, ngu si và tò mò,  lấy hai túi lớn mỗi túi ba gang và khi đến đó, làm đầy hai túi với vàng.

Trên đường trở về, dưới sức nặng quá lớn của hai chiếc túi vải, con chim không thể chịu đựng bay nổi được nữa và lảo đảo  ném người anh cả xuống biển khiến anh bị chết đuối. Anh nầy nầy bị khinh miệt khi lòng tham và ngu si của anh ta được biết đến.  Thượng đế luôn giúp đỡ người tốt và trừng phạt kẻ gian ác. Bởi vậy trong tục ngữ của chúng ta có câu nói « Tham thì thâm ».

The betel quid (Trầu Cau)

chique_de_betel

The betel quid

French version
Vietnamese version

 

Long time ago, under the reign of king Hùng Vương the 4th, there were two twin brothers, Cao Tân and Cao Lang. They looked so much alike that it was difficult to distinguish one from the other. They both attended the school of an old teacher in the village who had a sole daughter named  Liên whose beauty attracted all the homage of all the young men in the area.

The old teacher liked both of them. He would grant his daughter’s hand to one of them, preferably the elder because according to Vietnamese customs, the elder brother would get married first. In order to be able to distinguish them, he relied on a little trick by inviting them for dinner. The one who first picked up the chopsticks would be the elder. So Cao Tân got the hand of his daughter without any doubts that his younger brother has devoted an ardent love to her. They went on to live together in a complete harmony and experienced a faultless happiness.
Cao Tân continued no less to love his younger brother like ever before and would do anything to make him happy.

However, in spite of that, the younger brother could not rid of the pain in his heart. He decided to leave them and went out for an adventure. After so many days of walking, he ended up falling exhausted on the road and was transformed into a block of lime stone with an immaculate white.

The elder brother, taken by growing worries for his younger brother left in search for him. He followed the same road taken by his younger brother. In a beautiful morning, after so many days of walking, he arrived at the lime stone block, sat on it and succumbed without movement. He was metamorphosed in to a betel nut tree growing tall with its green palms and oblong little fruits. The tree began to extend its branches and its shadow over the lime stone mass as if to protect it from the changes of weather.

Staying at home without any news from her husband, the young wife in turn left the house and went for a search of her spouse. She roamed fields, crossed villages and finally one day, she came real close to the tree. Tired by the long walk, she leaned back at the foot of the tree, took her turn to die and change into a plant whose stems curled around the trunk of the tree with large intensely green leaves in the form of a heart.

One day, while passing through the area, King Hùng heard this story. He tried chewing betel and areca with a little of the lime from the limestone block. He found that the resulting saliva was as ruddy as blood, with a fresh, tangy and fragrant taste. From then on, he ordered betel and areca to be included in the wedding ceremony as a ritual offering. This is one of the Vietnamese customs that must be observed at the wedding feast. Areca nuts and bright green betel leaves in the shape of a heart are always part of the wedding gifts, symbolizing the pledge of marital love and fidelity.

Similar to a cigarette, betel quid was a conversation starter in old Vietnamese society. That’s why it’s customary to say in Vietnamese “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. The betel quid is also used to measure time, because in the absence of clocks in those days, a mouthful of betel corresponds to roughly three or four minutes, giving you an idea of how long a conversation lasted.

 The betel quid

This is one of Vietnamese customs to be observed at a marriage ceremony. There is always betel, with betel nut and intensely green leaves in the form of a heart that is part of wedding gifts that symbolize an eternal union.

[Return CONTES]

La chique de bétel (Trầu Cau)

chique_de_betel
Version vietnamienne
English version

Jadis, sous le règne du roi Hùng IV, vivaient deux frères jumeaux, Cao Tân et Cao Lang (*). Ils se ressemblaient tellement qu’il était difficile de les distinguer. Leurs parents étaient décédés depuis longtemps. Ils suivaient les cours d’un vieux maître du village, Lưu Huyền ayant eu une fille unique de nom Liên  dont la beauté recueillait tous les hommages de tous les jeunes de la région.

Le vieux maître se prit d’affection pour les deux. Il désira accorder la main de sa fille à l’un d’eux, de préférence l’aîné car selon la coutume vietnamienne, l’aîné se maria le premier. Pour arriver à les distinguer, il dut recourir  à un petit subterfuge en les invitant à dîner chez lui. Le premier à prendre les baguettes était l’aîné. C’était ainsi que Cao Tân reçut la main de sa fille sans se douter que son cadet vouait aussi à cette dernière un ardent amour. Ils continuaient à vivre ensemble dans une harmonie complète et connaissaient un bonheur sans faille.

Cao Tân n’en continuait pas moins à aimer son cadet comme avant et faisait tout pour rendre ce dernier plus heureux. Mais celui-ci, malgré cela, n’arriva pas à refouler les peines de son cœur. Il décida de les quitter et trouva le soulagement dans l’aventure. Après tant de jours de marche, il finit par tomber d’épuisement sur la route et fut transformé en un bloc de calcaire d’un blanc immaculé.

Pris d’une inquiétude grandissante pour son frère, l’aîné  partit à sa recherche. Il suivit le même chemin pris par son cadet. Un beau matin, après tant de jours de marche, il arriva près du bloc calcaire, s’y assit et succomba d’inanition.  Il fut métamorphosé en un bel arbre (aréquier) haut avec des palmes vertes et des petits fruits oblongs. L’arbre commença à étendre sa ramure et son ombre au dessus du bloc calcaire  pour le protéger contre les intempéries.

Restée sans nouvelles de son mari, la jeune femme Liên, quitta à son tour, la maison et se mit en quête de son époux. Elle parcourut des champs et des prairies, traversa des villages et arriva enfin un jour tout près de l’aréquier. Fatiguée par la marche, elle s’adossa au pied de l’arbre, mourut à son tour et fut changée en une plante dont les lianes s’enroulaient autour du tronc de l’arbre avec de larges feuilles d’un vert intense en forme de cœur.

Un jour, de passage dans ce coin, le roi Hùng apprit cette histoire. Il essaya de mâcher du bétel et  d’arec  avec un peu de la chaux du bloc calcaire. Il constata que la salive obtenue était vermeille comme le sang et avait une saveur à la fois fraîche, acidulée et odorante.  Il ordonna désormais que le bétel et l’arec durent figurer au mariage comme une offrande rituelle. C’est l’une des coutumes vietnamiennes qu’il faut respecter lors de la fête de mariage. Il y a toujours des noix d’arec et des feuilles de bétel  d’un vert intense en forme de cœur faisant partie des cadeaux de mariage et symbolisant le gage d’amour conjugal et la fidélité.

Semblable à une cigarette, la chique de bétel facilite le début de la conversation dans la société vietnamienne d’autrefois. C’est pourquoi on a l’habitude de dire en vietnamien « Miếng trầu là đầu câu chuyện ». La chique de bétel sert à mesurer aussi le temps car en l’absence d’horloge à cette époque, une bouchée de bétel correspond à peu près trois ou quatre minutes,  ce qui permet d’avoir une idée sur la durée de la conversation.

La chique de bétel est une coutume très ancienne trouvée chez les populations vivant dans les régions s’étendant de l’Inde jusqu’au Japon méridional, recouvrant aussi l’Asie du Sud-Est et la Chine du Sud. Il paraît que la chique de bétel porte le même effet que le coca pour couper la faim. Malgré la disparition de cette coutume au fil des années, les feuilles de  bétel et les noix d’arec continuent à rester une offrande cultuelle et être visible au moment des fiançailles et du mariage des Vietnamiens ou à l’occasion des Tết. 

Chuyện trầu cau

Ngày xưa, dưới thời vua Hùng IV, có hai anh em sinh đôi là Cao TânCao Lang. Hai anh em trông giống nhau như đúc khó mà phân biệt được. Cha mẹ đã qua đời từ lâu. Hai anh em đến học chung cùng một thầy giáo tên là Lưu Huyền. Ông nầy  có một  đứa con gái tên Liên duy nhất rất xinh đẹp được tất cả thanh niên trong vùng trầm trồ ngưỡng mộ.

Ông giáo làng nầy rất qúi cả hai anh em. Ông muốn gã đứa con gái của mình cho  một trong hai người nầy, nhất là cho người anh cả, vì theo phong tục Việt Nam, người anh cả  phải lấy vợ trước. Để có thể phân biệt được giữa họ, ông  phải dùng đến một mẹo nhỏ bằng cách mời họ đến dùng cơm  tối tại nhà. Người đầu tiên cầm đũa là người anh cả. Chính  nhờ vậy mà Cao Tân  được  kết hôn với cô con gái  nhưng không biết  em trai của mình cũng yêu  thầm cô con gái nầy. Họ tiếp tục sống chung với nhau rất hòa thuận và tận hưởng niềm hạnh phúc chung. Cao Tân vẫn tiếp tục yêu thương em trai của mình như trước và làm mọi thứ để người em được  hạnh phúc hơn. Nhưng người  em trai không thể kìm nén nỗi đau trong lòng nên quyết định ra đi và tìm nguồn an ủi trong cuộc phiêu lưu. Sau bao nhiêu ngày đi bộ, anh ta cuối cùng  ngã  bệnh mà chết vì kiệt sức trên đường và biến thành một khối đá vôi trắng tinh.

Càng lo lắng cho em trai mình, người anh cả lên đường đi tìm em. Anh  đi theo con đường tương tự mà em trai của mình đã trải đi qua. Một buổi sáng đẹp trời, sau bao ngày đi bộ, anh ta đến nơi có khối đá vôi, ngồi tụt xuống đó rồi mõi mòn qua đời và được biến thành một cây cau xinh đẹp với những lá cọ xanh tươi và những quả nhỏ hình thuôn dài. Cây nầy bắt đầu vươn cành ra và tỏa bóng mát  lên trên khối đá vôi xem như để  bảo trợ nó chống lại những lúc có mưa gió.

Không có tin tức của chồng, Liên người phụ nữ trẻ lượt rời khỏi nhà và đi tìm chồng. Cô vượt qua những cánh đồng, những ngôi làng và cuối cùng có một ngày cô  lại đến  gần cây cau. Đi quá mệt mỏi, cô mới dựa lưng vào chân cây cau, lần lượt chết đi và được biến  thành một loài thực vật có dây leo quấn quanh thân cây cau  với những chiếc lá rộng màu xanh đậm hình trái tim.

Một hôm, khi đi ngang qua nơi nầy, vua Hùng mới biết được câu chuyện này. Ngài  mới lấy trầu và cau đưa lên miệng nhai  với một tí vôi từ khối đá nầy. Ngài nhận thấy nước bọt thu được có màu hồng như máu và có mùi vị thơm ngon. Bây giờ ngài mới ra lệnh rằng từ đây  trầu cau phải được đưa vào hôn lễ như một lễ vật. Đó là một trong những phong tục mà người dân Việt  cần phải  tôn trọng trong tiệc cưới. Quà cưới luôn luôn phải có các quả cau với những chiếc lá trầu xanh nồng nàn hình trái tim. Trầu cau tượng trưng cho tình yêu thương vợ chồng và lòng chung thủy sắt son.

Tương tự như điếu thuốc lá, miếng trầu giúp ta dễ bắt nói chuyện hơn trong xã hội Việt Nam thưở  xưa. Đây là lý do tại sao chúng ta thường nói trong tiếng Việt « Miếng trầu là đầu câu chuyện« . Ăn trầu được sử dụng để đo thời gian vì thời đó không có đồng hồ, một miếng trầu chỉ cần nhai khoảng ba hoặc bốn phút, điều này gíúp  chúng ta biết khoảng thời gian của cuộc trò chuyện. Tục ăn trầu là một phong tục cổ xưa được tìm thấy trong các nhóm dân cư sống ở các khu vực trải dài từ Ấn Độ đến miền nam Nhật Bản, bao gồm luôn  cả Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Có vẻ như miếng trầu có tác dụng tương tự như nước coca để ngăn cơn đói. Mặc dù phong tục này đã biến mất theo ngày tháng, các lá trầu và các quả cau vẫn tiếp tục là một lễ vật tín ngưỡng và thường trông thấy ở  các lễ quan trọng như đính hôn, cưới hỏi hay   các Tết lớn nhỏ của người Việt Nam.

[Return CONTES]


(*) Hai chữ Tân và Lang ghép lại thì thành Tân Lang có nghĩa là cây cau. L’association des deux  mots Tân et Lang désigne l’aréquier.

 

 

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): dernière partie

peuple_bana5

Version vietnamienne 

English version

Dernière partie

Une fois le mariage célébré, les jeunes époux habitent par roulement dans leurs familles parentales au bout d’un certain temps suivant l’accord établi entre les deux familles. C’est seulement après la naissance de leur premier enfant qu’ils commencent à construire leur propre maison. Les Bahnar adoptent la monogamie. Le viol, l’inceste et l’adultère sont strictement condamnés. Au cas où l’adultère est commise par le conjoint survivant quel que soit son sexe au moment de la période d’entretien de la tombe, on dit qu’il saute par dessus le cercueil ko dang boăng. Le survivant n’est pas aussitôt délié de ses obligations envers le mort. Il est obligé de payer non pas aux ayants droit du défunt mais au défunt lui-même des indemnités qui sont réglées en un nombre de bêtes que l’on immole bơthi sur sa tombe. C’est pourquoi le conjoint survivant a l’intérêt d’écourter la période d’entretien s’il a envie de refaire sa vie. Même dans la mort, le préjudice causé au défunt par la faute de son conjoint a droit à une réparation matérielle par le nombre de bêtes qu’on immole sur sa tombe.

Dans la tradition des Bahnar, chacun est « libre » sous réserve de ne pas nuire à la personne ou aux biens d’autrui. Dans le cas où la personne a été lésée dans son honneur ou matériellement dans ses biens, elle a droit à une réparation sous forme d’indemnité ou à un remboursement des frais engagés. Les Bahnar n’infligent pas la peine de mort. L’envoi de quelqu’un au bagne correspond à un bannissement. Les Bahnar savent pratiquer l’entraide en cas de disette. Dans leur maison, on ne boit jamais d’alcool de riz, on ne mange jamais de viande sans inviter les autres familles. Le premier riz mûr n’appartient pas seulement au propriétaire du champ mais au village tout entier. 

Figurines de bois
devant les maisons funéraires

bana_figurine

La liberté de choisir le conjoint ou la conjointe, la répartition des tâches dans un couple, le droit à une réparation matérielle ou morale, le respect d’autrui illustrent bien l’égalité entre hommes et femmes dans la tradition ancestrale des Bahnar. Il n’y a pas de différence essentielle entre la situation juridique de l’homme et celle de la femme. Chez les Bahnar, le mode de fonctionnement démocratique existe depuis longtemps avant que la démocratie soit découverte et pratiquée en Occident. Selon l’ethnologue français feu Georges Condominas, les « sauvages » n’attendent pas Minkowski ou Einstein pour avoir la notion d’espace-temps. En employant une expression liée à l’espace, ils indiquent une date. Ils donnent approximativement l’âge de quelqu’un par rapport à un événement saillant. Ils ne détruisent pas totalement la forêt car ils savent la laisser se regénérer des années après qu’ils l’avaient mangé dix ou vingt ans auparavant comme les Mnong de Georges Condominas. Ils ne tuent pas le gibier pour le plaisir de tuer mais ils le tuent pour manger seulement et pour savoir le partager avec leurs compatriotes.

Ils ne gardent que pour eux une part infime de leur chasse. L’épandage et l’utilisation des défoliants par les Américains durant la guerre du Vietnam, le massacre des animaux pour la pharmacopée traditionnelle, la destruction de la végétation et la déforestation liées à la démographie galopante, la stérilisation de la terre par l’utilisation excessive des engrais chimiques sont l’apanage des gens dits « civilisés ». La solidarité et l’entraide ne sont pas des mots creux.

Les Bahnar sont avant tout des « rơngơi » (ou libres). Ils sont habitués à dire: « Je suis rongơi ou kodră (maître)  » pour dire qu’ils sont libres du choix de leurs activités ou maîtres de leur destin. Sont -ils des « sauvages » comme on y pense depuis longtemps? C’est à chacun de nous d’approfondir cette question et de se servir de leur genre de vie et de leur culture comme source d’inspiration et de réflexion afin de nous permettre de vivre mieux et d’être ensemble dans le respect d’autrui et de la nature.

Retour à la première page 

[Retour Vietnam et ses 54 minorités ethniques]

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): deuxème partie

peuple_bana1

 

Version vietnamienne

Version anglaise

Deuxième partie 

La dernière étape correspond au dernier jour. C’est non seulement le jour de la libération du veuf ou de la veuve mais aussi celui où on vide et on nettoie la marmite (xlah go). Un repas commun a lieu en l’honneur des invités chez l’hôte ou dans la maison communale. Puis il est suivi ensuite par un rite consistant à asperger d’eau le veuf ou la veuve ainsi que les parents du défunt par chacun des invités. Cette manifestation officialise la coupure définitive du lien des vivants avec le défunt. Dès lors, le veuf (ou la veuve) est permis de se remarier. La maison funéraire est désormais une carcasse matérielle sans âme. Elle va se décomposer naturellement au fil des années. Mais elle est d’un grand intérêt au niveau artistique et culturel car la palissade en pieux qui la clôture présente un caractère original avec les sculptures d’animaux et d’oiseaux. À l’abri du petit toit de chaume, on peut voir les armes, les vêtements, les aliments offerts à l’esprit du mort. Certaines maisons funéraires sont entourées de sculptures ayant trait à la fertilité ou à la renaissance: hommes et femmes en copulation, hommes et femmes montrant leurs organes génitaux démesurés, figures en position fœtale etc.. Ces figurines grossières ne sont pas des êtres humains mais elles sont des singes du fait qu’elles sont laides comme un singe dans le monde des esprits où tout est à l’inverse du monde des vivants. L’arête faîtière de la maison funéraire ne peut pas passer inaperçue car elle est faite avec un tronc d’arbre entier sculpté et décoré.

Pour les Bahnar, l’âme du défunt continue à vivre en tant qu’esprit dans le monde des esprits.  L’organisation de ce dernier  est semblable à celle du monde des vivants et sa souveraine est à la fois immortelle et un génie-femme nommée Brôu. Le monde des esprits (ou mang lung) est invisible pour les vivants car il se trouve soit à l’intérieur d’une grotte soit dans une forêt noire ou dans une mer très lointaine. Les esprits y vivent groupés dans les villages. Ils assument toutes les activités humaines. Ils connaissent comme les vivants le bonheur et la souffrance et ils vont mourir aussi comme ces derniers. Par contre ils travaillent leurs terres la nuit et ils dorment le jour. De même ils utilisent un langage tout à fait opposé à celui des vivants: « laid » signifie « beau », « émoussé » signifie « aiguisé » etc… Mang Lung ressemble à notre monde mais il est tout à fait inversé. Lorsqu’il fait nuit, c’est le jour à Mang lung. Les maisons y ont des pilotis pointés vers le haut et le toit vers le bas. La durée de vie d’un esprit est aussi limitée car elle se termine aussi par la mort. L’esprit se transforme alors au bout de quarante ou cinquante ans en une goutte de rosée (dak ngop) qui se dissout dans la terre. C’est ainsi que se termine un cycle de vie fermé: terre-homme-esprit-terre. Il n’y a que la souveraine-génie (Bia Brôu) qui a le soin de superviser la naissance de nouvelles créatures en façonnant des enfants avec de la terre et en les introduisant dans les matrices des femmes enceintes.

Pour les Bahnar, un cycle de vie est composé de deux existences:

celle du monde des vivants et celle du monde des esprits.

En ce qui concerne la coiffure des Bahnar, on commence à voir souvent des hommes qui, en contact avec les Kinh et les étrangers, se coupent de plus en plus les cheveux. Normalement, l’homme bahnar enroule un turban d’étoffe et le passe dans le chignon. Par contre, une femme ne porte pas le turban et le remplace par un cordon ou un bandeau de perles de verroteries. C’est un acte de déclaration d’amour lorsqu’une fille dénoue en public le turban d’un jeune homme ou lorsqu’un homme offre à la femme ou à la fille du tabac ou une chique sortie de sa pipe. 

La vie des Bahnar est régie par un cycle annuel traditionnel avec dix mois pour la production agricole et deux mois consacrés aux festivals et aux activités variées du village: mariage, réparation ou construction de la maison, confection des vêtements etc… Dans leur société traditionnelle, la notion d’argent n’a aucune signification importante. Leurs produits de valeur tels que les gongs, les jarres, les buffles, les éléphants, les chevaux étaient utilisés comme les objets de troc dans le passé. Leur richesse se mesure au nombre de gongs, de jarres, d’esclaves trouvés dans chaque famille. Les Bahnar font du riz la base de leur nourriture. Il est cuit à l’étouffée ou à la vapeur. On remplit du riz et d’eau dans un gros bambou qu’on suspend au dessus du feu. En carbonisant le récipient, cela permet de cuire le riz. Ils se servent du riz gluant pour fabriquer une boisson fermentée (ou alcool de riz)( rượu cần en vietnamien). Ils absorbent ce liquide au moyen de longues pipettes en bambou. Ils ajoutent de l’eau lorsque le niveau du liquide baisse. Il est évident que la boisson est de moins en moins concentrée avec cet ajout.  

Les Bahnar de deux sexes se percent souvent les lobes pour porter des boucles d’oreilles mais ils ne se les distendent pas pour porter de gros anneaux comme les autres ethnies de la région. Vers quatorze ou quinze ans, ils se font araser les dents. Cette coutume de l’arasement des dents est en décroissance au fil des années. Par contre, le tatouage n’est pas pratiqué. Pour les garçons, à l’âge où ils commencent à aider leur père dans les champs, ils sont obligés d’aller coucher à la maison communale car c’est ici qu’ils reçoivent la formation, le maniement des armes et l’enseignement assumés par les anciens du village pour l’apprentissage de la vie. Ils ne peuvent rentrer qu’à la maison paternelle pour manger ou pour être soigné en cas de maladie.dantoc_bana

Chez les Bahnar, on constate que le couple des mariés n’adhère ni à la patrilocalité ni à la matrilocalité. C’est une question de convenance liée à la décision du couple. Par contre il y a une répartition de travail dans le couple: le mari s’occupe des affaires du village tandis que la femme prend en charge tous les travaux de la maison. Chez les Bahnar, on est libre de choisir son époux ou son épouse. Le mariage peut être célébré quand chacun des futurs répond aux conditions suivantes:

1°) Ils sont d’âge à cultiver un champ ( 15 à 16 ans). C’est une condition préalable pour nourrir leur famille car personne n’est prête d’apporter l’assistance même leurs parents.
2°) Il est obligatoire de contracter le premier mariage pour une jeune fille même si elle dépasse le cap de trente ans. Par contre elle peut être épousée soit comme femme de premier rang soit femme de second rang. Mais pour un veuf, un célibataire ou un divorcé, il n’est pas possible de contracter de mariage de second rang.
3°) Il n’existe pas de liens de parenté entre les futurs. C’est le cas où le consentement des parents est refusé lorsque le lien est prouvé. D’une manière générale, la participation des parents a pour but de s’assurer que les principes de tradition sont respectés. 

Lire la suite (Tiếp theo)

 

 

Les Bahnar (Dân tộc Bà Na): 2ème partie (version vietnamienne)

peuple_bana1

Version française

Version anglaise

Giai đoạn cuối tương ứng với ngày cuối cùng. Đây không chỉ là ngày giải thoát cho người góa chồng hay góa vợ mà còn là ngày rửa nồi và dọn dẹp (xlah go). Một bữa ăn cơm chung được tổ chức để vinh danh các vị khách tại nhà của chủ nhân hoặc ở nhà rông. Sau đó, có được một nghi thức rảy nước lên người góa phụ hay góa vợ và cha mẹ của những người đã khuất bởi mỗi quan khách được mời. Sự kiện này chính thức hóa việc cắt đứt mối liên hệ cuối cùng giữa người sống và người đã khuất. Vì vậy, người vợ góa chồng (hoặc góa vợ) được phép tái hôn. Nhà tang lễ bây giờ là một cái nhà xác không còn linh hồn. Nó sẽ phân hủy tự nhiên theo năm tháng.

Nhưng nó vẫn  còn được sự lưu ý đến ở phương diện nghệ thuật và văn hóa vì hàng rào bao xung quanh có một đặc điểm độc đáo với các tác phẩm điêu khắc động vật và chim. Dưới mái nhà tranh nhỏ, người ta có thể nhìn thấy vũ khí, quần áo, thức ăn được cúng cho vong linh người đã khuất. Một số nhà tang lễ được rào quanh bởi các tác phẩm điêu khắc liên quan đến khả năng sinh sản hoặc tái sinh: đàn ông và phụ nữ giao cấu, đàn ông và phụ nữ thể hiện bộ phận sinh dục không cân xứng của họ, hình người trong tư thế bào thai vân vân… Những bức tượng thô thiển này không phải là các con người mà là một loài khỉ rất xấu xí trong thế giới thần linh nơi mà mọi thứ đều đảo ngược lại  với  thế giới của người sống. Cây cột của nhà tang lễ khó mà không thấy được vì nó được chạm khắc và trang trí toàn bộ thân cây.

Đối với người Bahnar, linh hồn của người đã khuất tiếp tục sống như một người có linh hồn trong thế giới thần linh. Nơi nầy có tổ chức tương tự như thế giới của người sống. Người cai trị ở đây bất tử và là một phụ nữ có tên là Brôu. Thế giới  thần linh (hay mang lung)  không thể nhìn thấy được đối với người sống vì nó được  ở bên trong hang động, trong rừng sâu hoặc ở một vùng biển rất xa xôi. Các linh hồn sống ở nơi nầy  thường sống thành nhóm ở các ngôi làng. Họ đảm nhận mọi hoạt động của con người. Họ biết hạnh phúc và đau khổ như con người sống và họ cũng sẽ chết như họ. Mặt khác, họ làm việc về đêm và ngủ ban ngày. Tương tự như vậy, họ sử dụng một ngôn ngữ đối lập với ngôn ngữ của người sống: « xấu xí » có nghĩa là « đẹp », « cùn » có nghĩa là « bén » vân vân… Mang Lung trông giống như thế giới của chúng ta, nhưng nó hoàn toàn ngược lại. Khi trời tối là ban ngày ở Mang lung. Những ngôi nhà ở đó có nhà sàn hướng lên trên và mái nhà hướng xuống dưới. Tuổi thọ của một linh hồn ở đây cũng bị giới hạn bởi vì nó cũng kết thúc bằng cái chết. Sau đó, linh hồn biến thành sau bốn mươi hoặc năm mươi năm, một giọt sương (dak ngop) tan vào đất. Đây là một vòng đời khép kín được kết thúc: đất- con người- linh hồn – đất. Chỉ có thần linh tối cao (Bia Brôu), người có công trông coi việc sinh nở của những sinh vật mới bằng cách tạo hình những đứa trẻ với đất và đưa chúng vào tử cung của những phụ nữ mang thai.

Đối với người Bahnar, một vòng đời gồm có hai lần tồn tại: một lần sống với thế giới  người sống và một lần với thế giới thần linh.

Nói đến kiểu tóc của người Bahnar, chúng ta thấy nam giới thường tiếp xúc với người Kinh và người nước ngoài nên  việc cắt tóc ngày càng nhiều. Thông thường, người đàn ông Bahnar quấn trên đầu một chiếc khăn xếp bằng vải và kéo qua búi tóc. Ngược lại, người phụ nữ không đội khăn xếp mà thay bằng dây hoặc băng đô hạt thủy tinh. Đó là hành động tuyên bố tình yêu khi một cô gái cởi bỏ khăn xếp của một chàng trai trẻ ở nơi công cộng hoặc khi một người đàn ông đưa cho phụ nữ hoặc cô con gái thuốc lá hoặc điếu thuốc lào của chàng  ta. Cuộc sống của người Bahnar được điều chỉnh theo chu kỳ truyền thống hàng năm với mười tháng để sản xuất nông nghiệp và hai tháng dành cho lễ hội và các hoạt động khác nhau trong làng: cưới xin, sửa nhà, may quần áo … Trong xã hội truyền thống của họ, khái niệm tiền không có ý nghĩa quan trọng. Những sản phẩm có giá trị của họ như chiêng, ché, trâu, voi, ngựa được dùng làm hàng trao đổi trong quá khứ. Sự giàu có của họ được đo bằng số lượng chiêng, ché, nô lệ được tìm thấy trong mỗi gia đình. 

Người Bahnar dùng gạo làm thức ăn cơ bản. Gạo được nấu hầm hoặc hấp. Cho gạo và nước vào một cây tre lớn rồi treo trên bếp lửa. Bằng cách đốt cháy cây tre chứa thì sẽ nấu chín cơm. Họ dùng gạo nếp để làm thức nước uống lên men (hoặc rượu gạo) (tiếng Việt gọi là rượu cần). Họ hút chất lỏng này qua các cây tre thon dài. Họ thêm nước vào khi mức chất lỏng giảm xuống. Như vậy thức uống nầy ngày càng ít có đặc hơn với sự bổ sung. Người Bahnar ở cả hai giới thường xỏ khuyên tai để đeo chứ không kéo dài ra để đeo vòng bản lớn như các dân tộc khác ở trong vùng. Khoảng mười bốn hoặc mười lăm tuổi, chúng được làm phẳng răng. Tục phẳng răng này đã giảm dần trong những năm qua. Tuy nhiên, xăm mình không được sử dụng. Đối với các đứa con trai, đến tuổi bắt đầu giúp cha làm ruộng thì phải ngủ lại ở nhà rông vì ở đây các em được giáo dục, huấn luyện và sử dụng vũ khí do các già làng đảm nhiệm trong việc học làm người. Chúng chỉ có thể về nhà ăn cơm hoặc được điều trị trong trường hợp ốm đau.  Với người Bahnar, chúng ta nhận  thấy rằng vợ chồng không tuân theo chế độ phụ hệ cũng như mẫu hệ. Đó là một vấn đề thuận tiện liên quan đến quyết định của hai vợ chồng. Mặt khác, giữa hai vợ chồng có sự phân công lao động: chồng lo việc làng, vợ lo việc nhà. Với người Bahnar, bạn có thể tự do chọn vợ hoặc chồng. Hôn nhân có thể được cử hành khi mỗi người (vợ cũng chồng) đáp ứng các điều kiện sau đây: 

1 °) Họ phải đủ tuổi làm ruộng (15 đến 16 tuổi). Đây là điều kiện tiên quyết để nuôi sống gia đình họ vì không ai sẵn sàng hỗ trợ kể cả cha mẹ họ.

2 °) Bắt buộc phải ký hợp đồng hôn nhân đầu tiên đối với một cô gái trẻ ngay cả khi cô ấy đã vượt quá ngưỡng ba mươi tuổi. Mặt khác, cô ấy có thể kết hôn với tư cách là một người vợ chính hoặc một người vợ thứ. Nhưng đối với một người góa bụa, một người độc thân hoặc một người đã ly hôn thì không thể ký kết hôn nhân loại hạng hai.

3 °) Không có liên hệ bà con giữa những người trở thành vợ chồng. Đây là trường hợp mà sự đồng ý của cha mẹ sẽ bị từ chối khi có sư liên hệ. Nói chung, mục đích của sự tham gia của cha mẹ nhầm để đảm bảo và  tôn trọng các  nguyên tắc truyền thống.

[Đọc tiếp phần chót ]


dantoc_bana1