PAGODE VAM RAY (Tra Vinh)

Chùa Vàm Ray

Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Được tọa lạc ở ấp Vàm Ray, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, ngôi chùa nầy không những  mang tính chất kiến trúc đậm chất của người Khơ Me ở Nam Bộ mà còn giữ phong cách của đế chế Angkor. Chùa còn là một ngôi chùa lớn nhất trong số 143 chùa Khơ Me  được liệt kê ở Trà Vinh. Chùa có 4 cổng vào và theo truyền thống cùa người Khơ Me thì cổng chính và toà nhà chính điện phải quay về hướng Đông biểu  tượng cho con đường tu hành của   Phật tử từ Tây sang Đông.  Chính cũng nơi nầy về hướng Đông Nam của chính điện, du khách sẽ thấy được  tượng đức Phật Thích Ca nhập Niết Bàn có chiều dài 54 thước. Còn bên trong chính điện thì được trang trí lộng lẫy với những bức tranh tường nhiều màu sắc, đậm chất văn hóa Khơ Me, kể lại cuộc đời của Đức Phật và giáo lý của Phật giáo.

Étant située dans le hameau de Vam Ray, district de Trà Cú, province de Trà Vinh, cette pagode porte non seulement le caractère architectural du peuple khmer du Sud Vietnam mais aussi le style de l’empire d’Angkor. La pagode est également la plus grande parmi les 143 pagodes recensées dans la province de Trà Vinh. Elle dispose de 4 portes d’entrée. Selon la tradition khmère, la porte principale et le bâtiment principal doivent être orientés vers l’est. C’est le chemin  pris par les pratiquants  bouddhistes  de l’ouest vers l’est.  C’est aussi ici que vers le sud-est du hall principal, les visiteurs verront la statue allongée de 54 mètres du Bouddha Shakyamuni, illustrant son accession au Nirvana. Quant à l’intérieur du bâtiment principal, on voit défiler des peintures murales colorées et imprégnées de la culture khmère, relatant ainsi la vie de Bouddha et les enseignements du bouddhisme.

Located in the hamlet of Vam Ray, Tra Cu district, Tra Vinh province, this pagoda not only bears the architectural character of the Khmer people of Southern Vietnam but also the style of the Angkor empire. The pagoda is also the largest among the 143 pagodas recorded in Tra Vinh province. It has 4 entrance gates. According to Khmer tradition, the main gate and the main building must face east. This is the path taken by Buddhist practitioners from west to east. It is also here that, towards the southeast of the main hall, visitors will see the 54-meter reclining statue of Buddha Shakyamuni, illustrating his attainment of Nirvana. As for the interior of the main building, colorful murals imbued with Khmer culture depict the life of Buddha and the teachings of Buddhism.

 

Galerie des photos

[RETURN TRA VINH]

Lọng tán (Le parasol)

Lọng tán

Version française

Version anglaise

Việc sử dụng lọng tán nó có từ lâu dưới chế độ quân chủ nhưng về sau nó bị giới hạn nên chỉ còn thấy ở những nơi thờ tự như đình, miếu, đền, nhà thờ hay là những  ngày lễ hội mà thôi. Lọng hay thường làm bằng vải gấm, có nhiều màu và kích  thước lớn nhỏ.  Người công giáo Việt  còn giử ngày nay  tục lệ  cổ xưa nên chỉ dùng lọng màu vàng để hầu Đức Chúa Trời. Mới đây, mình có dịp đi tham quan điện Kiến Trung ở Tử Cấm Thành (Huế), mình được thấy và ngẩn ngơ trước cái đẹp lộng lẫy của  cái lọng tán được phô bày trong một phòng của điện khiến làm mình nhớ lại hình ảnh ngày lễ đăng quan của vua Duy Tân lúc ngài được 7 tuổi với các cận vệ và các lọng tán. Như vậy dưới thời nhà Nguyễn, việc dùng đồ lỗ  bộ nó có qui định rất rỏ ràng  khi vua quan đi công cán: bao nhiêu lọng tán với các hình thù khác  nhau được thấy ở trên đỉnh lọng (rồng, phượng, hồ lô  vân vân…) và các màu sắc để  thể hiện được cấp bậc (vua, hoàng tử, hoàng hậu, quan lại vân vân ..). Ở trong dân gian thường ám chỉ lọng qua câu ca dao như sau:

Một cột mà chín, mười kèo,
Chỉ xanh, chỉ đỏ xỏ lèo bốn bên.

Nói đến lọng  thì không thể nào không nhắc đến giai thoại đối đáp của Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh (1482-1552) lúc còn nhỏ với một vị quan. Có một hôm  ông này đi ngang qua làng của  cậu nhỏ  và khi nhìn thấy cậu này  đang mặc cái áo đỏ, trên tay lại có một cái tàu cau nên mới thốt ra vế  đối như sau: “Hoài áo đỏ quét phân trâu”. Cậu nhỏ nầy liền đối lại một cách nhanh lẹ: Thừa lọng xanh che dái ngựa”. Vị quan nầy đang lúc đó được che bằng hai lọng màu xanh.

Version française

L‘utilisation des parasols a longtemps existé sous la monarchie. Mais on a commencé à y recourir de moins en moins souvent. Leur présence est visible désormais dans les lieux de culte tels que les maisons communales, les sanctuaires, les temples, les églises ou dans les fêtes importantes.
Les parasols sont souvent fabriqués en tissu de brocart avec de nombreuses couleurs et de tailles différentes. Les Catholiques vietnamiens sont habitués à garder jusqu’à aujourd’hui la tradition d’employer le parasol de couleur jaune destiné à servir le Christ. Récemment, j’ai eu l’occasion de visiter le palais Kiến Trung dans la Cité interdite de Huế. J’ai été frappé de stupeur par la beauté magnifique d’un parasol exposé dans l’une de ses pièces. Cela m’a rappelé immédiatement la cérémonie d’intronisation de l’empereurDuy Tân accompagné de ses fidèles serviteurs et de ses parasols quand il était âgé de 7 ans.
Sous la dynastie des Nguyễn, l’utilisation des objets de culte devait être conforme ainsi aux règlements très stricts lors du déplacement du roi ou celui de ses mandarins: le nombre précis de parasols avec des représentations diverses trouvées à leur sommet (dragon, phénix, gourde etc.) et des couleurs spécifiques, ce qui reflète bien la fonction de la personne accompagnée (roi, prince héritier, reine, mandarin etc.). Pour faire allusion au parasol, on est habitué à évoquer la chanson populaire suivante:
 
Một cột mà chín, mười kèo,
Chỉ xanh, chỉ đỏ xỏ lèo bốn bên.
 
Un mât est entouré de 9 ou 10 tiges,
Les fils verts et rouges sont enfilés des quatre côtés.
 
En parlant des parasols, il est impossible de ne pas évoquer l’anecdote amusante du premier lauréat au concours suprême de nom Nguyễn Giản Thanh (1482-1552) lorsqu’il était encore un jeune adolescent avec un mandarin. Un jour, lors du passage dans son village, ce dernier vit ce jeune homme porter une chemise rouge et maintenir dans sa main un balai rustique. Il ne tarda pas à dire: Étant toujours habillé en chemise rouge, tu balaies la bouse de buffle. Ce jeune homme répliqua avec une facilité effarante: Étant doté  de parasols verts en nombre, tu réussis à couvrir l’acajou. Ce mandarin était entrain d’être protégé par les deux parasols de couleur verte.
 
Version anglaise
 
Sunshades were used for a long time under the monarchy. But their use has become less and less frequent. Their presence is now visible in places of worship such as communal houses, shrines, temples, churches or at important festivals.
Umbrellas are often made of brocade fabric in a variety of colors and sizes. Vietnamese Catholics are accustomed to keeping to this day the tradition of using the yellow parasol to serve Christ. Recently, I had the opportunity to visit the Kiến Trung Palace in the Forbidden City of Huế. I was struck dumb by the magnificent beauty of a parasol on display in one of its rooms. It immediately reminded me of the enthronement ceremony of Emperor Duy Tân accompanied by his faithful servants and parasols when he was 7 years old.
 
Under the Nguyễn dynasty, the use of cult objects had to comply with very strict regulations when the king or his mandarins were traveling: the precise number of parasols with various representations found at their top (dragon, phoenix, gourd etc.) and specific colors, reflecting the function of the person accompanied (king, crown prince, queen, mandarin etc.). To allude to the parasol, we’re used to evoking the following popular song:
 
Một cột mà chín, mười kèo,
Chỉ xanh, chỉ đỏ xỏ lèo bốn bên.
 
A mast is surrounded by 9 or 10 rods,
Green and red wires are threaded on all four sides.
 
Speaking of parasols, it’s impossible not to mention the amusing anecdote of the first winner of the supreme name contest Nguyễn Giản Thanh (1482-1552) when he was still a young teenager with a mandarin. One day, while passing through his village, the latter saw this young man wearing a red shirt and holding a rustic broom in his hand. He soon said: “Since you’re always dressed in a red shirt, you’re sweeping up buffalo dung. The young man replied with frightening ease: As you have plenty of green umbrellas, you can cover mahogany. This mandarin was being protected by the two green parasols.

Các yếu tố Chàm trong văn hóa Việt (Des éléments chams dans la culture vietnamienne)

Des éléments chams dans la culture vietnamienne

Version française
English version
Pictures Gallery

Trong dân gian, khi nói đến Huyền Trân công chúa, con của vua Trần Nhân Tôn thì người dân Việt không những xót xa cho số phận mà còn chỉ trích thậm tệ qua câu ca dao sau khi vua hứa gã Huyền Trân cho vua Chế Mân (Jaya Simhavarman III)  trong chuyến công du đặc biệt ở  thành Đồ Bàn (Vijaya, Bình Định ngày nay) của Chiêm Thành:

Tiếc thay cây quế giữa rừng, 
để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

chớ  nào đâu biết  tổ sư của phái Trúc Lâm có cái nhìn sâu xa của nhà chính trị đa tài muốn mở mang bờ cõi ở phía nam và cố giữ mối quan hệ láng giềng trọng yếu trong việc đấu tranh chống họa phương Bắc. Nhờ sự yểm trợ của Đại Việt ngăn chặn đường bộ  mà quân Nguyên thua lần thứ hai khi tấn công nước Chiêm Thành trước sự chỉ huy dũng cảm  của vua Chế Mân với 20.000 quân lính. Còn về Chế Mân thì Châu Ô Châu Rí khó mà kiểm soát được nữa vì cư dân Chàm bỏ trốn vào rừng hay chạy về các nơi mà chính quyền người Chàm còn cai quản  khi ba châu như Bố Chính, Mã Linh và Địa Lý của Thuận Hóa  đã bị vua chàm Chế Củ (Rudravarman III)  dưng cho vua Lý Thánh Tôn  từ lâu rồi để chuộc tội và cầu hoà. Nay mà dưng thêm hai châu nữa thì khó mà «ăn nói với dân» nhất là ngài là anh hùng dân tộc Chàm đem thắng lợi trong việc chống quân Nguyên.

Chỉ có cách xin cưới Huyền Trân là phương kế tuyệt vời  cho một tình thế chính trị lúc bấy giờ. Sự kiện này cũng  minh chứng cho việc sử dụng thuyết “bất bạo động” của sư tổ Trúc Lâm  để giải quyết xung đột trong lý thuyết nhà Phật theo báo Giác Ngộ của Phật Giáo Việt Nam nhưng không ai ngờ với cái chết đột ngột của vua Chế Mân, Huyền Trân phải lên giàn hỏa để tuẩn tiết theo vua theo tập tục người Chàm. Còn theo nhà nghiên cứu Po Dharma thì đây chỉ là việc dàn dựng câu chuyện nhầm giải cứu Huyền Trân và bội ước của nhà Trần  khiến  từ đó sự việc nầy nó trở thành mối bất hòa giữa hai dân tộc dẫn đến suy vong vương quốc Chămpa qua nhiều thế kỷ về sau nầy với sự chiến thắng rực rở của vua Lê Thánh Tông ở thành Đồ Bàn (Vijaya) 

Câu ca dao mĩa mai  nầy, không biết  có đúng hay không? Văn hoá của họ  có kém không để dân gian phải miệt thị như vậy? Chúng ta  cũng cần phải biết họ là ai, họ  từ đâu đến nhất là họ có những tập tục của một nền văn hóa khác biệt mang  những yếu tố văn hóa truyền thống của Ấn Độ. Những đền tháp được thấy mà họ sở hữu trên vùng duyên hải miền trung dài hơn có 1000 cây số với những tượng thần của một tín ngưỡng xa lạ và dị biệt dù đã đổ nát hay còn nguyên vẹn nhưng lúc nào vẫn còn là những mối đe dọa vô hình ăn sâu trong tâm trí của dân tộc ta tựa  như các  tượng thờ  Brahma, Shiva, Visnu khiến tạo ra ít nhiều  sự lo ngại, hoang mang và sợ sệt  cũng như lúc chúa Tiên (Nguyễn Hoàng)  vào trấn thủ đất Thuận Hóa (Bình Trị Thiên) ở Đàng Trong, một  vùng đất đai cằn cỗi, nguy hiểm và xa xôi.

Tới đây đất nước lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo.

Chính vì vậy theo linh mục Léopold  Cadière, để trấn an tâm hồn và có được sự an bình, dân ta không ngần ngại đưa những nơi di tích văn hoá Chàm vào thế giới tôn giáo tín ngưỡng của mình  và biến chúng thành  những nơi thờ cúng của mình cũng như  chùa Thiên Mụ, điện Hòn Chén, đền Po Nagar vân vân…

Suốt thời gian hành trình đến Thuận Hóa, nhóm tùy tùng thân tín  theo Nguyễn Hoàng  toàn bộ  gốc Thanh Hóa và hòa nhập với người Nghệ An đến từ  cuộc di dân  lần đầu ở  thế  kỷ 14 lúc Châu Ô, Châu Rí thuộc về Đại Việt. Vì vậy người ở Thuận Hóa bấy giờ gọi là người  Thanh Nghệ (Thanh Hóa Nghệ An). Biết ra đi không hẹn ngày về, khổ cực gian nan  cũng phải chịu từ  đây nhưng  đôi khi cũng  tự  an ủi mình  để  nung đốt ý chí  của kẻ phiêu lưu ở đất lạ nên  mới  có câu  ca dao dồi dào triết lý như sau: 

Măn giang nấu cá ngạnh nguồn,
Tới đây nên phải bán buồn mua vui.

Những cư dân Thanh Nghệ  tới lúc đầu không có đông ở vùng Quảng Trị ngày nay. Họ  buộc phải hòa đồng sống chung  với những người  Chàm ở lại. Lúc đầu Nguyễn Hoàng còn nói giọng Bắc nhưng chỉ cần vài thế hệ, những người  thừa kế của ngài  cùng cư  dân chịu  ảnh hưởng của môi trường xã hội từ sự sống gần gũi của hai dân tộc nhất là ở thời kỳ không còn quan hệ và giao dịch, lấy sông Gianh làm biên giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, nhất là sau khi có lũy Thầy (Trường Dục) của Đào Duy Từ  nên khiến cư dân có một âm điệu đặc biệt,  có thể nhận ra được ở cư dân Quảng Bình và Quảng Trị. Theo  học giả  Thái văn Kiểm , giọng Huế được thành hình về sau từ khi chúa Nguyễn Phúc Nguyện tức là Chúa Sãi quyết định dời đô về làng Phước Yên, huyện Quảng Điền và chúa Thượng (Nguyễn Phước Lan) về làng Kim Long vào năm 1636. Chính nhờ sự giao thoa của hai văn hóa  cổ Việt Mường  (Thanh Hóa và Nghệ An) và Chàm khiến tạo ra một lối  sống  ăn uống (thích ăn cay, ăn mắm tôm, mắm ruốc vân vân..), cách trị bệnh bằng các cây thuốc phương nam, cách trồng lúa chiêm, cách đóng thuyền (thuyền bầu) đi buôn  trên biển, cách trị thủy đắp đê dọc các dòng sông, cách dùng trong mỹ thuật, ngũ sắc riêng biệt nhất là màu tím, một màu không gây cảm xúc buồn mà cũng là màu mà các phụ nữ  Chàm ưa thích và còn trọng dụng ngày nay. Đấy là những đặc trưng mới của cộng động Việt Chàm mà chúng ta thường thấy ở Bình Trị Thiên và thường được gọi là bản sắc Huế.

Theo sử gia người Mỹ Michael Vickery, dựa trên  sự phân tích ngôn ngữ so sánh  thì biết rằng người Chăm đến từ đão Bornéo bằng đường biển vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Ngôn ngữ của họ  thuộc về ngôn ngữ Nam Đảo. Họ hay thường đinh cư  ở những nơi nào thuận tiện cho việc vận chuyển hàng hóa trên sông. Được mênh danh là người Vikings của Đông Nam Á, họ có thói quen khuấy rối trên biển và hay cướp giật ở vùng cực nam của  quận Nhật Nam trực tiếp thuộc quyền cai trị của Giao Châu thời kỳ nước ta còn bị đô hộ bởi người Hoa. Theo sự nhận xét của nhà khảo cổ học  Việt, Ngô văn Doanh,  họ hay thường ở các vùng đồng bằng ven biển  nằm giữa ba bên là núi cao và một bên còn lại đưa ra biển đều có một hoặc vài thành.

Dựa trên các sử liệu của Trung Hoa và các bi ký cồ người ta mới biết nước Lâm Ấp chuyển thành vương quốc Champa (Champapura)  từ đầu thế kỷ VII với thủ phủ là Simhapura (Trà Kiệu). Chính  nhờ cái tên Champapura mà người ta mới đoán ra được  Champa là một quốc gia được cấu thành từ các thị quốc, có thể gọi là một liên bang  của nhiều thị quốc (pura). Pura nào mạnh nhất  thì được  chọn đóng vai trò làm « thủ lĩnh » (vai trò chủ đạo) và trở thành  là Champapura (Thành của người Chiêm hay Chiêm Thành).  Vương triều của pura đó làm chủ đất nước của dân Chàm. Như vậy Simhapura (Trà Kiệu) là pura mạnh  nhất của thời kỳ đầu sau đó đến pura Vijaya (Đồ Bàn, Bình Định). Có những thời gian ngắn khác trong  niên đại lịch sử Chàm thì thấy có Hoàn Vương ở vùng phiá nam (758 – 659) hay Đồng Dương (Quảng Nam  từ năm 875 đến 983).

Theo nhà khảo cổ học Việt Nam Trần Quốc Vượng, người Chàm hay  sử dụng mô hình văn hóa sau đây gồm có 3 phần: thánh đường (núi), thành cổ (thủ đô) và cảng sông (trung tâm kinh tế) khi được  thành lập. Chính kiểu mẫu này mà chúng ta đã thấy lặp đi lặp lại ở mỗi pura  của người Chàm từ Quảng Trị đến Bình Thuận. Theo sự nhận xét của nhà khảo cổ Trần Kỳ Phương, pura nào  xây dựng đươc những công trình tôn giáo đồ sộ  phải là pura có khả năng trưng tập một  nguồn nhân lực cần thiết mà pura nầy có thể nuôi dưởng được  với  một tiềm năng kinh tế khả dĩ  chớ thông thường người Chàm sống thiên về  thương mại  trên biển nhiều vì đất trồng trọt rất hạn hẹp với những cánh đồng nhỏ của các thung lũng ven sông ở miền trung Việt Nam.

Lịch sử loài người đã bao lần chứng minh một nền văn minh cao hơn hay thường có ít nhiều tác động làm biến đổi nền văn minh kém hơn. Cũng như La Mã mạnh  đến đâu khi xâm lược phải chịu ảnh hưởng của nền văn minh Hy Lạp hay Mông Cổ, Mãn Thanh cũng vậy khi chiếm được Trung Hoa cũng bị đồng hóa bởi nước nầy. Nứớc Đại Cồ Việt của ta cũng không ngoài lệ. Hay thường khinh khi miệt thị người Chàm hay Man,  Đại Việt chúng ta có được tiếp thu cái gì không?. Đại Việt được tiếp thu nhiều thứ lắm nhất là sau khi  cuộc viễn chinh trừng phạt của vua Lê Đại Hành ở Chiêm Thành  vào năm 982. Để nâng cao uy tín và chiến thắng vẽ vang, ngài dắt về không những một tu sĩ Ấn Độ  (Thiên Trúc) đang ở lúc đó trong tu viện Đồng Dương (Quảng Nam ngày nay) mà cả trăm người nhạc công và vũ nữ  chàm (Thái văn Kiểm:64). Có thể nói là từ đó âm nhạc cung đình có mang nhiều yếu tố Chiêm Thành.

Năm 1069, vua Lý Thánh Tông truyền lệnh cho các nhạc công ở  triều đình soạn  ra  một  loại âm điệu  chậm đẩy đưa  và than khóc buồn bã theo lối người  Chàm gọi là Chiêm Thành Âm. Sau đó  dưới  thời Lý Cao Tôn về sau thì có các «Điệu Nam (Airs des Méridionaux) »  như  Hà Giang Nam,  Ai Giang Nam, Nam Thương vân vân.. Còn có một nhạc cụ thường gọi  là «Trống Cơm » hay « Phạn sĩ »  mà dân ta dùng  theo An Nam chí lược của Lê Tắc thì cũng của dân tộc Chàm. Còn phần nghệ thuật  điêu khắc thì  dưới hai triều Lý và Trần, dân Việt ta  sống chịu ảnh hưởng phương nam rất nhiều để tạo ra những hiện vật như đầu rồng thời  Lý Trần  tựa như đầu rồng makara  hay  con vịt xiêm (con ngan), ngỗng thần Hamsa  của Champa chẳng hạn được tìm thấy trong hoàng thành Thăng Long từ mái ngói, đầu hồi đến hoa văn trên chén bát (Hồ Trung Tú:264). 

Một yếu tố Chàm khác  thời nhà Lý  được trông thấy trong lãnh vực kiến trúc mà ít ai để ý là các chùa thời đó hay thường có bình đồ hình vuông, tựa như khuôn mẫu của các tháp Chàm (kalan). Chùa Diên Hựu (tức là chùa Một Cột)  ban đầu gồm có vỏn vẹn  một gian chính điện vuông vức 3 thước  và một cửa duy nhất  ra vào như tháp chàm, được dựng trên một cột có chiều cao 4  thước  tính từ măt nước.  Còn  các khúc đò đưa ở vùng ven biển như hò mái nhì hay hò máy đẩy tất cả đều có ảnh hưởng của người  Chàm cả. Cố giáo sư Trần Văn Khê  nhận thấy các  bài hát đò đưa của người Huế và các bài hát Pelog của người Chà Và (Nam Dương)  có cùng môt giai điệu. Ông kết luận rằng sau nhiều thế kỷ giao lưu, nhạc Việt đã nhuộm màu chàm.Theo nhà nghiên cứu Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille) tục lệ thờ cá ông là một đặc tính của người Việt ở vùng ven biến miền Trung  chớ ở miền Bắc thì không có tục lệ  nầy nhưng cho đến giờ các nhà học giả Việt như Thái Văn Kiểm, Trần văn Phước hay Trần Hàm Tấn thì nghĩ rằng đây là một tập quán của người Chàm mà người Việt tiếp nhận đấy.

Nhờ các yếu tố chàm nầy, văn hóa Việt trở nên phong phú và đa dạng vì ngoài văn hóa Việt-Mường (Bách Việt), nó còn được thừa hưởng ít nhiều, từ  thời kỳ dựng nước, các tâp tục  đến từ hai nền văn hoá cổ đại: Ấn Độ và Trung Hoa.

Dans le folklore vietnamien, en parlant de la princesse Huyền Trân (jaïs de jade), le peuple vietnamien  déplore non seulement le  sort qui lui a été réservé mais aussi la promesse du roi Trần Nhân Tôn  d’accorder la main de sa fille au roi cham Chế Mân (Jaya Simhavarman III) durant son voyage spécial à la capitale  Vijaya (Bình Định) à travers la chanson populaire suivante :

Tiếc thay cây quế giữa rừng, 
để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.

C’est regrettable de laisser un Mán ou un Mừờng  grimper  sur le cannelier au milieu de la forêt.

Pourtant nous ne savons pas que le fondateur de la secte « Forêt de bambous » était un homme politique talentueux d’une grande perspicacité voulant  étendre son territoire dans le sud et entretenir de bonnes relations de voisinage dans la lutte contre le danger venant du Nord. Grâce au soutien apporté par le royaume  Đại Việt dans le blocage du passage terrestre, l’armée des Yuan perdait la bataille pour la deuxième fois en attaquant le Champa sous le commandement du vaillant roi Chế Mân avec 20 000 soldats. Quant à Chế Mân, les deux provinces Châu Ô et Châu Ri  n’étaient pas entièrement sous son contrôle  car leurs habitants avaient fui vers la forêt ou  vers des endroits où le gouvernement cham exerçait pleinement encore son autorité, les trois autres  provinces  Bố Chinh, Ma Linh et Địa Lý étant cédées depuis longtemps au roi Lý Thánh Tôn par le roi cham Chế Củ (Rudravarman III)  en échange de la paix et de sa libération. Maintenant, en cédant encore deux autres provinces Châu Ô et Châu Ri, il  lui parut difficile de parler à son peuple, d’autant plus qu’il était le héros de la nation chame ayant eu réussi à gagner la victoire contre l’armée des Yuan.

Le mariage de Huyền Trân était une excellente solution pour la situation politique de l’époque. Cet événement démontre également le recours à la méthode de la « non-violence » du fondateur de « Forêt de bambou » pour résoudre les conflits dans le bouddhisme selon le journal  vietnamien Giác Ngộ, mais personne ne s’attend à la mort subite du roi  obligeant Huyền Trân à l’accompagner et à mourir avec lui au bûcher funéraire selon la coutume chame. Selon le chercheur Po Dharma, il s’agit bien d’une mise en scène de l’histoire du sauvetage organisé de Huyền Trân et de la promesse non tenue de la dynastie  des Trần, ce qui a transformé cet incident en une profonde discorde entre les deux peuples, menant ainsi au déclin du royaume de Champa quelques  siècles plus tard avec la victoire  fulgurante du roi Lê Thánh Tông dans la citadelle Đồ Bàn (Vijaya).

Cette chanson populaire  ironique est-elle  vraie ou non? La  culture chame est-elle suffisamment médiocre pour que les gens la méprisent ainsi? Nous devons également savoir qui ils sont, d’où ils viennent avec les pratiques d’une culture différente portant des éléments culturels et  traditionnels propres à l’Inde. Les temples et les tours qu’ils possédaient sur la côte centrale actuelle  s’étalaient sur  plus de 1000 kilomètres avec des statues de dieux d’une religion étrange et différente. Bien  qu’ils fussent  en ruine ou intacts, ils  étaient toujours  des menaces invisibles profondément ancrées dans l’esprit de notre peuple comme les statues de Brahma, Shiva, Visnu, ce qui a crée plus ou moins d’anxiété, de confusion et de peur comme  c’est le cas du Seigneur Tiên (Nguyễn Hoàng) qui était  chargé de gouverner le territoire  de Thuận Hóa (Binh Trị Thiên) à Đàng Trong, une région lointaine, aride et dangereuse.

Tới đây đất nước lạ lùng   
Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo.

Voici un lieu bien étrange
Un cri d’oiseau m ‘effraie autant que le frétillement d’un poisson dans le ruisseau.

C’est pourquoi, selon l’abbé Léopold Cadière, afin de pouvoir  rassurer l’âme et gagner la paix, notre peuple n’hésite pas à introduire les sites culturels chams dans son monde de croyance religieuse et à les transformer en lieux de culte comme la Pagode de la Dame céleste (Thiên Mụ), le palais Hòn Chén, le temple Po Nagar etc.

Tout au long du voyage jusqu’à Thuận Hóa, le groupe des fidèles et des hommes de confiance  de Nguyễn Hoàng était tous originaires de Thanh Hóa et intégrés à celui de  Nghệ An lors de la première migration au 14ème siècle lorsque les provinces  Châu Ô et Châu Rí appartenaient au  royaume Đai Việt. Les habitants de Thuận Hóa étaient appelés à cette époque sous le nom « peuple Thanh Nghệ » (Thanh Hóa-Nghệ An). Étant partis sans connaître la date de retour, ils  devaient endurer dès lors toutes les épreuves et les souffrances. Mais,  ayant raffermi la volonté d’un aventurier dans un pays étranger, parfois, ils pouvaient se consoler.  C’est pourquoi il y a donc une chanson populaire teintée de  philosophie comme suit:

Măn giang nấu cá ngạnh nguồn,
Tới đây nên phải bán buồn mua vui.

Rien, ne vaut les pousses de bambou sauvage cuites avec la petite silure,
Une fois qu’on est sur les lieux, il faut bien vendre la tristesse en échange d’un peu d’espérance.

Étant arrivés les premiers, les habitants de Thanh Nghệ n’étaient pas nombreux dans la région actuelle de Quảng Tri. Ils étaient contraints de vivre en harmonie avec les Chams restés sur place. Au début, Nguyễn Hoàng parlait encore avec un accent du Nord, mais au fil de quelques générations seulement, ses héritiers et résidents étaient influencés  par l’environnement social issu de la  mixité des deux peuples, surtout à l’époque de la rupture des relations et des échanges commerciaux en prenant la rivière Gianh comme frontière entre Đàng Trong et Đàng Ngoài et  surtout après la construction du rempart Thầy (Trường Dục) de Đào Duy Từ, ce qui  leur a donné un ton particulier, reconnaissable  aux habitants de Quảng Bình et Quảng Trị.

Selon l’érudit Thái Văn Kiểm, l’accent de Huế  s’est formé plus tard lorsque le seigneur Nguyễn Phúc Nguyên (seigneur Sãi), a décidé de transférer la capitale au village de Phước Yên, district de Quang Điền et le seigneur Thượng (Nguyễn Phước Lan) au village de Kim Long en 1636. Grâce à l’interaction de deux cultures anciennes, Việt Mường (Thanh Hóa et Nghệ An) et Chàm, on voit apparaître  un nouveau mode de vie axé sur l’alimentation (manger épicé, pâte de crevette, pissalat etc. ), le traitement des maladies avec des plantes médicinales du sud, la cultivation du riz cham, la construction des bateaux  avec le modèle  cham (thuyền bầu) pour faire du commerce en mer, la gestion de l’eau et la  construction des digues le long des rivières et  l’utilisation dans les beaux-arts,  des cinq couleurs les plus distinctives parmi lesquelles  figure  le violet, une couleur qui ne provoque pas d’émotions tristes  et que les femmes cham  aiment et utilisent encore aujourd’hui. Ce sont les nouvelles caractéristiques de la communauté Việt-Chàm que l’on voit souvent à Binh Trị Thiên et que l’on appelle désormais l’identité de Huế.

Selon l’historien américain Michael Vickery, en se basant sur l’analyse linguistique comparée, on sait que les Cham étaient venus de l’île de Bornéo par voie maritime à la fin du premier millénaire avant J.C. Leur langue appartenait aux langues austronésiennes. Ils s’installaient souvent dans des endroits propices au transport de marchandises sur le fleuve. Connus sous le nom de Vikings de l’Asie du Sud-Est, ils avaient l’habitude de semer le trouble en mer  en pillant les bateaux dans la région côtière la plus méridionale du district de Nhật Nam dépendant directement de  l’administration de Giao Châu (pays des Vietnamiens)  lorsque ce dernier était encore annexé par les Chinois. Selon l’observation de l’archéologue vietnamien Ngô Văn Doanh, ils préféraient vivre souvent dans des plaines côtières situées entre trois versants de hautes montagnes et un versant menant à la mer, le tout doté d’une ou plusieurs forteresses.

En s’appuyant sur les documents historiques chinois et des inscriptions épigraphiques, on sait que le pays Lâm Ấp (Lin Yi)  s’est transformé en royaume de Champa (Champapura) dès le début du VIIème  siècle avec Simhapura (Trà Kiệu) comme capitale. C’est grâce au nom Champapura que l’on peut deviner que le Champa est un royaume composé de plusieurs cités-états (pura). Il est en quelque sorte une fédération de nombreuses cités-états. La cité-état  la plus puissante est choisie pour assumer  le rôle de « leader » (rôle principal) et devient ainsi Champapura (la capitale du Champa).  La dynastie de cette cité-état  contrôle ainsi  tout le royaume  du Champa.

Selon l’archéologue Trần Quốc Vượng, les Chams avaient l’habitude de se servir du modèle culturel suivant constitué toujours de 3 parties: sanctuaire (montagne), citadelle (capitale) et port ( centre économique ) dans leur cité. C’est ce type de modèle qu’on a vu se répéter dans chaque cité-état cham de Quảng Trị jusqu’à Bình Thuận. D’après l’observation de l’archéologue Trần Kỳ Phương, les cités-états  qui ont édifié des sites religieux grandioses doivent être capables de mobiliser  une ressource humaine nécessaire qu’elles peuvent nourrir  avec un potentiel économique possible. Les Chams sont orientés généralement vers le commerce maritime car leurs terres arables  trouvées   dans les vallées du littoral du centre du Vietnam sont très limitées.

Combien de fois l’histoire de l’humanité a-t-elle démontré qu’une civilisation supérieure a un effet transformateur sur une civilisation inférieure? La Rome ancienne plus puissante, au moment de sa conquête, était soumise à l’influence de la civilisation grecque. De même, les Mongols ou les Mandchous, au moment de leur conquête en Chine étaient assimilés ensuite par cette dernière. Notre royaume Đại Việt ne faisait pas exception non plus. Étant habitué à dénigrer et à mépriser les Chams (ou les Mans), notre Đại Việt pouvait-il avoir quelque chose dans cette conquête?  Il recevait beaucoup de choses lors de l’expédition  militaire punitive du roi Lê Đại Hành au Champa en 982. Pour rehausser son prestige et célébrer sa victoire, il fit revenir non seulement un moine indien (Thiên Trúc) qui se trouvait au monastère de Đồng Dương (Quảng Nam actuel ) mais aussi une centaine de musiciens et danseuses (Thai Van. Kiem:64). On peut dire que depuis lors, la musique royale comportait de nombreux éléments du Champa. En 1069, le roi Lý Thánh Tông ordonna aux musiciens de la cour de composer une sorte de mélodie lente et triste, dans le style du peuple cham appelé Chiêm Thành Âm. Puis, sous le règne de Ly Cao Ton, il y eut des « Rimes du Sud (Airs des Méridionaux) » comme Ha Giang Nam, Ai Giang Nam, Nam Thuong etc. Il y avait aussi un instrument de musique  cham appelé «Tambour de riz » ou « Phạn sĩ » que notre peuple utilise  fréquemment, selon le livre intitulé « Annam chí lược (Archives abrégées de Lê Tắc).  

Quant à la sculpture,  les Vietnamiens vivaient sous l’influence méridionale du Sud pour créer des artefacts tels que la tête d’un dragon de la dynastie Lý-Trần ressemblant à celle d’un dragon makara ou le canard siamois (vịt siêm) à l’oie Hamsa du Champa par exemple, le tout étant retrouvé dans la citadelle impériale Thăng Long sur les toits de tuiles et les pignons des bâtiments jusqu’aux motifs décorés sur les bols (Hồ Trung Tú:264).  Un autre élément cham de la dynastie des Lý que l’on observe dans le domaine de l’architecture et auquel peu de gens prêtent attention c’est que les pagodes de cette époque avaient souvent des plans carrés, semblables au modèle  des tours chams (kalan). La pagode Diên Hựu (la pagode au pilier unique) se composait à l’origine d’un  hall principal carré de 3 mètres seulement et d’une seule entrée semblable à celle d’une tour chame, érigée sur une colonne de 4 mètres de haut au-dessus de la surface de l’eau.Quant aux barcarolles de la région côtière comme le chant de la deuxième rame (hò mái nhì) ou chant de la rame propulsive (hò mái đẩy), elles ont tous reçu l’influence chame. Selon le professeur musicologue Trân Văn Khê, les chants des bateliers de Huế (ou barcarolles) et les chants de Pelog  de Java (Indonésie) présentent tous deux la même ligne mélodique. Il a conclu qu’après des siècles d’échanges, la musique vietnamienne était teintée de la couleur cham. Selon  le chercheur Charles J.C. MacDonald (CNRS Marseille), le culte de la baleine est considérée comme une caractéristique typique trouvée chez les Vietnamiens vivant le long de la côte du Centre et du Sud Vietnam car les gens du Nord ne l’ont pas eu. Certains érudits vietnamiens tels que Thái Văn Kiểm, Trần văn Phước ou Trần Hàm Tấn ont confirmé que ce culte appartient aux Chams.

Grâce  ces éléments chams,  la culture vietnamienne est devenue riche et diversifiée car outre  la culture Việt-Mường (Bai Yue), elle a hérité aussi plus ou moins, depuis la fondation du pays,  des traditions issues des  deux anciennes cultures:  l’Inde et la Chine.

[Return to CHAMPA]

Pictures Gallery

Bibliographie

Thái Văn Kiểm: Việt Nam quang hoa Editeur Xuân Thu, USA
Georges Cœdès: Cổ sử các quốc gia Ấn Độ Hóa ở Viễn Đông. NXB Thế Giới năm 2011
Pierre-Yves Manguin: L’introduction de l’islam au Champa. Études chames II. BEFEO. Vol 66 pp 255-287. 1979
Pierre-Yves Manguin: Une relation ibérique du Champa en 1595. Études chames IV. BEFEO  vol 70 pp. 253-269
Ngô văn Doanh: Văn hóa cổ Chămpa. NXB Dân tộc 2002.
Hồ Trung Tú: Có 500 năm như thế. NXB Đà Nẵng 2017.
Agnès de Féo: Les Chams, l’islam et la revendication identitaire. EPHE IVème section.2004
Thái Văn Kiểm: Panorama de la musique classique vietnamienne. Des origines à nos jours.  BSEI, Nouvelle Série, Tome 39, N° 1, 1964.
Thurgood Graham: From Ancient Cham to modern dialects . Two thousand years of langage contact and change. University of Hawai Press, Honolulu. 1999
Trần Trọng Kim: Việtnam sử lược, Hànội, Imprimerie Vĩnh Thanh 1928.
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Nhà xuất bản Thời Đại. Năm 2013.
Trần Kỳ Phương: Nghệ thuãt Champa. Nghiên cứu kiến trúc và điêu khắc đền tháp. Nhà Xuất Bản Thế Giới
Nguyễn văn Kự- Ngô văn Doanh: Du khảo văn hóa Chăm.  Viện nghiên cứu Đông Nam Á. 2004

 

Les costumes traditionnels des minorités ethniques (Trang phục dân tộc thiểu số)

Trang phục dân tộc thiểu số

Version française

English version

Nhuộm, dệt và thêu là những công việc chính mà được thấy ở người phụ nữ của các dân tộc thiểu số  trong việc may các  bộ trang phục truyền thống.  Các bộ nầy không chỉ có vô số phong cách khác nhau mà còn có thêm hàng loạt màu rực rỡ.

Để nhuộm vải lanh hoặc vải gai dầu, các dân tộc thiểu số như người Hmong và người  Dao Tien thường dùng đến batik. Đây là kỹ thuật « nhuộm bao vải » có nghĩa là một phần vải được bao che trước khi nhuộm để tạo hoa văn. Người Ai Cập đã sử dụng batik để quấn xác ướp của họ  có hơn 2.400 năm trước. Kỹ thuật thủ công này đang phổ biến khắp nơi ở Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Nam Dương. Chính ở quốc gia nầy kỹ thuật  rất được phát triển ở đảo Java  và do đó được biết đến với cái tên « batik » có nguồn gốc từ  đảo nầy. Kỹ thuật nầy dựa hoàn toàn trên việc áp dụng sáp trước trên nền.

Người ta vẽ lên vải các họa tiết bằng sáp ong đã được đun nóng  chảy. Dụng cụ vẽ nầy là một loại bút đặc biết có ngòi cong bằng đồng hoặc một số khung đập hình tam giác, những ống tre nhỏ.

Tùy thuộc vào độ phức tạp của hình họa, sáp ong có thể được áp dụng nhiều lần trên các màu sắc khác nhau trong các bể nhuộm màu. Sau đó, được nhúng vào nước sôi cho sáp được  tan hết. Các họa tiết sáng tạo màu được bao bằng sáp để bảo vệ trước khi nhuộm sẽ xuất hiện trên nền vải chàm sẫm.

Những bộ trang phục sặc sỡ và các trang điểm lộng lẫy của họ đã trở thành cùng theo ngày tháng một sức hút không thể chối từ được đối với các du khách nước ngoài khi có dịp họ đến tham quan Việt Nam và đến các vùng có các dân tộc thiểu số như Hà Giang, Cao bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa vân vân…. Nó cũng là biểu tượng cho bản sắc của  các dân tộc thiểu số trên một đất nước có 54 dân tộc.

Teinture, tissage et broderie sont les tâches principales des femmes des minorités ethniques dans la confection de leurs costumes traditionnels. Ceux-ci déploient non seulement une multitude de styles différents mais aussi une gamme de couleurs chatoyantes.  Pour teindre les tissus en lin ou en chanvre, les minorités ethniques telles que les Hmong et les Yao Tien ont recours au batik. Celui-ci  est une technique de teinture à la cire,  employée pour qu’une partie du tissu soit protégée de la teinture durant l’exécution de motifs. Les Egyptiens se servaient du batik pour envelopper leurs momies il y a plus de 2400 ans. Cette technique artisanale  se répand partout  en Chine, en Inde, au Japon et en Indonésie. C’est dans ce dernier pays qu’elle est très développée à l’île de Java  et elle prend ainsi le nom « batik » d’origine javanaise. Elle est  basée sur l’application préalable de la cire  sur le support. 

On dessine d’abord  sur le tissu, des motifs à la cire fondue. Les outils utilisés sont des stylets à réservoir en cuivre courbé, des tampons triangulaires ou de petits tubes en bambou. En fonction de la complexité du dessin, la cire peut être appliquée plusieurs fois sur  des couleurs différentes dans des bains de teinture. Puis le dernier bain fixatif est nécessaire dans l’eau bouillante  pour faire fondre entièrement  la cire. Les motifs protégés de la teinture sont apparus en clair sur fond indigo. On obtient ainsi le tissu décoré.

Leurs costumes bigarrés et leurs parures magnifiques deviennent au fil des années la force d’attraction indéniable qu’ils exercent sur les touristes étrangers lorsqu’ils ont l’occasion de visiter les régions du Vietnam où il y a une forte concentration des minorités ethniques comme Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa  etc. C’est aussi le symbole de leur identité dans un pays à 54 ethnies.

English version

Dyeing, weaving, and embroidery are the main tasks of women from ethnic minorities in making their traditional costumes. These not only display a multitude of different styles but also a range of shimmering colors. To dye linen or hemp fabrics, ethnic minorities such as the Hmong and Yao Tien use batik. This is a wax-resist dyeing technique, used to protect parts of the fabric from dye during the creation of patterns. The Egyptians used batik to wrap their mummies over 2400 years ago. This artisanal technique spread throughout China, India, Japan, and Indonesia. It is in the latter country that it is highly developed on the island of Java and thus takes the name « batik, » of Javanese origin. It is based on the prior application of wax on the material.

First, patterns are drawn on the fabric with melted wax. The tools used are copper reservoir styluses with a curved tip, triangular stamps, or small bamboo tubes. Depending on the complexity of the design, the wax can be applied several times on different colors in dye baths. Then the final fixing bath is necessary in boiling water to completely melt the wax. The patterns protected from the dye appear light against an indigo background. This is how the decorated fabric is obtained.

Their colorful costumes and magnificent finery have become over the years the undeniable force of attraction they exert on foreign tourists when they have the opportunity to visit regions of Vietnam where there is a high concentration of ethnic minorities such as Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Điện Biên, Sapa etc. It is also the symbol of their identity in a country with 54 ethnic groups.

[Retour Vietnam et ses 54 minorités ethniques]

Techniques de pêche d’autrefois au Viet Nam

Cách thức bắt cá ngày xưa ở Việt Nam

Nhũi là một dụng cụ dùng để bắt cá. Nó có hai cái cán bằng tre tréo vơi nhau dươí dạng hình chữ X mà ở giữa lại có một tấm « sáo » bện bằng những cọng tre vót nhỏ mà ở cuối đầu dưới thì có một miếng gỗ lưỡi mỏng. Khi cầm hai cán  nhũi đẩy thì một số lượng nước đi vào nhũi và thoát ra ở phiá sau qua các cọng tre chỉ còn ở lại cá,cua hay tôm. Người đi nhũi hay thường mang theo rọ tre để đựng cá.

Version française

Nhũi est un outil de pêche très efface pour attraper les poissons. Il est constitué de deux longues manches en bambou attachées  en forme de croix au milieu desquelles se trouve une armature  creuse faite avec des  petites tiges de bambou et terminée à sa partie inférieure par un  mince morceau de bois. Au moment de son utilisation, il y a une quantité d’eau qui s’y introduit et s’échappe par derrière à travers ses tiges de bambou, ce qui permet de retenir les poissons, crabes et crevettes. Le pêcheur est habitué à emmener avec lui le panier à goulots pour contenir ces crustacés. 

Version anglaise

Nhũi is a highly effective fishing tool for catching fish. It consists of two long bamboo handles attached in the shape of a cross, in the middle of which is a hollow frame made from small bamboo stalks and terminated at the bottom by a thin piece of wood. When in use, a quantity of water enters and escapes through the bamboo stems at the back, holding back fish, crabs and shrimps. The fisherman is accustomed to taking the basket with him to hold these crustaceans.

 

 

Art culinaire chinois (Ẩm thực Trung Hoa)

Version vietnamienne
Version française
Version anglaise
Galerie des photos

Theo nhà nghiên cứu người Pháp Françoise Sabban, người Trung Hoa là những người nông dân có khả năng trong việc nấu nướng và tạo ra những món ăn không bị hỏng dù có nấu trong thời gian dài. Họ đạt được sự hài hòa bằng cách kết hợp các hương vị ngọt, chua, đắng, cay và mặn đúng lúc và đúng liều lượng, tạo nên sự cân bằng tinh tế trong quá trình nấu nướng. Vào buổi đầu của nền văn minh, họ là những người ăn sống bất cứ thứ gì họ thu thập và săn bắt ngẫu nhiên, theo tập tục « ru mao yin xue » (茹毛饮血), nghĩa là ăn thịt có lông và uống máu động vật. Nhờ lời chỉ dạy của các vị anh hùng thần thoại Suiren (Toại Nhân)  và Huang Di (Hoàng Đế), người Trung Hoa đã biết lửa và dụng cụ nấu ăn (fu).

Điều này cho phép họ biết đến  ẩm thực cao cấp bằng cách sử dụng vạc ba chân (ding) trong thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên dưới triều đại Ân-Thương. Từ đó, nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa được ra đời. Chuyển từ đất nung sang đồng, vạc ba chân được thiết kế để đựng thịt, trong khi vạc « gui » dùng để đựng ngũ cốc. Trở thành biểu tượng đích thực của địa vị xã hội, những vạc ba chân này được chôn cùng chủ nhân. Số lượng vạc và « gui »  cho ta biết  địa vị của chủ nhân  trong giới quý tộc. Chỉ có vua chúa mới được chôn cùng chín vạc, mỗi vạc chứa một loại thịt khác nhau: thịt bò, thịt cừu, cá tươi và cá khô, thịt khô, nội tạng, dạ dày và da.

Từ thời nhà Thương (1570-1045 TCN), thịt đã giữ vị trí trang trọng trong ẩm thực Trung Hoa. Thịt có thể được nướng, om, ướp, ninh nhừ và được phục vụ thành từng miếng nhỏ, trên các khay « dou », kế thừa cho dụng cụ nấu ăn vạc ba chân ding trước đây được sử dụng để nấu nướng và phục vụ. Nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa tiếp tục phát triển. Nguồn gốc của nó nằm ở phong tục và truyền thống của triều đình, nơi mà các giới luật về y học, chế độ ăn uống và tôn giáo đều đóng một vai trò trong việc thiết kế các bữa ăn. Số lượng và chất lượng các món ăn được phục vụ còn phụ thuộc vào địa vị của người được đề cập trong hệ thống cấp bậc. Một trăm lẻ tám món ăn được dâng lên hoàng đế, trong khi hoàng hậu chỉ có chín mươi sáu món. Hình dạng, chất liệu và màu sắc của các chén đĩa phải hài hòa với các món ăn. Tất cả thông tin phải được ghi chép và lưu trữ, cùng với tên của các món ăn được hoàng đế lựa chọn, lúc ăn trưa và ăn tối một mình. Đây là những gì được ghi lại ở cơ quan lưu trữ dưới triều đại cuối cùng của người Mãn Châu (nhà Thanh).

Mặc dù các ẩm thực địa phương ở Trung Quốc rất đa dạng, nhưng bốn giai đoạn sau đây vẫn được tìm thấy trong nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa ngày nay: cắt, chế biến, điều khiển lửa và nêm nếm gia vị.

 Cắt

Trong các sách về nghi lễ, đũa được đề cập đến, nhưng công dụng của chúng không giống như ngày nay. Đũa được dùng để gắp những miếng thịt, cá hoặc rau củ nhỏ ăn kèm với ngũ cốc đã nấu chín, sau đó ăn bằng tay. Để thuận tiện cho việc lấy thức ăn được cắt thành từng miếng nhỏ, việc sử dụng đũa là  điều cần thiết. Việc sử dụng đũa đã được chứng thực ít nhất từ ​​thế kỷ 4-3 trước Công nguyên. Về việc cắt thực phẩm, có ít nhất 200 phương pháp, luôn được thực hiện bằng dao chặt trên thớt. Mỗi phương pháp này có tên kỹ thuật tùy thuộc vào hình dạng thu được. Đây chính là nghệ thuật thực sự của dao « daokou ».

Chế Biến

Người đầu bếp có trách nhiệm tập hợp tất cả các nguyên liệu cần thiết cho món ăn lên đĩa trước khi nấu. Một số nguyên liệu liên quan đến mùa, màu sắc, kết cấu, vân vân. Hơn nữa, một khi đã bước vào giai đoạn sơ chế này, người đầu bếp không được phép rời khỏi bếp.

Chế ngự lửa

Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong việc chế biến món ăn Trung Hoa. Chế ngự ngọn lửa đồng nghĩa với việc kiểm soát  được hiệu lực, nhiệt độ, tốc độ (màu sắc của ngọn lửa) và thậm chí cả khoảng thời gian của nó. Sự kiên nhẫn và kinh nghiệm là  những điều cần thiết để tránh sai lầm phổ biến « Bu dao huohou, bu jie guo ». Điều này có nghĩa là không mở nắp nồi cho đến khi đạt được nhiệt độ mong muốn (hỏa hầu). Bí quyết cho một món ăn thành công nằm ở khả năng làm chín nhanh các nguyên liệu trên lửa lớn và tránh nấu quá chín. Chỉ cần chênh lệch nhiệt độ dù chỉ nửa độ cũng có thể làm hỏng món ăn.

Hương vị

Ở giai đoạn này, người đầu bếp có thể sử dụng đầy đủ các loại gia vị: dầu mè, các loại đường, muối, ớt, nước tương, giấm, rượu, nước dùng, bột bắp, vân vân. Việc nêm nếm diễn ra trong quá trình nấu ăn. Chính bên trong chảo là nơi diễn ra quá trình biến đổi, mà người Hoa thường gọi là « ding zhong zhi bian » (biến đổi của vạc). Nhờ những gia vị này, người đầu bếp  có thể đạt được năm vị cơ bản: mặn, ngọt, chua, cay và đắng, cho phép tạo ra vô số hương vị. Một số loại gia vị được biết đến ở phương Tây, chẳng hạn như sự kết hợp ngọt và mặn của món Gulao rou, một loại thịt chiên giòn ăn kèm với nước sốt chua ngọt và rau củ muối chua. Trong ẩm thực Tứ Xuyên, có một loại nước sốt có vị lạ (guai wei), được làm từ hỗn hợp mè rang, dầu mè, nước tương, đường và giấm, và được dùng để nêm salad gà, một món ăn lạnh đặc trưng của Tứ Xuyên. Tương tự như món vịt quay Bắc Kinh với lớp da giòn phải ăn kèm với lá hẹ sống và nước sốt Tianmianjang ngọt mặn hoặc là món heo sữa quay nguyên con của Quảng Đông.

Version française

D’après la chercheuse française Françoise Sabban, les Chinois sont devenus des agriculteurs aptes à faire cuire leurs aliments et à faire des plats qui ne sont pas gâtés bien qu’ils l’aient cuit longtemps. Ils réussissaient à obtenir  l’harmonie par la combinaison du doux, de l’acide, de l’amer, du piquant et du salé au moment opportun et en quantité  appropriée dans une subtile alliance lors de la cuisson.  Au début de leur civilisation, ils étaient des gens mangeant cru ce qu’ils cueillaient et tuaient au gré du hasard selon la formule ru mao yin xue 茹毛饮血 (manger la chaire avec les poils et boire le sang des animaux).  Grâce à l’enseignement  des  héros mythiques  Suiren et Huang Di, les Chinois connaissaient le feu et le récipient à cuire (fu).

Cela leur permet de savoir faire la cuisine raffinée  avec le  chaudron  tripode (ding) durant le premier millénaire avant notre ère avec la dynastie des Yin-Shang.  Dès lors, l’art culinaire des Chinois est né. Passés de la terre cuite au bronze, les tripodes ding sont conçus pour les viandes et les vases gui pour les céréales. Etant devenus de véritables emblèmes de statut social, ces tripodes sont enterrés avec leur propriétaire. En fonction du nombre de ding et de gui, on connait son rang au sein de l’aristocratie. Seul le souverain est enterré avec neuf ding, chacun contenant un type de viande : bœuf, mouton, poisson frais et séché, viande séchée, viscères, estomac, peau.

Depuis les Shang [1570-1045], la viande  tient la première place dans la cuisine chinoise. Elle peut être rôtie, braisée, marinée,  mijotée et proposée en menus morceaux sur des présentoirs dou, successeurs des « ding » qui servaient auparavant à la cuisson et au service. L’art culinaire chinois continue  à évoluer.  Il plongeait ses racines dans les us et coutumes de la cour impériale où les préceptes de la médecine,  de la diététique et la religion avaient leur part dans la conception des repas. Le nombre et la qualité des plats servis dépendaient de la position occupée par la personne en question  dans l’hiérarchie. Cent huit mets étaient  proposés  à l’empereur tandis que l’impératrice n’avait que quatre-vingt seize. La forme, la matière et la couleur de la vaisselle devaient s’harmoniser avec les préparations. Toutes les informations devaient être notées et archivées en même temps que le nom des mets choisis par l’empereur qui déjeunait et dinait seul. C’est ce qui a été rapporté  dans les archives sous la dernière dynastie mandchoue.(Qing).

 Malgré la multiplicité de cuisines régionales que connait la Chine, on  trouve toujours jusqu’aujourd’hui les quatre phases suivantes dans l’art culinaire chinois: le taillage, l’assemblage, la maîtrise du feu et l’assaisonnement.

Le taillage

Dans les Traités des rites, on mentionne les baguettes mais leur emploi n’est pas celui qu’on a aujourd’hui.  Les baguettes servaient à saisir de petits morceaux de viande, de poissons ou de légumes accompagnant la céréale cuite, celle-ci étant mangée avec les mains. Pour faciliter la saisie des aliments découpés en petites bouchées, on était obligé de recourir à l’emploi des baguettes. Leur usage est attesté au moins depuis le IVème – IIIème siècle avant J.C.

Quant au découpage des aliments, on dénombre au moins 200 modes de taillage, toujours effectués avec un fendoir sur un billot.  Chacun de ces modes porte un nom technique selon la forme obtenue. C’est le véritable art du couteau «  daokou ».

L’assemblage

Le cuisinier est chargé de regrouper  tous les ingrédients indispensables à la préparation d’un mets  sur une assiette avant le passage par le feu. Certains ingrédients sont liés à la saison, aux couleurs, aux consistances etc. De plus il ne peut plus quitter le fourneau une fois engagé dans cette espèce de préfiguration du plat.

Maîtrise du feu

C’est la phase la plus importante dans la préparation d’un plat chinois. Maîtriser le feu c’est maîtriser à la fois sa puissance, sa température, son allure (couleur des flammes) et sa durée.  Il faut avoir de la patience et de l’expérience pour éviter l’erreur commise  « Bu dao huohou, bu jie guo ». Cela veut dire qu’il ne faut pas soulever le couvercle de la marmite quand le huohou n’est pas atteint.  Le secret de la réussite de ce plat réside dans la capacité à saisir les ingrédients sur un feu vif et à ne pas prolonger la cuisson. Une différence d’un demi-degré de température peut gâcher le plat.

L’assaisonnement

C’est dans cette étape que le cuisinier dispose de toute la  panoplie des condiments: huile de sésame, sucres variés, sel, piment, sauce de soja, vinaigre, vin, bouillon, fécule etc. L’assaisonnement a lieu au cours de la cuisson. C’est au sein de la poêle que s’effectue l’opération de transmutation que les Chinois sont habitués à appeler souvent sous le nom « ding zhong zhi bian (transformations du chaudron) ». Grâce à ces condiments, le cuisinier peut avoir les cinq saveurs de base: le salé, le doux, l’aigre, le piquant et l’amer, ce qui lui donne la possibilité de se construire une infinité de goûts.  Certains sont connus en Occident comme le sucré-salé  du Gulao rou, un plat de viande en beignet servi dans une sauce aigre-douce aux légumes marinés. Pour la cuisine de Sichuan, il y a une sauce ayant un goût étrange (guai wei), obtenue à partir de la combinaison de la purée de sésame torréfié, d’huile de sésame, de sauce de soja, de sucre et de vinaigre et servant à assaisonner une salade de poulet, un plat froid typique de Sichuan. C’est aussi le cas du canard laqué du Pékin à la peau croustillante qu’on doit manger avec la ciboule crue et la sauce sucrée-salée tianmianjang ou bien  des cochons de lait rôtis entiers de Canton.

Version anglaise

According to the French researcher Françoise Sabban, the Chinese became farmers capable of cooking their food and making dishes that are not spoiled even though they cooked them for a long time. They succeeded in achieving harmony by combining sweet, sour, bitter, spicy, and salty flavors at the right moment and in the appropriate quantity in a subtle blend during cooking. At the beginning of their civilization, they were people who ate raw what they gathered and killed by chance according to the formula ru mao yin xue 茹毛饮血 (eating flesh with hair and drinking the blood of animals). Thanks to the teachings of the mythical heroes Suiren and Huang Di, the Chinese knew fire and the cooking vessel (fu).
This allowed them to master refined cooking with the tripod cauldron (ding) during the first millennium BCE with the Yin-Shang dynasty. From then on, Chinese culinary art was born. Transitioning from earthenware to bronze, the tripod dings were designed for meats and gui vessels for grains. Having become true emblems of social status, these tripods are buried with their owners. Depending on the number of ding and gui, one’s rank within the aristocracy is known. Only the sovereign is buried with nine ding, each containing a type of meat: beef, mutton, fresh and dried fish, dried meat, offal, stomach, skin.

Since the Shang [1570-1045], meat has held the foremost place in Chinese cuisine. It can be roasted, braised, marinated, simmered, and served in small pieces on dou stands, successors to the « ding » which were previously used for cooking and serving. Chinese culinary art continues to evolve. It rooted itself in the customs and traditions of the imperial court where the principles of medicine, dietetics, and religion played a role in the conception of meals. The number and quality of dishes served depended on the rank held by the person in the hierarchy. One hundred and eight dishes were offered to the emperor while the empress had only ninety-six. The shape, material, and color of the tableware had to harmonize with the preparations. All information had to be recorded and archived along with the names of the dishes chosen by the emperor, who dined alone. This is what was reported in the archives under the last Manchu dynasty (Qing).

Despite the multiplicity of regional cuisines known in China, the following four phases are still found today in Chinese culinary art: cutting, assembling, mastering the fire, and seasoning.

Cutting

In the Treatises on Rites, chopsticks are mentioned but their use was not the same as it is today. Chopsticks were used to pick up small pieces of meat, fish, or vegetables accompanying cooked grains, which were eaten with the hands. To facilitate picking up food cut into small bites, the use of chopsticks was necessary. Their use is attested at least since the 4th – 3rd century BC.

As for cutting food, there are at least 200 cutting techniques, always carried out with a cleaver on a chopping block. Each of these techniques has a technical name according to the shape obtained. This is the true art of the knife « daokou. »

Assembly

The cook is responsible for gathering all the essential ingredients for preparing a dish on a plate before cooking. Some ingredients are related to the season, colors, textures, etc. Moreover, once engaged in this kind of prefiguration of the dish, the cook can no longer leave the stove.

Cutting

In the Treatises on Rites, chopsticks are mentioned but their use was not the same as it is today. Chopsticks were used to pick up small pieces of meat, fish, or vegetables accompanying cooked grains, which were eaten with the hands. To facilitate picking up food cut into small bites, it was necessary to use chopsticks. Their use is attested at least since the 4th – 3rd century BC.

As for cutting food, there are at least 200 cutting techniques, always performed with a cleaver on a chopping block. Each of these techniques has a technical name according to the shape obtained. This is the true art of the knife « daokou. »

Assembly

The cook is responsible for gathering all the essential ingredients for preparing a dish on a plate before cooking. Some ingredients are linked to the season, colors, textures, etc. Moreover, once engaged in this kind of prefiguration of the dish, the cook cannot leave the stove.

Mastery of Fire

This is the most important phase in preparing a Chinese dish. Mastering the fire means controlling its power, temperature, behavior (color of the flames), and duration. Patience and experience are required to avoid the mistake « Bu dao huohou, bu jie guo. » This means that one must not lift the lid of the pot before the huohou (fire heat) is reached.The secret to the success of this dish lies in the ability to sear the ingredients over high heat and not to prolong the cooking. A difference of half a degree in temperature can ruin the dish.

The seasoning

It is at this stage that the cook has the full range of condiments: sesame oil, various sugars, salt, chili, soy sauce, vinegar, wine, broth, starch, etc. The seasoning takes place during cooking. It is within the pan that the operation of transmutation occurs, which the Chinese are accustomed to often call « ding zhong zhi bian » (transformations of the cauldron). Thanks to these condiments, the cook can have the five basic flavors: salty, sweet, sour, spicy, and bitter, which gives them the possibility to create an infinite variety of tastes. Some are known in the West, such as the sweet and sour flavor of Gulao rou, a meat dish in batter served in a sweet and sour sauce with pickled vegetables. For Sichuan cuisine, there is a sauce with a strange taste (guai wei), obtained from a combination of roasted sesame paste, sesame oil, soy sauce, sugar, and vinegar, used to season a chicken salad, a typical cold dish of Sichuan. This is also the case with Peking roast duck with crispy skin, which must be eaten with raw scallions and the sweet and salty sauce tianmianjiang, or with whole roasted suckling pigs from Canton.

Galerie des photos

Bibliographie

Françoise Sabban: L’histoire. Numéro spécial; N° 300. Juillet-Août 2005
Les Séductions du Palais. Cuisiner et manger en Chine. Connaissances des Arts.  Musée du Quai Branly
Chine. La gloire des empereurs. Connaissance des Arts. Paris musées.

[Return CHINE]

Pont des Arts (Cầu Nghệ Thuật)

 

Pont des Arts (ou Pont des Amoureux)

Tại sao cầu Nghệ Thuật có nhiều chìa khoá tình yêu ?

Đây là tục lệ của du khách nước ngoài khi đến thăm Paris thường đặt những chiếc khóa tình yêu  trên những bức tường rào của cây cầu huyền thoại này để  gắn bó  vĩnh cửu tình yêu của họ. Vì lý do an ninh, các ổ khóa nầy  đã được gỡ bỏ vào năm 2015. Bất chấp lệnh cấm của chính phủ, tục lệ  này bắt đầu phổ biến trên nhiều cây cầu trên sông Seine.

Pour quelle raison le pont des Arts a tellement des cadenas d’amour verrouillés ?

C’est la tradition des touristes étrangers lors de leur passage à Paris de poser des cadenas verrouillés depuis 2008 sur les  parapets grillagés de ce pont mythique pour sceller leur amour. Pour les raisons de sécurité, les cadenas furent retirés en 2015. Malgré l’interdiction gouvernementale, cette pratique commence à se généraliser sur un grand nombre de ponts sur la Seine.

 

Pont Bir_Hakeim (Cầu Bir Hakeim)

Pont Bir_Hakeim