Italie (Ý Đại Lợi)
Click on the picture you’d like to see
Sites touristiques et historiques du Vietnam ou du monde.
Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Thường được gọi là thành phố trên mặt nước , Venise được ra đời vào thế kỷ thứ 5 sau khi Đế chế La Mã bị sup đổ. Người dân ở đất liền tìm những vùng lân cận có đầm lầy như các hòn đảo cát Torcello, Iesolo và Malamocco để trốn tránh các người phương bắc, người Hun và cần một nơi như Venise có một vị trí để bảo đảm có nước và trong trường hơp bị vây hảm có sự tiếp tế dễ dàng và nhất là nước là hàng rào thiên nhiên chống địch. Venise vì nằm trên nhiều hòn đảo nhỏ nên được có vô số các cầu nổi. Sự xây cất nhà cửa cũng tùy thuộc tầm vóc của các căn nhà trọng đại nặng nhẹ hay không. Nếu căn nhà không nặng chi cho mấy thì được xây cất trực tiếp trên đất liền. Còn nếu không thì cần các cộc gỗ (pali) được cắm sâu vào nền đất cứng (carento) để cũng cố nền đất trước khi dựng sau đó một sàn gổ (plancher) dày hay mỏng và công việc xây cất được bất đầu với gạch (briques). Đôi khi còn cần phải tính toán trù liệu sự gặm mòn nước biển với các tòa nhà gần ven sông. Bởi thế đá đặc Istrie, một loại đá trắng có tiếng là bền, đến từ vùng Balkans được trọng dùng qua nhiều thế kỷ.
Để giới hạn trọng lượng của các căn nhà, thường thấy có rất nhiều cửa sổ trên các mặt chính bằng đá , các sườn nhà bằng gỗ sồi thường đúc trong vôi vữa (mortier), các xà nhà (poutres) cũng như các rầm (solives) đều dùng để hấp thụ tất các chuyển động xuất phát từ sự hoạt động địa chấn ở phá (lagune). Khách du lịch ngoại quốc đi theo tour thường được cư trú ở ngoại ô vì ở trung tâm thành phố, giá khách sạn quá đắt đỏ một đêm có thể lên đến cả ngàn euro. Vì vậy sáng phải lấy tàu đi vào thành phố, có dịp cho tớ chụp hình thỏa mái. Đến đây không đi thuyền gondole, là mất đi niềm vui trọng đại vì bạn có dịp ngắm cảnh trong thành phố Venise qua các con kênh nho nhỏ và các ngóc ngách mà không thể nào biết khi đi bộ. Đến đây cũng không nên quên cái cầu than thở bằng gạch trắng Istrie với phong cách baroque, một cái cầu mà bao nhiêu người trước khi bị hành quyết phải đi qua. Cái cầu nầy thông đến toà án Des Doges ở quảng trường Saint Marc, có đôi hành lang và hai hướng khác nhau, một hướng là đi đến ngục tù tối ẩm thấp còn hướng kia thì đến các phòng « chì » sẻ bị ghẹt thở bởi sức nóng từ các bản chì phủ kín của các mái nhà.
Đây là một « quan tài biết bay » , đó là cái tên mà nhà văn hào Pháp André Suarès dùng khi nói đến cái cầu nầy. Venise cũng là thành phố quê hương của Marco Polo, một thương gia thám hiểm nổi tiếng đã mang về, theo một giã thuyết, cách làm mì từ Trung Hoa dưới thời nhà Nguyên của Đại Hãn Hốt Tất Liêt ở đầu thế kỷ 13. Nhưng trong quyển sách tựa đề « La cuicina italiana » , ông Giuseppe Mantovano có lưu ý rằng tất cả loại mì đã có trước khi Marco Polo trở về. Như vậy có thể một loại mì nào đấy thời đó không có ở Venise được mang về không? Ở Ý , lúc nào trong menu của buổi cơm tối ở khách sạn Ý là cũng có pasta (hay pâte), đó là món ăn đầu tiên mà tớ được ăn hai ngày liên tiếp.
Connue souvent comme une ville bâtie sur l’eau, Venise prit naissance au Vème siècle après la la chute de l’empire romain. Les habitants vivant sur terre cherchèrent les alentours des régions marécageuses comme les îlots Torcello, Iesolo và Malamocco pour trouver refuge et fuir les gens du Nord , les Hun et choisirent Venise comme le lieu idéal pour son eau, un barrage naturel contre les ennemis et une nécessité primordiale en cas de siège et de ravitaillement. Étant étendue sur plusieurs îlots, Venise possède un grand nombre de ponts. Le choix de la construction des bâtisses est lié étroitement à leur taille imposante ou non. Si elle a une stature légère, elle est construite directement sur le sol. Par contre, pour les édifices plus élevés et plus imposants, on a besoin de consolider et soutenir leur fondation par la plantation des pieux (palis) de deux à quatre mètres enfoncés jusqu’à l’atteinte de la couche de la terre solide (carento) avant d’installer le plancher de bois plus ou moins épais avant de mettre en place la maçonnerie en briques. Parfois, il est nécessaire de prévoir la corrosion entamée par l’eau de mer pour les bâtisses au bord des rivières. C’est pourquoi la pierre compacte d’Istrie, connue pour sa résistance et provenant des Balkans est utilisée au fil des siècles.
Pour limiter le poids de ces bâtisses, on est habitué à installer un grand nombre de fenêtres sur des façades en marbre, à employer des charpentes coulées dans le mortier, à utiliser et à assembler des poutres et des solives dans le but d’absorber les variations sismiques dans la lagune et à rendre ces bâtisses plus résistantes en les alignant côte à côte en cas des secousses telluriques. La plupart des circuits touristiques proposent des hôtels situés souvent aux alentours de Venise car le prix d’une chambre dans le centre de Venise est très élevé, pouvant atteindre jusqu’à un millier d’euros. C’est pour cette raison qu’il faut prendre l’embarcation pour atteindre le centre-ville de Venise. C’est aussi une occasion unique pour moi de pouvoir prendre des photos à ma guise. En venant à Venise, on ne peut pas se passer des gondoles car c’est un plaisir inouï de nous permettre de découvrir Venise au fil de l’eau dans les recoins.
On ne peut pas oublier non plus le pont des Soupirs en marbre blanc d’Istrie de style baroque, un pont que les prisonniers ont dû emprunter avant la sentence. Donnant accès au palais des Doges, ce pont possédait deux couloirs dans deux directions différentes, l’un emmenant le condamné dans un cachot humide et tout sombre et l’autre dans des cellules où le prisonnier serait suffoqué rapidement par l’excès de la chaleur emmagasinée dans les toits recouverts de plaques en plomb. C’est le « sarcophage qui s’envole », une expression employée par l’écrivain français André Suarès pour désigner ce pont. Venise c’est aussi la ville natale du marchand explorateur célèbre Marco Polo. Selon une vieille légende toujours tenace jusqu’à aujourd’hui, c’est lui qui aurait introduit les pâtes en Italie après les avoir ramenées de Chine au début de la dynastie des Yuan (Kubïlai Khan).
Mais dans son ouvrage intitulé « La cuicina italiana« , Giuseppe Mantovano a noté que plusieurs sortes de pâtes étaient déjà présentes avant le retour de Marco Polo. Peut-être y a-t-il une variété de pâte inconnue ramenée à cette époque à Venise? En Italie, dans le menu du dîner proposé par les hôtels italiens, il y a toujours du pasta (pâte). C’est le plat d’entrée que j’ai eu deux jours de suite dans les hôtels italiens.
Often known as a city built on water, Venice was born in the 5th century after the fall of the Roman Empire. The inhabitants living on land sought refuge in the surrounding marshy regions such as the islets of Torcello, Iesolo, and Malamocco to escape the people from the North, the Huns, and chose Venice as the ideal place for its water, a natural barrier against enemies and a vital necessity in case of siege and supply. Being spread over several islets, Venice has a large number of bridges. The choice of building construction is closely linked to their imposing size or not. If it has a light stature, it is built directly on the ground. However, for taller and more imposing buildings, it is necessary to consolidate and support their foundation by driving piles (palisades) two to four meters deep until reaching the solid earth layer (carento) before installing the wooden floor, more or less thick, before setting up the brick masonry. Sometimes, it is necessary to anticipate corrosion caused by seawater for buildings on the riverbanks. That is why the compact Istrian stone, known for its resistance and coming from the Balkans, has been used over the centuries.
To limit the weight of these buildings, it is common to install a large number of windows on marble facades, to use frameworks cast in mortar, to use and assemble beams and joists in order to absorb seismic variations in the lagoon and to make these buildings more resistant by aligning them side by side in case of earthquakes. Most tourist circuits offer hotels often located around Venice because the price of a room in the center of Venice is very high, reaching up to a thousand euros. For this reason, it is necessary to take a boat to reach the city center of Venice. It is also a unique opportunity for me to be able to take photos at my leisure. When coming to Venice, one cannot do without gondolas as it is an incredible pleasure to allow us to discover Venice along the waterways and in its nooks and crannies.
One cannot forget either the Bridge of Sighs made of white Istrian marble in Baroque style, a bridge that prisoners had to cross before sentencing. Providing access to the Doge‘s Palace, this bridge had two corridors going in two different directions, one leading the condemned to a damp and very dark dungeon, and the other to cells where the prisoner would quickly suffocate from the excess heat stored in the roofs covered with lead plates. It is the « flying sarcophagus, » an expression used by the French writer André Suarès to refer to this bridge. Venice is also the birthplace of the famous merchant explorer Marco Polo. According to an old legend still persistent today, he was the one who introduced pasta to Italy after bringing it back from China at the beginning of the Yuan dynasty (Kublai Khan).
But in his work entitled « La cucina italiana, » Giuseppe Mantovano noted that several types of pasta were already present before Marco Polo’s return. Perhaps there is a variety of pasta unknown brought to Venice at that time? In Italy, on the dinner menu offered by Italian hotels, there is always pasta. It is the starter dish I had two days in a row in Italian hotels.

Version française
Version anglaise
Galerie des photos
Tọa lạc tại phía bắc của đồng bằng Lombardie, Milan thường được xem là một trong những thành phố thời trang nổi tiếng hàng đầu ở Âu Châu cùng Paris và Londres. Milan không những là thành phố thứ nhì của Ý Đại Lợi mà còn là thành phố mua sắm lý tưởng nhất vì Milan hội tụ những nhà thiết kế tài ba như Giorgio Armani, Guccio Gucci, Gianni Versace vân vân…Galerie Vittorio Emanuele II ở quảng trường Plazza del Dumo được coi là trung tâm mua sắm cổ xưa nhất thế giới với hai tọa nhà mái vòm có trần nhà kính, một dài 196 m một ngắn 105,5 m. Hai tọa nhà nầy đụng nhau thành hình chữ thập latin ở giữa dưới vòm hình bát giác bằng kính cao hơn 40 m . Dưới vòm nầy, có 4 tranh ghép mảnh tượng trưng phù hiệu của 4 vùng Milan, Florence, Turin và Rome. Ở cuối cổng ngang mặt quảng trường Plazza del Dumo thì có một khải hoàn môn còn ở cuối cổng đối diện phiá sau là nhà hát lớn nhất ở Châu Âu thời đó Opéra La Scala. Galerie nầy được đặt theo tên vị vua đầu tiên có công thống nhất vương quốc Italie. Công trình kiến trúc đặc sắc này được thiết kế bởi kiến trúc sư Giuseppe Mengoni. Ông nầy một ngày trước khi công trình được hoàn thành (tháng 12 năm 1877), bị té chết từ trên đỉnh vòm khải hoàn môn.
Còn thánh đường Milan, đây là một kiến trúc phong cách gô tích, và tân cổ điển với diện tích gần 12000 m2, dài 157 m, rộng 93m, có sức chứa đến 4000 người. Nó được xem là nhà thờ lớn nhất ở Ý Đại Lợi và được xếp hàng thứ 4 ở châu Âu chỉ sau nhà thờ St Pierre ở Vatican, Saint Paul ở London và nhà thờ Seville của Tây Ban Nha. Nhà thờ được xây bằng gạch đá cẩm thạch trắng , làm quyến rũ các du khách khi đến tham quan với 2000 bức tượng trong đó có bức tượng David chặt đầu Goliath và 136 mũi tên trang trí ở các mặt chính. Đây là một kiệt tác không thể bỏ qua khi đến Milan. Nhưng muốn xem bên trong nhà thờ thì mất ít nhất 2 tiếng rưởi. Rất tiếc thì giở không có nên mình không có thể xem được cây thánh giá của Léonard de Vinci. Được xây cất vào năm 1386 dưới sự thúc đẩy của lãnh chúa Gian Galeazzo Visconti nhưng được hoàn thành sau 500 năm khi hoàng đế Napoléon Bonaparte muốn được phong làm vua của Ý Đai Lợi ở thánh đường Milan. Khi nhắc đến thành phố Milan thì không thể nào không nói đến gia đình Visconti , một gia tộc qúi phái có quyền lực từ thờ i Trung Cổ đến thời kỳ Phục Sinh (Renaissance) từ 1277 đến 1447. ở vùng Lombardie. Có một đạo diễn nổi tiếng thuộc gia tộc nầy đó là ông Luchino Visconti được biết đến với bộ phim The Leopard (1963) và Death in Venice (1971).
Située dans dans le nord de la Lombardie, Milan est considérée comme l’une des villes connues pour la mode en Europe avec Paris et Londres. Milan n’est pas non seulement la deuxième ville d’Italie mais elle est aussi un lieu idéal pour le shopping car elle réunit tous les grands stylistes célèbres comme Giorgio Armani, Guccio Gucci, Gianni Versace etc. Située à Plazza del Duomo, la galerie Vittorio Emanuele II est considérée comme le plus vieux centre commercial du monde constitué de deux passerelles couvertes des toits en verre et en acier, l’une longue de 196 m et l’autre courte de 105,5 m. Ces deux dernières se rejoignent en forme de croix latine en leur milieu sous un dôme octogonal haut plus de 40 mètres. Au dessous de celui-ci il y a 4 mosaïques représentant chacune un écusson de chaque région: Milan, Florence, Turin et Rome. À l’extrémité d’une passerelle située en face de la place Plazza del Dumo se trouve un arc de triomphe tandis qu’à l’autre extrémité opposée il y a l’opéra La Scala connu à cette époque comme la plus grandiose en Europe. Cette galerie prend pour nom Vittorio Emanuele II, celui qui a réussi à unifier l’Italie. Ce projet de construction est conçu et réalisé par l’architecte Giuseppe Mengoni. Ce dernier est décédé en tombant du haut de la dôme de l’arc de triomphe la veille du jour de la cérémonie d’ouverture. (décembre 1877)
Quant à la cathédrale de Milan, c’est un chef d’œuvre architectural de style gothique et néo-classique avec une superficie de 12000 m2, longue de 157 m et large de 93 m et ayant la possibilité de contenir 4000 personnes. Elle est considérée comme la plus grande église en Italie et placée au 4ème rang en Europe derrière les cathédrales Saint Pierre à Vatican, Saint Paul à Londres et Séville en Espagne. Cette église est édifiée en marbre d’un blanc immaculé, ne cesse pas de séduire les touristes lors de leur visite avec 2000 statues parmi lesquelles se trouve la statue de David portant dans sa main la tête de Goliath et 136 flèches ornementales sur ses façades extérieures. C’est une œuvre architecturale d’une beauté extraordinaire qu’il est difficile de ne pas voir lorsqu’on est à Milan. Pour voir l’intérieur de l’église, il faut compter 2 h et demie. Il est regrettable pour nous d’avoir peu de temps pour y voir le crucifix de Léonard de Vinci. Cette cathédrale a été édifiée au début sous l’impulsion du seigneur Gian Galeazzo Visconti mais sa finition a eu lieu seulement 500 ans plus tard lorsque l’empereur Napoléon Bonaparte avait l’intention d’y être couronné roi d’Italie. En parlant de Milan, on ne peut pas évoquer la famille noble Visconti ayant eu à cette époque un pouvoir politique incontestable du Moyen Âge jusqu’à la Renaissance (de 1277 à 1447) en Lombardie. Un metteur en scène issu de cette famille, Luchino Visconti est très célèbre pour ses deux films The Leopard (1963) et Death in Venice (1971).
Located in the north of Lombardy, Milan is considered one of the cities known for fashion in Europe alongside Paris and London. Milan is not only the second-largest city in Italy but also an ideal place for shopping as it brings together all the great famous designers such as Giorgio Armani, Guccio Gucci, Gianni Versace, etc. Located at Piazza del Duomo, the Vittorio Emanuele II gallery is considered the oldest shopping mall in the world, consisting of two covered walkways with glass and steel roofs, one 196 meters long and the other 105.5 meters long. These two walkways meet in the shape of a Latin cross in the middle under an octagonal dome over 40 meters high. Below it are four mosaics, each representing a coat of arms of each region: Milan, Florence, Turin, and Rome. At one end of a walkway facing Piazza del Duomo stands a triumphal arch, while at the opposite end there is the La Scala opera house, known at that time as the most magnificent in Europe. This gallery is named Vittorio Emanuele II, the one who succeeded in unifying Italy. This construction project was designed and carried out by the architect Giuseppe Mengoni. He died by falling from the top of the dome of the triumphal arch the day before the opening ceremony. (December 1877)
As for the Milan Cathedral, it is an architectural masterpiece in Gothic and Neoclassical style with an area of 12,000 m², 157 m long and 93 m wide, capable of holding 4,000 people. It is considered the largest church in Italy and ranks 4th in Europe behind St. Peter’s Basilica in the Vatican, St. Paul’s Cathedral in London, and the Cathedral of Seville in Spain. This church is built of immaculate white marble and continually captivates tourists during their visit with 2,000 statues, including the statue of David holding the head of Goliath in his hand, and 136 ornamental spires on its exterior façades. It is an architectural work of extraordinary beauty that is hard to miss when in Milan. To see the interior of the church, one should allow two and a half hours. It is regrettable for us to have little time to see Leonardo da Vinci’s crucifix there. This cathedral was initially built under the impetus of Lord Gian Galeazzo Visconti, but its completion took place only 500 years later when Emperor Napoleon Bonaparte intended to be crowned King of Italy there. Speaking of Milan, one cannot mention the noble Visconti family who had undeniable political power from the Middle Ages until the Renaissance (from 1277 to 1447) in Lombardy. A director from this family, Luchino Visconti, is very famous for his two films The Leopard (1963) and Death in Venice (1971).
Kinh đô thời trang và thiết kế
Version vietnamienne
Version anglaise
Pictures gallery
En partant de Paris à 7h du matin, nous sommes arrivés vers 17 heures de l’après-midi. Le temps est tellement capricieux, tantôt il fait ensoleillé tantôt il fait pluvieux. Malgré cela, il y a quelques photos pour cette ville économique de la confédération helvétique (ou la Suisse).
Khởi hành từ Paris 7 giờ sáng, tụi nầy tới 5 giờ chiều . Thời tiết thay đổi thất thường, lúc nắng, lúc mưa. Tuy nhiên cũng lưu niệm được vài tấm hình với trung tâm thương mại của Thụy Sĩ.
Leaving Paris at 7:00 AM, we arrived around 5:00 PM. The weather was so unpredictable, sometimes sunny, sometimes rainy. Despite this, here are a few photos of this economic hub in the Swiss Confederation (or Switzerland).
Version vietnamienne (2ème partie)

D’autres traits caractéristiques trouvés à Sanxingdui n’ont pas d’équivalent dans l’art des Shang. C’est le cas de la décoration végétale illustrée par le martelage des feuilles en or ou en cuivre et par la forme d’arbres ou de boutons de fleurs. Une autre source d’inspiration majeure se retrouve dans le thème de l’oiseau. Qu’il s’agisse d’hommes ou d’animaux, l’artiste de Sanxingdui réussit à leur donner avec agilité non seulement une stylisation assez poussée mais aussi des formes d’expression très naturalistes. Ce n’est le cas de l’art des Shang où l’artiste tend à transformer l’aspect ou la forme de l’animal par une stylisation assez excessive, loin de la réalité
Repères chronologiques
Vers 1900-1500: culture d’Erlitou. Début de l’âge du bronze en Chine. Période des Xia? (Nhà Hạ)
Vers 1500-1300: phase Erligang de la dynastie des Shang (Nhà Thương)
Vers 1300-1050: phase Anyang de la dynastie des Shang (Nhà Ân)
Vers 1200 av. J.C: Fosses n°1 et n°2 de Sanxingdui. Sichuan
Vers 1200-1000 av. J.C: phase d’occupation du site de Jinsha, Chengdu, Sichuan.
Vers 1050-256 av. J.C.: dynastie des Zhou (Nhà Châu).
316 av. J.C.: conquête du Sichuan par les armées de la principauté de Qin (Nhà Tần).
Trouvailles archéologiques de la dynastie des Shang
[ngg_images source= »galleries » container_ids= »279″ display_type= »photocrati-nextgen_basic_thumbnails » override_thumbnail_settings= »1″ thumbnail_width= »180″ thumbnail_height= »200″ thumbnail_crop= »1″ images_per_page= »30″ number_of_columns= »4″ ajax_pagination= »0″ show_all_in_lightbox= »0″ use_imagebrowser_effect= »0″ show_slideshow_link= »0″ slideshow_link_text= »[Montrer sous forme de diaporama] » template= »/homepages/5/d276592279/htdocs/clickandbuilds/vietnamquehuongtoi/wp-content/plugins/nextgen-gallery/products/photocrati_nextgen/modules/ngglegacy/view/gallery.php » order_by= »pid » order_direction= »ASC » returns= »included » maximum_entity_count= »500″]
Musée Cernusci
Lors de la fouille des fosses n°1 et n°2, on s’aperçoit que malgré la période contemporaine des Shang, la tradition de Sanxingdui diffère complètement de celle de ces derniers car elle présente plusieurs traits spécifiques et originaux. D’abord les élites de Sanxingdui n’ont pas utilisé les vases zun de la même manière que les Shang. Elles s’en ont servi pour stocker certains biens de prestige et de valeur comme les cauris marins, une sorte de monnaie d’échange en raison de leur rareté. 
C’est ce qu’on a découvert grâce à la statue d’un personnage portant une vase zun trouvée dans la fosse n°2. Ce n’est pas le cas des Shang dont les vases zun aux formes diverses possèdent chacune un rôle très précis afin d’honorer le culte de leurs ancêtres: servir et boire du vin, présenter les mets, cuire les offrandes de viande etc. Puis la représentation de la figure humaine fait partie de l’art de Sanxingdui. Le nombre de têtes et de masques est impressionnant et ne peut pas passer inaperçu pour les visiteurs et les archéologues lors de la première découverte de cet art. Par contre, dans l’art des Shang, l’homme n’est pratiquement pas représenté.
Contrairement aux bronziers des Shang qui étaient connus pour la fabrication des vases rituels dont certaines pouvaient atteindre 1 mètre de hauteur, ceux de Sanxingdui ont préféré les sculptures souvent audacieuses à la demande des élites locales. Ils ont été obligés d’adapter les techniques importées et de créer de nouveaux procédés, en particulier la soudure pour leurs propres réalisations.
En examinant les objets trouvés dans les fosses de Sanxingdui, les archéologues ont été amenés à la conclusion que les traditions de Sichuan et d’Anyang s’opposent nettement dans leurs pratiques sacrificielles respectives. Contrairement aux dirigeants d’Anyang honorant seulement le culte des ancêtres, les élites de Sanxingdui vénéraient à la fois les ancêtres et le soleil. Le fait de découvrir plus tard à Jinsha considéré par les archéologues comme le site assumant la continuité de la culture de Sanxingdui, le regroupement de quatre oiseaux entourant le soleil sur un ornement en or ou la statue debout en bronze ayant sa coiffe en forme du soleil, atteste incontestablement le culte du soleil. Celui-ci était une pratique très courante dans les anciennes civilisations du monde.
Selon le chercheur chinois Shi Jingsong, toutes les trouvailles de la fosse n°2 peuvent se répartir en deux groupes: le premier ayant trait à des objets dont les motifs sont similaires à ceux trouvés sur les récipients en bronze dans la plaine centrale des Shang, le second identifié par des figurines ou par des motifs décoratifs relatant le soleil. Pour lui, il n’y a aucun doute sur le partage du pouvoir entre le roi et le prêtre et la coexistence des temples religieux et ancestraux dans la civilisation de Sanxingdui.
Il s’agit probablement d’un royaume civilisé investi de pouvoirs théocratiques, ce qui permet de supposer un système religieux et social à échelons multiples à travers ses vestiges découverts.
Other characteristic features found in Sanxingdui have no equivalent in Shang art. This is the case of plant decoration illustrated by the hammering of leaves in gold or copper and by the shape of trees or flower buds. Another major source of inspiration is found in the theme of the bird. Whether it is humans or animals, the artist of Sanxingdui succeeds in giving them with agility not only a fairly advanced stylization but also very naturalistic forms of expression. This is not the case in Shang art where the artist tends to transform the appearance or form of the animal by a rather excessive stylization, far from reality.
During the excavation of Pits 1 and 2, it was discovered that, despite the contemporary period of the Shang, the Sanxingdui tradition differs completely from that of the Shang, as it presents several specific and original features. First, the elites of Sanxingdui did not use zun vessels in the same way as the Shang. They used them to store certain prestigious and valuable goods, such as sea cowries, a kind of currency due to their rarity.
This was discovered thanks to the statue of a figure carrying a zun vessel found in Pit 2. This is not the case for the Shang, whose zun vessels of various shapes each had a very specific role to honor the cult of their ancestors: serving and drinking wine, presenting food, cooking meat offerings, etc. Moreover, the representation of the human figure is part of the art of Sanxingdui. The number of heads and masks is impressive and cannot go unnoticed by visitors and archaeologists when this art is first discovered. On the other hand, in Shang art, humans are practically not represented.
Unlike Shang bronze workers, who were known for crafting ritual vessels, some of which could reach a height of one meter, those of Sanxingdui preferred the often bold sculptures requested by local elites. They were forced to adapt imported techniques and develop new processes, particularly welding, for their own creations.
By examining the objects found in the Sanxingdui pits, archaeologists concluded that the traditions of Sichuan and Anyang contrasted sharply in their respective sacrificial practices. Unlike the Anyang rulers, who honored only ancestor worship, the Sanxingdui elites venerated both ancestors and the sun. The later discovery at Jinsha, considered by archaeologists to be the site that represents the continuity of the Sanxingdui culture, of the grouping of four birds surrounding the sun on a gold ornament, or of the standing bronze statue with its headdress in the shape of the sun, undeniably attests to sun worship. This was a very common practice in the ancient civilizations of the world.
According to Chinese researcher Shi Jingsong, all the finds from Pit No. 2 can be divided into two groups: the first relating to objects whose motifs are similar to those found on bronze vessels in the central plain of the Shang, the second identified by figurines or decorative motifs depicting the sun. For him, there is no doubt about the sharing of power between king and priest and the coexistence of religious and ancestral temples in the Sanxingdui civilization. It was probably a civilized kingdom invested with theocratic powers, which allows us to suppose a multi-level religious and social system through its discovered remains.
Chronological benchmarks
Around 1900-1500: Erlitou culture. Beginning of the Bronze Age in China. Xia period? (Nhà Hạ)
Around 1500-1300: Erligang phase of the Shang dynasty (Nhà Thương)
Around 1300-1050: Anyang phase of the Shang dynasty (Nhà Ân)
Around 1200 BC. B.C.: Pits No. 1 and No. 2 of Sanxingdui. Sichuan
Around 1200-1000 BC. J.C: occupation phase of the site of Jinsha, Chengdu, Sichuan.
Around 1050-256 BC. BC: Zhou dynasty (Nhà Châu).
316 BC 1500 BC: conquest of Sichuan by the armies of the principality of Qin (Nhà Tần).
Références bibliographiques
Les bronzes du Sichuan. Chine
Connaissance des Arts
Alain Thote.
Paris Juillet 2017
Có những nét đặc trưng khác tìm thấy ở di chỉ Tam Tinh Đôi mà không có nét tương đương như vậy ở trong nghệ thuật của triều đại Thương. Đó là việc trang trí thực vật được biểu lộ qua các lá bằng vàng hay đồng và các hình dáng cây cỏ hoặc các đọt bông. Một nguồn cảm hứng khác trọng đại được gặp gỡ lại ở trong đề tài chim. Dù hiện vật là người hay thú, nghệ nhân cũng đạt được kết quả mỹ mãn với sự khéo léo trong việc tạo ra một phong cách khá tiên tiến mà còn có những biểu hiện rất tự nhiên. Ngược lại trong nghệ thuật của nhà Thương thì nghệ nhân thường có khuynh hướng biến đổi một cách quá đáng hình dáng con vật khiến trông thấy không có thực tế.
Thứ tự thời gian
Từ 1900-1500: Văn hóa Erlitou. Khởi đầu thời kỳ đồ đồng . Nhà Hạ?
Từ 1500-1300: Giai đọan Erligang của nhà Thương.
Từ 1300-1050: Giai đọan An Dương (Nhà Ân-Thương)
Từ 1200 TCN: Hầm số 1 và 2 của Tam Tinh Đôi . Tứ Xuyên
Từ 1200-1000 TCN: Giai đọan định cư ở di chỉ Jinsha (Thành Đô, Tứ Xuyên)
Từ 1050-256 TCN : Triều đại Nhà Châu.
316 TCN: Thôn tính Tứ Xuyên bởi quân nhà Tần.
Lúc khai quật các hầm số 1 và 2 thì các nhà khảo cổ mới nhận thấy dù cùng thời với nhà Thương, truyền thống ở di chỉ Tam Tinh Đôi hoàn toàn khác hẳn vì nó có nhiều nét độc đáo và cá biệt. Trước hết các dòng qúi tộc ở Tam Tinh Đôi không dùng các chậu zun tựa như triều đại nhà Thương. Họ chỉ dùng các chậu nầy để trữ các vật có giá trị hay có mang tính cách quyền lực và uy tín chẳng hạn võ óc, một thứ tiền để trao đổi vì hiếm có. Cụ thể là pho tượng đội một cái chậu « zun » tìm thấy khi lúc khai quật hầm số 2. Ngược lại với triều đại nhà Thương thì các chậu zun dù có nhiều hình dáng không giống nhau nhưng mỗi chậu có vai trò rõ ràng trong việc cúng tế tổ tiên: dùng và uống rượu, trưng bày các thức ăn, nấu các đồ cúng vân vân .. Mặt con người được thể hiện không ít trong nghệ thuật của Tam Tinh Đôi. Số lượng tượng đầu người và mặt nạ rất đáng kể và không thể nào không làm các du khách và các nhà khảo cổ không để ý khi đến khám phá lần đầu nghệ thuật nầy. Ngược lại trong nghệ thuật của nhà Thương, con người hầu như không có được sự tượng trưng nào cả.
Cổ vật nhà Thương
[ngg_images source= »galleries » container_ids= »279″ display_type= »photocrati-nextgen_basic_thumbnails » override_thumbnail_settings= »1″ thumbnail_width= »160″ thumbnail_height= »180″ thumbnail_crop= »1″ images_per_page= »30″ number_of_columns= »4″ ajax_pagination= »0″ show_all_in_lightbox= »0″ use_imagebrowser_effect= »0″ show_slideshow_link= »0″ slideshow_link_text= »[Montrer sous forme de diaporama] » template= »/homepages/5/d276592279/htdocs/clickandbuilds/vietnamquehuongtoi/wp-content/plugins/nextgen-gallery/products/photocrati_nextgen/modules/ngglegacy/view/gallery.php » order_by= »pid » order_direction= »ASC » returns= »included » maximum_entity_count= »500″] Bảo tàng viện Cernuschi (Paris)
Ngược lại các nghệ nhân của nhà Thương biết đến qua sự sáng tạo các chậu nghi lễ mà có cái có thể cao đến 1 thước , các thợ đồng của Tam Tinh Đôi thường liều lĩnh chọn làm các tác phẩm điêu khắc theo sự đòi hỏi của tầng lớp ưu tú nội địa. Họ buộc lòng phải làm thích hợp các kỷ thuật du nhập và sáng tạo các phương pháp mới đặc biệt là việc hàn nối để thực hiện các công trình riêng tư.
Khi khám nghiệm các cổ vật tìm thấy trong các hố của di chỉ Tam Tinh Đôi, các nhà khảo cổ đi đến kết luận rằng các phong tục có ở Tam Tinh Đôi và An Dương rất tương khắc rõ ràng trong việc tế lễ. Ngược lại các lãnh đạo ở An Dương chỉ có lòng tôn kính tổ tiên thì các tầng lớp chính trị ở Tam Tinh Đôi rất sùng kính tổ tiên lẫn mặt trời. Việc khám phá sau nầy Jinsha được các nhà khảo cổ xem là di chỉ có nhiệm vụ đảm nhận việc tiếp tục văn hóa Tam Tinh Đôi và việc tập hợp lại 4 con chim xung quanh mặt trời trên một cổ vật trang trí bằng vàng hay là pho tượng đứng thẳng bằng đồng có cái mũ hình dáng mặt trời , minh chứng không phủ nhận được việc sùng kính tôn thờ mặt trời. Đây là một thói quen được phổ biến trong các nền văn minh cổ đại ở trên thế giới.
Theo nhà nghiên cứu Trung Hoa Shi Jingsong, tất cả hiện vật tìm thấy trong hố số 2 được chia ra thành hai loại: loại thứ nhất có liên quan đến các hiện vật mà các mô típ tựa như các mẫu hình đựợc trông thấy trên các đồ đựng bằng đồng thuộc về vùng trung nguyên của nhà Thương còn loại thứ nhì được nhận dạng nhờ các tượng nhỏ hay các mô típ trang trí liên quan mặt trời. Theo ông , không có sự nghi vấn trên sự phân chia quyền lực giữa vua và thầy tế lễ nhất là thể hiện việc cùng tồn tại các đền thờ tôn giáo và tổ tiên trong văn hóa Tam Tinh Đôi. Chắc chắn đây là một vương quốc văn minh có một chế độ thần quyền vì vậy có thể giả định một hệ thống tôn giáo và xã hội có nhiều bậc cấp qua các cổ vật được khám phá.
Tài liệu tham khảo
Les bronzes du Sichuan. Chine
Connaissance des Arts
Alain Thote.
[Trở lại phần đầu][Return MUSEUM]
Sichuan (Tứ Xuyên)
Từ khi khám phá tình cờ được một số đồ ngọc tinh xảo từ cái cuốc của một người nông dân vào năm 1929, kế tiếp sau đó với cuộc khai quật hai hầm làm tế lễ rất quy mô bởi các nhà khảo cổ Trung Hoa vào năm 1986, di chỉ Tam Tinh Đôi mới tiết lộ ra một phần quan trọng của nền văn minh của Tứ Xuyên mà chưa được ai biết đến. Cho đến giờ, qua các văn bản cổ Trung Hoa thì văn minh Trung Quốc được khởi đầu ở đồng bằng trung tâm của Hoàng Hà với An Dương, thủ đô của nhà Thương, được công nhận là một triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Chính ở trong truyền thống biên sử, vua Đại Vũ, một vị vua ở thời cổ đại, có tiếng phát triển kỹ thuật chinh phục sông ngòi và được xem là vị vua sáng lập triều Hạ đã có công sáng chế ngành kim khí ở lưu vực sông Hoàng Hà. Từ nay, các nhà khảo cổ buộc lòng phải kiểm điểm lại cái nhìn của họ về những phát triển đầu tiên của thời kỳ đồ đồng vì còn có những trung tâm văn hóa khác rất độc đáo và cùng thời với triều đại nhà Thương .
Hình ảnh lí tưởng của văn hóa Trung Hoa xuất phát từ An Dương bị vở nát từ khi các nhà khảo cổ khám phá được di chỉ Tam Tinh Đôi. Mặc dầu nằm ở trong vùng man rợ nhưng di chỉ Tam Tinh Đôi có được một nền văn hóa rất tinh vi cũng như triều đại nhà Thương, nhất là không được biết đến qua các tài liệu và các sử gia Trung Hoa. Theo nhà khảo cổ Task Rosen của viện bảo tàng Anh “British Museum”, việc khám phá nầy có thể nói làm nổi bật hơn việc khám phá các kỵ binh và ngựa bằng đất nung của Tần Thủy Hoàng ở Trường An (Xian). Bốn thẻ khảm ngọc lam tìm thấy ở trong một hố của Tam Tinh Đôi giống như những thẻ được xem thấy ở vùng Erlitou (tỉnh Hà Nam) thường được các nhà khảo cổ coi là cái nôi văn hóa của thời đồ đồng của Trung Hoa. Sự quan hệ nầy chứng nhận một cách hiển nhiên việc giao lưu hàng hóa và trao đổi kiến thức kỹ thuật tinh vi từ đồng bằng Trung Nguyên đến Tứ Xuyên.
Theo nhà Hán học Alain Thote, vùng trung lưu của con sông xanh (hay là Dương Tữ Giang) có thể là trạm dùng đến trong việc giao lưu nầy. Những kết quả thu gặt được chất chì qua sự phân tích đồng vị ở những nơi như di chỉ Tam Tinh Đôi , hay mồ của nữ hoàng chiến binh Phụ Hảo, vợ của vua Vũ Đinh nhà Thương ở An Dương (Hà Nam) hay là mộ ở Tân Can (Giang Tô) đều xác nhận rõ ràng sự hiện diện của chất chì có nguồn gốc đến từ Vân Nam (Yunan). Trong ba nơi nầy , kỹ thuật chế tạo đều dùng các khuôn mẫu đất sét phân cắt nhiều đoạn trong việc nấu luyện đã có ở thế kỷ 16 trước Công Nguyên với văn hóa Erlitou (Thời kỳ nhà Hạ?). Dựa trên các kết quả nầy, chúng ta có thể phỏng đoán rằng đã có sự thiết lập trao đổi ở nhiều vùng ở giữa thời kỳ hai ngàn năm trước công Nguyên. Các cuộc tương tác văn hóa cũng không còn là một câu hỏi hay nghi vấn chi nửa trên toàn lãnh thổ Trung Hoa. Nhà Thương cũng không còn là một triều đại duy nhất có quyển lực toàn thế thường được nói đến trong các văn bản Trung Hoa mà họ có những nước lân cận cũng hùng cường như họ mà họ có thiết lập liên kết chặc chẽ ít nhiều.
Nằm cách xa 40 cây số về phía bắc của thủ đô Thành Đô (Tứ Xuyên), gần thành phố Quãng Hán, di chỉ Tam Tinh Đôi thường được gọi buổi đầu là nơi có đất đầm nhất là có sự thành hình của ba gò đất (Ba Sao). Chỉ nhờ sự khám phá của hai hố vào năm 1986 mà các nhà khảo cổ mới bất đầu lưu ý nhiều đến nơi nầy và khi khai quật vào năm 1996 thì họ mới biết nơi nầy là môt thành phố được xây dựng đã có khoảng chừng 1800 năm trước Công Nguyên và được lan rộng trên mười mấy cây số. Hai hố nầy cách xa nhau cở ba chục thước. Mỗi hố có độ sâu khoảng chừng 1 thước rưởi và niên tuổi xa cách cở chừng vài chục năm (30 năm khoảng chừng). Hố thứ nhất có tất cả 420 cổ vật, các mảnh xương bị cháy, các ngà voi , các vỏ sò (ốc tiền) vân vân … trong lúc đó ở hố thứ hai thì không những có một số cổ vật ba lần gấp hơn (1300 khỏang chừng) mà còn có những bảo vật khổng lồ (pho tượng của một người có thân hình thon và cao, các cây « thần » đúc bằng đồng và các mặt nạ đen).
Không có sự thứ tự rõ ràng trong việc chất đặt các món vật nầy. Ngược lại các lễ vật cúng thì được tập hợp lại và phân chia theo loại nhưng đều bị đánh vỡ và cố tình bị đốt cháy phần đông trong hai hố. Trong những bảo vật tìm thấy ở di chỉ thì những hiện vật đẹp nhất vẫn là pho tượng của một người cao khoảng chừng một thước bảy chiều cao và đứng vững chắc trên một bệ trang trí gồm có bốn mặt nạ đầu thú lật ngược và theo giả thuyết của vài nhà khảo cổ, có cầm trong hai tay một cao một thấp không tương xứng, một hay nhiều vật có hình dáng cây trụ hoặc là một ngà voi và một cây « thần » bằng đồng có chiều cao đến bốn thước sau khi đượ c khôi phục lại và chỉ dùng để thờ thần mặt trời.
Nhưng chính các mặt nạ kinh ngạc bằng đồng nó làm lưu ý đến nhiều các nhà khảo cổ lúc khai quật cái hố tế lễ số 2 vì các tượng đầu bằng đồng nầy mỗi cái có một hình dáng kỳ cục so với các khuôn mặt của con người, lỗ tai to tướng của các con voi, chiếc mũi thẳng, khuôn mặt thì vuông, một cái miệng hẹp nhưng rộng với chiều ngang của khuôn mặt và đôi mắt hình quả hạnh nhân được phóng đại. Tìm thấy tổng cộng được mười ba cái tượng đầu người như vậy. Ngược lại triều đại Thương để lại văn khắc trên các hiện vật bằng đồng, di chỉ Tam Tinh Đôi không có lưu lại một chữ viết nào cả. Các nhà khảo cổ buộc lòng gán cho di chỉ Tam Tinh Đôi tính chất hoàn toàn tôn giáo và tế lễ. Họ dựa vào một số tập quán dẫn chứng qua các mặt nạ, các tạo vật lai căng giữa người và thú, các con rồng, các người chim, các vật tế lễ tìm thấy trong các hố, nhất là không có các đồ trang trí và các đồ tế lễ đều bị hoàn toàn hũy phá và sau cùng là cách thức đầm đất qua nhiều lớp biểu lộ ý định niêm phong vĩnh viễn di chỉ Tam Tinh Đôi. Theo Niannian Fan, một nhà khoa học chuyên nghiên cứu về sông ngòi ở đại học Tứ Xuyên (Thành Đô), di chỉ Tam Tinh Đôi bị chôn vùi bởi trận bùn lở do cường độ nước dâng lên và rút xuống mau lẹ của sông Minjiang từ một trận động đất quan trọng xảy ra có hơn 3000 năm.
Niannian Fan dẩn chứng giả thuyết của ông bằng cách tìm trong các văn bản cổ về lịch sử, có xảy ra vào năm 1099 một thảm họa trọng đại ở thủ đô nhà Châu (Shaanxi). Theo ông, các dân cư ở Tam Tinh Đôi buộc lòng đời đô thời đó về di chỉ Jinsha, cách đó 50 cây số và nằm trên bờ sông Modi. Gỉa thuyết động đất và bùn lở không có gì thuyết phục cả nhất là ông không có giải thích các lý do khiến các hiện vật tế lễ đều bị hủy phá một cách cố tình trước khi được vứt xuống hố của Tam Tinh Đôi vào thời mà nơi nầy bị ruồng bỏ.
Theo nhà Hán học Pháp Alain Thote, chính vì các cơn thinh nộ mà con sông chảy qua nơi nầy nó xoá đi một phần nào vết tích của di chỉ Tam Tinh Đôi. Ngoài những lý do không hiểu được về việc từ bỏ vụt chốc di chỉ Tam Tinh Đôi và thay thế nó sau nầy bởi di chỉ Jinsha được khám phá vào năm 1996 trong vùng ngọai ô nằm ở hướng tây cũa Thành Đô (Chengdu), việc khám phá vẫn còn mang nhiều bí ẩn và đánh thức thêm sự quan tâm và lòng khao khát về sự thật của các nhà khảo cổ. Có các hiện vật tìm được sự giải thích chính đáng còn có nhiều hiện vật vẫn không có sự giải đáp nào cả cho đến ngày hôm nay. Lâu nay, chúng ta tưởng rằng Thục Quốc chỉ thuộc về huyền thọai nhưng sự khám phá di chỉ Tam Tinh Đôi làm cho chúng ta biết được không những Thục Quốc có thật cách đây khoảng 5000 đến 3000 năm mà nó còn có những nghi lễ rất phức tạp qua các hiện vật quyến rũ và dị thường. Phần đông các hiện vật nầy là các tượng đầu người được chế trong một hệ thống rất tĩ mĩ dựa trên những tập tục riêng biệt của nghệ thuật Tam Tinh Đôi với chủ đích làm các hiện vật có khoảng cách để tránh sự chiếu phản chính xác của thế giới hiện tại. Ngược lại không có tìm thấy sự cá biệt hóa nào trong các tượng đầu người.
Hố số 1 có được 13 tượng đầu người bằng đồng còn trong hố số 2 có được 44 tượng đầu người trong đó có 4 tượng đầu được phủ che một phần trên mặt bằng vàng lá rất mỏng được cắt rạch hay gò theo kỹ thuật được thường dùng trong nghề kim hoàn (technique du repoussé) để có hình nổi (hay phù điêu). Vàng lá được tìm thấy được ở hai hầm của di chỉ Tam Tinh Đôi và ở di chỉ Jinsha qua các vật trang trí của cây « thần » bằng đồng hoặc ở các mặt nạ hay là ở cây quyền trượng dài 142 cm . Theo sự hiểu biết của các nhà khảo cổ, vàng lá dùng làm các cổ vật tế lễ thường mỏng, nhẹ và ít có trang trí. Vã lại kỹ thuật dùng mẫu sáp để nấu vàng không có dùng. Vàng lá nầy chắc chắn đến từ các mỏ vàng của Tứ Xuyên vì vùng nầy được biết thưở xưa là nơi có giàu có tài nguyên khoáng sản. Đây là một trong những đăc tính của nghệ thuật Tam Tinh Đôi vì vàng vẫn chưa có dùng đến vào cuối 2000 năm TCN ở thủ đô An Dương của triều đại nhà Thương.
Gươm tế lễ Zhang
Thường được gọi là Zhang, các gươm tế lễ bằng ngọc thạch hay được đẽo trong các đá có hình dáng giống ngọc thạch thường có một hoặc hai mũi nhọn ở đầu và được xem là đặc tính thứ nhì trong nghệ thuật của Tam Tinh Đôi. Những ngưòi có cái gươm nầy phải có một cương vị rõ ràng trong đẳng cấp xã hộị. Các gươm tế lễ nầy được có một thời đóng một vai trò quan trọng trong các nghi lễ tập tục dành cho giới lãnh đạo của Tam Tinh Đô. Họ phải dùng gươm nầy bằng hai tay để trước ngực trong tư thế tôn kính trước mặt vua hay là dâng lễ trước các thần thánh. Theo nhà Hán học Alain Thote, không có sự quyết đoán minh bạch nào về hai giả thuyết nầy cho đến ngày hôm nay.
Nhờ qua số lượng hình dáng và sự phong phú biểu lộ trong việc trang trí khéo léo với những nét khắc tĩ mĩ bằng kim, việc trọng dụng các cây gươm nầy mang lại sự thành công tuyệt vời ở Sanxingdui. Điều nầy chứng tỏ trong việc chế tạo, ý định tìm kiếm tối đa sự thẫm mỹ và sáng tạo riêng biệt để có sự so sánh với các gươm đựợc tìm thấy ở miền trung và bắc của Trung Hoa . Tuy nhiên, qua bản đồ ghi các cuộc khám phá mà được nghiên cứu thì được biết cái loại gươm nầy có nguồn gốc xuất phát từ miền bắc của nước Trung Hoa và sự hiện diện của nó không có ở các nơi của vùng trung lưu của con sông xanh. Như vậy càng làm giả thuyết lưu truyền trực tiếp của các cây gươ m tế lễ nầy từ đồng bằng trung nguyên đến Tứ Xuyên trong thờì kỳ 2 thiên niên kỷ có lý hơn để rồi các nhà lãnh đạo của Tam Tinh Đôi độc quyền làm sở hửu trong viêc trọng dụng về sau nầy.
[Di chỉ Tam Tinh Đôi (Tiếp theo phần 2)]
Tài liệu tham khảo
Re-examination of the artifact pits of Sanxingdui. Shi Jingsong. Chinese archeology
New research exploring the origins of Sanxingdui. Rowan Flad. Backdirt 2008
Art et archéologie de la Chine impériale. Alain Thote, Robert W. Bagley. Livret annuaire 2002-2003-2004, pp 362-369
La redécouverte de la Chine ancienne. Corinne Debaine-Francfort. Découvertes Gallimard.
Một thoáng trở về với Luông Phạ Băng
Từ thế kỷ 14 đến 1946, Luông Pra Băng hay Mường Luông là kinh đô của một vương quốc đuợc mang tên là Lan Xang hay là vuơng quốc triệu voi. Luang Pra Bang được UNESCO công nhận là một di sản thế giới (văn hóa). Nằm bên cạnh sông huyèn thoại Cửu Long, Luông Phạ Băng cách xa Viên Chăn (Vientiane) 425 cây số về phía Bắc.
Depuis le 14ème siècle jusqu’à l’année 1946, Luong Pra Bang fut la capitale du royaume de Lan Xang (ou royaume du million d’éléphants). Luang Pra Bang est reconnue par UNESCO comme le patrimoine culturel de l’humanité. Longeant le fleuve mythique Mékong, elle est située à 425 km de la capitale Vientiane dans la direction nord.
From the 14th century until the year 1946, Luang Prabang was the capital of the kingdom of Lan Xang (or the kingdom of a million elephants). Luang Prabang is recognized by UNESCO as a cultural heritage of humanity. Bordering the mythical Mekong River, it is located 425 km north of the capital Vientiane.
Những khoảnh khắc Đà Lạt
Nằm trên cao nguyên thuộc vùng Tây Nguyên, khoảng chừng cách xa Saigon 250 cây số và với độ cao 1500 thước , Đà Lạt vẫn giữ được vẻ đẹp mộng mơ của những năm 20. Située sur les hauts plateaux du centre du Vietnam, à environ 250 kilomètres de Saïgon et 1500 mètres d’altitude, Dalat continue à garder le charme des années 20.
[ngg_images source= »galleries » container_ids= »275″ display_type= »photocrati-nextgen_basic_thumbnails » override_thumbnail_settings= »1″ thumbnail_width= »160″ thumbnail_height= »80″ thumbnail_crop= »1″ images_per_page= »30″ number_of_columns= »4″ ajax_pagination= »0″ show_all_in_lightbox= »0″ use_imagebrowser_effect= »0″ show_slideshow_link= »0″ slideshow_link_text= »[Montrer sous forme de diaporama] » template= »default » order_by= »pid » order_direction= »ASC » returns= »included » maximum_entity_count= »500″]