Kiến An Cung (Sadéc)


Version française

Tọa lạc ở giữa trung tâm thành phố Sa Đéc, chùa nầy còn đựợc bết với cái tên là chùa ông Quách.Chùa nầy được xây dựng vào năm 1927 bởi nhóm người Phúc Kiến đến lập nghiệp ở Sa Đéc nhầm để tôn vinh tổ tiên của họ và để giữ liên lạc mật thiết với cộng động của họ ở Trung Hoa.Chùa nầy có hình chữ Công (工) nên có 3 gian Đông lang, Tây lang và khu chính điện. Chùa được lợp ngói âm dương theo kiểu rồng lượn sóng. Đặc điểm ở chùa nầy là có một kiến trúc độc đáo  không có kèo chỉ dùng các đòn tay  ráp mộng để chịu đựng sức nặng trên những cột gỗ tròn. Ngoài cổng chùa thì có sự hiện diên  hai con kỳ lân còn ở trong nội điện th ì  trang trí với màu sắc rực rỡ và  trên những bức tường của chùa thì thấy được những hình ảnh  ở trong Tây du ký, Tam Quốc Diễn Nghĩa vân vân…

Située au centre de la ville de Sa Đéc, cette pagode est également connue sous le nom de pagode ông Quách. Cette pagode fut édifiée  en 1927 par les gens de Fujian venant s’installer à Sa Déc dans le but d’honorer leurs ancêtres et garder des contacts étroits avec leur communauté en Chine. Ayant la forme du caractère Cong (工), elle comporte donc 3 pièces: Đông lang, Tây lang et le hall principal.  La pagode est couverte de tuiles yin et yang dans un style de dragon ondulé. La caractéristique de cette pagode est qu’elle présente une architecture unique sans arbalétrier, reposant uniquement sur des poutres à bras mortaisées afin de  supporter le poids grâce à  des piliers ronds en bois. À l’extérieur de la pagode, il y a la présence de deux licornes, tandis que  dans le hall intérieur on trouve la décoration avec des couleurs vives et sur les murs des illustrations trouvées dans le pèlerinage vers l’Ouest, les Trois Royaumes  etc.

KAN

Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Phước Kiến Tự (Cao Lãnh)

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Sáng nay từ bỏ Trà Vinh sang Đồng Tháp để đi tham quang Phước Kiến Tự ở thành phố Cao Lãnh nổi tiếng ngoài các tượng phật và các tác phẩm nghệ thuật Phật giáo, còn có một ao rất rộng chứa hàng trăm lá sen to và có hình dáng tựa  như chiếc nón quai thao của những cô gái làng quan họ ở Bắc Ninh. Chắc chắn nguồn gốc nó phải  đến từ  xứ  Ba Tây  thường đựợc gọi là  Victoria amazonica hay là hoa súng to ở vùng Amazone. Theo sách thực vật học  thì phải mất gần 50 năm mới trồng được nó ở Âu Châu sau khi mang nó về  vào năm 1800. Như  vậy chùa nầy có  lá  súng  to (chớ không phải sen) cũng mới đây thôi. Cũng như chùa Mía ở ngoại ô thành phố Hà Nội, muốn đi vào chùa phải đi ngang nơi tụ tập nhiều người  ngồi  buôn bán  dọc theo lề đường để đi vào chùa. Cũng  nhờ đó  chùa nầy trở  thành một điểm tham không thể bỏ qua  ở  vùng Đồng Tháp và cũng đem nguồn lợi  không ít cho cư dân địa phương. 

Đến đây phải ăn chè hột sen rất ngon. Còn muốn chụp hình thì phải  trả tiền  thêm nhưng phải theo cách  chỉ  dẫn đi đến lá súng với một  lối  đi chỉ  định  không phải lá súng nào cũng được.  Thêm vào đó nước ao hồ mang tính acide và giàu azote. Vã lại một lá súng trưởng thành có thể chở được một ngưởi nặng từ 60 đến 70 kí lô mà thôi. Tại sao có thể vì mặt sau của  súng  có  nhiều  đường gân to tỏa ra từ trung tâm ra  đến  mép. Ngoài ra còn có một số nhánh từ  đường gân chính khiến  tạo ra thành một mạng lưới phức tạp và vững mạnh như một bộ xương để hỗ trợ và chịu đựng nỗi trọng lượng quan trọng đấy.

Ce matin, après avoir visité Trà Vinh, nos sommes allés à la province Đồng Tháp pour visiter une pagode nommée Phước Kiến Tự qui est très connue à Cao Lãnh pour ses statues de Bouddha et ses œuvres d’art bouddhique. Cette pagode possède un étang très vaste contenant des centaines de grandes feuilles de lotus semblables aux chapeaux plats à mentonnière garnis de cordons en soie et réservés pour les filles du village de Bắc Ninh. Son origine doit venir sûrement du Brésil. Il est fréquemment appelé sous le nom de Victoria amazonica ou nénuphar géant d’Amazonie. Selon le dictionnaire des plantes, il faut perdre presque 50 ans pour réussir à le faire pousser en Europe après l’avoir ramené en 1800. Donc cette pagode réussit à avoir les feuilles de nénuphar géant à une date récente. Analogue à la pagode Mía de la banlieue de la capitale Hanoï, son entrée est bondée des marchands ambulants. C’est grâce à l’existence de ce nénuphar géant que la pagode devient un lieu touristique incontournable permettant de procurer  aux gens locaux des avantages financiers non négligeables. De passage dans ce lieu, il faut goûter la délicieuse soupe aux graines de lotus.

Pour ceux qui s’intéressent aux photos de souvenir, outre le prix à payer, il faut suivre strictement les indications afin de pouvoir se mettre seulement sur la feuille de nénuphar qu’on a désignée par avance. L’eau de la mare contient de l’acide azoté. De plus, la grande feuille de nénuphar peut porter une personne de 60 à 70 kilos car son dos est garni de nervures robustes partant du centre vers le bord. Il existe également à partir de la nervure principale plusieurs branches formant un réseau solide et complexe ressemblant à une ossature puissante pour le soutien.

This morning, after visiting Trà Vinh, we went to Đồng Tháp province to visit a pagoda called Phước Kiến Tự, which is very famous in Cao Lãnh for its Buddha statues and Buddhist artworks. This pagoda has a very large pond containing hundreds of large lotus leaves resembling flat hats with chin straps adorned with silk cords, reserved for the girls of the Bắc Ninh village. Its origin likely comes from Brazil. It is often called by the name Victoria amazonica or giant Amazon water lily. According to the plant dictionary, it takes almost 50 years to successfully grow it in Europe after bringing it back in 1800. So this pagoda has recently succeeded in having giant water lily leaves. Similar to the Mía pagoda in the suburbs of the capital Hanoi, its entrance is crowded with street vendors. Thanks to the existence of this giant water lily, the pagoda has become a must-visit tourist spot, providing locals with significant financial benefits. When passing through this place, one must taste the delicious lotus seed soup.

For those interested in souvenir photos, besides the fee to pay, one must strictly follow the instructions in order to stand only on the designated water lily leaf assigned in advance. The pond water contains nitric acid. Moreover, the large water lily leaf can support a person weighing 60 to 70 kilograms because its back is equipped with robust ribs extending from the center to the edge. There are also several branches originating from the main rib, forming a solid and complex network resembling a strong framework for support.

Galerie des photos

[Return RELIGION]

 

 

 

Pagode Từ Hiếu (Huế)

 

 


Pagode de la piété filiale

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Nằm trên núi Dương Xuân thuộc làng Thủy Xuân và  cách trung tâm thành phố Huế 5 cây số , chùa Từ  Hiếu tọa lạc trong một khu rừng thông tuyệt  vời ở phía bắc lăng vua Tự Đức. Để tưởng nhớ mẹ của ông, ngôi chùa này được xây dựng vào năm 1843 bởi hòa thượng Nhất Định. Được biết đến với cái tên Từ Hiếu để biểu thị sự tận tâm  của ông và lòng hiếu thảo đối với mẹ. Nhưng đó cũng là ngôi chùa của các hoạn quan ở Tử Cấm Thành Huế.

Perchée sur le mont Dương Xuân dans le village de Thủy Xuân et située à 5km du centre-ville de Huế , la pagode Từ hiếu se trouve dans une belle pinède au nord du mausolée de l’empereur Tự Đức. En l’honneur de sa mère, cette pagode  fut édifiée en 1843 par le moine Nhất Đinh. Elle étai connue sous le nom de Từ Hiếu pour signifier le dévouement et la piété  de ce dernier à sa mère. Mais c’était aussi la pagode des eunuques de la cité pourpre interdite de Huế.

Perched on Mount Dương Xuân in the village of Thủy Xuân and located 5km from the center of Huế, the Từ Hiếu pagoda is situated in a beautiful pine forest north of Emperor Tự Đức’s mausoleum. In honor of his mother, this pagoda was built in 1843 by the monk Nhất Đinh. It was known as Từ Hiếu to signify his devotion and filial piety to his mother. But it was also the pagoda of the eunuchs of the Forbidden Purple City of Huế.

[Return Huế]

Phước Minh Cung (Temple de Guan Yu, Trà Vinh)

Phước Minh Cung

Quan Công là người hội đủ các đức tính trung dũng, tình nghĩa, độ lượng và công minh chính trực và cũng  là nhân vật nổi tiếng ở thời Tam Quốc hậu Hán. Chính vì vậy khi ông qua đời, người ta đã tôn thờ ông như một vị thánh. Bởi vậy nơi nào có người Hoa cư trú thường thấy họ hay thờ Quan Công. Ở Trà Vinh nơi thờ ông hay được gọi là Phước Minh Cung.

Étant un personnage réussissant à avoir toutes les vertus de courage, de loyauté, de générosité et de justice, Guan Yu est aussi  l’un des généraux célèbres chinois de l’époque des Trois Royaumes et de la fin des Han. C’est pour cela que  les Chinois le vénèrent comme un Saint lors de sa mort. Partout où la présence des Chinois est importante, on y trouve toujours un temple dédié à ce général. À Trà Vinh, le temple est connu sous le nom de Phước Minh Cung.

Being a character who embodies all the virtues of courage, loyalty, generosity, and justice, Guan Yu is also one of the famous Chinese generals from the Three Kingdoms period and the end of the Han dynasty. That is why the Chinese venerate him as a Saint upon his death. Wherever there is a significant Chinese presence, there is always a temple dedicated to this general. In Trà Vinh, the temple is known as Phước Minh Cung.

[RETURN TRA VINH]

PAGODE VAM RAY (Tra Vinh)

Chùa Vàm Ray

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Được tọa lạc ở ấp Vàm Ray, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, ngôi chùa nầy không những  mang tính chất kiến trúc đậm chất của người Khơ Me ở Nam Bộ mà còn giữ phong cách của đế chế Angkor. Chùa còn là một ngôi chùa lớn nhất trong số 143 chùa Khơ Me  được liệt kê ở Trà Vinh. Chùa có 4 cổng vào và theo truyền thống cùa người Khơ Me thì cổng chính và toà nhà chính điện phải quay về hướng Đông biểu  tượng cho con đường tu hành của   Phật tử từ Tây sang Đông.  Chính cũng nơi nầy về hướng Đông Nam của chính điện, du khách sẽ thấy được  tượng đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn có chiều dài 54 thước. Còn bên trong chính điện thì được trang trí lộng lẫy với những bức tranh tường nhiều màu sắc, đậm chất văn hóa Khơ Me, kể lại cuộc đời của Đức Phật và giáo lý của Phật giáo.

Étant située dans le hameau de Vam Ray, district de Trà Cú, province de Trà Vinh, cette pagode porte non seulement le caractère architectural du peuple khmer du Sud Vietnam mais aussi le style de l’empire d’Angkor. La pagode est également la plus grande parmi les 143 pagodes recensées dans la province de Trà Vinh. Elle dispose de 4 portes d’entrée. Selon la tradition khmère, la porte principale et le bâtiment principal doivent être orientés vers l’est. C’est le chemin  pris par les pratiquants  bouddhistes  de l’ouest vers l’est.  C’est aussi ici que vers le sud-est du hall principal, les visiteurs verront la statue allongée de 54 mètres du Bouddha Shakyamuni, illustrant son accession au Nirvana. Quant à l’intérieur du bâtiment principal, on voit défiler des peintures murales colorées et imprégnées de la culture khmère, relatant ainsi la vie de Bouddha et les enseignements du bouddhisme.

Located in the hamlet of Vam Ray, Tra Cu district, Tra Vinh province, this pagoda not only bears the architectural character of the Khmer people of Southern Vietnam but also the style of the Angkor empire. The pagoda is also the largest among the 143 pagodas recorded in Tra Vinh province. It has 4 entrance gates. According to Khmer tradition, the main gate and the main building must face east. This is the path taken by Buddhist practitioners from west to east. It is also here that, towards the southeast of the main hall, visitors will see the 54-meter reclining statue of Buddha Shakyamuni, illustrating his attainment of Nirvana. As for the interior of the main building, colorful murals imbued with Khmer culture depict the life of Buddha and the teachings of Buddhism.

 

Galerie des photos

[RETURN TRA VINH]

Thiền viện Trúc Lâm (Trà Vinh)

Institut bouddhique de la secte Forêt des Bambous

Đây là ngôi thiền viện thuộc Thiền phái Trúc Lâm duy nhất trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, nằm cách xa thành phố  khoảng chừng 50 cây số. Thiền viện Trúc Lâm Trà Vinh được xây dựng trên khuôn viên rộng 7 ha, trong khu du lịch sinh thái từng ngập mặn ven biển, mặt tiền nhìn ra biển Đông bao la.

C’est le monastère unique zen de la secte Forêt des bambous de la province de Trà Vinh. Il est  situé à  peu près de 50 kilomètres du centre-ville. Ce monastère zen a été construit sur un terrain de 7 hectares, dans une zone écotouristique autrefois salée tout le long de la côte et  faisant face à l’immense mer de l’Est.

It is the only Zen monastery of the Bamboo Forest sect in Trà Vinh province. It is located about 50 kilometers from the city center. This Zen monastery was built on a 7-hectare land, in an ecotourism area that was once salty along the entire coast and facing the vast East Sea.

[RETURN TRA VINH]

Pagode de la grotte (Chùa Hang)

Pagode de la Grotte (Chùa Hang)

 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Lúc đầu nơi có một cây đa cổ thụ nằm trước bến sông nên khi chùa nầy dựng lên vào năm 1637 thì dân cư  gọi nó là  Kompông Chrây có nghĩa là « bến cây đa ». Sau nầy cổng chùa được thiết  kế lại với hình dáng của một cái hang nên  từ đó mới mang tên là chùa hang. Chùa nầy nằm trong một khuôn viên có diện tích là 6ha với một chính điện chùa tọa lạc  trên nền cao có 3 thước, có nhiều bậc cấp dẫn lên, được trang trí lộng lẫy với nhiều hoa văn và họa tiết.  Ở các đầu cột đều có tượng vũ nữ Kẽn naarr dang đôi tay chống đỡ mái chùa. Tượng Phật Thích Ca  to lớn đặt trên cao ở trong chính điện , phía dưới là những tượng Phật Thích Ca nhỏ hơn trong nhiều tư thế khác nhau.  Những tác phẩm điêu khắc cổ được trông thấy ở chùa rất đa dạng và phong phú. Đến Trà Vinh mà không đến chùa Hang là một điều đáng tiếc.

Version française

Au début, il y avait un vieux banian se trouvant devant l’embarcadère de la rivière. Lorsque cette pagode fut construite en l’an 1637, les gens l’appelèrent Kompong Chray, ce qui signifie «embarcadère du banian». Plus tard, la porte d’entrée de la pagode fut remodifiée en prenant  la forme d’une grotte. C’est pourquoi elle a été appelée désormais sous le nom de « pagode de la grotte ». Celle-ci est située sur un terrain d’une superficie de 6 hectares avec un bâtiment principal édifié sur une plate-forme de 3 mètres de haut, avec de nombreuses marches montantes, magnifiquement décoré de nombreux motifs à son intérieur. Aux extrémités des colonnes de l’édifice principal, on voit des statues de la danseuse Ken Narr, soutenir la toiture.
À  l’intérieur de cet édifice,  la grande statue du Bouddha Shakyamuni est arrangée de manière qu’elle soit placée  en haut de toutes les autres statues plus petites du même Bouddha  dans de nombreuses positions différentes. Les sculptures anciennes trouvées dans cette pagode sont très variées et riches. C’est dommage pour le touriste de ne pas visiter la pagode de la grotte lors de son passage à la ville Trà Vinh.

At the beginning, there was an old banyan tree located in front of the river pier. When this pagoda was built in the year 1637, people called it Kompong Chray, which means « banyan pier. » Later, the entrance gate of the pagoda was remodeled into the shape of a cave. That is why it has since been called the « pagoda of the cave. » It is situated on a land area of 6 hectares with a main building erected on a platform 3 meters high, with many ascending steps, beautifully decorated with numerous patterns inside. At the ends of the columns of the main building, one can see statues of the dancer Ken Narr supporting the roof.
Inside this building, the large statue of Buddha Shakyamuni is arranged so that it is placed above all the other smaller statues of the same Buddha in many different positions. The ancient sculptures found in this pagoda are very diverse and rich. It is a pity for tourists not to visit the pagoda of the cave when passing through the city of Trà Vinh.

Galerie des photos

RETURN [TRA VINH]

 

 

Pagode AngKorborajaborey (Chùa Âng)

Pagode AngKorborajaborey

 

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Toạ lạc ở  bên cạnh quốc lộ 53 của tình Trà Vinh, chùa  Angkorajaborey hay là chùa Âng mà người Việt thường gọi, là một ngôi chùa cổ có lâu đời có cà ngàn năm tuổi từ năm 990. Nó nằm cách xa thành phố Trà Vinh khoảng chừng 5 cây số nằm trong một khuôn viên thắng cảnh Ao Bà Ôm với một diện tích khoảng chừng 4 ha và đối diện với Bảo tàng Văn hóa dân tộc Khơ Me của tỉnh. Đây cũng là một ngôi chùa tiêu biểu trong hệ thống 141 chùa Khơ Me ở Trà Vinh.  Chùa được công nhận là di tích kiến trúc tôn giáo của nguời Khơ Me ở Nam Bộ vào năm 1994.

Située à côté de l’autoroute 53 de la province de Trà Vinh, la pagode Angkorajaborey ou pagode Âng comme l’appellent souvent les Vietnamiens, est une ancienne pagode vieille de plus de mille ans depuis 990. Elle est située à environ 5 kilomètres de la ville de Trà Vinh, dans la zone pittoresque de l’étang Ba Om possédant une superficie d’environ 4 hectares et elle est en face du musée de la culture ethnique khmère de la province. C’est aussi une pagode  typique du d’un système des 141 pagodes khmères de Trà Vinh. Elle a été reconnue comme  un vestige  architectural religieux du peuple khmer vivant au Sud Vietnam en l’an 1994.

Located next to Highway 53 in the province of Trà Vinh, the Angkorajaborey Pagoda, or Âng Pagoda as it is often called by the Vietnamese, is an ancient pagoda over a thousand years old since 990. It is located about 5 kilometers from the city of Trà Vinh, in the picturesque area of Ba Om pond covering an area of about 4 hectares and it is opposite the Khmer Ethnic Culture Museum of the province. It is also a typical pagoda of a system of 141 Khmer pagodas in Trà Vinh. It was recognized as a religious architectural relic of the Khmer people living in Southern Vietnam in 1994.

Galerie des photos

[RETURN TRA VINH]

Les pagodes khmères du delta du Mékong

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Dựa trên truyền thuyết về vương triều Chân Lạp: một thầy tu ẩn sĩ Bà-la-môn có nguồn gốc từ mặt trời tên là Kambu Svayambhuva đã được thần Shiva ban phép kết hôn với một tiên nữ có nguồn gốc từ mặt trăng, một nàng Mera xinh đẹp, nhà nghiên cứu văn khắc bản nỗi tiếng Georges Cœdes đưa ra giả thuyết rằng chữ Khmer đến từ  K(ambu) và Merâ vi vậy  sinh ra một dòng dõi những nhà  vua hoặc là các con cháu của Kambujadesha có nghĩa là « đất nước của con cháu Kambu » để giải thích tên của người Khơ Me. Cũng nhờ sự khám phá  chữ Kambujadesha trong một văn bản ở thánh đường Po Nagar (Nha Trang) vào năm 817 mà dưới thời Pháp thuộc chữ Kambuja được phát âm từ đó ra  thành Cambodia (Cao Miên). Bởi vây khi mình đến tham quan các chùa ở Trà Vinh, mình gặp các em trẻ, mình hỏi các em có phải người Miên không ? Chúng trả lời một cách không lưỡng lự : chúng em là người Khơ Me Krom là những ngươì Khơ Me sống ở dưới (Khmers En Bas) khác với người Khơ Me Campuchia tức là những Khơ Me sống ở đồng bằng sông Cửu Long tức là vùng Tây Nam Bộ  đôi khi họ chiếm lên tỷ lệ dân số hơn 30% như các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh. Chữ Miên không được dùng vì  có hàm ý miệt thị cũng như  chữ Mít (Annamite) đối người dân Việt.

Các chùa ở Trà Vinh đều là những chùa Phật giáo Nam Tông (thường gọi là phái Tiểu Thừa). Chủ yếu các chùa nầy truyền bá kinh văn Pali  tức là những văn bản ghi lại nguyên vẹn những lời giảng của Đức Phật trong suốt cuộc đời truyền bá giáo pháp của mình.  Có nhiều bộ phái khác nhau từ lúc đầu nhưng chỉ còn duy nhất hệ phái Thượng tọa bộ (Theravāda) là đại biểu cho hệ Phật giáo Nam truyền. Người Khơ Me họ có tập tục lúc còn trẻ (12 hoặc 13  tuổi) là đi vào chùa tu đề học giáo lý, học chữ Pali và trả hiếu cho cha mẹ nhưng cũng để thành người.  Thời gian tu tập kéo dài ít nhất là  3 tháng nhưng có thể kéo dài hơn  tùy theo nhân duyên và ý nguyện của  mỗi  người. Phải cạo đầu, phải thay quần bằng chiếc xa rông và thay áo bằng chiếc áo trắng (Pênexo)  khoác lên vai từ trái sang phải để từ bỏ trần tục. Để tránh sự tốn kém chi phí nhiều, tất cả những việc nầy đều đựợc tập hợp chung với nhiều người cùng một ngày được gọi là lễ thế phát với sự tham gia của tất cả gia đình.  Dù có xuất tu đi nữa,  những đứa trẻ nầy  được cộng đồng thừa nhận là người trưởng thành, có kiến thức để xây dựng một cuộc sống  hướng thiện và hửu ích cho xã hội. Đến tham quan các chùa ở Trà Vinh mới nhận thấy kiến trúc của các chùa ở nơi nầy nhất là chùa Âng, một chùa cổ xưa có cả nghìn năm lịch sử nó không khác chi kiến trúc mình có dịp thấy trước đây ở Bangkok (Thái Lan) với các tượng thần gác cửa  vân vân…

Theo sự nhận xét của nhà khảo cổ Pháp Bernard Groslier thì người dân Thái phải đợi ít nhất hai thế  kỷ vể sau để mới  tiếp  thu được bài vở của chủ nhân họ là người  Khơ Me  trước khi mới có thể  thay  thế và vượt qua mặt chủ của họ. Người Thái lập quốc từ thế kỷ 14 sau khi đế chế Angkor bị suy tàn. Như vậy kiến trúc chùa chiền thành vua của người Thái mà mình thấy hoành tráng xinh đẹp đấy là bản sao của  kiến trúc cũa người Khơ Me và người  Dvaravati nhưng họ có đầu óc thẩm mỹ nên nhờ đó mà hoàn hảo hơn. Tổng thể một ngôi chùa Khơ Me gồm: cổng chùa, tường rào, ngôi chính điện, tháp đựng cốt, tăng xá, nhà hội và  an xá. Trong ngôi chính điện  Đức Phật Thích Ca được bài trí với kích thước lớn tọa lạc trên tòa sen.  Các bức tranh Phật  được trang trí trong chùa Khơ Me chủ yếu kể lại cuộc đời của Đức Phật Thích Ca từ lúc mới sinh cho đến khi tu thành đạo hạnh. Trên trần của chính điện cũng hay thường vẽ những bức họa  nhắc  lại các cảnh giao đấu giữa các Tiên nữ và Chằn (nhân vật biểu trưng cho cái ác), cảnh tiên làm lễ, cảnh dâng hoa vân vân…

 Còn ở ngoài chính điện thường thấy các vị thần mang chân dung người, mình mặc giáp trụ, tay cầm pháp khí để canh giữ nơi cửa chùa hay xung quanh chánh điện. Đấy là  các tượng Yeak hay chằn,  giúp ta có  được tâm sáng hướng về Đức Phật. Có thể nói cũng như ở chùa Việt trước cỗng thường thấy ông Ác ông Thiện vậy. Các tượng chằn hay có mặt dữ dằn hung ác nhưng không phải kẻ làm ác mà chế ngự được cái ác, nó lúc nào cũng có thể nỗi dậy ở trong  lòng con người nên cần có sự hiện diện của con chim K’rut  bắt nguồn từ con vật linh thiêng  Garuda trong thần thoại  Ấn Độ với  đạo Bà La Môn. Nó ở trên cao để theo dõi và thống chế Yeak đấy. Còn  con lân tượng trưng cho sức mạnh trí tuệ hay thường thấy kề bên các tượng chằn. Nhờ có trí tuệ mà nó mới  đem lại  sự sáng suốt  trong việc nhận định để   tìm ra  chân lý nên mới diệt trừ được  ác nghiệp  và giúp con người  mới được giải thoát.  Nói tóm lại các chùa Phật Giáo Nam Tông Khơ Me ở Nam Bộ  có một kiến trúc  độc  đáo chịu nhiều ảnh hưởng Bà La Môn giáo.

Version française

En se basant sur une légende dynastique de Chen La: un  prêtre brahmane d’origine solaire nommé Kambu Svayambhuva  recevant  du dieu Shiva, lui-même une nymphe d’origine lunaire en mariage, la belle Mera, le célèbre épigraphe Georges Cœdes a émis l’hypothèse que le mot khmer viendrait  probablement de K(ambu) et Merâ donnant ainsi naissance à une lignée de rois ou celle des descendants de Kambujadesha et ayant pour signification « pays de la descendance de Kambu » dans le but d’expliquer  le nom des Khmers.  C’est pour cela qu’au moment de ma rencontre avec les enfants dans la pagode, je leur demande: Êtes-vous Cambodgiens ?  Ils me répondent  sans hésitation: Nous sommes des Khmers Krom (des Khmers  vivant en bas) différents de ceux vivant en haut (des Cambodgiens),  des Khmers vivant dans le delta du Mékong. Ces derniers occupent parfois jusqu’à 30% de la population locale. C’est le cas des provinces Sóc Trăng, Trà Vinh.Le mot « Miên » (khmer) n’est pas utilisé car il a des connotations péjoratives, tout comme le mot « Mit » (annamite) est utilisé de manière péjorative pour désigner le peuple vietnamien.

Les temples de Tra Vinh sont tous des temples bouddhistes Theravada (souvent appelés de l’école Hinayana). Ces temples diffusent principalement des textes en pali, qui constituent l’intégralité des enseignements du Bouddha tout au long de sa vie. Bien que de nombreuses écoles aient existé dès l’origine, seule l’école Theravada demeure représentative du bouddhisme du Sud. Le peuple khmer a coutume d’entrer dans les temples dès son plus jeune âge (12 ou 13 ans) pour étudier les doctrines bouddhistes, apprendre le pali et accomplir son devoir filial envers ses parents, tout en contribuant à son épanouissement personnel.

 La période de formation monastique dure au moins trois mois, mais peut être plus longue selon les circonstances et les souhaits de chacun. Les jeunes doivent se raser la tête, revêtir un sarong et une robe blanche (Pênexo) drapée sur les épaules, renonçant ainsi à la vie mondaine. Afin de limiter les dépenses, tous ces rituels sont accomplis collectivement en une seule journée, lors de la « cérémonie du rasage », avec la participation de toute la famille. Même après avoir quitté la vie monastique, ces enfants sont reconnus par la communauté comme des adultes, capables de mener une vie vertueuse et utile à la société. En visitant les temples de Trà Vinh, on remarque leur architecture, notamment celle du temple Ang, un temple millénaire dont l’architecture, avec ses statues de divinités gardiennes, n’est pas sans rappeler celle de Bangkok (Thaïlande).

Selon l’archéologue français Bernard Groslier, le peuple thaï dut attendre au moins deux siècles avant de pouvoir assimiler et surpasser les enseignements de ses maîtres khmers. Les Thaïs fondèrent leur nation au XIVème siècle, après le déclin de l’empire d’Angkor. Ainsi, la magnifique architecture des temples khmers que nous observons aujourd’hui est une adaptation des architectures khmère et dvaravati, qu’ils ont perfectionnée grâce à leur sens esthétique. Un complexe de temple khmer typique comprend : une porte, une enceinte, le hall principal, un stupa contenant des reliques, les quartiers des moines, une salle de réunion et un pavillon de repos. Dans le hall principal, une grande statue du Bouddha Shakyamuni trône sur un lotus. Les peintures bouddhistes des temples khmers illustrent principalement la vie du Bouddha Shakyamuni, de sa naissance à son illumination. Le plafond du hall principal est souvent orné de peintures représentant des scènes de combats entre fées et démons (symboles du mal), des fées accomplissant des rituels, des offrandes de fleurs, etc.

À l’extérieur du hall principal, on aperçoit souvent des divinités à forme humaine, vêtues d’armures et tenant des objets sacrés, gardant l’entrée du temple ou entourant le hall. Ce sont des statues de Yeak, ou démons, qui nous aident à cultiver un cœur pur tourné vers le Bouddha. Cela rappelle les représentations du Bien et du Mal que l’on trouve souvent à l’entrée des temples vietnamiens. Les statues de démons ont souvent une apparence féroce et menaçante, mais ce ne sont pas elles qui commettent le mal ; elles peuvent le maîtriser, car le mal peut toujours surgir au fond du cœur humain. C’est pourquoi la présence de l’oiseau K’rut, issu du Garuda sacré de la mythologie indienne et du brahmanisme, est essentielle. Il veille sur le Yeak et le contrôle. La licorne, symbole de sagesse et de force, est souvent représentée aux côtés des statues de démons. C’est par la sagesse qu’elle apporte la clarté du discernement, menant à la découverte de la vérité, éradiquant ainsi le mauvais karma et aidant les êtres à atteindre la libération. En résumé, les temples bouddhistes khmers Theravada du sud du Vietnam possèdent une architecture unique, fortement influencée par le brahmanisme.

Based on a dynastic legend of Chen La: a solar-origin Brahmin priest named Kambu Svayambhuva receiving from the god Shiva, himself a nymph of lunar origin in marriage, the beautiful Mera, the famous epigrapher Georges Cœdes hypothesized that the Khmer word probably comes from K(ambu) and Merâ thus giving birth to a lineage of kings or that of the descendants of Kambujadesha and meaning « country of the descendants of Kambu » in order to explain the name of the Khmers. That is why at the time of my meeting with the children in the pagoda, I ask them: Are you Cambodians? They answer me without hesitation: We are Khmers Krom (Khmer living below) different from those living above (Cambodians), Khmers living in the Mekong delta. The latter sometimes make up to 30% of the local population. This is the case in the provinces of Sóc Trăng, Trà Vinh. The word « Miên » (Khmer) is not used because it has pejorative connotations, just as the word « Mit » (Annamite) is used pejoratively to designate the Vietnamese people.

The temples of Tra Vinh are all Theravada Buddhist temples (often called Hinayana school). These temples mainly disseminate texts in Pali, which constitute the entirety of the Buddha’s teachings throughout his life. Although many schools existed from the beginning, only the Theravada school remains representative of Southern Buddhism. The Khmer people customarily enter temples from a young age (12 or 13 years old) to study Buddhist doctrines, learn Pali, and fulfill their filial duty towards their parents, while contributing to their personal development.

The monastic training period lasts at least three months but can be longer depending on circumstances and individual wishes. The youths must shave their heads, wear a sarong and a white robe (Pênexo) draped over the shoulders, thus renouncing worldly life. To limit expenses, all these rituals are performed collectively in one day, during the « shaving ceremony, » with the participation of the entire family. Even after leaving monastic life, these children are recognized by the community as adults, capable of leading a virtuous and socially useful life. When visiting the temples of Trà Vinh, one notices their architecture, notably that of the Ang temple, a millennial temple whose architecture, with its statues of guardian deities, is reminiscent of that of Bangkok (Thailand).

According to the French archaeologist Bernard Groslier, the Thai people had to wait at least two centuries before they could assimilate and surpass the teachings of their Khmer masters. The Thais founded their nation in the 14th century, after the decline of the Angkor empire. Thus, the magnificent architecture of the Khmer temples we observe today is an adaptation of Khmer and Dvaravati architectures, which they perfected thanks to their aesthetic sense. A typical Khmer temple complex includes: a gate, an enclosure, the main hall, a stupa containing relics, the monks’ quarters, a meeting room, and a resting pavilion. In the main hall, a large statue of the Buddha Shakyamuni sits on a lotus. The Buddhist paintings of the Khmer temples mainly illustrate the life of Buddha Shakyamuni, from his birth to his enlightenment. The ceiling of the main hall is often adorned with paintings depicting scenes of battles between fairies and demons (symbols of evil), fairies performing rituals, flower offerings, etc.

Outside the main hall, one often sees human-shaped deities, dressed in armor and holding sacred objects, guarding the temple entrance or surrounding the hall. These are statues of Yeak, or demons, who help us cultivate a pure heart turned towards the Buddha. This recalls the representations of Good and Evil often found at the entrances of Vietnamese temples. The demon statues often have a fierce and threatening appearance, but they are not the ones who commit evil; they can control it, because evil can always arise from the depths of the human heart. That is why the presence of the K’rut bird, derived from the sacred Garuda of Indian mythology and Brahmanism, is essential. It watches over and controls the Yeak. The unicorn, a symbol of wisdom and strength, is often depicted alongside the demon statues. It is through wisdom that it brings the clarity of discernment, leading to the discovery of truth, thus eradicating bad karma and helping beings achieve liberation. In summary, the Khmer Theravada Buddhist temples of southern Vietnam have a unique architecture, strongly influenced by Brahmanism.

Galerie des photos

Kyoto (Cố đô Kyoto, Nhật Bản)

Kyoto (Cố đô Kyoto, Nhật Bản)

Version française
Version anglaise
Pictures gallery

Có một thời  thịnh vượng, Tokyo còn được gọi là Edo.  Muốn đến cố đô Kyoto lữ khách phải  đi  bộ  hay đi ngựa nhiều ngày với con đường ngoạn mục Tokaido  dài có 500 cây số.Tuyến đường nầy  có nhiều  lữ quán, các đền thờ thần đạo hay Phật giáo, các di tích lịch sử sẽ  để lại cho lữ khách những kỷ niệm khó quên  như đèo Nakayama, đền Ise, chùa Thanh Thủy (Kiyomieu-dera), chùa  gác vàng Kinka kuji của tướng quân Yoshimitsu Ashikaga  vân vân …  Chính vì thế tuyến đường nầy trở  nên một nguồn cảm hứng không ít cho nhiều  họa sỹ  mà trong đó có Hiroshige mà chúng ta được biết  qua  bộ  tranh màu của ông được in trên  các mộc bản  của thế giới nổi trôi,  thường gọi là ukiyo-e (phù thế hội).  Thời ki hoàng kim  của ukiyo-e là từ khoảng những năm 1790 cho đến năm 1850. Sáng nay tụi nầy được anh HDV dẫn  đến cố đô  Kyoto. Cũng tuyến đường nầy nhưng  được thay thế bằng con  đường sắt với tàu cao tốc TGV Tokaido Shinkansen và được dừng lại ở nhà ga Kakegawa để lấy  xe bus đi tham quan vườn hoa nổi tiếng của Nhật Hammatsu của tỉnh Shizuoka. Trạm ga nào cũng sạch sẽ luôn ở  trên tàu cao tốc cũng vậy trong một không gian yên lặng.

Rất tiếc trời rất u ám nên chụp ảnh không vừa ý chi cho mấy khi đến tham quan công viên  Hammatsu. Nơi nầy có rất nhiều cây bonsai hình dáng khác nhau trông lạ mắt lắm đấy nhưng cũng không kém  phần lãng mạn như  ở các  công viên Paris. Sau đó tụi này lấy xe  bus đến cố đô Kyoto nơi ở của Nhật hoàng  vào buổi chiều. Ở đây đường xá cũng sạch  sẽ nhưng thời gian có vẻ chậm lại nhịp sống hằng ngày   tựa như ở cố đô Huế  của nước ta  vậy.

Version française

À une  époque florissante, Tokyo était également connue sous le nom d’Edo. Pour se rendre à l’ancienne capitale de Kyoto, les voyageurs devaient marcher  à pied ou à cheval plusieurs jours sur la spectaculaire route du Tokaido, longue de cinq cent  kilomètres. Celle-ci  comptait de nombreuses auberges, temples shintoïstes ou bouddhistes et des sites historiques qui leur ont laissé des souvenirs inoubliables tels que le col Nakayama, le temple Ise, la pagode Kiyomieu-dera ou le pavillon d’or Kinkaku-ji  du shôgun Yoshimitsu Ashikaga  etc. C’était  pourquoi cet itinéraire devenait ainsi  une source d’inspiration pour de nombreux artistes, dont Hiroshige que l’on connaît grâce à ses peintures  en couleurs imprimées sur planches de bois du monde flottant, souvent appelées ukiyo-e. L’âge d’or de l’ukiyo-e s’était déroulé entre 1790 et 1850 environ. Ce matin, le guide nous a emmenés dans l’ancienne capitale de Kyoto. Ce même itinéraire a été remplacé par le  chemin de fer avec le train à grande vitesse TGV Tokaido Shinkansen. Nous devions  descendre  à la gare de Kakegawa pour prendre un bus afin de pouvoir  visiter le célèbre parc floral Hammatsu de la préfecture de Shizuoka. Nous constations la propreté  partout,  y  compris dans le train à grande vitesse dans un espace silencieux.

À  cause du mauvais temps, il était impossible pour moi de faire des photos comme il le fallait  lors ma visite au parc floral. Celui-ci possédait de nombreux bonsaïs de formes différentes. Cela  m’étonna tellement mais il  n’était  pas moins romantique que les jardins  de Paris. Puis nous allions prendre le bus dans l’après-midi pour rendre visite à l’ancienne capitale de Kyoto, où résidait l’empereur du Japon. Ici, les rues sont propres mais  le temps semble ralentir le rythme de vie au quotidien  comme celui trouvé dans l’ancienne capitale Huế de notre pays.

Version anglaise

At a flourishing time, Tokyo was also known as Edo. To reach the former capital Kyoto, travelers had to walk or ride horses for several days along the spectacular Tokaido route, which is five hundred kilometers long. This route included numerous inns, Shinto or Buddhist temples, and historical sites that left them unforgettable memories such as the Nakayama Pass, the Ise Temple, the Kiyomizu-dera Pagoda, or the Kinkaku-ji Golden Pavilion of Shogun Yoshimitsu Ashikaga, etc. This is why this itinerary became a source of inspiration for many artists, including Hiroshige, who is known for his color paintings printed on woodblocks of the floating world, often called ukiyo-e. The golden age of ukiyo-e took place roughly between 1790 and 1850. This morning, the guide took us to the former capital Kyoto. This same route has been replaced by the railway with the high-speed TGV Tokaido Shinkansen train. We had to get off at Kakegawa station to take a bus in order to visit the famous Hamamatsu flower park in Shizuoka Prefecture. We noticed cleanliness everywhere, including on the high-speed train in a quiet space.

Because of the bad weather, it was impossible for me to take photos properly during my visit to the floral park. It had many bonsais of different shapes. This surprised me so much, but it was no less romantic than the gardens of Paris. Then we were going to take the bus in the afternoon to visit the former capital of Kyoto, where the emperor of Japan resided. Here, the streets are clean, but time seems to slow down the daily pace of life, similar to what is found in the former capital Huế of our country.

Pictures gallery

[RETURN JAPAN]